Phần 01: Làn Sóng Đỏ

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p1

Phần 01: Làn Sóng Đỏ

Bản đồ đang chuyển sang màu đỏ. Từ Quân đồn Mỹ vào cuối năm 1954, quang cảnh của thế giới không đáng khích lệ. Bệnh ung thư của Chủ nghĩa Cộng sản dường như không thể nào dung thứ, nổi hiện lên và lây lan với đà trườn leo. Nga, Đông Âu, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, và bây giờ là một Việt Nam bị phân chia với những người Cộng Sản kiểm soát phía bắc, thèm khát ngắm nhìn phía nam và có lẽ ngay cả Lào và Cam-pu-chia. Những dân số đang tăng lên của các dân tộc bị bắt làm nô lệ làm mờ đi sự sáng chói của thắng lợi hoàn toàn từ Thế Chiến thứ II.
Trong khi chủ nghĩa thực dân của Thế giới Xưa cũ sụp đổ và biến mất đi, những khoảng chân không về chính trị và kinh tế tạo ra môi trường của Thế giới Thứ ba thù nghịch đối với sự tiến hóa dần dần hoặc tốt lành của những thị trường tự do và những chính phủ được lựa chọn một cách dân chủ. Tảng đá nguyên khối Sô-viết–Trung Quốc Đỏ được nhận thức, từ quan điểm của người Mỹ, không thể thỏa mãn được, một lực lượng vô định hình tàn phá khủng khiếp mãi mãi nuốt chửng bất cứ cái gì nằm trên đường đi của nó, làm việc bằng sức mãnh liệt hầu mở rộng ảnh hưởng của nó bằng cách xuất cảng tự do những lý tưởng Mác-xít, qua việc lật đổ, và sự trợ giúp cho Chiến tranh Nhân dân.
Khi trận chiến Trân Châu Cảng đã làm thức tỉnh nước Mỹ khỏi sự cô lập của nó, thu hút nó một cách hoàn toàn, dù là miễn cưỡng, vào trong vai trò của người lãnh đạo của Thế giới Tự do, xu thế vốn phát triển sau việc kết thúc những sự thù nghịch lớn vào tháng Chín năm 1945 là điều mà qua đó sẽ đòi hỏi người khổng lồ do dự phải tiếp tục thận trọng, mãi mãi đầu tư vào tài sản quốc gia, những nguồn tài nguyên, và nhân lực ở các mức độ chưa từng bao giờ trải nghiệm hoặc tưởng tượng trước đây là cần thiết trong những gian đoạn hòa bình.
Kinh nghiệm của Mỹ trong Thế Chiến thứ II, quá đầy đủ và chi phối tất cả, đối với mỗi công dân đang sinh sống bị ảnh hưởng theo những cách khó khăn hầu tạo nên đầy đủ đặc tính hoặc phẩm chất, trở thành khuôn mẫu mà qua đó những hoạt động quân sự trong tương lai và sự đo lường về chiến thắng hay bại trận sẽ được xem xét.

p2

Kinh nghiệm của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên, chiến đấu giữa tháng Sáu năm 1950 và một hiệp ước đình chiến mong manh được đạt đến vào tháng Bảy năm 1953, thì quá khác biệt đối với một vinh quang toàn diện của Thế Chiến thứ II đến nổi vẫn còn tô đậm trong tâm lý quốc gia. Với một tổn phí của hơn 54.000 người bị thiệt mạng, hơn 8.000 người mất tích trong nhiệm vụ, và hàng trăm ngàn người bị thương, việc không có thể tuyên bố chiến thắng không được chấp nhận đối với những công dân hiểu lý lẻ. Những người lạc quan có thể ít nhất là nói rằng Triều Tiên Cộng hòa vẫn đứng vững và việc dóng quân của Hạm đội 7 trong Eo biển Formosa kiềm chế những động thái của Cộng sản chống lại Trung Hoa Dân quốc và có lẽ ngay cả Nhật Bản. Trong khi sự lây lan của Chủ nghĩa Cộng sản ở vùng phía bắc của Á châu đã được kiểm soát, ít nhất là tạm thời, chứng bệnh ung thư tương tự tiếp tục mưng mủ về phía nam.

Lê Bá Bình:

Ước muốn của Lê Bá Bình được trở thành một sĩ quan trong Quân đoàn Thủy Quân Lực Chiến mới được thành lập –chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi người cha của mình.
Lê Bá Sách, cha của ông Bình, sinh năm 1910 gần Hà Đông, một thị trấn nông thôn hơi chệch về phía nam và tây của Hà Nội. Một thanh niên sáng dạ, gia đình của ông ta tìm cách để bảo đảm tuyến đường đi Pháp của ông ta vào cuối thập kỷ 1920s, nơi mà ông ta bước vào trường đại học về kỹ thuật, nhận được bằng kỹ sư. Trên chuyến trở lại Việt Nam vào đầu những năm 1930s, ông ta gia nhập lực lượng hải quân Pháp được đồn trú trong khu vực Sài Gòn. Như là một người Việt Nam, mặc dù ông ta được giáo dục, những cơ hội cấp bậc của ông ta bị hạn chế, vì thế ông ta phục vụ như là một sĩ quan tầm thường trên-mức-khả-năng-đòi-hỏi trên những con thuyền và tàu nhỏ được duy trì ở đó bởi hải quân Pháp.
Vào năm 1930, mẹ vợ của ông Sách đã chuyển ra Sài Gòn nơi mà bà ta điều hành một nhà hàng gần Chợ Lớn. Cùng tham gia với ông ta ở Sài Gòn là người vợ mới của mình, Cát Thị Dân, vốn là người đã đến từ một thị trấn nhỏ của tỉnh Sơn Tây gần Hà Nội. Ông Bình, vốn là người bước vào trong thế giới vào năm 1937, là người con đầu lòng trong số bốn đứa con được sinh ra trong một gia đình theo truyền thống Phật giáo Việt Nam.
Một phần của Đông Dương thuộc Pháp vốn sẽ trở nên nổi tiếng đối với thế giới một lần nữa khi Việt Nam được tạo nên bằng ba khu vực riêng biệt.

p3

Ở phía Bắc, ngay bên dưới và tiếp giáp với Trung Quốc, là vùng Bắc Bộ, nét đặc điểm địa lý chính yếu của nó gây tác động đến dân cư đang sinh sống ở Đồng bằng sông Hồng. Về phía cực nam là vùng Nam Bộ. Như đối với vùng Bắc Bộ, nét đặc điểm thực thể chính yếu của nó là khu vực đồng bằng to lớn hơn và là vựa lúa sản xuất nhiều hơn thuộc vùng Cửu Long hùng vĩ. Ở giữa hai vùng Bắc Bộ và Nam Bộ, Trung Bộ có thể cung ứng một số rất ít người hơn trên những vùng đồng bằng ven biển eo hẹp của nó mà qua đó nhanh chóng chuyển đổi sang những dãy núi và những khu rừng khi người ta di chuyển về phía tây vào trong đất Lào và Cam-pu-chia.
Những hồi ức đầu tiên của Lê Bá Bình như là một cậu bé sẽ bao gồm những ký ức về sự chiếm đóng của Nhật Bản. Khối Thịnh vượng Chung Đại Đông Á(pc 01) mang lại bất cứ thứ gì ngoại trừ sự thịnh vượng cho người dân Đông Dương. Trên hơn một dịp, cậu bé Bình đã từng nhìn thấy những binh lính Nhật Bản, và vì những lý do đó cậu bé không thể nhận thức, cắt đứt một cách nhanh chóng những bàn tay hoặc cánh tay của những công dân bình thường ở những chợ buôn bán ngoài đường của Sài Gòn.

(Tấm bích chương năm 1935 của Mãn Châu Quốc khuyến khích
cho mối quan hệ hài hòa giữa người Nhật Bản, Trung Quốc,
và Mãn Châu. Chú thích trên tấm bích chương:
“Với sự giúp đỡ của Nhật, Mãn Châu,
và Trung Quốc, thế giới có thể thái bình.”

Những lá cờ từ trái sang phải là: Mãn Châu Quốc, Nhật Bản,
và “Năm giống dân dưới Một Liên Hiệp.”)

(Hội nghị Đại Đông Á “giả hiệu” vào tháng Mười Một năm 1943,
từ trái sang phải:(pc 02) Ba Maw, Zhang Jinghui, Wang Jingwei,
Hideki Tojo,Wan Waithayakon, José P. Laurel,
Subhas Chandra Bose)

Trong những chuyến đi của Lê Bá Sách trên khắp đất nước, ông ta đã đích thân quan sát một sĩ quan quân đội Nhật Bản sử dụng thanh kiếm của mình để cắt đứt chân của một người kéo xe thồ cao tuổi vốn là người không bày tỏ lòng tôn kính đúng mức hoặc không di chuyển với năng lực và sự nhiệt tình thích đáng. Ở quê nhà Hà Đông của ông ta, có một người phụ nữ vốn là người đã từng bán gạo cho Quân đội Hoàng gia dành cho việc nuôi ngựa. Khi một trong những đám thú vật chết sau khi ăn một số gạo, người phụ nữ đã bị mang đi, và vẫn còn sống, bị cưỡng bức một cách tàn nhẫn vào trong cái xác được khoét mở toang của con thú đã chết. Một khi bà ta bị nhồi vào bên trong, những người lính khâu con vật kín lại và đứng đó cười vang khi họ theo dõi cơ thể của con ngựa không còn sức sống quằn quại với những chuyển động từng lúc đang yếu dần trong khi người đàn bà già nua từ từ chết ngột bên trong. Người dân Đông Dương học hỏi bằng cái giá cao rằng những chủ nhân ông thực dân Pháp của họ không phải là những siêu nhân. Khi làn sóng chiến tranh chuyển hướng chống lại người Nhật và khi sợi dây thòng lọng của tàu ngầm thuộc Hải quân Hoa Kỳ vây quanh các hòn đảo quê nhà của Nhật Bản trở nên từng lúc xiết chặt hơn, việc cần đến cho những vấn đề nhập cảng lương thực tăng vọt. Từ những vựa lúa màu mỡ của Sông Hồng và, đến một mức độ thấp hơn, từ vùng Cửu Long, người Nhật rút ra tất cả hạt thóc mà họ có thể xuất cảng sang Hải đảo Nippon của quê nhà. Những hồ sơ chính xác không còn tồn tại, nhưng những ước tính đáng hợp lý cho thấy rằng trong giai đoạn 1944–1945, riêng ở Bắc Bộ, nhiều như 2 triệu người trong số 10 triệu cư dân có lẽ đã chết từ nạn đói bị áp đặt bởi kẻ xâm lược mà qua đó được gia tăng trầm trọng hơn bởi nạn hạn hán khu vực không đúng lúc. So với Trung Quốc, vốn cũng phải chịu đựng sự khốn khổ cùng cực dưới bàn tay của người Nhật,

p4

Việt Nam có lẽ đã phải trả cái giá cao hơn cho việc “hội nhập thành viên” cưỡng bức của họ vào trong Khối Thịnh vượng Chung Đại Đông Á. (Những ước tính được chấp nhận đặt lên những cái chết của người Trung Quốc trong Thế Chiến thứ II vào khoảng giữ từ 10–12 triệu người đàn ông, phụ nữ, và trẻ em Với một tổng số dân cư vào thời điểm đó có thể là 500 triệu, gần khoảng 2% người Trung Quốc qua đời. Dân số Việt Nam, được ước tính cho xứ Bắc Bộ, Trung Bộ, và Nam Bộ là gần khoảng 30 triệu người, được nhìn thấy giữa con số một triệu và hai triệu người chết vì nạn đói bị áp đặt bởi kẻ thù, hoặc giữa con số 3% và 6% của toàn bộ dân số Việt Nam bị giết chết. Từ Những nguồn tài liệu khác nhau.)
Tại một cuộc họp cuối cùng của Ba nước Lớn ở Potsdam vào tháng Bảy năm 1945, ông Truman, Stalin, ông Churchill, và những đội ngũ nhân viên của họ đã làm việc hơn là bàn mưu cho kết quả cuối cùng của cuộc chiến tranh ở châu Âu và hoàn thiện một chiến lược cho cuộc bại trận của Nhật Bản. Trong số các vấn đề nhỏ nhặt dành cho tất cả các nước ngoại trừ những người vốn sống ở Đông Dương, thì thỏa thuận rằng vào lúc kết thúc cuộc chiến tranh ở Thái Bình Dương, những binh lính của Trung Hoa Dân Quốc sẽ chấp nhận sự đầu hàng của những quân lính Nhật xuống đến khu vực xung quanh Vĩ tuyến 16. Phía nam của vĩ tuyến, sự đầu hàng của Nhật sẽ được giải quyết bởi các đơn vị của quân đội Anh vốn bao gồm những binh lính Ấn Độ.
Ông Bình nhớ lại sự xuất hiện của những người Anh và các đồng minh Ấn Độ của họ vào trong Sài Gòn. Rất khác biệt đối với hai nhóm: những người lính Anh “tommy” thì vui tính và thân thiện, thoải mái trong những tương tác của họ với trẻ em Việt Nam. Mặc dù cậu bé Bình không biết tiếng Anh gì cả, cậu ta có thể nhận ra một nụ cười và chắc chắn thích thú thứ kẹo gì đó mà những người lính trẻ phát cho những đám đông trẻ con vốn đi theo sau mà không giảm bớt. Có lẽ, chính là bởi vì họ cũng từ một đất nước nghèo nàn đến nổi những người Ấn Độ, không giống như các đồng minh người Anh của họ, tất cả là bán mua, tằn tiện, lầm lì, không quan tâm nếu họ được ưu thích bởi những chủ khách khiêm tốn của họ.
Có một sự việc bất biến chắc chắn trong hơn 2.000 năm lịch sử Việt Nam được ghi lại: cuộc đấu tranh, sự xung đột, sự gian khổ, và nỗi buồn quá liên tục mà người ta có vẻ gần như quen thuộc với nó. Cho dù tiến hành chống lại việc xâm lược của người Chàm từ Cam-pu-chia, người Trung Quốc càn quét xuống từ phía bắc, hoặc giữa những thị tộc Nguyễn và Trịnh chiến đấu trong những trận chiến cốt nhục tương tàn, đất nước Việt Nam dường như luôn luôn có chiến tranh. Lịch sử của dân tộc nó được lấp đầy bằng hai thiên niên kỷ xứng đáng của những anh hùng và anh thư trong việc bảo vệ quốc gia chống lại những kẻ thù nước ngoài.

p5

Bắt đầu với chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị vốn là những người đã chiến đấu và thành lập vào thời gian Trước Công nguyên 40 một vương quốc vốn vươn dài vào trong phía nam Trung Quốc, đến thời kỳ Triệu Ân, một người Việt Nam trong thế kỷ thứ ba tương đương với vị nữ anh thư thời Trung cổ của Pháp “Joan of Arc,” và Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, và Lê Thánh Tông lên đến Phan Đình Phùng, một nền văn hóa đẫy dầy với những người đàn ông và những phụ nữ dũng cảm, gan dạ mà những hy sinh của họ là kiến thức phổ biến đối với tất cả trẻ em Việt Nam.
Cuộc đấu tranh gần đây hơn là với người Pháp được theo sau bởi người Nhật. Đối với sự thiết lập của người Nhật để bắt đầu, điều đó vẫn không chắc chắn là đối thủ nào sẽ lấp vào khoảng trống được tạo ra. Nỗi đau đớn và đói khát và sự chết chót là một phần lớn của chu kỳ cuộc sống ở Việt Nam như việc sinh ra và vui sướng và sự thỏa lòng. Có phải chăng người ta có thể nói rằng thời kỳ khó khăn hơn nhiều dưới quyền hành Nhật Bản?
Có lẽ họ đúng. Những người đó vốn đã không hoàn toàn chống chịu nỗi ngay tức thời tình trạng thiếu lương thực, đã khiến cho trở nên yếu đuối và dễ bị tổn hại. Vào năm 1946, một cuộc bột phát bệnh cúm cướp đi nhiều nạn nhân. Trong số nhóm đó là người mẹ của cậu bé Bình vốn là người đã phải chịu đựng ba ngày bệnh tật trước khi bà ta cũng phải qua đời, rời bỏ người chồng của bà ta, cậu bé Bình, và một người anh và hai người chị của cậu ta cho một tương lai không có gì chắc chắn.
Sau khi đã phải gánh chịu sự bại trận nhục nhã dưới bàn tay của những người Đức trong Thế Chiến thứ II, Pháp chỉ quan tâm đến việc trả lại những thuộc địa của nó về tình trạng trước chiến tranh của chúng. Trong khi người Anh chia sẻ những ý định tương tự, Hoa Kỳ không có khuynh hướng nhìn thấy chủ nghĩa thực dân của Thế giới Xưa cũ được khôi phục. Khi làn sóng Cộng sản tiếp tục dâng lên trên lục địa Á châu, nơi đó xuất hiện một số ít lựa chọn dễ dàng. Hồ Chí Minh được xem như là thêm một viên gạch trong tảng đá nguyên khối đang phát triển của Cộng sản. Với việc mất đi Trung Quốc được theo sau bởi cuộc chiến tranh ở Hàn Quốc, sự hỗ trợ của Mỹ cho người Pháp là một sự lựa chọn hiển nhiên, và khẩn trương.
Cuộc vận động trong số những người Việt Nam yêu nước nóng lòng tháo bỏ ách thuộc địa đang được tiến hành tốt đẹp trước khi người Nhật nắm lại quyền kiểm soát Đông Dương thuộc Pháp. Hồ Chí Minh, vốn là người cuối cùng sẽ nổi lên như là bộ mặt của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam đối với thế giới, là người đàn ông cuối cùng đứng lên khi những kẻ tay sai của ông ta ám sát những người được xem như là mối đe dọa đối với vai trò lãnh đạo của ông ta ở phía bắc. Ở phía Bắc, đặc biệt là sau chiến tranh, những phong trào dân tộc chủ nghĩa phi-Cộng- sản không còn phôi thai hoặc bị đàn áp một cách dã man và bị loại bỏ bởi những người đi theo phong trào Việt Minh của ông Hồ hoặc phải hợp tác và dễ dàng bị làm hại bởi người Pháp.

p6

Những người Cộng sản sẽ làm một công việc sai khiến với sự tuyên truyền của họ trong việc mưu hại những người Việt Nam vốn chống đối họ như là bằng cách nầy hay cách khác là sự bất hợp pháp và không thành thật trong chủ nghĩa yêu nước của những người chống đối, như là cho rằng những người đó là những con chó nhỏ nưng niu trong lòng và là những con múa rối của người Pháp, mà qua đó trong một số trường hợp chứng minh là đúng. Sự cáo buộc tương tự sẽ được áp dụng cho những người Mỹ và những người nhận được sự hỗ trợ của Mỹ từ năm 1954 trở đi.
Người Pháp đầu tư ít vốn trong việc đào tạo và nâng cao chất lượng vai trò lãnh đạo về chính trị và quân sự từ một nhóm công dân Việt Nam. Việc phát triển vai trò lãnh đạo sẽ hơn là một Sinh học thuyết Tiến hóa của Darwin –cách sống còn của sự tàn nhẫn, xảo quyệt, hay tham nhũng nhất ở cả miền Bắc và miền Nam.
Những phong trào dân tộc chủ nghĩa khắp Châu Á có được sự cảm hứng từ chiến thắng của Nhật Bản vào năm 1905 trên những người Nga. Không có nơi nào có quần thể dân cư bản địa nóng lòng giành độc lập hơn so với những người ở Đông Dương, và tuy nhiên, ngoại trừ đối với mục đích chung của họ trong việc trục xuất những người Âu châu, thường có các nhóm ít ỏi tạp nhạp khác nhau thuộc đảng phái dân tộc có thể đồng ý trên vấn đề đó. Trong khi người Việt Nam bao gồm vào khoảng 80% dân số Bắc Bộ, Trung Bộ, và Nam Bộ, hơn 50 nhóm dân tộc thiểu số được phân phối khắp vùng địa lý dài và hẹp mà qua đó thành lập quốc gia phôi thai của họ. Những người gốc Hoa là nhóm thiểu số riêng lẻ lớn nhất. Bao gồm gần như 2% dân số, sự tập trung của họ ở những khu vực đô thị và sự thống trị của họ trong thương mại cho họ một ảnh hưởng vượt ngoài mức tỷ lệ đối với những số lượng của họ. Những người Thượng, Hmong, Nùng, và những người thiểu tộc khác thường được tìm thấy nhiều hơn ở những vùng biên giới và núi đồi xa xôi.
Những tình cảm nồng nàn của những người quốc gia chạy sâu trong Việt Nam vào cuối những năm 1920s. Những công nhân Việt Nam tính từ những người trong ngành công nghiệp dệt may đến những người lái xe xích lô đã tổ chức các cuộc đình công lớn với một vài thành công. Đoàn Thanh niên Cách mạng, với những khuynh hướng quyết định của Cộng sản, được hình thành bởi Hồ Chí Minh ở miền Nam Trung Quốc vào năm 1925. Tháng Mười Hai năm 1927 chứng kiến sự thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ). Được biết đến như là một Đảng của những người Quốc gia Việt Nam, các thành viên của nó bao gồm hầu hết là những sinh viên, nhân viên chính phủ cấp thấp, binh lính, nông dân, và thậm chí một số điền chủ.1 VNQDĐ, được mô hình hóa theo Quốc Dân Đảng ở Trung Hoa, được nhìn thấy bởi những người Cộng sản như là một đối thủ trực tiếp. Vào tháng Sáu năm 1929 là thời gian ra đời chính thức của Đảng Cộng sản Đông Dương (ĐCSĐD). Cùng với Hồ Chí Minh, những người khác hiện diện ở ngày khởi đầu của đảng bao gồm Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng, là những người vốn sẽ đảm nhận những vai trò quan trọng trong các vấn đề của Đảng Cộng sản, trong cuộc đấu tranh sắp tới bên cạnh một người đàn ông có lần được biết đến như là Nguyễn Ái Quốc hoặc “Nguyễn Patriot.” (Hồ Chí Minh từ lúc đầu được biết đến bằng nhiều tên.)

p7

ĐCSĐD bước vào đời sống ngay vào lúc khi cuộc Đại Khủng Hoảng trút xuống sự tàn phá trên toàn cầu. Ở Đông Dương thuộc Pháp, sự co thắt về kinh tế trên toàn thế giới sẽ cắt giảm giá gạo và cao su và những hàng xuất cảng, để lại cho vô số những công dân không có việc làm, thu nhập, hoặc cách nào đó để nuôi gia đình họ. Lời kêu gọi quần chúng của Chủ nghĩa Cộng sản đạt được đà lợi thế trong số những người bị tước quyền bầu cử.
Tất cả hoạt động chính trị này thu hút sự chú ý của những người Pháp cầm quyền, vốn là những người đầu tư vào các nguồn tài lực đáng kể của cảnh sát và quân đội trong việc cố gắng đàn áp các nhóm dân tộc chủ nghĩa mới nổi. ĐCSĐD hưởng được sự ảnh hưởng to lớn nhất của nó ở Bắc Bộ. Ở Nam Bộ, ĐCSĐD làm kém hiểu quả hơn khi các nhóm khác làm loãng lời kêu gọi của họ. Không kém chống Pháp hoặc ủng hộ độc lập, nhóm Hòa Hảo và Cao Đài sẽ thu hút một con số phần trăm cao của những người đang tìm kiếm để đặt lòng yêu nước của họ vào trong thực tiển.*
Khi những người Đức và Sô-Viết bước vào trong Hiệp ước Không xâm Phạm của họ vào tháng Tám năm 1939, Pháp đặt Đảng Cộng sản Pháp ra ngoài vòng pháp luật và tất cả các đảng phái chính trị ở Đông Dương. Động thái này buộc ĐCSĐD đi đến một nỗ lực nhiều hơn ở vùng nông thôn mà qua đó, trong sự biến chuyển lâu dài hơn, đã củng cố sức mạnh của họ đặc biệt là ở Bắc Bộ.2
Trong số những thử thách vô kể phải đối mặt với các lực lượng dân tộc vừa chớm nở ở Đông Dương, địa hình là một trong những trở ngại tàn ác nhất.
=============
* Hòa Hảo là một giáo phái Phật giáo được cải cách một cách riêng biệt của người Việt được thành lập ở miền Nam Việt Nam bởi Huỳnh Phú Sổ vào năm 1939. Được xem bởi người Pháp như là một mối đe dọa chính trị, giáo phái Hòa Hảo chống cộng một cách mạnh mẽ, đặc biệt là sau khi những hành động ám sát của Việt Minh Huỳnh đã sát hại Huỳnh Phú Sổ vào năm 1947.

(Giáo chủ Hòa Hảo: Huỳnh Phú Sổ,
là người bị Việt Minh sát hại vào năm 1947)

Cao Đài, được thành lập vào thập niên 1920s, giống như Phật giáo Hòa Hảo, là giáo phái độc nhất của người Việt Nam. Cũng phát sinh ở miền Nam Việt Nam, Cao Đài là một sự pha trộn chiết trung của Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Đạo giáo, Phật giáo, Khổng giáo, và Ấn Độ giáo. Các học viên được kỳ vọng sẽ từ bỏ vật chất nhằm mục đích bồi dưỡng sự phát triển tâm linh. Bởi vì khía cạnh tôn giáo, những tín đồ Cao Đài, giống như Hòa Hảo, cũng đã từng chống Cộng sản theo truyền thống. Cao Đài dùng những môi giới trung gian tâm linh và những người thông công tâm linh cho việc sử dụng trong những cuộc hội hợp lên đồng. Những vị thánh quan trọng của Cao Đài bao gồm Trung Trinh (i.e. ?); nhà cách mạng Trung Hoa Sun Yat Sen (i.e. Tôn Dật Tiên); anh thư Anh Quốc Joan of Arc; nhà toán học, khoa học, triết học Pháp René Descartes; nhà kịch bản, thơ Anh Quốc William Shakespeare; nhà văn, thơ Pháp Victor Hugo; và bác sĩ Pháp Louis Pasteur.

(Giáo chủ Cao Đài, Ngôi hai Ngô Đại Tiên)

(Cao Đài Tam thánh: Sun Yat Sen, Victor Hugo,
và Nguyễn Bĩnh Khiêm –từ trái sang phải)

=============

p8

Từ một mũi cực bắc của Bắc Bộ trên vùng biên giới với Trung Quốc, đến một điểm cực nam ở Nam Bộ kéo dài gần 1.800 km của địa hình thay đổi, không giống nhau, và phân vùng. Hà Nội và Sài Gòn, là hai thành phố chính của Đông Dương, cách biệt khoảng 1.200 km ngoài và chỉ được nối kết ngoại biên bằng một con đường xe lửa nhỏ và Xa lộ Một vốn, đối với hầu hết khoảng cách, thì hơn hẵn một ít là một con đường bò-kéo-xe-rộng-gấp-đôi-đi-lại-thuận-tiện. Khoảng cách từ Hà Nội đến Sài Gòn giống y như thế giữa thành phố Denver và St Louis, hoặc giữa thành phố Chicago và Charleston, hoặc giữa thành phố Omaha và Tuscaloosa, hoặc giữa thành phố Boston và Grand Rapids, hoặc giữa tiêu bang Seattle và thành phố Santa Cruz, hoặc giữa thành phố New York và Nashville, hoặc giữa thành phố Des Moines và tiểu bang Atlanta, hoặc giữa thành phố Minneapolis và Little Rock, và tuy thế vào lúc cuối cuộc chiến tranh thế giới, chúng cũng có thể là những thế giới cách biệt. Sự cách ly địa lý cho thấy những cơ hội cho việc củng cố quyền lực khu vực đối với những người Cộng sản ở miền Bắc và đối với một mức độ kém hơn dành cho các nhóm quốc gia khác ở miền nam.
Hỗn loạn được gây ra do việc rút lui của chính quyền Nhật Bản và sự suy yếu tương đối của những lực lượng thực dân Pháp trở lại đã cho Hồ Chí Minh và nhóm Việt Minh điều gì đó mà họ tin là một cơ hội có lợi thế để tấn công. Vào ngày 28 tháng Tám năm 1945, họ công bố sự hình thành chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồ Chí Minh được tuyên bố là vị Chủ tịch đầu tiên của nó. Để mở rộng lời kêu gọi của nó, những người Cộng sản cũng bao gồm Hoàng Đế Bảo Đại trong chính phủ.3 Điều gì tiếp diễn theo sau là một loạt những động thái và phản-động-thái bởi người Pháp và Việt Minh mà qua đó cuối cùng sẽ dẫn đến một cuộc chiến tranh mở ra.
Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc Dân Đảng, vốn tách ra từ VNQDĐ, cả hai đều nồng nhiệt cho việc thành lập một nền cộng hòa Việt Nam nhưng nhìn chung không có cảm tình đối với chủ nghĩa Cộng sản. Mặc dù họ đã thành lập một liên minh lỏng lẻo với Việt Minh để chống lại quyền kiểm soát của ngoại bang ở Việt Nam, vào đầu năm 1946, những người Cộng sản loại bỏ một cách có hệ thống những thành viên đảng phái có chức vụ và những gia đình của họ trong một hàng loạt các hành động mà qua đó cuối cùng loại bỏ họ như là một mối đe dọa cho vai trò lãnh đạo của ông Hồ ở miền Bắc; tất cả sự kiện này xảy ra trong khi vẫn tiếp tục chiến đấu chống Pháp.4
Sự bất ổn về chính trị là một quy cũ khi khoảng trống quyền lực được bỏ lại bởi sự đầu hàng và cuộc rút lui của Nhật được theo liền sau bởi việc trở lại của những lực lượng Pháp trong việc cố gắng thiết lập lại thẩm quyền thuộc địa. Trong sự đối mặt với những cuộc xung đột giữa các nhóm người Việt quốc gia đang tranh đua, Việt Minh thì mạnh mẽ hơn ở miền Bắc, kém hơn như thế ở miềm Nam.

p9

Người Pháp không có ý định nào nhường nhịn đối với Hồ Chí Minh. Các cuộc đàm phán giữa hai bên chứng minh là vô ích trong khi các cuộc đụng độ giữa các đơn vị quân đội của họ thường xuyên có. Đến tháng Mười Một năm 1946, sự mưu mẹo của việc dàn xếp chính trị cuối cùng bị bỏ qua một bên. Sự kiện gì đó sẽ trở nên được biết đến như là một cuộc Chiến tranh Đông Dương Đầu tiên đã bắt đầu. Những vấn đề gây ra phức tạp ở miền Nam là vụ ám sát có tổ chức của Việt Minh vào tháng Tư năm 1947 thủ tiêu nhà lãnh đạo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ. Theo sau cái chết của ông ta, cả giáo phái Hòa Hảo và Cao Đài thành lập liên minh với Pháp.
Như là một truyền thống trong nền văn hóa Việt Nam, Lê Bá Sách khóc thương cho sự mất mát của người vợ mình và là một người mẹ của bốn đứa con mình trong ba năm. Vẫn còn là một người đàn ông trẻ, ông ta tái hôn vào năm 1949. Cậu bé Bình và người anh và hai người chị sẽ có 7 anh chị em mới được thêm vào gia đình của họ trong những năm theo sau cuộc hôn nhân lần thứ hai của cha họ. Mái ấm của của họ là một gia đình mạnh mẽ và tất cả họ hòa hợp tốt đẹp với người mẹ mới.
Trong số gần như tất cả các nền văn hóa Á Đông, sự tác động lan tỏa của giáo lý Khổng Tử vẫn còn mạnh mẽ. Sự tôn kính đối với những người lớn tuổi, gia đình, và việc giáo dục thì đặc biệt quan trọng. Những đứa con trai được đánh giá cao hơn những con gái và đứa con trai đầu lòng luôn được xếp hạng thứ nhất trong mỗi hộ gia đình. Như là một đứa con trai trưởng, nhiệm vụ duy nhất của cậu bé Bình khi còn là một cậu bé, phải bảo đảm việc học hành của mình. Từ tuổi còn nhỏ, cậu bé Bình đảm nhận bổn phận của mình và học chăm chỉ.
Xóm Tân Định là nhà của cậu bé Bình và gia đình mình. Một khu vực gần như là “phố chính” của Sài Gòn khi người ta có thể đến được. Gần trung tâm thành phố, chỉ một vài khoảng đường từ Sông Sài Gòn, nó cung cấp một môi trường nuôi dưỡng, an toàn cho Lê Bá Sách để tạo mái ấm cho người vợ mới của mình và nuôi nấng 11 đứa con của họ.
Nhà của Lê Bá Sách là một điển hình tương đối khá theo những tiêu chuẩn Việt Nam. Trong thời gian của nó, nó đã sẽ được mô tả như là thuộc tầng lớp trung lưu cao hơn. Trên mặt bằng vốn được mở ra cho con hẻm nhỏ hẹp, những chiếc xe đạp của gia đình được dựng ngay bên ngoài, ra khỏi lằn đường và bên trong đường kẻ vùng đất sở hữu của họ. Những chiếc giày hoặc dép luôn luôn được bỏ lại ở lối ra vào rộng rãi, được để ở đó theo một kiểu cách ngăn nắp. Một khu vực nơi mà những người khách hoặc bạn bè được tiêu khiển và một căn bếp chiếm lấy hầu hết tầng trệt. Gia đình ngủ trên những tầng hai và ba, nhưng cũng giữ một nơi thờ cúng theo truyền thống ở phần mặt trước của tầng hai,

p10

một kiểu phổ biến trong hầu hết các gia đình Việt Nam, dù là khiêm tốn hoặc tráng lệ, nơi mà cây nhan được đốt và những hình ảnh trong cách tôn kính được sắp xếp theo các vị tổ tiên quan trọng để được thờ phượng.
Những con hẻm nhỏ hẹp vốn dẫn ngược lại từ đường phố chính và sau đó chia hai vào trong những con ngõ khác thì khá tối tăm nhưng mở thoáng bầu trời bên trên. Được thắp sáng một cách rực rỡ chi khi nào mặt trời trực tiếp ngay trên đầu, những khoảng không gian nầy chiếm một phần lớn, tuy chật hẹp, của khu vui chơi dành cho nhiều chục trẻ em của trên hai mươi căn nhà chia sẻ một địa chỉ chung-đường-hẻm này. Tại lối vào duy nhất của nó là một cái cổng nhỏ, chắc chắn vốn hiếm khi được đóng lại nhưng có thể nếu cần. Trong những trò chơi chiến tranh có tính cách con trai của chúng, cậu bé Bình và những “đội quân” của mình sẽ thường sẽ canh gác cánh cổng từ các đối thủ bên ngoài. Chúng không dè rằng những loại cổng nầy, chung cho các con hẻm bên cạnh ở mọi nơi khắp thành phố, sẽ nắm giữ một tầm quan trọng chiến thuật to lớn trong việc bảo vệ Sài Gòn trong thực tế từ những người xâm nhập Việt Cộng trong suốt cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968.
Sự kiểm soát vô hình của khu chợ tự do thì rõ ràng trên các đường phố của vùng Tân Định như nó ở thành phố Denver và Detroit hoặc thủ đô Paris và Amsterdam, và chỉ khi nào được áp dụng một cách tàn nhẫn và hiệu quả. Những người mang hàng lặt vặt đủ các loại bán rong quần áo, nồi và chảo, thực phẩm và gia vị, gạo và mì, trái cây và rau cải được trồng tại địa phương, cá đủ loại đánh bắt được ở địa phương, heo và gà được làm thịt ở địa phương. Nếu một chiếc xe đạp hoặc một dụng cụ kỳ lạ nhỏ nhắn có máy móc cần được sửa chữa, đã có những người đàn ông vốn là những người có thể hàn-xì chúng lại ngay phía dưới vỉa hè. Một cậu bé không bao giờ xa khỏi món giải khát hoặc món ăn đặc biệt nếu cậu ta có một ít đồng bạc trong những túi áo mình. Những người bán hàng rong trái cây liên tục đi rảo những đường phố, đẩy những chiếc xe ba-gác được chất đầy với xoài, đu đủ, sầu riêng, mít còn tươi mới hái. Nếu cảm thấy khát nước, có những người bán cho bạn nước dừa tươi, mát lạnh, bạn có thể uống bằng một ống hút nhỏ trực tiếp từ trái dừa được bóc vỏ. Những trẻ em và người lớn được chiều lòng có thể uống thích thú những thân cây mía nhỏ được rót sạch, cán qua, và được ép ra bằng những dụng cụ máy móc bên lề đường vốn làm cô động chất nước trái cây thiên nhiên ngọt ngào của nó, thêm vào hơn nữa đối với vấn đề sâu răng.

(Tờ 5 đồng bạc của VNCH vào năm 1955)

(Hoặc một tờ 5 đồng bạc khác của VNCH vào năm 1955)

(Hoặc cũng chỉ 5 đồng bạc tiền kẻm nầy của VNCH vào năm 1966,
trong túi áo của một cậu bé là cậu ta có thể thỏa thích ăn uống)

(Xe ba-gác bán dạo ở Sài Gòn)

(Xe nước mía ở Sài Gòn)

Thương mại quay với tốc độ đạp mạnh mẽ của những người đàn ông gân guốc, cơ bắp, cả già lẫn trẻ, vốn là những người có thể di chuyển và lèo lái những trọng tải kinh hồn và những đồ vật có hình dáng không đều được sắp xếp bằng cách nào đó trên chiếc xe đạp hoặc trên đỉnh của xe xích-lô.

p11

(Xe xích-lô Việt Nam)

Trong khi có một số ít người có tầm vóc lớn, đối với những người đó vốn tháo vát và vui lòng làm việc hết sức mình, có thực phẩm để ăn. Những con đường chạy xuyên qua vùng Tân Định trong tất cả mọi giờ luôn sinh động với thương mại này. Ngay cả vào ban đêm, thành phố không bao giờ ngủ nhưng dường như chỉ chậm lại.
Với tất cả sự kiện đó đang xảy ra trên khắp Việt Nam và ở Sài Gòn, vấn đề chính trị và mưu đồ không còn hiện hữu trên những đứa bé trai quan tâm hơn với bài tập nhà trường và chơi đùa với những người bạn thân ở địa phương. Người đồng minh gần gũi nhất của cậu bé Bình là người em tên An, nhỏ hơn đến hai năm. An và Bình nhập bọn với những đứa bé trai khác trong xóm họ trở thành một trong hai băng nhóm đối thủ. Được thành lập vào thời gian và tuổi tác đó, thêm nhiều niềm vui hơn bất cứ điều gì khác, các băng nhóm sẽ tranh đua trong thể thao và trận chiến giả, việc chảy máu chỉ do sự lầm lẫn hoặc quá phấn khởi. Việc thiếu sự giàu có về vật chất hoặc việc có sẵn những món đồ chơi được nhà máy sản xuất, không có cách nào ngăn cấm một trò chơi sáng tạo của trẻ em ở Tân Định.
Cậu bé Bình, An, và những người bạn đồng tâm của Tân Định trong những năm ít tuổi hơn của họ sẽ dành vô số giờ đá những trái banh được làm từ miếng cao su được sản xuất ở địa phương, chạy vòng quanh các con hẻm trong xóm và thoát ra những khoảng trống dọc theo con sông. Giống như những cậu bé nhỏ ở mọi nơi, những cậu bé Việt Nam rất thích thú trò chơi bất tận của những viên bi, sự khác biệt duy nhất là những hình cầu tròn nhỏ, thủy tinh được giữ tựa vào bề mặt dấu vân tay của ngón giữa và được kéo ngược lại bằng bàn tay kia để tạo ra một lực búng nhẹ.
Từng tỏ ra tháo vát, những cậu bé Tân Định sẽ thu thập những cái bao thuốc lá bị vứt bỏ làm được làm bằng giấy cứng mỏng nhưng bền. Chồng những cái hộp của mình từng cái một lên trên cái khác, những cậu bé sẽ đứng lui lại tránh xa và cố gắng đánh đổ những hàng bên trên bằng những hòn đá hoặc sỏi nhỏ. Như với những viên bi, những cái hộp nhỏ được dời đi trở thành tài sản và vật sở hữu cá nhân của những người bắn trúng đích, xem như là sự đo lường về tính chất sắc sảo về thể chất và kỹ năng. Trong số hầu hết nhóm đến theo sự kêu gọi thuộc bản năng, cố hữu để chơi những trò chơi chiến tranh. Cậu bé Bình và những người bạn thân của mình luôn luôn di chuyển vòng quanh xóm của họ, được trang bị bằng những cây súng được chế tạo bằng thủ công từ những khối gỗ mà qua đó có thể phóng ra những sợi dây thung cao su một khoảng cách khá xa với độ chính xác hợp lý.
Những thú vị của âm nhạc được thu âm lại và sự phát thanh làn sóng nằm ngoài tầm tay đối với hầu hết người dân ở Đông Dương trong suốt cuối thập niên 1940s và đầu thập niên 1950s. Điều đó là dành cho ngôi nhà của gia đình giàu nhất ở Tân Định,

p12

nơi mà người đàn ông được mướn làm việc theo một cách nào đó bởi chính phủ Pháp, mà qua đó toàn bộ dân cư trong xóm sẽ đỗ xô đến bất kỳ lúc nào chiếc máy hát dĩa hiệu Victrola được quây tay lên hoặc chiếc radio được mở lên. Cho dù âm nhạc là một cái gì đó mới mẻ từ Pháp hoặc Mỹ, hoặc là một trong những bài hát tình yêu theo phong cách xa xưa, loại nhạc miền quê, mang âm điệu khu vực chỉ riêng có ở Bắc Bộ, Trung Bộ, hoặc Nam Bộ, những ngưòi có tuổi đặc biệt là không bao giờ đánh mất cảm giác của họ về sự kỳ lạ ở những âm thanh kêu cót két được phát ra từ những cái dĩa màu đen đang quay vòng hoặc cái hộp gỗ được đánh bóng.

(Máy hát dĩa hiệu Victrola VV-IX trong khoảng 1911–1924
còn được gọi là Máy nói Chuyện Victrola, với trục quây tay bên phải)

Không có ngày nghĩ lễ nào ở Việt Nam có thể đạt đến mức độ của sự nghiêm túc, quan trọng, tham dự, và vui tươi mà dịp Tết dành cho tất cả những công dân, thậm chí cả những người vốn không theo đạo Phật. Tết Nguyên Đán Tết –Năm Mới được tính theo Mặt trăng– bắt đầu vào ngày đầu tiên của tháng âm lịch đầu tiên và là một mùa đầu tiên của năm mới. Thường xảy ra vào lúc nào đó trong cuối tháng Giêng hoặc đầu tháng Hai, cùng một lúc cả thế tục lẫn thiêng liêng; dịp lễ lớn được đón mừng bởi tất cả người Việt Nam. Tết là một khoảng thời gian dành cho gia đình và bạn bè tụ tập, cho những tổ tiên đã khuất được cúng bái, là một thời gian để gác lại quá khứ và tìm kiếm một cách mong đợi cho một tương lai thịnh vượng. Đặc biệt là đối với những trẻ em, chính là một thời gian vui mừng được đánh dấu bằng các trò chơi và những phong quà tiền mặt và quần áo mới, pháo bông, và các món ngon đặc biệt được phục vụ dồi dào.
Cậu bé Bình riêng biệt thú vị thưởng thức món ăn dịp Tết. Mẹ cậu ta và các phụ nữ khác sẽ nấu trong những ngày trước đó, xuỵt đuổi những đứa trẻ ham ăn đi khỏi khi chúng lòng vòng giống như là những con kên kên đang chờ đợi một miếng ở đây, một cái cắn nhỏ ở đó, nóng lòng muốn thử bất kỳ cái gì mà những người lớn tuổi của chúng có thể chia sẻ. Ngoài những cục kẹo, cậu ta chiếm một phần bánh chưng đáng kể –là những cái bánh có dáng hình vuông được làm bằng gạo nếp, thịt heo, và những hạt đậu xanh được gói trong lá dong có thể ăn được, sau đó được hấp lên. Bánh tét –là cái bánh có dáng hình tròn vốn là phần nhiều tựa “bánh xốp” bằng gạo, cũng là một món ăn ưu thích. Bước vào đời sống trưởng thành của mình, đối với ông Bình, Tết sẽ luôn luôn là một khoảng thời gian tin mừng.
Giữa năm 1946 và 1952, Lê Bá Sách dẫn dắt gia đình non trẻ của mình về miền bắc trên nửa tá những chuyến đi để thăm viếng mẹ mình và những chú bác cùng các anh em họ còn lại vốn là những người vẫn sống ở Hà Đông. Xa hơn trước thời gian năm 1952, rõ ràng là những người Cộng sản đang trở thành một lực lượng đáng được nghĩ đến. Đối với ông Sách, việc nhận biết về sự thống trị của Cộng sản ở miền Bắc là một viên thuốc đắng nuốt vào.

p13

Điều hiển hiện đau đớn đối với ông ta là cuộc chiến tranh giữa Việt Minh và Pháp sẽ đi đến một mức giá cao cho gia đình của mình.
Ngay cả trước khi sự trở lại của những lực lượng Pháp sau Thế Chiến thứ II, bà nội của ông Bình, một điền chủ nhỏ ở Hà Đông, đã cảm thấy cơn thịnh nộ ngày càng táo bạo và áp lực từ những cán bộ Cộng sản và sự tuyên truyền xảo quyệt của họ. Một ít năm sau đó, trong sự tử tế và hào hiệp của họ, những kẻ tay sai của ông Hồ, khi họ cuối cùng chiếm đoạt đất của bà ta cho người dân và cuộc cách mạng vào năm 1956, thì gần như là dân sự trong nỗ lực thanh lọc của họ. Như là một phần của tầng lớp bị thù ghét của tư bản, những địa chủ hút máu, bà ta và gia đình bà đã có thể biết trước việc thủ tiêu: bị bắn ở phía sau đầu hoặc bị treo lên, được thêm sức nặng cho rơi xuống, và theo một cách lịch sự được ném vào trong một cái hồ hoặc con sông sâu. Thay vì, họ bị buộc phải gánh chịu sự sỉ nhục của việc kéo dài sự sống còn của họ trên một phần tài sản của mình –mà hiện thời thuộc về cách mạng– trong một căn chòi tồi tàn, bẩn thỉu mà trước đây được dùng như là nơi trú ẩn cho những con heo và gà.

[00 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42]

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Khối Thịnh vượng Chung Đại Đông Á : (The Greater East Asia Co-Prosperity Sphere) là một khái niệm được tạo ra và truyền bá trong suốt niên kỷ thứ ba thời kỳ thứ nhất của giai đoạn Shōwa (Chiêu Hòa) bởi chính phủ và quân đội của Đế quốc Nhật Bản. Nó thúc đẩy sự thống nhất văn hóa và kinh tế của chủng tộc Đông Á. Nó cũng được tuyên bố về ý định tạo ra “một khối tự cung tự ứng của những quốc gia Á châu được dẫn đầu bởi người Nhật và việc giải thoát khỏi những quyền lực Tây phương.” Nó được công bố trong một bài diễn văn của đài phát thanh có tựa đề “Tình hình Quốc tế và Vị thế của Nhật Bản” của vị Bộ trưởng Ngoại giao Hachirō Arita vào ngày 29 tháng Sáu năm 1940.
Khẩu hiệu này được Thủ tướng Fumimaro Konoe, trong nỗ lực nhằm tạo ra một Đại Đông Á, bao gồm Nhật Bản, Mãn Châu quốc, Trung Quốc, và một phần Đông Nam Á, với mục tiêu, theo bộ máy tuyên truyền của chính quyền, là thiết lập một trật tự thế giới mới nhằm tìm kiếm sự “thịnh vượng chung” cho các quốc gia châu Á, cùng chia sẻ sự thịnh vượng và hòa bình, hoàn toàn không lệ thuộc vào chủ nghĩa thực dân và sự thống trị của phương Tây.
Tuy nhiên, nó cũng chỉ là một trong những khẩu hiệu và khái niệm được dùng để biện hộ cho sự xâm lược của Nhật Bản tại Đông Á từ thập niên 1930 cho đến hết Thế Chiến thứ II và thuật ngữ “Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á” ngày nay chủ yếu được xem là bức bình phong cho sự quản lý của người Nhật tại các quốc gia chiếm đóng trong Thế Chiến thứ II, trong đó chính quyền bù nhìn phải vận động người dân và nền kinh tế trong nước phục vụ cho lợi ích của Đế quốc Nhật Bản.
Ý nghĩa tiêu cực ở nhiều người khi nhắc đến cụm từ “Đại Đông Á” (大東亜) vẫn là một trong những khó khăn tại Hội nghị Đông Á hằng năm, bắt đầu từ năm 2005, để bàn thảo về khả năng thiết lập một Cộng đồng Đông Á mạnh mẽ và đoàn kết hơn.

pc 02_ Từ trái sang phải trong bức hình là :
_ Ba Maw, Quốc trưởng, nước Miến Điện.
_ Zhang Jinghui, Thủ tướng Mãn Châu Quốc.
_ Wang Jingwei, Tổng thống Chính phủ Quốc gia của Cộng hòa Trung Hoa ở Nam Kinh.
_ Hideki Tojo, Thủ tướng Nhật Bản.
_ Hoàng tử Wan Waithayakon, Công sứ của Vương quốc Thái Lan.
_ José P. Laurel, Tổng thống của nền Đệ Nhị Cộng hòa Phi Luật Tân.
_ Subhas Chandra Bose, Quốc trưởng của Chính phủ Lâm thời Ấn Độ Tự do.

Đây thật ra là một tham vọng “Bá chủ Á Đông” của Nhật Bản, và trước sức mạnh của họ vào thời kỳ Thế Chế thứ II đã khiến những nhà lãnh đạo trong vùng Á Đông nhu nhược và lo sợ vạ lây nên họ sẵn sàng hợp tác “theo chiều gió” hơn là đoàn kết tạo sức mạnh chống lại khát vọng của Đế quốc Nhật. Và hôm nay, trong thế kỷ 21 nầy, hình ảnh khát vọng của một Đế chế ở vùng Á Đông được thay thế bởi Trung cộng. Lịch sử lập lại và kết cuộc chắc chắn sẽ không thay đổi như đã từng gieo vào tâm khảm của bao thế hệ người Nhật là sự “tủi nhục của quốc gia” khó gọt bỏ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s