Vài lời về Cuốn sách “Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch”

Vài lời về Cuốn sách “Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch”
(“The Road to Serfdom”)

Đây là một trong những cuốn sách gối đầu của một số chính khách và Tổng thống Hoa Kỳ như là George H. W. Bush, thậm chí cả nhóm cải cách của Đặng Tiểu Bình, Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng là một trong những cuốn sách mà hiện nay nhà nước của Đảng Cộng sản Việt Nam âm thầm ngăn cấm tái phát hành hoặc điểm sách (mặc dù trước đó, trong giai đoạn Đổi Mới, 1986–2003, nó được chuyển dịch bởi người trong nước và được xuất bản ngay tại Việt Nam).

1- Sơ lược về Tiểu sử Tác giả:

(Friedrich August von Hayek (1899–1992))

Friedrich August von Hayek được sinh ra ở Đế quốc Áo-Hung hoặc chế độ Lưỡng Quân chủ, là người Áo, sau nầy trở thành công dân Anh Quốc. Ông ta là nhà kinh tế học, và triết học được biết đến nhiều nhất cho việc bảo vệ chủ nghĩa tự do cổ điển và từng chia phần Giải thưởng Kỷ niệm Nobel về Khoa học Kinh tế với Karl Gunnar Myrdal (là nhà kinh tế, xã hội, và chính trị người Thụy Điển).
Trong năm 2011, bài viết của ông ta “The Use of Knowledge in Society” (“Cách dùng Kiến thức trong Xã hội“) vốn được công bố lần đầu tiên trong ấn bản tháng 9/1945 của tạp chí The American Economic Review (Duyệt xét lại Kinh tế Mỹ), được tuyển chọn là một trong 20 bài viết hay nhất được ấn bản bởi tạp chí The American Economic Review trong suốt 100 năm đầu tiên của nó.

2- Sơ lược về cuốn sách “Con đường dẫn đến Tình trạng Nô dịch” :

Trước hết, xin nói sơ về ý nghĩa của chữ “serf” vốn có nguồn gốc từ tiếng Pháp thời Trung cổ và có thể theo vết xa hơn trở lại đến chữ servus trong tiếng Latin có nghĩa là “slave” (nô lệ). Tuy nhiên, chữ “serf” có ý nghĩa khác hơn chữ “slave” đôi phần. Vì những người được gọi là “serf” thời Trung cổ là những nông nô, phải trả tiền thuế theo quy định của lãnh chúa khu vực, phải chia nhau làm việc ít nhất là 3 ngày cho lâu đài lãnh chúa, phải chiến đấu bảo vệ lãnh chúa, là thành phần thấp nhất trong xã hội, nhưng họ được cấp đất đai để trồng trọt, nuôi gia súc, và xây cất nhà ở. Nếu khu vực đó được bán đi, những người nông nô được xem là một phần tài sản trong đó. Trong khi đó, những người bị xem là “slave” phải chịu cuộc sống nô lệ, không được hưởng bất kỳ lợi ích cá nhân nào, dĩ nhiên, tất cả chỉ là phục vụ vì lợi ích chủ nhân nên họ không phải đóng thuế, và có thể bị thay đổi nơi trú ngụ bất ngờ vì cuộc trao đổi giữa những chủ nhân mua bán.

(Một khu vực của lãnh chúa cai quản bao gồm một làng
nông nô và những cánh đồng)

(Căn nhà lá của nông nô thời Trung cổ ở Âu châu)

Trong ý nghĩa “nông nô” đó, hơn là “nô lệ”, tác giả sử dụng trong nghĩa rộng lớn hơn theo mô hình thời đại kỷ nghệ, hãng xưởng, nhà máy qua hình thức “nô dịch” tựa như thời nông nô Trung cổ ở Âu châu nhưng dưới một chế độ độc tài toàn trị đương thời của Đức Quốc xã trong Thế Chiến thứ II.
Trong đó, ông ta thảo luận về nền kinh tế có hoạch định, lợi và hại đối với tầng lớp lao động và ngay cả đối với chính quyền. Nền kinh tế có hoạch định là một nền kinh tế định hướng dưới quyền lực chuyên chế, tập trung của nhà nước. Ông ta lấy nước Đức là một điển hình chính trong cuộc thảo luận vì lẽ nước Đức đã từng trải qua những kinh nghiệm sâu sắc hơn từ hình thức Chủ nghĩa Xã hội tiến lên Chủ nghĩa Quốc xã sau khi chế độ phong kiến Phổ bị sụp đổ so với Chủ nghĩa Cộng sản Liên Xô vốn thoát thai từ lý thuyết của những nhà xã hội chủ nghĩa Đức mà đối với những người Đức, chủ nghĩa đó đã hóa ra cổ điển.
Ngoài ra, ông ta cũng thảo luận về nền dân chủ và những quy định luật pháp trong mối tương quan, mâu thuẩn như thế nào đối với nền kinh tế có hoạch định. Và cuối cùng là những viễn ảnh về trật tự quốc tế theo cái nhìn của ông ta về kinh tế. Tựu trung, ông ta thảo luận chính yếu về kinh tế, và đưa ra những trích dẫn của những nhà kinh tế Phe tả, lẫn Phe hữu, cùng những tư tưởng của các nhà triết học từ thời cổ đại đến đương thời. Ông ta đã lên án gay gắt đối với chủ nghĩa độc tài toàn trị mà biểu tượng chính là Đức Quốc xã, và chủ nghĩa xã hội mà ông ta nói đến không phải là loại chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô trong khối Cộng sản quốc tế. Đây là điều mà những học giả cộng sản thường hay tuyên truyền và bóp méo sự thật mỗi khi một tác giả nào đó thảo luận hoặc nhắc đến nhóm chữ chủ nghĩa xã hội mà thật ra đó là tinh thần thúc đẩy cuộc sống an sinh trong xã hội hơn là tinh thần cộng sản vốn nằm trong chủ nghĩa độc tài toàn trị như Đức Quốc xã.

3- Thay lời kết:

Trong công cuộc cứu lấy nền kinh tế lụn bại mà Mao Trạch Đông đã từng áp dụng đúng theo kiểu cách của Cộng sản Liên Xô trên đất nước Trung Hoa qua chính sách Đại Nhảy vọt từ năm 1958 đến 1960, chỉ trong vòng 2 năm đó, một con số ước lượng có đến 20 triệu (có thể lên đến 40 triệu) người chết, nhóm cải cách Đặng Tiểu Bình –từng bị họ Mao lên án gay gắt, thậm chí tống giam và thanh trừng– thành lập lại và chiêm nghiệm tư tưởng dựa trên cuốn sách “Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch” nầy nhằm đổi mới đất nước. Và họ Đặng đã thành công khi biết mở rộng cửa Cộng sản đón nhận phe tư bản vào, bất chấp sự phê bình dữ dội của Liên Xô (nhưng sau nầy, cũng chính Liên Xô phải mở rộng cửa Cộng sản như họ Đặng, nhưng thời điểm đó đã quá trễ vì vậy đưa đến sự sụp đổ không thể nào tránh được của chính nó và toàn khối cộng sản Đông Âu).
Tuy thế, cuốn sách nầy mang thêm sắc thái của nền dân chủ, đối lập hoàn toàn với chế độ độc tài toàn trị. Đó là điều mà những nước Cộng sản còn lại không muốn nó được phổ biến lan rộng trong công chúng vì sự phát triển nếu có, của một nền kinh tế luôn đi kèm theo sự đòi hỏi về quyền tự do cá nhân và nền dân chủ. Thí dụ điển hình là nền kinh tế Đức Quốc xã chỉ là bề ngoài vốn tồn tại thêm được là nhờ vào cuộc Thế Chiến II do chính nó gây ra nhằm thu về những mối lợi chiếm lấy được từ những nước khác.
Gần hơn là nền kinh tế miền Bắc Việt Nam trước năm 1975, gần như hoàn toàn khó thể cứu vãng với chế độ bao cấp, tem phiếu hầu kéo dài thời gian chịu đựng trong hoàn cảnh ngày càng kiệt quệ từ hạ tầng cơ sở, để sống còn điều duy nhất họ có thể làm được là tiếp tục tạo chiến tranh. Vì chiến tranh vừa làm giảm đi gánh nặng dân số miền Bắc, vừa được nhận viện trợ và vay mượn từ những nước trong cùng một khối cộng sản, và thúc đẩy hy vọng chiếm được tài sản của miền Nam Việt Nam. Điều nầy đã được minh chứng sau năm 1975, khi nhà nước Việt cộng dùng chính sách “cào bằng” sự khác biệt quá xa giữa hai nền kinh tế Bắc–Nam hầu cứu lấy nền kinh tế bại liệt ở miền Bắc. Kết quả là tuy miền Bắc được hưởng chút phồn vinh từ miền Nam nhưng chỉ là tạm thời, không đủ để đưa cả nước Việt Nam thoát khỏi chính sách bao cấp, một lần nữa, tiếp tục bao trùm toàn quốc. Tuy thế, nhà nước Việt cộng phải chờ đợi Sô-Viết cộng tiến hành Đổi mới, họ mới được phép và dám hô hào Đổi mới như Trung cộng đã từng làm trước đó.
Đó cũng là lý do tại sao cuốn sách nầy được phép cho dịch ra và phát hành ở Việt Nam trong giai đoạn lúc bấy giờ. Và ảnh hưởng của nó là đưa đến sự đòi hỏi về quyền tự do cá nhân và sự khao khát nền dân chủ, vì vậy nhà nước Việt cộng âm thầm thủ tiêu phương tiện Đổi Mới trong nỗi lo sợ sự sụp đổ bất ngờ như Liên Xô vào khoảng giữa năm 1991.

Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch (Mục Lục & Lời Giới thiệu)

Con đường Dẫn đến Tình trạng Nô dịch
(The Road to Serfdom)

(1944)
Friedrich August Hayek (1899–1992)

“Cuốn sách nầy đã trở thành một tác phẩm cỗ điển thực sự: thứ sách đọc
cần thiết dành cho mọi người vốn cảm thấy rất nhiều thú vị về chính trị
trong ý nghĩa về đảng phái rộng lớn nhất và nhỏ nhoi nhất.”

Milton Friedman

“Cuốn sách nầy nên được đọc bởi mọi người. Không cần nói rằng có
rất nhiều người vốn không quan tâm đến chính trị; vấn đề chính trị
được thảo luận bởi Tiến sĩ Hayek liên quan đến mỗi mọi thành
viên của cộng đồng.”

The Listener

Mục Lục
Lời tựa… vii
Lời Giới thiệu… 01
Chương 01: Con đường Bỏ hoang… 10
Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng… 24
Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể… 33
Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định… 45
Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ… 59
Chương 06: Việc hoạch định và Quy định Luật pháp… 75
Chương 07: Quyền kiểm soát Kinh tế và Chủ nghĩa Độc tài Toàn trị… 91
Chương 08: Ai làm, ai chịu ?… 105
Chương 09: Vấn đề An ninh và Quyền Tự do… 123
Chương 10: Tại sao Những kẻ Tồi tệ nhất Được ở Trên cao… 138
Chương 11: Phần Cuối của Sự thật… 157
Chương 12: Những cội rễ Xã hội Chủ nghĩa của Chủ nghĩa Đức Quốc xã… 171
Chương 13: Những kẻ Độc tài Toàn trị ở giữa Chúng ta… 186
Chương 14: Những Điều kiện Vật chất và Những Mục đích Lý tưởng… 207
Chương 15: Những viễn ảnh về Trật tự Quốc tế… 225

và Kết luận… 245

===========================================

pvii

Lời tựa

Khi một học sinh chuyên nghành về những vấn đề xã hội viết một cuốn sách về chính trị, việc phải làm trước tiên của anh ta là nói rõ ràng như thế. Đây là một cuốn sách chính trị. Tôi không muốn che giấu điều nầy bằng cách mô tả về nó, như tôi lẽ ra đã có thể làm được, với một cái tên thanh lịch và đầy tham vọng hơn của một bài tiểu luận về triết học xã hội. Nhưng, bất cứ là cái tên gì, điểm quan trọng vẫn còn là tất cả những gì mà tôi nhất định phải nói, được rút ra từ những giá trị cuối cùng nào đó. Tôi hy vọng rằng tôi đã tuôn ra một cách đầy đủ trong chính cuốn sách một nhiệm vụ thứ hai và không kém quan trọng: nhằm làm sáng tỏ không còn nghi ngờ gì về những giá trị cuối cùng nầy là gì mà qua đó toàn bộ lập luận phụ thuộc vào.
Tuy nhiên, có một điều tôi muốn thêm vào cuốn sách nầy. Mặc dù đây là một cuốn sách về chính trị, như bất cứ ai có thể tôi chắc chắn rằng những niềm tin được đưa ra trong đó, không nhất định do những lợi ích cá nhân của tôi. Tôi không thể khám phá ra một lý do nào về việc tại sao một thứ xã hội mà dường như rất khao khát đối với tôi, đã nhất định đưa ra những điều lợi lớn hơn cho tôi so với đại đa số người dân của đất nước nầy. Thật ra, những người bạn đồng nghiệp theo xã hội chủ nghĩa luôn luôn nói với tôi rằng như một nhà kinh tế học tôi nên chiếm một vị trí quan trọng hơn nhiều trong thứ xã hội mà tôi chống đối –dĩ nhiên, quy định rằng tôi có thể tự quy phục để chấp nhận những quan điểm của họ.

pviii

Tôi cũng cảm thấy chắc chắn rằng sự chống đối của tôi hướng đến những quan điểm nầy thì không phải là do sự khác biệt của họ đối với những điều mà tôi đã từng trưởng thành với chúng, vì chúng là những quan điểm chân thực mà tôi bám giữ khi còn là một thanh niên và đã dẫn dắt tôi để đi đến việc quyết định học về ngành kinh tế như là một chuyên nghiệp của mình. Đối với những người, theo kiểu cách đương thời, vốn tìm kiếm điều thú vị nơi những động lực thúc đẩy trong mọi ngành nghề có quan điểm về chính trị, có lẽ tôi xin phép được phép thêm rằng tôi có mọi lý do như có thể có cho việc không viết hoặc xuất bản cuốn sách nầy. Điều chắc chắn là xúc phạm đến nhiều người mà tôi ao ước muốn sống trong sự giao hảo tình bạn với họ; nó đã buộc tôi phải bỏ qua một bên công việc mà tôi cảm thấy có đủ khả năng thích hợp hơn và tôi chú trọng nhiều hơn về lâu về dài; và, trên hết, điều chắc chắn là gây thiệt hại cho việc tiếp nhận những kết quả của công việc mang tính chất học thuật nghiêm chỉnh hơn mà tất cả những khuynh hướng của tôi dẫn tôi đến.
Mặc dù là vậy nếu cuối cùng tôi đã quan tâm đến việc viết ra cuốn sách nầy như là một nhiệm vụ mà tôi không được trốn tránh, điều nầy chủ yếu là do nét nổi bật riêng biệt và nghiêm túc của các cuộc thảo luận về những nan đề của chính sách trong tương lai về kinh tế tại thời điểm hiện tại, mà qua đó công chúng mấy khi nhận biết một cách đầy đủ. Đây là một sự kiện thực tế mà phần đông các nhà kinh tế hiện nay đã bị hấp thụ trong một vài năm bởi guồng máy chiến tranh, và buộc phải im hơi lặng tiếng bởi những vị trí chính thức của họ, và trong quan điểm công chúng theo sau những nan đề nầy thì đến một mức độ báo động nào đó được hướng dẫn bởi những tay ngang nghiệp dư và những người lập dị, bởi những người vốn có quan điểm mạnh mẽ ảnh hưởng đến hành động hoặc một giải pháp giải quyết được mọi vấn đề khó khăn. Trong những hoàn cảnh nầy, người mà vẫn có thú vui cho công việc văn học, thì khó lòng cho phép giữ lấy cho chính mình những hiểu biết mà những khuynh hướng hiện tại ắt hẳn tạo ra trong tâm trí của nhiều người vốn không thể công khai bày tỏ về chúng –mặc dù trong những hoàn cảnh khác, đáng lẽ ra tôi nên vui lòng để lại cuộc thảo luận về các vấn đề chính sách quốc gia cho những người vốn có thẩm quyền cao hơn cũng như có đủ khả năng thích hợp hơn cho công việc.
Cách lập luận chính yếu của cuốn sách nầy lần đầu tiên được phác thảo trong một bài báo có tựa đề “Quyền tự do và Hệ thống kinh tế”, vốn xuất hiện trong phần Duyệt xét Đương thời cho tháng Tư, năm 1938, và sau đó được in lại trong một hình thức phóng lớn hơn như là một trong những “Cuốn sách tay về Chính sách Công chúng”, được chỉnh sửa bởi Giáo sư H.D. Gideonse cho Báo Đại học Chicago (1939).

pix

Tôi phải cảm ơn những biên tập viên và những nhà xuất bản của cả hai ấn phẩm nầy cho phép tái bản những đoạn nào đó từ chúng.

Trường Kinh tế Học, London,
Cambridge, tháng Mười Hai, 1943

===========================================

p01

Lời Giới thiệu

“Một số ít những khám phá thì gây nhiều khó chịu hơn
những gì vốn phơi bày nguồn gốc của những ý tưởng.”

Lord Acton

Những sự kiện đương thời khác biệt đối với lịch sử trong điều mà chúng ta không biết về những kết quả chúng sẽ tạo ra. Nhìn lại, chúng ta có thể đánh giá mức độ quan trọng của những việc xảy ra trong quá khứ và theo dấu vết của những sự kiện theo sau mà chúng đã mang vào trong chuyến xe lửa của chúng. Nhưng, trong khi lịch sử chạy theo hành trình của mình, nó không phải là lịch sử đối với chúng ta. Nó dẫn dắt chúng ta vào trong một vùng đất không ai biết đến và ngoại trừ hiếm khi chúng ta có thể thoáng nhìn thấy được chuyện gì ở phía trước. Điều đó sẽ khác biệt nếu chúng ta được sống lần thứ hai qua cùng những sự kiện với tất cả sự hiểu biết về chuyện gì mà chúng ta đã từng nhìn thấy trước đây. Những thứ sẽ xuất hiện trước mắt chúng ta khác biệt đến thế nào ấy, những thay đổi mà hiện thời chúng ta hiếm khi chú ý sẽ có vẻ quan trọng và thường hay báo động đến như thế nào ấy ! Có lẽ điều may mắn là người ta không bao giờ có thể có kinh nghiệm nầy và không biết về những luật lệ nào mà lịch sử phải tuân theo.
Tuy nhiên, mặc dù lịch sử không bao giờ hoàn toàn lặp lại chính mình, và chỉ vì không một sự phát triển nào thì tất yếu xảy ra, chúng ta có thể trong một mức độ nào đó học hỏi được từ quá khứ để tránh sự lặp lại của cùng một tiến trình.

p02

Người ta không cần phải là một tiên tri mới nhận biết được những nguy hiểm sắp xảy ra. Một sự kết hợp ngẫu nhiên của kinh nghiệm và sự quan tâm thường hay sẽ tiết lộ những sự kiện cho một người nào đó dưới những khía cạnh mà một số ít người dù sao cũng còn hiểu biết.
Những trang theo sau là sản phẩm của một kinh nghiệm gần như có thể là gấp hai lần sự sống qua cùng một giai đoạn –hoặc ít nhất là gấp hai lần việc quan sát sự tiến hóa rất giống nhau của những ý tưởng. Trong khi đây là một kinh nghiệm mà người ta dường như không có được trong một quốc gia, điều đó có thể trong những trường hợp nào đó được thu hoạch bởi việc đến lúc phải sinh sống trong những giai đoạn lâu dài ở các nước khác nhau. Mặc dù những ảnh hưởng mà khuynh hướng của tư tưởng lệ thuộc vào trong hầu hết những quốc gia văn minh, lan ra đến một mức độ rộng lớn tương tự, chúng không nhất thiết phải hoạt động cùng một lúc hoặc cùng một tốc độ. Như thế, bằng cách di chuyển từ một nước nầy đến nước khác, người ta đôi khi có thể quan sát gấp hai lần những giai đoạn tương tự của sự phát triển về trí tuệ. Những giác quan sau đó đã trở nên bén nhạy khác thường. Khi người ta nghe trong lần thứ hai những quan điểm được bày tỏ hay những phương thức được biện minh mà lần đầu tiên người ta đã từng bắt gặp cách đây hai mươi hoặc hai mươi lăm năm về trước, họ xem một ý nghĩa mới như là những triệu chứng của một khuynh hướng được xác định. Họ đề nghị rằng, nếu không phải là điều cần thiết, ít nhất là điều có thể xảy ra, những sự phát triển sẽ theo một chiều hướng tương tự.
Việc cần thiết hiện thời là nói lên một sự thật khó thể chấp nhận rằng chính là nước Đức có số phận mà chúng ta đang ở trong một tình trạng nguy hiểm nào đó của việc lặp đi lặp lại. Sự nguy hiểm không phải là tức thời, đó là sự thật, và những điều kiện ở đất nước nầy vẫn còn rất xa khỏi những điều kiện được chứng kiến trong những năm gần đây ở nước Đức khi khó mà tin rằng chúng ta đang di chuyển theo cùng một chiều hướng. Tuy nhiên, mặc dù con đường trải dài, chính là một con đường mà càng lúc trở nên khó khăn hơn để quay trở lại khi con đường tiến về phía trước. Nếu về lâu về dài, chúng ta là những người quyết định số phận của riêng mình, trong ngắn hạn, chúng ta là những tù nhân của những ý tưởng mà chúng ta đã tạo ra. Chỉ khi chúng ta nhận ra sự nguy hiểm kịp thời, chúng ta có thể hy vọng ngăn chận được điều đó.
Không phải là đối với một nước Đức của Hitler, một nước Đức của cuộc chiến tranh hiện nay, mà qua đó đất nước nầy chưa mang bất kỳ nét giống nhau nào. Ngoại trừ những sinh viên của những dòng ý tưởng khó mà có thể không thấy rằng có một sự tương đồng hời hợt nhiều hơn giữa các khuynh hướng tư tưởng ở nước Đức trong suốt và sau cuộc chiến tranh vừa qua và dòng ý tưởng hiện thời trong đất nước nầy.

p03

Hiện nay chắc chắn là tồn tại trong đất nước nầy một sự kiên định như nhau là cách tổ chức của quốc gia mà chúng ta đã đạt được cho những mục đích bảo vệ, được giữ lại cho những mục đích sáng tạo. Có cùng một sự khinh miệt đối với chủ nghĩa tự do vào thế kỷ 19, cùng một “chủ nghĩa hiện thực” giả mạo và cùng một sự chấp nhận theo định mệnh “những khuynh hướng quen thuộc.” Và ít nhất là chín trong số mỗi mười bài học mà những nhà cải cách ồn ào nhất của chúng ta cảm thấy áy náy là chúng ta có nên học hỏi từ cuộc chiến nầy, chính xác là những bài học mà những người Đức đã thực sự học được từ cuộc chiến vừa qua và đã làm phần lớn để sản xuất ra một hệ thống Đức Quốc xã. Chúng ta sẽ có cơ hội trong chiều hướng của cuốn sách nầy để cho thấy rằng có một số lượng lớn những điểm khác nơi mà, vào khoảng thời gian mười lăm đến hai mươi lăm năm, chúng ta dường như theo gương của nước Đức. Mặc dù người ta không thích được nhắc nhớ lại, điều đó không phải là rất nhiều năm kể từ khi chính sách xã hội chủ nghĩa của đất nước đó nói chung được bám giữ bởi những người cấp tiến như là một tấm gương để được noi theo, chỉ giống như trong những năm gần đây hơn, Thụy Điển đã từng là một quốc gia mô hình mà những đôi mắt tiến bộ được hướng trực tiếp vào. Tất cả những người mà ký ức của họ đi xa hơn trở lại, biết được, ít nhất là trong một thế hệ trước khi cuộc chiến vừa qua, tư tưởng của người Đức và cách thực hành của người Đức tạo ảnh hưởng sâu sắc đến như thế nào đến những ý tưởng và chính sách trong đất nước nầy.

(Adolf Hitler (1889–1945), là một người Đức gốc Áo, thủ lĩnh của đảng
Quốc xã, đã từng triệt hạ những người theo chủ nghĩa xã hội ở Đức,
cũng là một đối thủ cay đắng nhất của đảng Cộng sản Liên Xô)

(Joseph Stalin hoặc Iosif Vissarionovich Stalin (1878–1953), người
cầm đầu đảng Cộng sản Liên Xô, nổi tiếng là tay bạo chúa Gấu trắng,
vừa là một kẻ thông đồng và một địch thủ cay cú nhất của Hitler)

Tác giả đã từng trải qua khoảng một nửa cuộc đời trưởng thành của mình ở nước Áo sinh quán của mình, trong sự tiếp xúc gần gũi với đời sống trí thức Đức, và một nửa khác ở Hoa Kỳ và Anh Quốc. Trong mười năm hai năm ở nơi mà đất nước nầy hiện thời đã trở thành quê nhà của mình, ông ta càng lúc đã trở nên tin rằng ít nhất là một số trong những lực lượng nào đó vốn đã phá hủy sự tự do ở nước Đức, cũng đang hoạt động ở đây, và rằng đặc tính và nguồn gốc của sự nguy hiểm nầy, nếu có thể có, thậm chí ít được hiểu biết hơn so với chúng được biết đến ở nước Đức. Một thảm kịch vô cùng nầy vẫn không được thấy rằng ở nước Đức phần lớn là những người có thiện chí, những người đàn ông vốn được ngưỡng mộ và được nâng cao như là những kiểu mẫu ở đất nước nầy, vốn là những người chuẩn bị sẵn con đường, nếu họ thực sự không tạo ra, cho các lực lượng mà hiện nay mang danh cho mọi thứ mà họ ghét cay ghét đắng.

p04

Tuy nhiên, cơ hội của chúng ta ngăn ngừa một số phận tương tự phụ thuộc vào việc đối mặt của chúng ta với sự nguy hiểm và vào việc chuẩn bị của chúng ta nhằm xét lại ngay cả những hy vọng và tham vọng ấp ủ nhất của chúng ta nếu chúng sẽ chứng minh là nguồn gốc của sự nguy hiểm. Chưa có một số ít dấu hiệu nào là chúng ta có sự can đảm về trí tuệ để thừa nhận với chính mình rằng chúng ta có thể đã sai. Một số ít người sẵn sàng nhìn nhận rằng việc nổi dậy của Chủ nghĩa Phát-xít và Chủ nghĩa Đức Quốc xã không phải là một phản ứng chống lại những khuynh hướng xã hội chủ nghĩa của giai đoạn trước kia, ngoại trừ một kết quả cần thiết của những khuynh hướng đó. Đây là một sự thật mà hầu hết mọi người đều không vui lòng muốn nhìn thấy ngay cả khi những sự tương đồng của rất nhiều nét nổi bật khước từ những chế độ nội bộ trong một nước Nga cộng sản và một nước Đức quốc-xã được nhìn nhận một cách rộng rãi. Kết quả là, nhiều người vốn nghĩ mình có quyền năng vô hạn đối với những sự lầm lạc của Chủ nghĩa Đức Quốc xã và chân thành thù ghét tất cả những biểu thị của nó, làm việc cùng một lúc cho những lý tưởng mà sự nhận thức của họ sẽ dẫn dắt thẳng đến hành động bạo ngược đáng ghê tởm.
Tất cả những việc song song giữa những phát triển ở các quốc gia khác nhau, dĩ nhiên, là điều dối trá; nhưng tôi không đặt lập luận của mình chủ yếu trên những việc song song như thế. Cũng như tôi không lập luận rằng những phát triển nầy là tất yếu. Nếu chúng là thế, sẽ không có một quan điểm nào trong việc viết ra điều nầy. Chúng có thể được ngăn ngừa nếu người ta nhận ra đúng lúc nơi mà những nỗ lực của họ có thể dẫn đến. Nhưng cho đến thời gian gần đây, có ít hy vọng là bất kỳ sự cố gắng nào làm cho họ nhìn thấy sự nguy hiểm sẽ thành công. Tuy nhiên, có vẻ như thể là thời gian hiện thời đã chín muồi cho cuộc thảo luận đầy đủ hơn về toàn bộ vấn đề. Không chỉ là nan đề hiện thời được nhìn nhận một cách rộng rãi hơn, cũng có những lý do đặc biệt mà vào lúc nầy khiến phải bắt buộc là chúng ta sẽ đối mặt với những vấn đề một cách thẳng thắn.
Điều đó sẽ, có lẽ, sẽ được nói rằng đây không phải là lúc đưa ra một vấn đề mà qua đó những ý kiến xung đột một cách táo tợn. Ngoại trừ chủ nghĩa xã hội mà chúng ta nói về, không phải là một vấn đề về đảng phái, và những câu hỏi mà chúng ta đang thảo luận, không có liên quan gì nhiều đến những câu hỏi trong cuộc tranh cãi giữa các đảng phái chính trị. Nó không ảnh hưởng gì đến nan đề của chúng ta là một vài nhóm có thể ít muốn chủ nghĩa xã hội hơn những nhóm khác, là một số người muốn chủ nghĩa xã hội chủ yếu là vì lợi ích của một nhóm và những người khác vì lợi ích đó của một nhóm khác.

p05

Điểm quan trọng là, nếu chúng ta tiếp nhận những người mà quan điểm của họ gây ảnh hưởng đến những phát triển, hiện thời họ đang ở trong đất nước nầy ở một mức độ nào mà tất cả họ là những người theo chủ nghĩa xã hội. Nếu không còn là kiểu cách để nhấn mạnh rằng “tất cả chúng ta bây giờ là những người theo chủ nghĩa xã hội”, điều nầy rất đơn thuần bởi vì sự kiện thực tế quá rõ ràng. Hiếm khi có bất cứ ai nghi ngờ rằng chúng ta phải tiếp tục di chuyển theo hướng chủ nghĩa xã hội, và hầu hết mọi người chỉ đơn thuần là cố gắng làm lệch hướng di chuyển nầy vì lợi ích của một tầng lớp hoặc nhóm cụ thể riêng biệt.
Chính là bởi vì gần như mọi người đều muốn rằng chúng ta đang di chuyển theo chiều hướng nầy. Không có những sự kiện khách quan nào vốn khiến cho tất yếu xảy ra. Chúng ta sẽ phải nói một điều gì đó về tình trạng tất yếu bị cáo buộc cho việc “lên kế hoạch” sau nầy. Câu hỏi chính là sự di chuyển nầy sẽ dẫn dắt chúng ta đến đâu. Có phải đó là điều không thể là nếu những người mà những niềm tin chắc chắn của họ hiện thời cung cấp cho nó một động lực không thể cưỡng lại được, bắt đầu nhìn thấy điều gì đó mà chỉ có một ít người dù sao cũng còn hiểu rõ, họ sẽ giật mình trong sự kinh hoàng và từ bỏ việc tìm kiếm mà trong một nửa thế kỷ đã từng thu hút rất nhiều người có thiện chí ? Nơi mà những niềm tin chung nầy của thế hệ chúng ta sẽ dẫn dắt chúng ta đến, là một nan đề không chỉ đối với một đảng phái mà còn đối với mỗi người trong số chúng ta, một nan đề có tầm quan trọng chủ yếu nhất. Phải chăng có một bi kịch to lớn hơn có thể tưởng tượng được so với bi kịch trong sự cố gắng hết sức mình của chúng ta theo một cách có ý thức nhằm uốn nắn tương lai của chúng ta phù hợp theo những lý tưởng cao cả, mặc dù chúng ta thật ra không có chủ tâm sẽ tạo ra điều rất trái ngược với điều gì mà chúng ta đã và đang cố gắng đạt được ?
Có một lý do thậm chí cấp bách hơn là tại sao vào lúc nầy chúng ta nên nghiêm túc cố gắng để hiểu được những lực lượng vốn đã tạo ra Chủ nghĩa Quốc xã: mà điều nầy sẽ cho phép chúng ta hiểu được kẻ thù của mình và vấn đề sẵn sàng thắng hay thua giữa chúng ta. Điều đó không thể phủ nhận rằng dù sao cũng có một ít nhìn nhận về những lý tưởng xác thực mà chúng ta đang chiến đấu cho chúng. Chúng ta biết rằng chúng ta đang đấu tranh cho quyền tự do nhằm định hướng cuộc sống của mình theo những ý tưởng của riêng chúng ta. Đó là một việc rất tốt, nhưng chưa đủ. Nó không đủ để cho chúng ta những niềm tin vững chắc mà chúng ta cần đến để chống lại một kẻ thù vốn sử dụng việc tuyên truyền như là một trong những vũ khí chính của mình không chỉ trong những hình thức trắng trợn nhất mà còn tinh vi nhất.

p06

Điều đó là vẫn chưa đủ thích hợp hơn khi chúng ta phải phản ngược việc tuyên truyền nầy trong số người dân ở các nước dưới quyền kiểm soát của kẻ thù và ở nơi nào khác, nơi mà ảnh hưởng của việc tuyên truyền nầy sẽ không biến mất với sự bại trận của những sức mạnh phe Trục. Điều đó không đủ nếu chúng ta phải phơi bày cho những người khác thấy rằng điều mà chúng ta đang đấu tranh cho nó, thật đáng được sự hỗ trợ của họ, và không đủ để hướng dẫn chúng ta được an toàn trong một tòa nhà cao tầng của một châu Âu mới chống lại những mối nguy hiểm mà một châu Âu cũ đã không chống nổi.
Chính là một sự kiện thực tế thảm thương mà những người Anh trong sự thông đồng của mình với các nhà độc tài trước chiến tranh, không kém hơn trong những cố gắng của họ về việc tuyên truyền và trong cuộc thảo luận về những mục đích chiến tranh của họ, đã cho thấy tình trạng bấp bênh và không chắc chắn bên trong của mục đích vốn chỉ có thể được giải thích bởi sự lầm lẫn về những lý tưởng của mình và bản chất của những sự khác biệt vốn tách biệt họ ra khỏi kẻ thù. Chúng ta đã bị làm cho mê muội lạc lối bởi vì chúng ta đã từ khước tin rằng kẻ thù thì chân thành trong bản chất chuyên nghiệp về một số niềm tin mà chúng ta chia sẻ, như phần nhiều bởi vì chúng ta tin vào sự chân thành của một số những lời tuyên bố khác của kẻ thù. Có phải chăng những đảng phái cánh Tả cũng như những những đảng phái cánh Hữu đã từng bị lừa dối bởi tin rằng Đảng Quốc xã(pc 01) đang phục vụ cho những người theo chủ nghĩa tư bản và đối nghịch với tất cả những hình thức của chủ nghĩa xã hội ? Có bao nhiêu nét nổi bật của hệ thống Hitler đã không được đề nghị cho chúng ta bắt chước từ những nơi không ngờ nhất, không nhận biết rằng chúng là một phần tổng thể của hệ thống đó và không thể phù hợp với xã hội tự do mà chúng ta hy vọng bảo tồn ? Số lượng của những sai lầm nguy hiểm mà chúng ta đã tạo ra trước khi và kể từ lúc sự bùng nổ của chiến tranh bởi vì chúng ta không hiểu được đối thủ mà chúng ta đang phải đối mặt, thật là kinh khủng. Có vẻ hầu hết như thể là chúng ta không muốn hiểu sự phát triển vốn đã sản sinh ra chủ nghĩa toàn trị bởi vì một sự hiểu biết như thế có thể phá hủy một số trong những ảo tưởng đáng yêu nhất mà chúng ta quyết tâm bám lấy.
Chúng ta sẽ không bao giờ thành công trong việc giao dịch của mình với những người Đức cho đến khi chúng ta hiểu được đặc tính và sự tăng trưởng của những ý tưởng mà hiện nay chi phối họ. Cái lý thuyết vốn được đưa ra thêm một lần nữa, rằng những người Đức như thế thật xấu xa cố hữu, khó mà biện hộ được và rất không đáng tin đối với những người vốn nắm giữ nó.

p07

Điều đó làm sỉ nhục hàng chuỗi dài những người Anh vốn là những người trong suốt hàng trăm năm qua đã hân hoan chiếm lấy cái gì là giỏi nhất, và không chỉ cái gì là hay nhất, trong tư tưởng của người Đức. Nhìn sơ qua sự kiện thực tế khi mà cách đây tám mươi năm, John Stuart Mill đang viết bài tiểu luận tuyệt vời của mình “Về vấn đề Tự do” mà ông ta lấy cảm hứng của mình, nhiều hơn từ bất kỳ người đàn ông nào khác, từ hai người Đức, Goethe và Wilhelm von Humboldt,1 và quên đi sự kiện thực tế là hai người trong số những bậc tiền bối trí thức có ảnh hưởng nhất của Chủ nghĩa Quốc xã, Thomas Carlyle và Houston Stewart Chamberlain, là một người Scotland (i.e. Tô Cách Lan) và một người Anh. Trong những hình thức thô thiển hơn của nó, quan điểm nầy là điều sỉ nhục đối với những người vốn ứng dụng những nét nổi bật tồi tệ nhất của những lý thuyết chủng tộc của Đức bằng cách duy trì nó. Nan đề không phải là lý do tại sao những người Đức như thế lại thật xấu xa, mà qua đó phù hợp là có thể họ không khác gì nhiều hơn những dân tộc khác, tuy nhiên để xác định những trường hợp mà trong suốt bảy mươi năm qua đã tạo nên sự tăng trưởng tiến bộ và chiến thắng cuối cùng như có thể của một tập hợp riêng biệt gồm những ý tưởng, và lý do tại sao cuối cùng là sự chiến thắng nầy đã mang lại những phần tử xấu xa nhất trong số họ lên hàng đầu. Chỉ là sự hận thù mọi thứ của Đức, thay vì những ý tưởng riêng biệt mà lúc bấy giờ có ảnh hưởng lớn trên những người Đức, hơn nữa thì rất nguy hiểm, bởi vì nó che khuất những người vốn đam mê vào nó chống lại mối đe dọa thực sự. Điều đáng lo ngại là thái độ nầy là thường xuyên chỉ là một loại khuynh hướng thoát ly thực tế, được gây ra bởi sự không mong muốn nhận ra những khuynh hướng vốn không bị kiềm chế bên trong nước Đức, và bởi sự miễn cưỡng xem xét lại, và nếu cần thiết phải loại bỏ, những niềm tin mà chúng ta đã chiếm lấy từ những người Đức và bởi điều mà phần lớn chúng ta vẫn bị đánh lừa như những người Đức. Đó là điều nguy hiểm gấp đôi bởi vì một luận điểm cho rằng chỉ có sự gian ác riêng biệt của những người Đức đã sản sinh hệ thống Đức Quốc xã, thì giống như trở thành một cái cớ cho việc cưỡng bức chúng ta ngay những cơ sở vốn đã sản xuất cái ác đó.
=============
1 Như một số người có thể nghĩ rằng lời phát biểu nầy được phóng đại, lời trần trình của Lord Morley có thể là đáng trích dẫn, vốn là người trong cuốn Hồi ký của mình nói về “một quan điểm được thừa nhận” rằng lập luận chính về bài tiểu luận “On Liberty” (“Về vấn đề Tự do”) “không phải là nguyên tác nhưng đến từ nước Đức.”
=============

p08

Việc giải bày về những phát triển ở Đức và Ý sắp sửa được đưa ra trong cuốn sách nầy, thì rất khác biệt từ việc giải bày được đưa ra bởi hầu hết các nhà quan sát nước ngoài và bởi phần lớn những người lưu vong từ các nước đó. Nhưng nếu sự giải bày nầy là đúng, nó cũng sẽ giải thích lý do tại sao gần như là không thể nào đối với một người vốn, giống như hầu hết những người lưu vong và các phóng viên nước ngoài của báo chí Anh và Mỹ, bám giữ những quan điểm xã hội chủ nghĩa phổ biến lúc bấy giờ, để hiểu được những sự kiện đó trong một viễn ảnh thích hợp.1 Một quan điểm hời hợt và mê muội lạc hướng, vốn nhìn thấy được trong Chủ nghĩa Quốc xã chỉ là một phản ứng được khích động bởi những người mà những đặc quyền hoặc lợi ích bị của họ bị đe dọa bởi bước tiến của chủ nghĩa xã hội, đương nhiên được hỗ trợ bởi tất cả những người, mặc dù vào một thời điểm xáo động họ đang ở trong một sự chuyển động của những ý tưởng vốn đã dẫn đến Chủ nghĩa Quốc xã, vốn đã chận đứng sự phát triển đó tại một điểm nào đó và, được hỗ trợ bởi cuộc xung đột mà cuộc xung đột nầy mang họ đến với Đức Quốc xã, bị buộc phải rời khỏi đất nước mình. Nhưng sự kiện thực tế là theo số lượng họ là phe đối lập đáng kể duy nhất đối với Đức Quốc xã, có nghĩa là không nhiều hơn thế trong ý nghĩa rộng lớn hơn mang tính chất thực chất là tất cả những người Đức đã trở thành những người theo chủ nghĩa xã hội, và chủ nghĩa tự do trong ý nghĩa xa xưa đã bị tống ra bởi chủ nghĩa xã hội. Như chúng ta hy vọng cho thấy, cuộc xung đột trong sự tồn tại giữa cánh “Hữu” và cánh “Tả” của chủ nghĩa Quốc xã ở Đức là loại xung đột vốn sẽ luôn luôn phát sinh giữa các phe phái xã hội chủ nghĩa cạnh tranh.
=============
1 Làm cách nào những quan điểm được bám giữ một cách hoàn hảo ở tất cả mọi nơi, ngay cả phe bảo thủ nhất, của cả một quốc gia có thể được tô điểm bởi thành kiến về phe Tả chiếm ưu thế của những phóng viên nước ngoài thuộc Báo chí của nó, được minh họa kỷ lưởng bởi các quan điểm hầu như phổ quát được bám giữ ở Mỹ về những mối quan hệ giữa Đại Anh Quốc và Ấn Độ. Người Anh nào vốn muốn hiểu những sự kiện về Lục địa châu Âu trong một viễn ảnh đúng đắn, phải suy xét một cách nghiêm túc điều có thể có là những quan điểm của ông ta có thể đã bị bóp méo một cách chính xác trong cùng một cách thức, và vì những lý do tương tự. Điều nầy hoàn toàn không có nghĩa là phản ảnh sự chân thành của những quan điểm của phóng viên nước ngoài của Mỹ và Anh. Nhưng bất cứ ai vốn biết loại giới báo chí địa phương mà những phóng viên nước ngoài gần như có những tiếp xúc gần gũi, sẽ không có khó khăn nào trong việc hiểu được những nguồn gốc của thành kiến nầy.
=============

p09

Nếu cách giải bày nầy thì đúng, điều đó, tuy nhiên, có nghĩa là nhiều người trong số những người tị nạn đó theo xã hội chủ nghĩa, trong sự bám víu vào những niềm tin của họ, hiện thời, mặc dù bằng ý chí mạnh mẽ nhất trên thế giới, đang giúp dẫn dắt đất nước dung dưỡng của họ đến con đường mà nước Đức đã từng đi qua.
Tôi biết rằng nhiều người trong số những người bạn Anh Quốc của tôi đôi khi đã bị sửng sốt bởi những quan điểm nửa Phát-xít mà thỉnh thoảng có thể họ nghe đến, được bày tỏ bởi những người tị nạn Đức, mà những niềm tin chắc chắn của họ về xã hội chủ nghĩa đã không thể nào đáng nghi ngờ. Nhưng trong khi những nhà quan sát Anh Quốc nầy đặt điều nầy ra với những người Đức của họ, lời giải thích thật sự đó là họ là những người theo chủ nghĩa xã hội mà kinh nghiệm của họ đã mang họ qua nhiều giai đoạn xa hơn điều mà chưa được vói đến bởi những nhà xã hội chủ nghĩa ở đất nước nầy. Sự thật, dĩ nhiên, là những người Đức theo chủ nghĩa xã hội đã tìm thấy nhiều sự ủng hộ trong đất nước của mình từ những nhân vật nào đó thuộc truyền thống Phổ; và sự giống nhau về tính chất nầy giữa chủ nghĩa Phổ và chủ nghĩa xã hội, mà trong đó ở Đức cả hai phe đều hãnh diện, đưa ra sự hỗ trợ bổ sung cho luận điệu chính của chúng ta.1 Nhưng điều đó sẽ là một sai lầm khi tin rằng một người Đức đặc trưng hơn là một thành phần theo chủ nghĩa xã hội sản sinh ra chủ nghĩa độc tài toàn trị. Chính là sự phổ biến về những quan điểm xã hội chủ nghĩa và không phải là chủ nghĩa Phổ mà nước Đức có cùng quan điểm chung với Ý và Nga –và điều đó là từ những đám đông quần chúng và không phải là từ những tầng lớp bị mê mệt trong truyền thống Phổ, và được biệt đãi bởi nó, mà qua đó Chủ nghĩa Quốc xã vươn lên.
=============
1 Vốn thực sự là có sự tồn tại một quan hệ khắn khít nào đó giữa chủ nghĩa xã hội và cách tổ chức của Nhà nước Phổ, được tổ chức một cách có ý thức từ trên cao như là không có trong một quốc gia nào khác, không thể bị phủ nhận và thực sự được nhìn nhận một cách khoáng đạt bởi những nhà xã hội Pháp trước đó. Trước đó rất lâu, cái lý tưởng chiếm trọn toàn bộ nhà nước trên cùng những nguyên tắc như một nhà máy duy nhất là truyền cảm hứng cho chủ nghĩa xã hội ở thế kỷ 19. Nhà thơ người Phổ, Novalis, đã thực sự lấy làm ân hận la “không có một nhà nước nào khác đã từng được quản lý giống y như một nhà máy như ở nước Phổ kể từ cái chết của triều đại Frederick William.” (Xem thêm. Novalis [Friedrich von Hardenberg]. Tác phẩm “Glauben und Liebe, oder der König und die Königin” (“Đức tin và Tình yêu, hoặc là Vua và Hoàng hậu”), 1798).

(Chân dung của Novalis, là một tên khác của Georg Philipp Friedrich
Freiherr von Hardenberg, là nhà thơ, triết gia, và là Kỹ sư Công
chánh Phổ, được họa bởi Franz Gareis vào năm 1799)

=============

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Đảng Quốc xã : là do chữ Quốc gia và Chủ nghĩa Xã hội kết hợp (National Socialist Party). Điều nầy chứng minh rằng Chủ nghĩa Xã hội đã từng xuất hiện ở nước Đức trước Thế Chiến thứ I, trong thời kỳ Karl Heinrich Marx (1818–1883), một triết gia người Đức, cũng là cha đẻ của chủ thuyết Cộng sản mà Liên Xô là nước ứng dụng sau nầy; trong khi đó, nước Đức dưới thời Hitler đang ứng dụng chủ thuyết Quốc-Xã, một cấp bậc cao hơn, đi xa hơn chủ thuyết Cộng sản.

Chương 01: Con đường Bỏ hoang

p10

Chương 01: Con đường Bỏ hoang

“Một chương trình mà luận điểm cơ bản của nó thì, không phải là
một hệ thống kinh doanh tự do vì lợi nhuận đã thất bại trong thế
hệ nầy, nhưng là nó chưa được thử nghiệm.”

F.D. Roosevelt

Khi chiều hướng của nền văn minh quẹo sang hướng không ai nghĩ đến, khi thay vì sự tiến hành liên tục mà chúng ta đã đi đến như mong đợi, chúng ta tìm thấy chính mình bị đe dọa bởi những cái ác được liên đới bởi chúng ta với những thời kỳ đã qua của tính chất man rợ, chúng ta đương nhiên đổ lỗi cho bất cứ điều gì ngoại trừ chính mình. Có phải chăng tất cả chúng ta đã không cố gắng hết sức mình theo nguồn ánh sáng tốt nhất của chúng ta, và phần nhiều những tâm trí tinh tế nhất của chúng ta đã không làm việc liên tục để tạo ra một thế giới tốt hơn ? Có phải chăng tất cả những nỗ lực và hy vọng của chúng ta đã được điều hành trực tiếp hướng đến sự tự do, công bằng và thịnh vượng mỹ mãn hơn ? Nếu kết quả thì rất khác so với những mục đích của chúng ta, nếu, thay vì sự tự do và thịnh vượng, sự câu thúc và khốn khổ nhìn chằm chằm vào mặt chúng ta, có phải chăng điều không rõ ràng là những lực lượng đầy sát khí ắt hẳn đã đánh bại những ý định của chúng ta, chúng ta là những nạn nhân của một quyền lực độc ác nào đó vốn phải được chinh phục trước khi chúng ta có thể tiếp tục con đường đi đến những điều tốt hơn ?

p11

Tuy nhiên, phần lớn chúng ta có thể khác nhau khi chúng ta đặt tên cho thủ phạm, cho dù đó là những người tư bản đồi tinh quái hoặc thần linh xấu xa của một dân tộc riêng biệt, sự ngu ngốc của những người lớn tuổi của chúng ta, hoặc một hệ thống xã hội chưa có, mặc dù chúng ta đã đấu tranh chống lại điều đó trong nửa thế kỷ, đã lật đổ hoàn toàn –tất cả chúng ta, hoặc ít ra là cho đến gần đây, chắc chắn một điều: rằng những ý tưởng hàng đầu mà trong suốt thế hệ vừa qua đã trở thành phổ biến đối với hầu hết mọi người có thiện chí và đã định đoạt những thay đổi lớn trong đời sống xã hội của chúng ta, không thể nào đã là sai lầm. Chúng ta sẵn sàng chấp nhận hầu như bất kỳ lời giải thích nào về cuộc khủng hoảng hiện thời của nền văn minh của chúng ta, ngoại trừ một điều: đó là tình trạng hiện tại của thế giới có thể là kết quả của lỗi lầm đích thực về phần của riêng chúng ta, và việc theo đuổi một số trong những lý tưởng ấp ủ nhất của chúng ta đã hiển nhiên tạo ra những kết quả hoàn toàn khác biệt so với những kết quả mà chúng ta mong đợi.
Trong khi tất cả những năng lực của chúng ta được điều hành trực tiếp cho việc đưa cuộc chiến nầy đi đến một kết thúc vẻ vang, đôi khi đó là điều khó khăn khi nhớ rằng ngay cả trước khi chiến tranh những giá trị mà chúng ta hiện thời đang chiến đấu, đã bị đe dọa ở nơi nầy và bị phá hủy ở nơi khác. Mặc dù trong thời gian hiện tại, những lý tưởng khác biệt được tiêu biểu bởi các quốc gia thù nghịch đang đấu tranh cho sự tồn tại của mình, chúng ta không được quên rằng cuộc xung đột nầy đã phát triển ra khỏi cuộc đấu tranh của những ý tưởng trong phạm vi cái gì đó, cách đây không quá lâu, là một nền văn minh Âu châu chung; và những khuynh hướng vốn đã lên đến đỉnh điểm trong việc tạo ra những hệ thống độc tài toàn trị, không bị giới hạn ở các quốc gia vốn đã không chống nổi chúng. Mặc dù công việc trước tiên hiện thời phải là chiến thắng cuộc chiến, chiến thắng nó sẽ chỉ đạt được một cơ hội khác cho chúng ta để đối mặt với những nan đề cơ bản và tìm cách ngăn ngừa số phận vốn đã bắt kịp những nền văn minh cùng nguồn gốc.
Bây giờ, đó là điều hơi khó khăn khi nghĩ về nước Đức và Ý, hay về Nga, không như những thế giới khác biệt, nhưng như là những sản phẩm của sự phát triển về tư tưởng mà trong đó chúng ta đã chia sẻ; đó là điều, ít nhất là cho đến nay những kẻ thù của chúng ta cảm thấy quan tâm đến, dễ dàng hơn và an ủi hơn khi nghĩ rằng họ hoàn toàn khác với chúng ta và điều gì đã xảy ra ở đó, không thể xảy ra ở đây. Tuy thế, lịch sử của các nước nầy trong những năm trước khi việc nổi lên của hệ thống toàn trị đã cho thấy một ít nét nổi bật mà chúng ta không quen thuộc lắm.

p12

Cuộc xung đột bên ngoài là một kết quả của sự chuyển biến tư tưởng Âu châu mà những nước khác đã di chuyển nhanh hơn rất nhiều như khi mang chúng vào trong cuộc xung đột không thể hòa giải với những lý tưởng của chúng ta, nhưng qua đó đã không rời khỏi chúng ta mà không bị ảnh hưởng.
Mà qua đó một sự thay đổi những ý tưởng, và sức mạnh của ý chí con người, đã tạo ra một thế giới như là cái thế giới hiện thời, mặc dù con người đã không nhìn thấy trước những kết quả, và qua đó không có một sự thay đổi tự phát trong những sự kiện thực tế buộc chúng ta vì thế thích ứng với tư tưởng của mình, có lẽ là một điều khó khăn riêng biệt cho người Anh hiểu được, chỉ vì trong sự phát triển nầy người Anh, may mắn thay cho họ, đã tụt lại phía sau hầu hết các dân tộc Âu châu. Chúng ta vẫn nghĩ về những lý tưởng vốn hướng dẫn chúng ta và đã từng hướng dẫn chúng ta đã trong thế hệ qua như những lý tưởng chỉ được nhận ra trong tương lai, và không được nhận biết là trong hai mươi lăm năm qua chúng đã thực sự chuyển đổi bao xa, không chỉ là trên thế giới, mà còn trên đất nước nầy. Chúng ta vẫn tin rằng cho đến lúc khá gần đây chúng ta đã bị chi phối bởi điều gì đó được gọi một cách mơ hồ là những ý tưởng của thế kỷ mười chín hoặc nguyên tắc laissez-faire (i.e. không can thiệp).(pc 02) Nếu so với một số quốc gia khác, và từ quan điểm của những người thiếu kiên nhẫn nhằm gia tăng tốc độ thay đổi, có thể có một sự biện minh nào đó cho niềm tin như thế. Nhưng dù thế cho đến năm 1931, đất nước nầy đã theo chỉ là một cách chậm chạp trên con đường mà những nước khác đã dẫn dắt, thậm chí đến lúc chúng ta đã di chuyển cho đến nay mà chỉ những người với ký ức của họ quay trở lại những năm trước cuộc chiến tranh cuối cùng, biết được một thế giới tự do đã từng giống như cái gì.1
Một điểm quan trọng về những người dân nào ở đây vẫn còn rất ít nhận thức được là, tuy nhiên, không chỉ đơn thuần là mức độ to lớn của những thay đổi vốn đã diễn ra trong suốt thế hệ vừa qua, nhưng sự kiện thực tế là chúng mang ý nghĩa cho một sự thay đổi hoàn toàn theo chiều hướng của sự tiến triển những ý tưởng và trật tự xã hội của chúng ta.
=============
1 Ngay cả trong năm đó, Báo cáo Macmillan (i.e. Báo cáo của Ủy ban Tài chánh và Kỷ nghệ, còn được gọi tắt là Ủy ban Macmillan, bao gồm hầu hết những nhà kinh tế, được thành lập bởi chính phủ Anh Quốc sau vụ sụp đổ thị trường chứng khoán vào năm 1929) có thể đã nói rồi về “sự thay đổi cách nhìn của chính phủ đất nước nầy trong những lần gần đây, sự bận tâm ngày càng tăng của nó, bất chấp đảng phái nào, với việc quản lý đời sống của người dân” và thêm rằng “Nghị viện tìm thấy chính mình ngày càng tham gia vào việc ban hành pháp luật mà qua đó vì mục đích có ý thức của mình có quy định về những công việc hằng ngày của cộng đồng và bây giờ can thiệp vào những vấn đề trước đó được cho là hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của nó”. Điều nầy có thể nói đến trước khi, sau nầy trong cùng một năm, đất nước cuối cùng là đã liều lĩnh đâm đầu vào, và trong khoảng không gian ngắn của những năm chẳng vẻ vang gì từ năm 1931đến 1939, đã chuyển đổi hệ thống kinh tế của nó đến không còn nhận ra được.
=============

p13

Trong ít nhất là hai mươi lăm năm trước, bóng ma của chủ nghĩa toàn trị đã trở thành một mối đe dọa thực sự, chúng ta đã và đang dần dần di chuyển xa khỏi những ý tưởng cơ bản mà trên đó nền văn minh Âu châu đã được xây dựng nên. Mà qua đó sự chuyển động nầy trên điều mà chúng ta đã bước vào với những hy vọng và tham vọng cao xa như thế, đáng lẽ ra đã mang chúng ta ra mặt đối mặt với nỗi kinh hoàng của sự độc tài toàn trị, đã xuất hiện như là một sự sửng sốt hoàn toàn đối với thế hệ nầy, vốn vẫn từ chối kết nối hai sự kiện thực tế. Tuy nhiên, sự phát triển nầy chỉ xác nhận những lời cảnh cáo của những cha đẻ triết lý tự do mà chúng ta vẫn tuyên nhận. Chúng ta đã dần dần bỏ rơi quyền tự do trong những vấn đề kinh tế mà không có quyền tự do cá nhân và chính trị nào vốn chưa bao giờ tồn tại trong quá khứ. Mặc dù chúng ta đã được cảnh cáo bởi một số trong những nhà tư tưởng chính trị vĩ đại nhất của thế kỷ mười chín, bởi de Tocqueville và Lord Acton, rằng chủ nghĩa xã hội có nghĩa là sự nô lệ, chúng ta đã đều đặn di chuyển theo chiều hướng của chủ nghĩa xã hội. Và bây giờ qua đó chúng ta đã nhìn thấy một hình thức mới của cảnh nô lệ trỗi sinh trước mắt của chúng ta, chúng ta đã hoàn toàn thật sự quên đi lời cảnh cáo, mà việc đó hiếm khi khiến cho chúng ta nghĩ rằng hai điều có thể được nối kết lại.1

(Alexis-Charles-Henri Clérel de Tocqueville hay còn được gọi là Alexis de
Tocqueville (1805–1859), là một nhà tư tưởng vĩ đại của Pháp, cũng là một
nhà sử gia, đã từng cảnh cảo rằng chủ nghĩa xã hội có nghĩa là sự nô lệ)

(John Emerich Edward Dalberg-Acton, 1st Baron Acton hoặc đơn giản
là Lord Acton (1834–1902), cũng là một nhà tư tưởng vĩ đại vào thế
kỷ 19 của Anh Quốc, còn là một sử gia, nhà văn, và chính khách, và
đã cũng từng lên tiếng cảnh cáo như Alexis de Tocqueville đã nói)

Sự phá vỡ sắc bén đến như thế nào không chỉ với quá khứ gần đây nhưng với toàn bộ sự tiến triển của nền văn minh Tây phương, một khuynh hướng hiện đại hướng đến phương cách của chủ nghĩa xã hội, càng lúc trở nên rõ ràng nếu chúng ta suy xét nó không chỉ đơn thuần là đối với bối cảnh của thế kỷ mười chín, nhưng ở một góc độ lịch sử dài hơn. Chúng ta đang nhanh chóng từ bỏ không phải là những quan điểm đơn thuần của Cobden và Bright, của Adam Smith và Hume, hoặc ngay cả của Locke và Milton, ngoại trừ một trong những đặc điểm nổi bật của nền văn minh Tây phương khi nó đã phát triển khỏi những nền tảng được lót bởi những người Cơ Đốc giáo và những người Hy Lạp, La Mã.
=============
1 Ngay cả những lời cảnh cáo rất gần đây hơn vốn đã chứng minh đúng vô cùng, hầu như đã bị lãng quên hoàn toàn. Chưa được ba mươi năm kể từ khi Ngài Hilaire Belloc, trong một cuốn sách vốn giải thích nhiều hơn về chuyện gì đã xảy ra kể từ lúc ở nước Đức hơn hầu hết những tác phẩm được viết ra sau sự kiện, đã giải thích rằng “ảnh hưởng của học thuyết Xã hội Chủ nghĩa trên xã hội Tư bản Chủ nghĩa là nhằm tạo ra một điều thứ ba khác biệt so với một trong hai điều sinh ra của nó –nghĩa là, một Tình trạng Nô dịch” (tác phẩm “The Servile State” (“Tình trạng Nô dịch”), năm 1913, in lần thứ 3 vào năm 1927, p. xiv).
=============

p14

Không chỉ đơn thuần là chủ nghĩa tự do của thế kỷ mười chín và mười tám, nhưng chủ nghĩa cá nhân cơ bản được kế thừa bởi chúng ta từ Erasmus và Montaigne, từ Cicero và Tacitus, Pericles và Thucydides, được dần dần từ bỏ.

(Desiderius Erasmus Roterodamus hoặc được gọi tắt là Erasmus
(1466–1536), là nhà nhân loại học, thần học, một nhà phê bình về
xã hội, nhà giáo, và là thầy dòng Thiên Chúa giáo gốc Hòa Lan
trong thời kỳ Phục hưng)

(Michel Eyquem de Montaigne hoặc Michel de Montaigne
(1533–1592) là một trong những nhà văn có ảnh hưởng nhất
trong thời kỳ Phục hưng của Pháp)

(Marcus Tullius Cicero (106 BC–43 BC), là một luật sư, nhà triết
học, nhà hùng biện, nhà chính trị, nhà thần học về chính trị, nhà
tham vấn, và là nhà lập hiến gốc La Mã)

Nhà lãnh đạo Đức Quốc xã vốn là người đã mô tả cuộc cách mạng Quốc xã như là một thời kỳ phản Phục hưng, nói thành thật hơn so với ông ta có lẽ biết. Chính là bước quyết định trong việc phá vỡ nền văn minh đó mà con người hiện đại đã từng xây dựng từ thời kỳ Phục hưng và trên hết là một nền văn minh của những người theo chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân có một cái tên xấu ngày hôm nay và thuật ngữ cuối cùng đã được kết nối với chủ nghĩa tự cao và tính chất ích kỷ. Nhưng chủ nghĩa cá nhân mà chúng ta nói đến, trái ngược với chủ nghĩa xã hội và tất cả những hình thức khác của chủ nghĩa tập thể, không có một sự kết nối cần thiết nào với những chủ nghĩa nầy. Chỉ dần dần trong chiều hướng của cuốn sách nầy, chúng ta sẽ có thể làm rõ sự tương phản giữa hai nguyên tắc đối lập. Nhưng những nét nổi bật thiết yếu của chủ nghĩa cá nhân đó, từ những yếu tố được cung cấp bởi Cơ đốc giáo và triết học của thời cỗ đại, lần đầu tiên được phát triển đầy đủ trong suốt thời kỳ Phục hưng và đã tăng trưởng kể từ đó và lan ra vào trong cái gì mà chúng ta biết đến như là nền văn minh Tây Âu –một sự tôn trọng dành cho một cá nhân, một người trong vai trò của một người, đó là sự nhìn nhận những quan điểm và thị hiếu của riêng mình như là sự tối cao trong khoảng không gian của riêng mình, tuy nhiên thu hẹp lại điều đó có thể được kẻ vòng hạn chế, và niềm tin vốn chính là điều ước muốn mà con người sẽ phát triển tài năng và năng khiếu cá nhân của riêng mình. “Quyền Tự do” và “sự tự do” bây giờ là những từ ngữ rất sáo mòn với việc sử dụng và lạm dụng mà người ta phải ngần ngại dùng đến chúng để bày tỏ những lý tưởng mà họ giữ vững quan điểm trong suốt giai đoạn đó. Sự khoan dung, có lẽ, là từ ngữ duy nhất vốn vẫn còn bảo tồn ý nghĩa đầy đủ của nguyên tắc mà trong suốt toàn bộ thời kỳ nầy đang ở trong tình trạng dâng cao và chỉ trong những lần gần đây đã rơi vào tình trạng đi xuống một lần nữa, biến mất hoàn toàn với sự trỗi dậy của nhà nước độc tài toàn trị.

(Publius (hoặc Gaius) Cornelius Tacitus (56 AD–117 AD), là
một nghị sĩ của Đế quốc La Mã, và cũng là một nhà sử học)

(Pericles (495 BC– 429 BC) là một chính khách Hy Lạp nổi bất
và có ảnh hưởng nhất, cũng là nhà hùng biện và là vị Tướng của
thành Nhã Điển trong suốt thời kỳ Kim hoàng)

(Thucydides (460 BC–395 BC) là nhà sử học
Hy Lạp và là vị Tướng của thành Nhã Điển)

p15

Sự chuyển đổi dần dần của một hệ thống được tổ chức theo thứ bậc một cách cứng ngắt trở thành một hệ thống nơi mà người ta ít ra có thể cố gắng định hướng cuộc sống của riêng mình, nơi mà con người có được cơ hội để biết và chọn lựa giữa những hình thức khác biệt của cuộc sống, được kết hợp gần gũi với sự tăng trưởng của thương mại. Từ những thành phố thương mại của vùng phía bắc nước Ý, một quang cảnh mới của cuộc sống trải ra với thương mại đến phía tây và bắc, xuyên qua Pháp và vùng phía tây nam của nước Đức đến những Quốc gia Đất thấp và quần đảo Anh Quốc, bám rễ vững chắc ở bất cứ nơi nào không có quyền lực chính trị chuyên chế bóp chết nó. Ở những Quốc gia Đất thấp và Anh Quốc, trong một thời gian dài nó hưởng được sự phát triển đầy đủ nhất của nó và trong lần đầu tiên có một cơ hội để tăng trưởng một cách tự do và trở thành nền tảng của đời sống xã hội và chính trị của những đất nước nầy. Và nó đã từ nơi đó mà trong những thế kỷ mười bảy và mười tám nó đã bắt đầu một lần nữa lan ra trong một hình thức được phát triển đầy đủ hơn đến Tây Âu và Đông Âu, đến Thế giới Mới và trung tâm lục địa Âu châu, nơi mà những cuộc chiến tranh tàn phá và sự đàn áp chính trị đã nhận chìm phần lớn những khởi đầu trước đó của sự tăng trưởng tương tự.1
Trong suốt toàn bộ giai đoạn hiện đại nầy của lịch sử Âu châu, chiều hướng chung của sự phát triển về xã hội là một phát triển về việc giải thoát những cá nhân khỏi những ràng buộc vốn đã từng trối buộc anh ta vào những cách tập quán hoặc quy định trong việc theo đuổi các hoạt động bình thường của mình. Việc nhận biết có ý thức mà những nỗ lực tự phát và không kiểm soát được của những cá nhân có khả năng sản sinh một trật tự phức tạp của những hoạt động về kinh tế, có thể chỉ đến sau khi sự phát triển nầy đã tạo nên một vài tiến triển nào đó. Việc chuẩn bị công phu tiếp theo của một lý lẽ kiên định trong sự ủng hộ quyền tự do về kinh tế là một kết quả của một sự tăng trưởng tự do của hoạt động kinh tế vốn đã từng là một sản phẩm phụ không định trước và không lường trước của quyền tự do về chính trị.
============
1 Một định mệnh khắc khe nhất của những phát triển nầy, cưu mang với những sự việc theo sau chưa dặp tắt, là sự khuất phục và sự phá hủy một phần giai cấp tư sản Đức bởi các vị hoàng tử lãnh địa trong thế kỷ mười lăm và mười sáu.
=============

p16

Có lẽ, kết quả to lớn nhất của tháo xích những năng lực cá nhân là sự tăng trưởng tuyệt diệu của khoa học vốn theo sau bước tiến của sự tự do cá nhân từ Ý đến Anh Quốc và xa hơn nữa. Mà qua đó tài năng sáng tạo của con người đã không kém hơn trong những giai đoạn trước đó, được thể hiện bằng nhiều món đồ chơi tự động rất khéo léo và những bộ phận máy móc sách chế khác được xây dựng trong khi kỹ thuật về kỹ nghệ vẫn còn cố định, và bằng sự phát triển trong một số kỹ nghệ, như khai thác khoáng sản hoặc sản xuất đồng hồ, vốn không phãi chịu những sự kiểm soát chặt chẽ. Nhưng một số ít cố gắng hướng tới việc sử dụng kỹ nghệ được mở rộng hơn cho những phát minh về máy móc, một số sáng chế cực kỳ tiên tiến, đã bị dập tắt mau chóng, và sự khao khát kiến thức đã bị bóp chết, miễn là những quan điểm khống chế đã được bám giữ nhằm ràng buộc tất cả: những niềm tin của đại đa số về điều gì là đúng và thích hợp, được cho phép ngăn chận cách thức của người sáng tạo đổi mới riêng lẽ. Chỉ từ khi quyền tự do về kỹ nghệ mở ra con đường dẫn đến việc sử dụng tự do kiến thức mới, vì mọi thứ có thể được thử nghiệm –nếu một người nào đó có hứng thú muốn thử, là chuyện tự gánh lấy sự rủi ro của riêng mình– và, kiến thức sẽ được bổ sung, thường xuyên như không phải từ bên ngoài những người có thẩm quyền được chính thức giao phó việc mở mang học hỏi, chỉ có khoa học đã tạo nên những bước tiến vĩ đại mà trong một trăm năm mươi năm qua đã thay đổi bộ mặt của thế giới.
Như vẫn thường là sự thật, bản chất của nền văn minh của chúng ta đã được nhìn thấy rõ bởi những kẻ thù của nó hơn hầu hết những người bạn của nó: “một căn bệnh lâu năm của Tây phương, một cuộc nổi dậy của những cá thể chống lại loài người”, như một nhà độc tài toàn trị của thế kỷ mười chín, Auguste Comte, đã mô tả điều đó, quả thật là một sức mạnh vốn xây dựng nền văn minh của chúng ta. Điều mà thế kỷ mười chín thêm vào chủ nghĩa cá nhân của giai đoạn trước đó chỉ đơn thuần là làm cho tất cả tầng lớp có ý thức về quyền tự do, phát triển một cách có hệ thống và liên tục cái gì đó vốn đã tăng trưởng theo một cách ngẫu nhiên và chắp vá và để lan rộng nó ra từ Anh Quốc và Hòa Lan trên hầu hết Lục địa Âu châu.
Kết quả của sự tăng trưởng nầy đã vượt qua tất cả những mong đợi. Bất cứ nơi nào những hàng rào cản chống lại việc thực hành tự do về tính chất khéo léo của nhân loại đã được loại bỏ, con người nhanh chóng càng lúc có thể thỏa mản cả một phạm vi mở rộng từng có của sự ước muốn khao khát.

p17

Và trong khi tiêu chuẩn đang nâng lên chẳng bao lâu đã dẫn đến việc phát hiện ra những vết rất đen trong xã hội, những vết mà nhân loại không còn sẵn sàng chịu đựng, có lẽ không có một tầng lớp nào vốn đã không hưởng lợi một cách đáng kể từ bước tiến triển chung chung. Chúng ta không thể làm công việc phán xét đối với sự tăng trưởng đáng kinh ngạc nầy nếu chúng ta đo lường nó bằng những tiêu chuẩn hiện tại của chúng ta, mà chính những tiêu chuẩn tạo kết quả từ sự tăng trưởng nầy và bây giờ tạo ra nhiều khiếm khuyết rõ ràng. Đánh giá cao điều gì mà nó có ý nghĩa đối với những người vốn tham gia vào nó, chúng ta phải đo lường nó bằng những hy vọng và mong muốn mà con người đã bám lấy khi nó bắt đầu: và có thể không có một nghi ngờ nào rằng sự thành công của nó đã vượt qua những giấc mơ ngông cuồng nhất của con người, rằng vào đầu thế kỷ hai mươi, một người làm việc trong thế giới Tây phương đã đạt đến một mức độ tiện nghi về vật chất, sự an ninh, và quyền độc lập cá nhân mà một trăm năm trước đã dường như hiếm khi có thể có.
Điều mà trong tương lai có thể sẽ xuất hiện một ảnh hưởng quan trọng và sâu rộng nhất của sự thành công nầy, là cảm giác mới của quyền lực trên số phận của riêng họ, niềm tin trong những điều có thể xảy ra không giới hạn của việc cải thiện số mệnh của riêng họ, mà sự thành công đã thực sự đạt được rồi, đã tạo ra giữa nhân loại. Với sự thành công làm tăng trưởng sự tham vọng –và con người đã có mọi quyền để được tham vọng. Cái gì đó đã từng là một lời hứa gây cảm hứng dường như không còn đủ cảm hứng, tốc độ tiến triển rất quá chậm; và những nguyên tắc vốn đã làm cho sự tiến triển nầy có thể có trong quá khứ, cuối cùng được xem như là những trở ngại nhiều hơn đối với sự tiến triển gia tăng nhanh hơn, bị tống đi khỏi một cách nôn nóng, so với những điều kiện cho việc bảo tồn và phát triển cái gì đã đạt được rồi.

* * * * *

Không có gì trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa tự do để làm cho nó trở thành một tín điều cố định, không có những quy tắc nào bó buộc cứng ngắt được chọn dứt khoát một lần cho xong. Nguyên tắc cơ bản mà trong việc sắp xếp trật tự những các vấn đề của chúng ta, chúng ta nên tận dụng phần lớn như có thể những lực lượng tự phát của xã hội, và dùng đến phương sách ít như có thể đối với sự ép buộc, có khả năng về sự đa dạng vô tận của những ứng dụng.

p18

Tất cả, trong riêng biệt, có sự khác biệt giữa việc cố tình tạo ra một hệ thống trong một phạm vi mà qua đó sự cạnh tranh sẽ tác động có lợi như có thể, và thụ động chấp nhận những tổ chức như chúng là thế. Có lẽ, không có gì đã làm rất nhiều tác hại cho nguyên nhân của sự tự do như sự khăng khăng như gỗ của một số tự do trên những quy tắc qua kinh nghiệm, không đúng hẳn nào đó, trên hết là nguyên tắc laissez-faire (i.e. không can thiệp).(pc 02) Tuy nhiên, trong một ý nghĩa, điều nầy là cần thiết và tất yếu. Chống lại những lợi ích vô số ai đã có thể cho thấy rằng những biện pháp cụ thể sẽ đem lại những lợi ích tức thời và hiển nhiên trên một số người, trong khi sự thiệt hại mà họ gây ra thì không trực tiếp và khó nhìn thấy nhiều hơn, không thiếu gì một quy tắc bó buộc cứng ngắt nào đó đã có thể có hiệu quả. Và kể từ khi một giả định mạnh mẽ ủng hộ sự tự do về kỹ nghệ đã chắc chắn được thiết lập, sự cám dỗ khi trình bày nó như là một quy luật vốn không biết những ngoại lệ nào, thì luôn luôn quá mạnh không thể bị chống đối.
Nhưng với thái độ nầy được chọn lấy bởi nhiều người truyền bá về học thuyết tự do, đó là điều gần như tất yếu mà, một khi vị trí của họ đã bị xuyên thủng ở một vài điểm nào đó, nó chẳng bao lâu sẽ sụp đổ như là một khối. Vị trí bị suy yếu hơn nữa bởi sự tiến triển chậm rãi quen thuộc của một chính sách vốn nhắm vào việc cải tiến dần dần khuôn khổ thể chế của một xã hội tự do. Sự tiến triển nầy phụ thuộc vào việc tăng trưởng sự hiểu biết của chúng ta về các lực lượng xã hội và điều kiện thuận lợi nhất đối với lối làm việc của họ theo cách như muốn. Vì công việc là phải trợ giúp, và nơi nào cần thiết bổ sung, sự hoạt động của họ, điều kiện tiên quyết là phải hiểu về chúng. Thái độ của sự tự do hướng đến xã hội thì giống như thế đó của người làm vườn vốn chăm sóc cây trồng và nhằm mục đích tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất nhất cho sự tăng trưởng của nó, phải biết nhiều như có thể về cấu trúc của nó và cách nó sinh động.
Không một người biết lý lẽ nào đã dám nghi ngờ rằng những quy tắc thô thiển mà trong đó các nguyên tắc về chính sách kinh tế của thế kỷ mười chín được thể hiện, chỉ là một sự khởi đầu, mà chúng ta phải còn học hỏi nhiều, và qua đó vẫn có rất nhiều những điều có thể có của sự tiến xa trên những đường kẻ mà trên đó chúng ta đã từng di chuyển. Nhưng bước tiến nầy chỉ có thể đến khi chúng ta càng lúc thắng thế về tri thức hơn những lực lượng mà chúng ta buộc phải sử dụng.

p19

Có nhiều công việc hiển nhiên, chẳng hạn như việc giải quyết của chúng ta về hệ thống tiền tệ, và việc ngăn ngừa hoặc kiểm soát sự độc quyền, và một số lượng thậm chí to lớn hơn của những công việc ít rõ ràng nhưng khó mà kém quan trọng hơn được gánh vác trong các lãnh vực khác, nơi mà có thể không có chút nghi ngờ nào rằng những chính phủ nắm giữ những quyền lực to lớn đối với điều thiện và điều ác; và có mọi lý do để kỳ vọng rằng với một sự hiểu biết tốt hơn về những nan đề, một ngày nào đó chúng ta sẽ có thể sử dụng những quyền lực nầy một cách thành công.
Nhưng trong khi sự tiến triển hướng đến cái gì thường được gọi là hành động “tích cực”, thì hẳn là chậm chạp, và trong khi đối với sự cải tiến trước mắt, chủ nghĩa tự do đã phải dựa vào phần lớn sự gia tăng dần dần của sự sung túc mà quyền tự do đã mang lại, nó đã phải liên tục chiến đấu chống lại những điều đưa ra vốn đe dọa sự tiến triển nầy. Điều đó cuối cùng được xem như là một tín điều “tiêu cực” vì nó có thể ban cho những cá nhân riêng biệt thêm một ít nhiều hơn phần chia sẻ trong sự tiến triển chung –sự tiến triển mà cuối cùng càng lúc càng cho là thế và không còn được nhìn nhận như là một kết quả của chính sách về quyền tự do. Điều đó thậm chí có thể được nói rằng sự thành công thực sự của chủ nghĩa tự do đã trở thành nguyên nhân của sự suy giảm của nó. Bởi vì sự thành công thực sự đạt được, con người ngày càng trở nên không muốn chịu đựng những điều xấu xa vẫn còn với anh ta mà qua đó hiện thời dường như không thể chịu nổi cũng như không cần thiết.

* * * * *

Bởi vì sự thiếu kiên nhẫn ngày càng tăng thêm với bước tiến chậm chạp của chính sách tự do, sự bực tức đích đáng với những người vốn sử dụng cách diễn đạt tự do trong việc bảo vệ những đặc quyền chống-xã-hội, và sự tham vọng vô tận dường như được chứng minh là đúng bởi những cải tiến về vật chất đã đạt được, nó đã xảy ra là vào khoảng khúc quanh của thế kỷ, sự tin tưởng vào những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa tự do càng lúc càng bị từ bỏ nhiều hơn. Điều mà đã đạt được cuối cùng được xem như là một sự bảo đảm và là vật sở hữu vĩnh viễn, thu được dứt khoát một lần.

p20

Những đôi mắt của người dân càng lúc dán chặt lên những nhu cầu mới, sự thỏa mản nhanh chóng về điều mà dường như bị ngăn cấm bởi việc gắn bó với những nguyên tắc cũ. Điều đó đã trở thành càng lúc càng được chấp nhận rộng rãi hơn đến nổi bước tiến xa hơn không thể được kỳ vọng theo những đường hướng xưa trong phạm vi khuôn khổ chung chung vốn đã tạo nên sự tiến triển trong quá khứ có thể xảy ra, nhưng chỉ nhờ vào việc tu sửa hoàn hoàn xã hội. Điều đó không còn là một câu hỏi về việc thêm vào hoặc cải tiến máy móc hiện có, nhưng là về việc tháo bỏ hoàn toàn và thay thế nó. Và khi niềm hy vọng của thế hệ mới cuối cùng được tập trung vào một cái gì đó hoàn toàn mới mẻ, sự quan tâm và hiểu biết, cách hoạt động của xã hội đang tồn tại nhanh chóng suy tàn; và với sự suy giảm của sự hiểu biết về cách thức mà hệ thống tự do làm việc trên sự nhận thức của chúng ta về cái gì đó vốn phụ thuộc vào sự tồn tại của nó, cũng giảm đi.
Đây không phải là nơi để thảo luận về sự thay đổi nầy như thế nào trong quan điểm đã được dung dưỡng do việc chuyển đi không cần xét đoán sang những nan đề của xã hội về những thói quen suy nghĩ được sinh ra bởi mối bận tâm với những nan đề về kỹ thuật, những thói quen suy nghĩ của nhà khoa học tự nhiên và kỹ sư, về việc làm cách nào những điều nầy cùng một lúc nhắm đến việc làm mất lòng tin vào những kết quả của việc nghiên cứu trước đây về xã hội mà qua đó không phù hợp với những định kiến của họ, và việc áp đặt những lý tưởng của tổ chức trên một vòm trời mà họ cảm thấy không thích hợp với nó.1 Tất cả chúng ta ở đây quan tâm đến việc cho thấy là thái độ của chúng ta đối với xã hội đã thay đổi hoàn toàn như thế nào, mặc dù dần dần và bằng những bước gần như không thể cảm thấy được. Điều mà ở mỗi giai đoạn của quá trình thay đổi nầy đã xuất hiện chỉ là sự khác biệt về mức độ, trong tác động tích lũy của nó đã thực sự mang lại một sự khác biệt cơ bản giữa thái độ tự do xa xưa hơn đối với xã hội và cách giải quyết hiện thời những nan đề xã hội. Sự thay đổi chẳng khác gì là một sự đảo ngược hoàn toàn khuynh hướng mà chúng ta đã từng phác họa, một sự từ bỏ toàn bộ truyền thống chủ nghĩa cá nhân vốn đã tạo ra nền văn minh Tây phương.
=============
1 Tác giả đã từng thử cố gắng theo vết sự khởi đầu của sự phát triển nầy trong hai loạt bài viết về “Scientism and the Study of Society” (“Tính chất Khoa học và sự Nghiên cứu về Xã hội”)“The Counter-Revolution of Science” (Cuộc cách mạng Đối nghịch của Khoa học”) vốn xuất hiện trong Economica, trang 1941–44.
=============

p21

Theo những quan điểm hiện nay có ảnh hưởng lớn, câu hỏi là chúng ta có thể tận dụng hiệu quả nhất những lực lượng tự phát như thế nào, không còn được tìm thấy trong một xã hội tự do. Chúng ta đã thực sự cam kết không cần đến những lực lượng vốn sản sinh ra những kết quả không lường trước được và thay thế cơ chế khách quan và vô danh của thị trường bằng sự điều hành tập thể và “có ý thức” tất cả các lực lượng xã hội cho những mục đích được cố ý chọn lựa. Sự khác biệt không thể được minh họa hay hơn bằng một vị thế cực đoan được chiếm lấy trong một cuốn sách được hoan nghênh rộng rãi về chương trình của ai đó của cái gì được gọi là “việc hoạch định cho quyền tự do” mà chúng ta còn sẽ phải bình luận nhiều hơn một lần.

Chúng ta đã không bao giờ phải dựng lên và điều hành [Tiến sĩ Karl Mannheim viết] toàn bộ hệ thống của thiên nhiên như chúng ta buộc phải làm ngày hôm nay với xã hội… Nhân loại đang có khuynh hướng càng lúc càng điều chỉnh nhiều hơn toàn bộ đời sống xã hội của nó, mặc dù nó đã chưa bao giờ thử cố gắng tạo ra một thiên nhiên thứ hai.1

* * * * *

Điều quan trọng là sự thay đổi nầy trong khuynh hướng của những ý tưởng đã từng trùng hợp với sự đảo ngược chiều hướng mà trong đó những ý tưởng đã du hành vào không gian. Trong hơn hai trăm năm, những ý tưởng của Anh Quốc đã được lan rộng về phía đông. Luật tự do vốn đã đạt được ở Anh Quốc, dường như được định nhằm lan tỏa trên khắp thế giới. Đến vào khoảng năm 1870, triều đại của những ý tưởng nầy đã có thể đạt đến sự mở rộng về tận phía đông của nó. Từ đó trở đi, nó bắt đầu rút đi và một nhóm khác biệt của những ý tưởng, không thực sự là mới nhưng rất cũ, bắt đầu tiến vào từ Đông Âu. Nước Anh mất đi vai trò lãnh đạo về trí thức của mình trong lãnh vực chính trị, xã hội và trở thành một nước nhập cảng những ý tưởng. Trong sáu mươi năm kế tiếp, nước Đức trở thành trung tâm mà những ý tưởng được định phần cai trị thế giới trong thế kỷ hai mươi lan ra hướng đông và tây.
=============
1 Tác phẩm “Man and Society in an Age of Reconstruction” (“Con người và Xã hội trong một Kỷ nguyên Tái thiết”), 1940, p. 175.
=============

p22

Cho dù đó là Hegel hoặc Marx, List hoặc Schmoller, Sombart hoặc Mannheim, cho dù đó là chủ nghĩa xã hội trong hình thức cấp tiến hơn của nó hoặc chỉ đơn thuần là “sự tổ chức” hoặc “việc hoạch định” của một loại ít cấp tiến hơn, những ý tưởng của Đức ở mọi nơi được sẵn sàng nhập cảng vào và các tổ chức của Đức bắt chước theo. Mặc dù hầu hết những ý tưởng mới, và riêng biệt là chủ nghĩa xã hội, không bắt nguồn ở Đức, chính là ở nước Đức mà chúng đã được hoàn thiện và trong suốt một phần tư cuối của thế kỷ mười chín và một phần tư đầu của thế kỷ hai mươi mà qua đó chúng đã đạt đến sự phát triển đầy đủ nhất của mình. Bây giờ thường bị quên lãng về vai trò dẫn đầu thì rất đáng kể đến như thế nào mà nước Đức đã có trong suốt giai đoạn nầy trong sự phát triển về lý thuyết và thực hành của chủ nghĩa xã hội, mà qua đó một thế hệ trước khi chủ nghĩa xã hội trở thành một vấn đề nghiêm trọng ở đất nước nầy, nước Đức đã có một đảng xã hội chủ nghĩa to lớn trong nghị viện của mình, và cho đến khi cách đây không lâu lắm sự phát triển về học thuyết của chủ nghĩa xã hội thì gần như hoàn toàn được tiến hành ở nước Đức và Áo, vì thế ngay cả ngày hôm nay, cuộc thảo luận của Nga phần lớn tiến hành tiếp nơi mà những người Đức ngừng lại; hầu hết những nhà xã hội chủ nghĩa Anh Quốc vẫn không hay biết rằng phần lớn những nan đề mà họ bắt đầu khám phá, được thảo luận kỹ lưỡng bởi những nhà xã hội chủ nghĩa Đức từ lâu.
Sự ảnh hưởng về trí thức mà những nhà tư tưởng Đức đã có thể thực dụng trong suốt giai đoạn nầy trên toàn thế giới, được hỗ trợ không chỉ đơn thuần bởi sự tiến triển to lớn về vật chất của Đức nhưng thậm chí thêm nữa bởi tiếng tăm khác thường mà các nhà tư tưởng và những nhà khoa học Đức đã giành được trong suốt hàng trăm năm trước khi nước Đức một lần nữa đã trở thành một thành viên tổng thể và thậm chí dẫn dầu của nền văn minh Âu châu chung. Nhưng chẳng bao lâu nó phục vụ để trợ giúp sự lan tỏa từ nước Đức những ý tưởng được điều hành trực tiếp chống lại những nền tảng của nền văn minh đó. Chính những người Đức –hoặc ít ra là những người trong số họ vốn truyền ra những ý tưởng nầy– hoàn toàn nhận biết về cuộc xung đột: cái gì đó đã từng là di sản chung của nền văn minh Âu châu, đã trở thành là của họ, từ lâu trước Đức Quốc xã, một nền văn minh “Tây phương” –nơi mà chữ “Tây phương” đã không còn được sử dụng trong ý nghĩa xưa của Tây Âu nhưng cuối cùng có nghĩa là phía tây của sông Rhine. Chữ “Tây phương” trong ý nghĩa nầy là Chủ nghĩa Tự do và Dân chủ, Chủ nghĩa Tư bản và Chủ nghĩa Cá nhân, Tự do Giao dịch và bất kỳ hình thức nào về Chủ nghĩa Quốc tế hoặc tình yêu hòa bình.

p23

Nhưng bất chấp sự khinh miệt được che dấu không kín về một số lượng gia tăng từng có của những người Đức cho những lý tưởng Tây phương “nông cạn” đó, hoặc có lẽ bởi vì điều đó, người dân Tây Âu tiếp tục nhập cảng những ý tưởng Đức và thậm chí bị xui khiến để tin rằng những niềm tin chắc chắn trước đây của riêng họ chỉ đơn thuần đã là những lời giải thích duy lý về những lợi ích vị kỷ, rằng sự Giao dịch Tự do là một học thuyết được phát minh cho những lợi ích của Anh Quốc xa hơn nữa, và rằng những lý tưởng chính trị mà Anh Quốc đã ban cho thế giới, đã lỗi thời một cách thất vọng và là một điều đáng xấu hổ về nó.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

===========================================

Phụ Chú :
pc 02_ Laissez-faire (không can thiệp) : là một môi trường kinh tế mà trong đó những giao dịch giữa các bên tư nhân không bị bó buộc bởi những hạn chế, những thuế quan (thuế xuất nhập), và những khoản trợ cấp của chính phủ, chỉ có những quy định đủ để bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Nhóm chữ laissez-faire là tiếng Pháp và theo nghĩa đen có nghĩa là “hãy để cho [họ] làm”, nhưng nó ngụ ý rộng rãi là “để mặc nó”, “hãy để cho họ làm như họ muốn,” hoặc “đừng đụng chạm đến.”

Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng

p24

Chương 02: Chính thể Đại đồng Không tưởng

“Điều mà đã luôn luôn làm cho nhà nước trở thành một địa
ngục trần gian, đã từng chính xác là con người đã cố gắng
làm cho nó trở thành thiên đường của mình.”

F. Hoelderlin

Chủ nghĩa xã hội đã chiếm chỗ chủ nghĩa tự do khi học thuyết được bám lấy bởi đại đa số những người cấp tiến, không chỉ đơn giản có nghĩa là người dân đã quên những lời cảnh cáo của các nhà tư tưởng tự do vĩ đại trong quá khứ về những hậu quả của chủ nghĩa tập thể. Điều đó đã xảy ra bởi vì họ bị thuyết phục về chính điều đối nghịch của cái gì đó mà những người nầy đã từng tiên đoán. Điều khác thường là cùng một chủ nghĩa xã hội vốn không chỉ được nhìn nhận trước đây như là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với quyền tự do, nhưng khá công khai bắt đầu như là một phản ứng chống lại chủ nghĩa tự do của cuộc Cách mạng Pháp, chiếm được sự chấp nhận chung dưới lá cờ tự do. Điều đó bây giờ hiếm khi được nhớ là chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ khởi đầu của nó, là một thể chế độc tài hiển nhiên. Những nhà văn Pháp vốn là những người đặt những nền tảng cho chủ nghĩa xã hội hiện đại, đã không có chút nghi ngờ nào rằng những ý tưởng của họ lại có thể được đưa vào thực hiện chỉ bởi một chính phủ độc tài mạnh mẽ. Đối với họ chủ nghĩa xã hội có nghĩa là một sự cố gắng nhằm “chấm dứt cuộc cách mạng” bởi việc cố tình tổ chức lại xã hội theo những dòng cấp bậc, và việc lừa bịp về một “sức mạnh cưỡng bức tinh thần”.

p25

Nơi mà quyền tự do được quan tâm, những người sáng lập chủ nghĩa xã hội đã không giấu diếm về những ý định của họ. Quyền tự do tư tưởng mà họ xem như là cọi rể cái ác của xã hội vào thế kỷ mười chín, và người đầu tiên trong số những nhà hoạch định hiện đại, là Bá tước người Pháp, Saint-Simon, thậm chí tiên đoán rằng những người vốn không tuân theo Hội đồng Kế hoạch được đưa ra của ông ta sẽ bị “đối xử như là gia súc.”
Chỉ dưới ảnh hưởng của những dòng dân chủ mạnh mẽ xảy ra trước cuộc cách mạng vào năm 1848, chủ nghĩa xã hội bắt đầu liên minh chính nó với các lực lượng tự do. Nhưng “chủ nghĩa xã hội dân chủ” mới phải mất đi một thời gian dài để xóa nhòa những ngờ vực được gợi lên bởi lai lịch của nó. Không ai nhìn thấy rõ ràng hơn de Tocqueville rằng nền dân chủ như là một thể chế thiết yếu của bản chủ nghĩa cá nhân tiêu biểu cho cuộc xung đột không thể hòa giải với chủ nghĩa xã hội :

Nền dân chủ mở rộng khoảng không gian của quyền tự do cá nhân [ông ta đã nói vào năm 1848], chủ nghĩa xã hội hạn chế điều đó. Nền dân chủ kèm theo tất cả các giá trị có thể có cho mỗi người; chủ nghĩa xã hội làm cho mỗi người trở thành chỉ là một tay mật vụ, chỉ là một con số. Nền dân chủ và chủ nghĩa xã hội không có điểm gì giống nhau ngoại trừ một từ ngữ: bình đẳng. Nhưng hãy chú ý sự khác biệt: trong khi nền dân chủ tìm kiếm sự bình đẳng trong tự do, chủ nghĩa xã hội tìm kiếm bình đẳng trong sự kiềm chế và nô lệ.1

Nhằm giảm bớt những ngờ vực nầy và để thắng cương cho chiếc xe kéo của nó, một đông thái mạnh mẽ nhất trong số tất cả những động thái chính trị, là sự khao khát cho quyền tự do, chủ nghĩa xã hội ngày càng bắt đầu tận dụng lời hứa về một “quyền tự do mới.” Điều sắp đến của chủ nghĩa xã hội phải là bước nhảy vọt từ lãnh vực cần thiết đến lãnh vực tự do. Nó phải mang lại “quyền tự do kinh tế”, mà không có quyền tự do chính trị vốn đã có được rồi, thì “không đáng có.” Chỉ chủ nghĩa xã hội có khả năng về việc thực thi sự hoàn thành cuộc đấu tranh lâu đời cho sự tự do mà trong đó sự đạt được về quyền tự do chính trị chỉ là một bước đầu.

(Louis de Rouvroy (1675–1755) còn được biết đến như là Saint-Simon,
là vị Bá tước Pháp, cũng là chính khách và là cây viết về những hồi ký
–sau khi qua đời, bị nhà nước Pháp tịch thu và phần lớn bị thất lạc.
Chính là người sáng lập chủ nghĩa xã hội)

=============
1 “Discours prononcé à l’assemblée constituante le 12 Septembre 1848 sur la question du droit au travail” (“Bài phát biểu trước Hội đồng Lập hiến vào ngày 12 tháng Chín năm 1848 về vấn đề quyền làm việc”). Toàn bộ tác phẩm của Alexis de Tocqueville, vol. IX, 1866, p. 546.
=============

p26

Sự thay đổi tinh tế trong ý nghĩa mà chữ tự do được đưa ra nhằm mục đích sao cho cách lập luận nầy sẽ nghe hợp lý, là điều quan trọng. Đối với những tông đồ vĩ đại của sự tự do chính trị, từ ngữ đã có nghĩa là sự tự do khỏi sự cưỡng bức, sự tự do khỏi quyền lực độc đoán của người khác, thoát khỏi những sự ràng buộc vốn khiến cho cá nhân không còn một sự lựa chọn nào ngoài sự vâng lời theo những mệnh lệnh của một cấp trên đối với người mà anh ta bị trói buộc vào. Quyền tự do mới được hứa hẹn, tuy nhiên, phải là sự tự do khỏi điều cần thiết, thoát khỏi sự cưỡng bách của những hoàn cảnh vốn chắc chắn giới hạn phạm vi chọn lựa của tất cả chúng ta, mặc dù đối với một quyền tự do bị giới hạn rất nhiều hơn so với những thứ khác. Trước khi con người đã có thể thực sự tự do, “chế độ chuyên quyền về nhu cầu vật chất” phải bị phá vỡ, “những kiềm chế của hệ thống kinh tế” phải được buông thả.
Quyền tự do trong ý nghĩa nầy, dĩ nhiên, chỉ đơn thuần là một cái tên khác cho quyền lực1 hay sự giàu có. Tuy thế, mặc dù những lời hứa hẹn về sự tự do mới nầy thường đi đôi với những lời hứa vô trách nhiệm về sự gia tăng to lớn về của cải vật chất trong một xã hội thuộc xã hội chủ nghĩa, điều đó không phải là từ sự chinh phục hoàn toàn tính chất nhỏ nhặt của trạng thái tự nhiên như thế đến nổi sự tự do kinh tế phải mong đợi. Điều mà lời hứa rốt cuộc thực sự là sự chênh lệch to lớn hiện có trong phạm vi của sự lựa chọn của những người khác nhau, sắp phải biến mất. Nhu cầu về sự tự do mới vì thế chỉ là có một cái tên khác cho nhu cầu xa xưa về sự phân phối của cải bình đẳng.
=============
1 Sự lầm lẫn đặc trưng về sự tự do với quyền lực, mà chúng ta sẽ gặp lại lần nầy và lần khác qua suốt cuộc thảo luận nầy, thật quá lớn là một chủ đề không thể được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng ở đây. Xưa củ như chính chủ nghĩa xã hội, nó được liên kết rất chặt chẽ với nó mà qua đó gần như cách đây bảy mươi năm, một học giả người Pháp, thảo luận về những nguồn gốc thuộc chủ thuyết Saint-Simon của nó, được dẫn đến để nói rằng lý thuyết nầy về sự tự do “est à elle seule tout le socialisme” (i.e. “là tất cả riêng về chủ nghĩa xã hội”) (tác giả P. Janet, tác phẩm “Saint-Simon et le Saint-Simonisme” (“Saint-Simon và Chủ thuyết Saint-Simon”), 1878, p. 26, ghi chú). Người bảo vệ rõ ràng nhất về sự lầm lẫn nầy, thật đáng kể, là nhà triết học hàng đầu thuộc chủ thuyết cánh tả của Mỹ, John Dewey, theo đó “tự do là sức mạnh hiệu quả để làm những việc cụ thể” để cho “nhu cầu về tự do là nhu cầu về sức mạnh” (“Liberty and Social Control” (“Tự do và sự Kiểm soát Xã hội”), trên tạp chí The Social Frontier (Mặt trận Xã hội), tháng Mười Một năm 1935, p. 41).
=============

p27

Nhưng cái tên mới cho một từ ngữ khác về những người theo chủ nghĩa xã hội có một điểm chung với những người theo chủ nghĩa tự do và họ khai thác nó đến mức cao nhất. Và mặc dù từ ngữ được sử dụng trong một ý nghĩa khác nhau bởi hai nhóm, một số ít người chú ý điều nầy và vẫn còn một ít người hơn tự hỏi chính mình liệu hai loại tự do được hứa hẹn thực sự là có thể được kết hợp không.
Có thể là không có còn một nghi ngờ nào rằng lời hứa về quyền tự do to lớn hơn đã trở thành một trong những vũ khí hiệu quả nhất của việc tuyên truyền chủ nghĩa xã hội và rằng niềm tin mà chủ nghĩa xã hội sẽ mang lại sự tự do, là điều đích thật và chân thành. Nhưng điều nầy sẽ chỉ nâng cao bi kịch nếu nó phải chứng minh rằng điều gì đó được hứa hẹn với chúng ta như là Con đường dẫn đến Tự do thật ra là Con đường Bảo đảm nhất dẫn đến Nô lệ. Không nghi ngờ gì nữa, lời hứa hẹn về sự tự do hơn chịu trách nhiệm cho việc quyến rủ càng lúc càng nhiều hơn những người theo chủ nghĩa tự do đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, vì che mắt họ không nhìn thấy cuộc xung đột vốn tồn tại giữa những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tự do, và vì thường hay cho phép những người theo chủ nghĩa xã hội chiếm đoạt ngay cái tên của đảng phái tự do xa xưa. Chủ nghĩa xã hội được đón nhận bởi phần lớn giới trí thức hơn như là người thừa kế hiển nhiên của truyền thống tự do: vì thế không có gì phải ngạc nhiên là đối với họ, ý tưởng như có vẻ không thể hiểu được về chủ nghĩa xã hội dẫn đến điều đối nghịch của tự do.

* * * * *

Trong những năm gần đây, tuy nhiên, những hiểu biết xưa xưa về những hậu quả không lường trước được của chủ nghĩa xã hội một lần nữa đã được kêu gọi mạnh mẽ từ các khu vực không ngờ nhất. Hết nhà quan sát nầy đến nhà quan sát khác, mặc sự kỳ vọng trái ngược với điều mà ông ta giải quyết chủ đề của mình, đã được gây ấn tượng bởi sự giống nhau khác thường trong nhiều khía cạnh của các điều kiện dưới “chủ nghĩa phát-xít” và “chủ nghĩa cộng sản.” Trong khi “những người cấp tiến” ở đất nước nầy và nơi nào khác vẫn còn đang lừa dối chính mình rằng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát-xít tượng trưng cho những đối cực, càng lúc càng nhiều người bắt đầu tự hỏi chính mình liệu những chính thể chuyên chế mới nầy không phải là kết quả của những khuynh hướng tương tự không.

p28

Thậm chí người cộng sản phải ắt hẳn đã bị run động một chút bởi những lời khai đó như là của Ngài Max Eastman, một người bạn cũ của Lenin, vốn là người tìm thấy chính mình buộc phải thừa nhận rằng “thay vì tốt hơn, chủ nghĩa Stalin tồi tệ hơn chủ nghĩa phát-xít, tàn nhẫn, dã man, bất công, vô đạo đức, phản dân chủ hơn, không chuộc lại được bởi bất kỳ hy vọng hoặc sự đắn đo nào”, và rằng nó “được mô tả tốt hơn như là thứ phát-xít siêu hạng”; và khi chúng ta tìm thấy cùng một tác giả nhìn nhận rằng “chủ nghĩa Stalin là chủ nghĩa xã hội, trong ý nghĩa là điều tất yếu mặc dù phần phục thuộc không lường trước được về chính trị của sự quốc gia hóa và tập thể hóa mà ông ta đã dựa vào như là một phần kế hoạch của ông ta cho việc dựng lên một xã hội không giai cấp,”1 phần kết luận của ông rõ ràng là đạt được điều quan trọng rộng lớn hơn.
Trường hợp của Ngài Eastman có lẽ là điều đáng chú ý nhất, tuy ông ta không hẳn là người đầu tiên hoặc là nhà quan sát đồng cảm duy nhất của thí nghiệm Nga để thành hình những kết luận tương tự. Nhiều năm trước đó, Ngài W.H. Chamberlin, vốn là người trong mười hai năm ở Nga như là một phóng viên Mỹ đã từng nhìn thấy tất cả những lý tưởng của mình vỡ tan từng mảnh, đã tổng kết những kết luận về những nghiên cứu của mình ở đó và ở Đức và Ý trong câu phát biểu là “Chủ nghĩa xã hội thì chắc chắn để chứng minh là, ít nhất ra trong khởi đầu, con đường Không dẫn đến sự tự do, nhưng đến chế độ độc tài và những chế độ phản độc tài, đến cuộc nội chiến của loại ác liệt nhất. Chủ nghĩa xã hội đã đạt được và được duy trì bởi phương cách dân chủ dường như chắc chắn thuộc về một thế giới của đại đồng không tưởng.”2 Tương tự thế, một cây viết người Anh, Ngài F.A. Voigt, sau nhiều năm quan sát chặt chẽ về những phát triển ở châu Âu như là một phóng viên nước ngoài, kết luận rằng Chủ nghĩa Mác-xít đã dẫn đến Chủ nghĩa Phát-xít và Chủ nghĩa Quốc xã, bởi vì, trong tất cả những điều thiết yếu, chính là Chủ nghĩa Phát-xít và Chủ nghĩa Quốc xã.”3 Và Tiến sĩ Walter Lippmann đã đi đến sự xác tín rằng
=============
1 Max Eastman, “Stalin’s Russia and the Crisis of Socialism” (“Nước Nga của Stalin và Cuộc khủng hoảng của Chủ nghĩa Xã hội”), 1940, p. 82.

2 W.H. Chamberlin, “A Utopia False” (“Một Thế giới Đại đồng Ảo tưởng Giả mạo”), 1937, pp. 202–3.

3 F.A. Voigt, “Unto Ceasar” (“Cho đến Thời kỳ Cesar”), 1939, p. 95.
=============

p29

thế hệ mà chúng ta thuộc về bây giờ đang học hỏi từ kinh nghiệm của chuyện gì xảy ra khi người ta rút lui khỏi quyền tự do đến một tổ chức cưỡng bức những công việc của họ. Mặc dù họ tự hứa với chính mình về một cuộc sống phong phú hơn, nhưng trong thực tiển, họ phải từ bỏ nó; khi chiều hướng có tổ chức gia tăng, sự đa dạng của những chấm dứt phải nhường đường cho sự đồng nhất. Đó là sự báo ứng của một xã hội được lên kế hoạch và nguyên tắc độc tài trong những vấn đề nhân loại.1

Nhiều phát biểu tương tự hơn từ những người ở vị trí xét đoán có thể được chọn ra từ những ấn bản trong những năm gần đây, riêng biệt là từ những phát biểu của những người vốn như là những công dân của các nước độc tài toàn trị hiện nay đã từng sống qua sự chuyển đổi và đã từng được thúc đẩy bởi kinh nghiệm của họ để sửa đổi nhiều niềm tin thân yêu. Chúng ta sẽ trích dẫn như là một thí dụ nữa mà một nhà văn Đức vốn là người bày tỏ cùng một kết luận có lẽ công bằng hơn những kết luận đã được trích dẫn rồi.

Sự sụp đổ hoàn toàn của niềm tin vào khả năng đạt được sự tự do và bình đẳng qua Chủ nghĩa Mác-xít [Ngài Peter Drucker viết 2] đã buộc Nga phải đi cùng một con đường hướng tới một chế độ độc tài, một xã hội hoàn toàn tiêu cực, phi kinh tế của phi tự do và bất bình đẳng mà Đức đã và đang đi theo. Không phải là chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát-xít trên cơ bản thì giống nhau. Chủ nghĩa phát-xít là giai đoạn đạt đến sau khi chủ nghĩa cộng sản đã chứng tỏ là một ảo tưởng, và nó đã chứng tỏ phần lớn ảo tưởng trong một nước Nga của Stalin như trong một Đức trước thời kỳ Hitler.

Không kém quan trọng là lịch sử tri thức của nhiều người trong số những nhà lãnh đạo Đức Quốc xã và Phát-xít. Mọi người vốn đã từng theo dõi sự tăng trưởng của những phong trào ở Italy3 hoặc Đức, đã từng buộc phải chú ý bởi số lượng của những người cầm đầu, từ Mussolini trở xuống (và không loại trừ Laval và Quisling), vốn là những người đã bắt đầu như là những người theo chủ nghĩa xã hội và kết thúc như là những nhà Phát-xít hoặc Đức Quốc xã.
============
1 Tập san Atlantic Monthly, tháng Mười Một, 1936, p. 552.
2 Tác phẩm “The End of Economic Man” (“Mục đích của Người nghiên cứu về Kinh tế”), 1939, p. 230.

3 Lời tường trình làm sáng tỏ lịch sử tri thức của nhiều nhà lãnh đạo phát-xít sẽ được tìm thấy trong tác phẩm của R. Michels (chính là một cựu thành viên Phát-xít Mác-xít), “Sozialismus und Faszismus”(“Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Phát-xít”), Munich 1925, vol. II, pp. 264–6, và pp. 31–12.
=============

(Benito Amilcare Andrea Mussolini Benito Mussolini (1883–1945),
người đứng đầu Đảng Quốc xả Ý, và là vị Thủ tướng theo phe trục
chống lại đồng minh, và bị lật đổ và cầm tù vào năm 1943. Mặc dù
được lực lượng đặc biệt của Đức giải thoát, nhưng lại bị bắt lại và bị
hành quyết tại chổ. Chấm dứt thời vàng son của kẻ độc tài trong tư
thế bị treo ngược cho công chúng Ý xem)

(Cái xát của kẻ độc tài phát-xít –hình thứ hai– tự xưng là “Il Duce”
(“Nhà Lãnh đạo”), có cái tên là Mussolin, được chưng bày tại công
trường Piazzale Loreto, thành phố Milan, Ý vào 1945)

(Pierre Laval (1883–1945), dưới thời chính phủ Pháp Vichy –một chính
phủ hợp tác với Đức Quốc xã– là Phó Chủ tịch của Hội đồng Bộ trưởng,
và sau nầy là người đứng đầu chính phủ (1942–1944) kiêm Bộ trưởng
Ngoại vụ, kiêm Bộ trưởng Nội vụ, kiêm luôn Bộ trưởng Thông tin. Bị
xử bắn như là kẻ phản quốc sau khi Thế Chiến thứ II chấm dứt. Và cái
tên của ông ta, Laval, trở thành danh từ chung dành cho kẻ phản quốc)

(Vidkun Abraham Lauritz Jonssøn Quisling hay còn được gọi là Vidkun
Quisling (1887–1945), là nhà chính trị Na Uy, đã từng lợi dụng tình thế
rối loạn khi Đức Quốc xã tấn công đất mình làm cuộc lật đổ chính phủ
và nắm lấy quyền lực hầu hợp tác với kẻ thù của dân tộc mình. Từ đó
cái tên của kẻ bị xử bắn, Quisling, trở thành một danh từ chung như
cái tên Laval, có nghĩa là kẻ phản quốc)

p30

Và điều gì là sự thật về các nhà lãnh đạo, thậm chí là thật hơn về đội ngũ đảng viên của phong trào. Điều tương đối dễ dàng với việc mà một người cộng sản trẻ có thể được biến đổi trở thành một đảng viên Đức Quốc xã hoặc ngược lại, thông thường đều được biết đến ở nước Đức, là một cách hay nhất trong tất cả phương cách đối với những người tuyên truyền của hai đảng phái. Phần nhiều một giáo sư Đại học ở đất nước nầy trong suốt những năm 1930s đã từng nhìn thấy những sinh viên Anh và Mỹ trở lại từ Lục địa, không chắc chắn là liệu họ là những người cộng sản hoặc Đức Quốc xã và chỉ chắn chắn là họ thù ghét nền văn minh tự do Tây phương. Sự thật, dĩ nhiên, là ở Đức trước năm 1933 và ở Ý trước năm 1922, những người cộng sản và những người Đức Quốc xã hoặc Phát-xít đã đụng độ thường xuyên hơn với nhau so với những đảng phái khác. Họ cạnh tranh cho sự hỗ trợ của cùng một loại trí óc và dành riêng cho nhau sự hận thù của người theo dị giáo. Nhưng cách thực hành của họ cho thấy là họ có liên hệ gần gũi đến như thế nào. Đối với cả hai, một kẻ thù thực sự, người mà họ không có một điểm chung gì cả và người mà họ không thể hy vọng thuyết phục được, là người tự do của kiểu xa xưa. Trong khi đối với người Đức Quốc xã, người cộng sản là những người được tuyển mộ mai sau, và đối với người cộng sản, người Đức Quốc xã lại là những tân đảng viên mai nầy, và đối với cả hai, người theo xã hội chủ nghĩa là những người sẽ được tuyển chọn trong nay mai, những tân đảng viên tương lai đó vốn là những người được tạo nên bằng khả năng đúng cho công việc, mặc dù họ đã từng lắng nghe những lời tiên tri giả mạo; cả hai phe phía đều biết rằng không thể nào có một sự thỏa hiệp giữa họ và những người vốn thực sự tin tưởng vào quyền tự do cá nhân.
E rằng điều nầy bị nghi ngờ bởi những người bị dẫn dắt sai lạc bởi sự tuyên truyền chính thức từ cả hai phía, hãy để tôi trích dẫn thêm một lời phát biểu nữa từ một một người có thẩm quyền mà qua đó không phải ngờ vực. Trong một bài viết dưới một cái tựa đáng chú ý là “The Rediscovery of the Liberalism” (“Sự tái khám phá Chủ nghĩa Tự do”), của Giáo sư Eduard Heimann, một trong những nhà lãnh đạo thuộc chủ nghĩa xã hội tôn giáo Đức, viết rằng :

Chủ thuyết Hitler tự tuyên bố như là nền dân chủ thực sự và lẫn chủ nghĩa xã hội thực sự, và cái sự thật khủng khiếp là có một hạt chân lý cho những tuyên bố như thế –một hạt vi phân, thật đúng nghĩa, nhưng ở bất cứ trường hợp nào đủ để phục vụ như là một cơ bản cho những biến dạng ảo tưởng như thế.

p31

Chủ thuyết Hitler thậm chí còn đi rất xa như khi tuyên bố vai trò của người bảo vệ Cơ Đốc Giáo, và cái sự thật khủng khiếp là ngay cả sự diễn giải sai lạc trắng trợn nầy có thể tạo nên một số ấn tượng nào đó. Nhưng một sự kiện thực tế nổi bật với độ rõ nét hoàn hảo trong tất cả sương mù: Hitler đã chưa từng bao giờ tuyên bố là đại diện cho chủ nghĩa tự do thật sự. Chủ nghĩa tự do sau đó có sự phân biệt là một học thuyết bị thù ghét nhất bởi Hitler.1

Cũng nên nói thêm rằng sự thù ghét nầy có một ít cơ hội cho thấy chính nó trong cách thực hành chỉ đơn thuần bởi vì, vào thời điểm mà Hitler lên nắm quyền, chủ nghĩa tự do đối với mỗi ý nghĩa thực tiển thật ra là đã chết ở nước Đức. Và chính là chủ nghĩa xã hội vốn đã giết chết nó.

* * * * *

Trong khi đối với nhiều người vốn đã từng theo dõi sự biến chuyển từ chủ nghĩa xã hội sang chủ nghĩa phát-xít ở ngay trước mắt, sự kết nối giữa hai hệ thống càng lúc đã trở nên rõ ràng, ở đất nước nầy phần lớn người dân vẫn tin tưởng rằng chủ nghĩa xã hội và nền tự do có thể được kết hợp. Có thể là không có chút nghi ngờ nào rằng hầu hết những người theo chủ nghĩa xã hội ở đây vẫn tin tưởng một cách hoàn toàn vào lý tưởng tự do của nền tự do, và rằng họ sẽ giật nẫy người nếu họ càng lúc được thuyết phục rằng việc nhận ra chương trình của họ sẽ có nghĩa là sự phá hủy nền tự do. Càng còn quá ít cho người ta nhìn thấy vấn đề, càng rất dễ dàng cho hầu hết những lý tưởng không thể hòa giải vẫn sống chung với nhau, mà qua đó chúng ta vẫn có thể nghe thấy những mâu thuẫn như thế trong phần như là “chủ nghĩa xã hội của những người theo chủ nghĩa cá nhân” được nghiêm túc thảo luận. Nếu điều nầy là trạng thái của trí não vốn khiến cho chúng ta trôi dạt vào trong một thế giới mới, không có gì có thể cấp bách hơn là chúng ta nên nghiêm túc xem xét ý nghĩa thực sự của sự tiến hóa vốn đã xảy ra ở nơi nào khác.
=============
1 Tạp chí Social Research (Nghiên cứu về Xã hội) (New York), vol. VIII, No. 4, tháng Mười Một năm 1941. –Nó xứng đáng được nhắc lại trong sự kết nối nầy, bất cứ điều gì có thể đã là những lý do của ông ta, Hitler nghĩ rằng đó là điều thiết thực khi tuyên bố trong một bài phát biểu công khai trong số những bài khác của ông ta vào khoảng gần cuối tháng Hai năm 1941 rằng “về cơ bản, chủ nghĩa Quốc xã và chủ nghĩa Mác-xít thì như nhau” (Xem thêm “The Bulletin of International News” (“Bản tin về Tin tức Quốc tế”) được xuất bản bởi Học Viện Hoàng gia về Vấn đề Quốc tế, vol. XVIII, No. 5, p. 269).
=============

p32

Mặc dù những kết luận của chúng ta sẽ chỉ xác nhận những hiểu biết mà những người khác đã bày tỏ rồi, những lý do tại sao sự phát triển nầy không thể được xem như là ngẫu nhiên, sẽ không xuất hiện mà không có một sự giám định khá đầy đủ về những khía cạnh chính của sự chuyển đổi nầy của đời sống xã hội. Chủ nghĩa xã hội dân chủ đó, một đại đồng không tưởng của một số ít thế hệ vừa qua, không chỉ là không thể thực hiện được, tuy rằng cố gắng thực hiện vì nó, sinh sản một cái gì đó rất hoàn toàn khác biệt đến nổi một số ít trong số những người vốn hiện thời mong ước rằng nó sẽ được chuẩn bị để chấp nhận những hậu quả, nhiều người sẽ không tin tưởng cho đến khi sự kết nối đã được phơi bày trần trụi trong tất cả những khía cạnh của nó.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể

p33

Chương 03: Chủ nghĩa Cá nhân và Chủ nghĩa Tập thể

“Những người theo chủ nghĩa xã hội tin vào hai điều vốn hoàn toàn
khác nhau và có lẽ thậm chí là mâu thuẫn: sự tự do và tổ chức.”

Elie Halevy

Trước khi chúng ta có thể tiến đến vấn đề chính của chúng ta, còn một trở ngại phải được khắc phục. Một sự lầm lẫn mà phần lớn chịu trách nhiệm về cách thức mà chúng ta đang trôi dạt vào trong những điều mà không ai muốn, phải được dọn sạch.
Sự lầm lẫn nầy liên quan đến không điều gì ít hơn khái niệm về chính chủ nghĩa xã hội. Điều đó có thể mang ý nghĩa, và thường được sử dụng để mô tả, chỉ đơn thuần là những lý tưởng về sự công bằng xã hội, sự bình đẳng nhiều hơn và sự an ninh vốn là những mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội. Nhưng nó cũng có nghĩa là một phương pháp cụ thể mà qua đó hầu hết những người theo chủ nghĩa xã hội hy vọng sẽ đạt được những mục đích cuối cùng nầy và nhiều người có đủ trình độ xem như là những phương pháp duy nhất mà qua đó họ có thể hoàn toàn và nhanh chóng đạt được.

p34

Trong ý nghĩa nầy, chủ nghĩa xã hội có nghĩa là sự bãi bỏ về kinh doanh tư nhân, về vai trò người chủ tư nhân của các phương tiện sản xuất, và sự sáng tạo một hệ thống “kinh tế có kế hoạch”, mà trong đó người kinh doanh làm việc vì lợi nhuận được thay thế bằng một cơ thể tập trung theo kế hoạch.
Có nhiều người tự vốn tự gọi là những người theo chủ nghĩa xã hội mặc dù họ chỉ quan tâm về điều đầu tiên, vốn là những người nhiệt thành tin tưởng vào những mục đích cuối cùng đó của chủ nghĩa xã hội nhưng không quan tâm cũng không hiểu làm cách nào chúng có thể đạt được, và vốn là những người chỉ đơn thuần chắc chắn rằng chúng ắt phải đạt được, bất cứ là giá nào. Nhưng đối với gần như tất cả những người mà chủ nghĩa xã hội đối với họ không chỉ đơn thuần là niềm hy vọng mà là một mục đích của chính trị thực tiển, những phương pháp đặc trưng của chủ nghĩa xã hội hiện đại thì thiết yếu như chính những mục đích cuối cùng. Nhiều người, mặt khác, vốn là những người đánh giá những mục đích cuối cùng của chủ nghĩa xã hội không kém hơn những người theo chủ nghĩa xã hội, từ chối hỗ trợ chủ nghĩa xã hội bởi vì những nguy hiểm cho những giá trị khác mà họ nhìn thấy trong những phương pháp được đưa ra bởi những người theo chủ nghĩa xã hội. Cuộc tranh cãi về chủ nghĩa xã hội vì thế đã trở thành phần lớn là cuộc tranh cãi về phương cách và không phải về những mục đích sau cùng –mặc dù câu hỏi là liệu những mục đích khác biệt sau cùng của chủ nghĩa xã hội có thể cùng một lúc đạt được, cũng bị lôi cuốn vào.
Điều nầy có thể đủ để tạo ra sự lầm lẫn. Và sự lầm lẫn đã được gia tăng thêm nữa bởi lệ thường của việc phủ nhận rằng những người vốn bác bỏ các phương cách, coi trọng những mục đích sau cùng. Nhưng điều nầy không phải là tất cả. Tình hình vẫn phức tạp hơn bởi sự kiện thực tế là phương cách tương tự, “việc hoạch định kinh tế” vốn là công cụ chính của việc cải cách xã hội chủ nghĩa, có thể được sử dụng cho nhiều mục đích khác. Chúng ta phải tập trung điều hành hoạt động về kinh tế, nếu chúng ta muốn thực hiện sự phân phối thu nhập phù hợp với những ý tưởng hiện thời về sự công bằng xã hội. “Việc hoạch định”, vì thế, được muốn có bởi tất cả những người vốn yêu cầu rằng “sự sản xuất vì sử dụng” được thay thế cho sự sản xuất vì lợi nhuận. Nhưng việc hoạch định như thế thì không kém là điều không thể thiếu được nếu sự phân phối những thu nhập buộc phải được quy định theo một cách mà đối với chúng ta dường như là điều trái ngược của công bằng. Cho dù chúng ta sẽ mong ước rằng thêm nhiều những điều tốt đẹp của thế giới nầy sẽ đi đến một giới chủng tộc ưu tú nào đó, những người Bắc Âu, hoặc những thành viên của một đảng phái hoặc một giới quý tộc, những phương pháp mà chúng ta sẽ phải dùng đến, thì giống như những phương pháp vốn có thể bảo đảm sự phân phối theo chủ nghĩa bình đẳng.

p35

Có lẽ, điều đó có thể là dường như không công bằng khi sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa xã hội để mô tả những phương pháp của nó hơn là những mục đích của nó, khi sử dụng cho một phương pháp riêng biệt, một thuật ngữ mà đối với nhiều người có nghĩa là một lý tưởng tột cùng. Đó là điều có lẽ được ưa thích hơn khi mô tả những phương pháp vốn có thể được sử dụng cho một hàng loạt những mục đích cuối cùng như là chủ nghĩa tập thể và khi xem chủ nghĩa xã hội như là một thứ của loại đó. Tuy thế, mặc dù đối với hầu hết những người theo chủ nghĩa xã hội chỉ có một thứ của chủ nghĩa tập thể sẽ tiêu biểu cho chủ nghĩa xã hội thực sự, phải luôn luôn nhớ rằng chủ nghĩa xã hội là một thứ của chủ nghĩa tập thể và vì vậy mọi thứ vốn là xác thực về chủ nghĩa tập thể như vậy cũng phải áp dụng cho chủ nghĩa xã hội. Gần như tất cả những điểm vốn được tranh cãi giữa những người theo chủ nghĩa xã hội và những người theo chủ nghĩa tự do liên quan đến các phương pháp chung cho tất cả những hình thức của chủ nghĩa tập thể, không phải là những mục đích cuối cùng riêng biệt mà những người theo chủ nghĩa xã hội muốn sử dụng chúng; và tất cả những hậu quả mà chúng ta sẽ được biết đến trong cuốn sách nầy, theo sau từ những phương pháp của chủ nghĩa tập thể bất chấp những mục đích cuối cùng mà chúng được sử dụng. Cũng phải không được quên rằng chủ nghĩa xã hội cho đến nay không chỉ là thứ quan trọng nhất của chủ nghĩa tập thể hoặc “việc hoạch định”; nhưng điều đó chính là chủ nghĩa xã hội vốn đã thuyết phục những người có đầu óc tự do quy phục một lần nữa sự tổ chức thành từng đoàn của đời sống kinh tế mà họ đã từng lật đổ bởi vì, theo những lời của Adam Smith, nó đặt những chính phủ ở một vị trí nơi mà “để tự hỗ trợ chính mình họ buộc phải là áp bức và bạo ngược.”1

* * * * *

Những khó khăn bị gây ra bởi những mơ hồ của các thuật ngữ chính trị chung chung thì chưa kết thúc nếu chúng ta đồng ý sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa tập thể để bao gồm tất cả các loại của “nền kinh tế có kế hoạch”, bất chấp mục đích của việc hoạch định là gì.
=============
1 Được trích dẫn trong tác phẩm “Memoir of Adam Smith” (“Hồi ký của Adam Smith”) của Dugald Stewart từ một tập ghi nhớ được viết bởi Smith vào năm 1755.
=============

p36

Ý nghĩa của thuật ngữ nầy trở thành phần một cái gì đó xác định hơn nếu chúng ta làm rõ ràng rằng loại việc hoạch định vốn là điều cần thiết để làm cho bất kỳ những lý tưởng phân bố nào được đưa ra trở thành hiện thực. Nhưng khi ý tưởng về việc hoạch định tập trung kinh tế nợ phần lớn lời kêu gọi cho việc rất mơ hồ nầy về ý nghĩa của nó, điều thiết yếu là chúng ta nên đồng ý trên ý nghĩa chính xác của nó trước khi chúng ta thảo luận về những hậu quả của nó.
“Việc hoạch định” nợ phần lớn tính chất phổ biến của nó cho sự kiện thực tế mà mọi người mong muốn, dĩ nhiên, mà chúng ta nên giải quyết những nan đề chung của chúng ta một cách hợp lý như có thể, và khi làm như thế, chúng ta nên sử dụng phần lớn tầm nhìn xa như chúng ta có thể điều khiển. Trong ý nghĩa nầy, mọi người vốn không phải là người hoàn toàn theo chủ thuyết định mệnh, là người lên kế hoạch, mỗi hành động về chính trị là (hoặc nên là) một hành động của việc hoạch định, và có thể có những khác biệt chỉ giữa việc hoạch định hay và tồi, giữa khôn ngoan và thấy trước, và ngu si và thiển cận. Một nhà kinh tế, mà toàn bộ công việc của ông ta là nghiên cứu về việc con người thực ra làm như thế nào và họ có thể lên kế hoạch cho những vấn đề của họ như thế nào, là người cuối cùng vốn có thể phản đối việc hoạch định trong khả năng phán đoán chung chung nầy. Nhưng không phải là trong ý nghĩa nầy mà những người đầy nhiệt tình của chúng ta đối với một xã hội được lên kế hoạch hiện thời dụng đến thuật ngữ nầy, cũng không chỉ đơn thuần là trong ý nghĩa nầy mà chúng ta phải lên kế hoạch nếu chúng ta muốn sự phân phối thu nhập hoặc tài sản phù hợp với một tiêu chuẩn cụ thể nào đó. Theo các nhà hoạch định hiện đại, và đối với những mục đích của họ, điều đó không đủ để trù hoạch một khuôn khổ trường tồn vừa phải nhất mà trong phạm vi đó những hoạt động đa dạng sẽ được tiến hành bởi những người khác nhau theo những kế hoạch cá nhân của họ. Kế hoạch tự do nầy, theo họ, thì không phải là một kế hoạch –và nó quả thật không phải là một kế hoạch được thiết kế nhằm đáp ứng những quan điểm cá biệt về việc ai sẽ có cái gì. Điều mà các nhà hoạch định của chúng ta đòi hỏi là sự điều hành trung tâm của tất cả các hoạt động về kinh tế theo một kế hoạch duy nhất, đề ra việc những nguồn tài lực của xã hội nên được “điều hành một cách ý thức” như thế nào nhằm phục vụ những mục đích đặc thù theo một cách định rõ.
Cuộc tranh cãi giữa các nhà hoạch định hiện đại và những đối thủ của họ, vì vậy, không phải là một cuộc tranh cãi về việc liệu chúng ta có nên phải lựa chọn một cách khôn ngoan giữa các tổ chức đa dạng như có thể có của xã hội; nó không phải là một cuộc tranh cãi về việc liệu chúng ta có nên phải dụng đến tầm nhìn xa và cách suy nghĩ có hệ thống trong việc hoạch định cho những công việc chung của chúng ta.

p37

Chính là cuộc tranh cãi về cách tốt nhất để làm như thế là gì. Câu hỏi là liệu đối với mục đích nầy, điều tốt hơn là người nắm giữ quyền lực cưỡng bức nên tự hạn chế giới chung chung trong việc tạo ra những điều kiện mà theo đó kiến thức và sáng kiến của những cá nhân được ban cho một phạm vi tốt nhất để cho họ có thể lên kế hoạch môt cách thành công nhất; hoặc liệu cách sử dụng hợp lý những nguồn tài nguyên của chúng ta có đòi hỏi sự điều hành và cách tổ chức tập trung tất cả những hoạt động của chúng ta theo một “bản vẽ nền xanh duy nhất” được xây dựng có ý thức nào đó. Những người theo chủ nghĩa xã hội của tất cả các đảng phái đã từng chiếm đoạt thuật ngữ lên-kế-hoạch cho việc hoạch định của loại “bản vẽ nền xanh” và nó bây giờ được chấp nhận trong ý nghĩa nầy. Nhưng mặc dù điều nầy có ý gợi ra rằng đây là cách hợp lý duy nhất của việc giải quyết những công việc của chúng ta, nó không dĩ nhiên chứng minh điều nầy. Nó vẫn còn là quan điểm mà trên đó các nhà hoạch định và những nhà tự do không đồng ý với nhau.

* * * * *

Điều quan trọng không phải là gây lầm lẫn phe đối lập chống lại loại hoạch định nầy với một thái độ laissez-fair (i.e. không can thiệp)(pc 02) quyết đoán. Cách lập luận của phe tự do là ủng hộ cho việc tận dụng tốt nhất như có thể các lực lượng cạnh tranh như là một phương cách phối hợp những nỗ lực của con người, không phải là một lập luận cho việc để lại những thứ giống y như chúng đang tồn tại. Nó được đặt nền tảng trên niềm tin chắc chắn rằng nơi mà sự cạnh tranh có hiệu quả có thể được tạo ra, nó là một cách tốt hơn để hướng dẫn những nỗ lực cá nhân so với bất kỳ cách nào khác. Nó không phủ nhận, nhưng thậm chí nhấn mạnh, rằng, để cho sự cạnh tranh đó sẽ làm việc một cách có hữu ích, một khuôn khổ pháp lý được cẩn thận nghĩ ra cần phải có, và rằng không phải là những quy định pháp lý đang có hoặc cũng không phải là trong quá khứ thì không có khiếm khuyết nghiêm trọng. Cũng không phải là nó phủ nhận rằng nơi nào không thể tạo ra những điều kiện cần thiết để làm cho sự cạnh tranh có hiệu quả, chúng ta phải nhờ đến những phương pháp khác hướng dẫn sự hoạt động kinh tế. Chủ nghĩa tự do về kinh tế thì đối nghịch, tuy nhiên, với sự cạnh tranh đang bị hất ra bởi nhưng phương pháp nội tại của việc phối hợp những nỗ lực cá nhân. Và nó xem sự cạnh tranh như là cách khá hơn không phải chỉ vì nó trong hầu hết những trường hợp, nó là một phương pháp hiệu quả nhất được biết đến, nhưng thậm chí được biết đến nhiều hơn bởi vì nó là một phương pháp duy nhất mà qua đó những hoạt động của chúng ta có thể được điều chỉnh với nhau mà không có sự can thiệp cưỡng bức hoặc độc đoán của chính quyền.

p38

Thật vậy, một trong những lập luận chính ủng hộ sự cạnh tranh là nó không cần đến sự “kiểm soát xã hội có ý thức” và nó cho những cá nhân một cơ hội để quyết định việc liệu những triển vọng của sự chiếm giữ riêng biệt đủ để bù đắp cho những bất lợi và rủi ro gắn liền với nó.
Việc sử dụng thành công sự cạnh tranh như là một nguyên tắc của việc tổ chức xã hội ngăn cản những kiểu can thiệp cưỡng bức nào đó vào đời sống kinh tế, nhưng nó thừa nhận những loại khác vốn đôi khi có thể hỗ trợ rất đáng kể công việc của nó và thậm chí đòi hỏi những loại hành động nào đó của chính phủ. Nhưng có một lý do đúng là tại sao những yêu cầu tiêu cực, những quan điểm nơi mà sự cưỡng bức không được phép sử dụng, đã được nhấn mạnh một cách riêng biệt. Điều cần thiết trong trường hợp đầu tiên là những nhóm trên thị trường nên được tự do bán và mua ở bất cứ giá nào mà họ có thể tìm thấy nơi người đối tác sự quan hệ kinh doanh, và bất cứ ai nên được tự do sản xuất, bán, và mua bất cứ thứ gì vốn có thể được sản xuất hoặc bán đi theo bất kỳ cách nào. Và điều thiết yếu là cửa ngỏ vào trong những giao dịch khác nhau nên được mở ra cho tất cả trên những điều khoản bình đẳng, và luật pháp không nên nhân nhượng bất cứ những cố gắng nào của những cá nhân hoặc nhóm hạn chế ngỏ vào nầy bằng sức mạnh công khai hoặc che giấu. Bất kỳ cố gắng nào nhằm kiểm soát những giá cả hoặc định lượng các mặt hàng riêng biệt tước đi sự cạnh tranh về những quyền lực của nó trong việc mang lại sự phối hợp có hiệu quả những nỗ lực cá nhân, bởi vì những thay đổi giá cả sau đó chấm dứt ghi nhận tất cả những thay đổi thích đáng trong những trường hợp và không còn cung cấp một hướng dẫn đáng tin cậy cho những hành động cá nhân.
Điều nầy không phải nhất thiết là đúng, tuy nhiên, về những biện pháp chỉ đơn thuần là hạn chế những phương pháp sản xuất được cho phép, miễn là những hạn chế nầy gây ảnh hưởng như nhau đến tất cả những nhà sản xuất có tiềm năng và không được sử dụng như là một cách gián tiếp kiểm soát những giá cả và số lượng. Mặc dù tất cả những kiểm soát như thế về các phương pháp hoặc sự sản xuất áp đặt thêm những chi phí, tức là làm cho nó trở nên cần thiết sử dụng thêm những nguồn tài lực để sản xuất ra một sản lượng nhất định, chúng có thể rất xứng đáng với thời gian và công sức.

p39

Để ngăn cấm việc sử dụng những chất độc nào đó, hoặc nhằm đòi hỏi những thận trọng đặc biệt trong việc sử dụng, để hạn chế những giờ làm việc hoặc đòi hỏi những cách sắp xếp vệ sinh nào đó, thì hoàn toàn thích ứng với việc bảo tồn sự cạnh tranh. Câu hỏi duy nhất ở đây là liệu trong một trường hợp riêng biệt, những lợi thế thu được có lớn hơn những tổn phí cho xã hội mà họ áp đặt không. Cũng không phải là việc bảo tồn sự cạnh tranh thì không thích ứng với một hệ thống mở rộng của các dịch vụ xã hội –miễn là việc tổ chức các dịch vụ nầy không được trù hoạch theo cách sao cho khiến sự cạnh tranh mất hiệu quả trên các lãnh vực rộng lớn.
Điều đáng tiếc là, mặc dù không khó để giải thích, sự chú ý rất ít hơn đối với những quan điểm tiêu cực nầy đã từng được ra trong quá khứ đã trao cho những đòi hỏi tích cực về cách làm việc thành công của hệ thống cạnh tranh. Tính chất hoạt động của sự cạnh tranh không chỉ đòi hỏi sự tổ chức thích hợp của những tổ chức nào đó giống như tiền tệ, thị trường và những tuyến thông tin –một số trong những tổ chức mà không bao giờ có thể được cung cấp thích đáng bởi cách kinh doanh tư nhân– nhưng trên hết nó phụ thuộc vào sự tồn tại của một hệ thống pháp lý thích hợp, một hệ thống pháp lý được trù hoạch nhằm bảo tồn sự cạnh tranh cũng như làm cho nó hoạt động có lợi như có thể. Không hẳn có khả năng là pháp luật sẽ thừa nhận nguyên tắc về tài sản riêng và quyền tự do về hợp đồng; phần lớn phụ thuộc vào sự định nghĩa chính xác về quyền tài sản như được áp dụng cho những thứ khác nhau. Sự nghiên cứu có hệ thống về những hình thức của các tổ chức pháp lý mà qua đó sẽ tạo nên hệ thống cạnh tranh hoạt động một cách hiệu quả, đã bị bỏ qua thật đáng buồn; và những lập luận mạnh mẽ có thể được nâng lên mà qua đó những thiếu sót nghiêm trọng ở đây, riêng biệt là liên quan đến luật lệ về những tập đoàn công ty và các bằng sáng chế với, đã không chỉ làm cho sự cạnh tranh hoạt động tồi tệ nhiều hơn là nó đáng lý ra đã làm được, mà còn thậm chí đã dẫn đến việc phá hủy sự cạnh tranh trong nhiều lãnh vực.
Cuối cùng là, có những lãnh vực gì nghi ngờ nơi mà không có những sắp xếp theo pháp lý có thể tạo ra một điều kiện chính mà qua đó tính chất hữu dụng của hệ thống cạnh tranh và tài sản tư nhân phụ thuộc vào: một cách cụ thể, là những món lợi của người chủ từ tất cả những dịch vụ hữu ích được hoàn lại bằng tài sản của ông ta và những khốn khổ cho tất cả những thiệt hại gây ra cho những dịch vụ khác bởi cách sử dụng của nó.

p40

Nơi mà, thí dụ, đó là điều thiếu thực tiển khi tạo nên sự thích thú của những dịch vụ nào đó phụ thuộc vào việc trả cho một mức giá, sự cạnh tranh sẽ không sinh ra những dịch vụ; và hệ thống giá cả trở nên vô hiệu quả một cách tương tự khi sự thiệt hại gây ra cho những dịch vụ khác bằng những cách sử dụng tài sản nào đó, không thể bị buộc tội một cách hiệu quả đối với người chủ của tài sản đó. Trong tất cả những trường hợp nầy, có sự phân ra giữa các hạng mục vốn gộp vào trong sự tính toán riêng và những hạng mục vốn gây ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội; và bất cứ khi nào sự phân ra nầy trở nên quan trọng, một phương pháp nào đó khác hơn sự cạnh tranh có thể được tìm thấy để cung cấp các dịch vụ đang được nói đến. Như thế, không phải là sự cung cấp những cột dấu hiệu trên những con đường, cũng không phải, trong hầu hết trường hợp, sự cung cấp chính những con đường, có thể được trả cho bởi mỗi cá nhân sử dụng. Cũng không phải là những tác động có hại nào đó của việc phá rừng, hoặc của một số phương pháp canh tác, hoặc của khói và tiếng ồn của nhà máy, có thể được hạn chế đối với người chủ tài sản đang được nói đến hoặc đối với những người vốn sẵn sàng cam chịu sự thiệt hại cho sự bồi thường được thỏa thuận. Trong những trường hợp như thế, chúng ta phải tìm cái thay thế nào đó cho việc quy định bằng cơ chế giá cả. Nhưng sự kiện thực tế mà chúng ta phải nhờ đến sự thay thế quy định trực tiếp bởi chính quyền nơi mà những điều kiện cho cách làm việc thích hợp của sự cạnh tranh không thể được tạo ra, không chứng minh rằng chúng ta nên ỉm đi sự cạnh tranh ở nơi mà nó có thể được tạo nên để hoạt động.
Nhằm tạo ra những điều kiện mà trong đó sự cạnh tranh sẽ hiệu quả như có thể, nhằm bổ sung cho nó nơi mà nó không thể tạo nên hiệu quả, nhằm cung cấp những dịch vụ mà, theo những lời của Adam Smith, “mặc dù có thể là ở mức độ có lợi cao nhất cho một xã hội to lớn, chúng, tuy nhiên, thuộc về một bản chất như thế, mà qua đó lợi nhuận không bao giờ có thể trả lại chi phí cho bất kỳ cá nhân nào hoặc một số lượng nhỏ gồm những cá nhân”, những công việc nầy quả thật cung cấp một lãnh vực rộng lớn và không cần nghi vấn cho hoạt động của nhà nước. Trong nhà nước, không có hệ thống nào vốn có thể được bảo vệ một cách hợp lý, sẽ chỉ là không làm gì cả. Một hệ thống cạnh tranh có hiệu quả cần một khung pháp lý được thiết kế một cách thông minh và được điều chỉnh một cách liên tục phần nhiều như bất kỳ khuôn khổ nào khác.

p41

Ngay cả điều kiện tiên quyết thiết yếu nhất của cách hoạt động chuẩn mực của nó, việc ngăn chận gian lận và lừa bịp (bao gồm việc khai thác sự thiếu hiểu biết) cung cấp một mục đích hoạt động lập pháp to lớn và chắc chắn là chưa hoàn toàn hoàn tất.

* * * * *

Công việc tạo ra một khuôn khổ thích hợp cho cách làm việc có lợi của sự cạnh tranh, tuy nhiên, chưa từng được tiến hành rất xa khi các nhà nước mọi nơi quay lưng khỏi nó sang khuôn khổ của việc thay thế sự cạnh tranh bằng một nguyên tắc khác biệt và không thể hòa hợp. Câu hỏi thì không còn một câu hỏi về việc làm cho sự cạnh tranh có hiệu quả và việc bổ sung cho nó, ngoài việc thay thế nó toàn bộ. Điều quan trọng là phải khá rõ ràng về điều nầy: sự chuyển động hiện đại cho việc hoạch định là một phong trào chống lại sự cạnh tranh chẳng hạn như là, một lá cờ mới mà dưới đó tất cả những kẻ thù cũ của sự cạnh tranh đã tụ tập. Và mặc dù tất cả các loại lợi ích hiện thời đang cố gắng thành lập lại dưới lá cờ nầy, những đặc quyền mà thời đại tự do đã cuốn trôi xa, chính là sự tuyên truyền của chủ nghĩa xã hội về việc hoạch định vốn đã khôi phục điều đáng tôn trọng trong số những người có đầu óc tự do ở vị trí đối nghịch với sự cạnh tranh, và đã ru ngủ một cách hiệu quả sự nghi ngờ lành mạnh mà bất kỳ sự cố gắng nào nhằm bóp chết sự cạnh tranh được sử dụng để khơi dậy.1
=============
1 Gần đây, đó là sự thật, một số nhà xã hội học hàn lâm, dưới sự thúc đẩy của những lời chỉ trích, và bị quấy động bởi cùng nỗi sợ hãi của sự tiêu hủy quyền tự do trong một xã hội có kế hoạch tập trung, đã sáng tạo một loại mới của “chủ nghĩa xã hội cạnh tranh” mà họ hy vọng sẽ tránh được những khó khăn và nguy hiểm của việc hoạch định tập trung và kết hợp việc bãi bỏ tài sản tư nhân với việc giữ lại toàn bộ quyền tự do cá nhân. Mặc dù một vài cuộc thảo luận nào đó về loại mới nầy của chủ nghĩa xã hội đã diễn ra trên các tạp chí học giả, đó là điều hầu như khó mà tự giới thiệu cho những nhà chính trị thực dụng. Nếu điều đó đã từng xảy ra, sẽ không khó để cho thấy (như tác giả đã cố gắng thử ở nơi khác –xem tạp chí Economica, 1940) rằng những kế hoạch nầy dựa trên một ảo tưởng và chịu khốn đốn từ sự mâu thuẫn vốn có. Đó là điều không thể nào nắm quyền kiểm soát trên tất cả những nguồn sản xuất mà cũng không có việc quyết định cho ai và bởi người nào mà họ quen thuộc. Mặc dù, dưới cái gọi là chủ nghĩa xã hội cạnh tranh nầy, việc hoạch định bởi chính quyền trung ương sẽ chọn những hình thức có phần nào quanh co hơn, những ảnh hưởng của nó sẽ không khác nhau trên cơ bản, và thành phần của sự cạnh tranh sẽ hơn là một người giả vờ một chút.
=============

p42

Điều mà thực sự kết hợp những người theo chủ nghĩa xã hội của cánh Tả và cánh Hữu là thái độ thù nghịch chung nầy đối với sự cạnh tranh và sự khao khát chung của họ muốn thay thế nó bằng một nền kinh tế được định hướng. Mặc dù những thuật ngữ chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội vẫn thường được sử dụng để mô tả những hình thức quá khứ và tương lai của xã hội, họ che giấu hơn là làm sáng tỏ bản chất của sự chuyển đổi mà chúng ta đang đi ngang qua.
Tuy thế, mặc dù tất cả những thay đổi mà chúng ta đang quan sát, có xu hướng theo một chiều hướng của sự điều hành tập trung về hoạt động kinh tế, cuộc đấu tranh toàn diện chống lại sự cạnh tranh hứa hẹn sẽ sản xuất ra, trong trường hợp đầu tiên, một cái gì đó trong nhiều khía cạnh thậm chí tồi tệ hơn, một tình huống hiện thời vốn có thể đáp ứng không phải là những nhà hoạch định cũng không phải là những nhà tự do: loại tổ chức của những người tham gia công đoàn hoặc “liên đoàn” của ngành kỹ nghệ, mà trong đó sự cạnh tranh bị đàn áp ít nhiều nhưng việc hoạch định còn để lại trong tay của các công ty độc quyền độc lập của những kỹ nghệ tách biệt. Đây là một kết quả đầu tiên tất yếu của một tình huống mà trong đó người dân được kết hợp trong sự thù nghịch của họ đối với sự cạnh tranh nhưng đồng ý trên thứ hơi khác. Bằng cách tiêu diệt sự cạnh tranh trong ngành kỹ nghệ nầy đến kỹ nghệ khác, chính sách nầy đặt người tiêu dùng trong một tình huống hứng chịu hành động độc quyền kết hợp của những nhà tư bản và những người lao động trong những ngành kỹ nghệ có tổ chức tốt nhất. Tuy thế, mặc dù đây là một tình huống hiện thời mà trong các lãnh vực rộng lớn đã thực sự tồn tại trong một thời gian nào đó, và mặc dù phần lớn sự quấy động rối tung (và hầu hết là thú vị) vì việc hoạch định nhắm vào nó, nó không phải là một nhà nước vốn có khả năng là kiên trì hoặc có thể được biện minh một cách hợp lý. Việc hoạch định độc lập như thế bởi những công ty độc quyền về kỹ nghệ, thật ra, sẽ sản sinh ra những ảnh hưởng đối nghịch với những ảnh hưởng mà cuộc tranh luận cho việc hoạch định nhắm vào. Một khi giai đoạn nầy được đạt đến, một cách duy nhất khác cho việc quay trở lại sự cạnh tranh là quyền kiểm soát những công ty độc quyền của nhà nước, một quyền kiểm soát mà, nếu nó là được tạo nên sao cho hiệu quả, phải trở nên dần dần hoàn chỉnh hơn và chi tiết hơn. Chính là giai đoạn nầy, chúng ta đang nhanh chóng tiếp cận.

p43

Khi, trước chiến tranh không lâu, một trong những tuần báo chỉ ra rằng “có nhiều dấu hiệu mà những nhà lãnh đạo Anh Quốc đang càng lúc quen thuộc với việc suy nghĩ trong những phần về sự phát triển quốc bằng những độc quyền được kiểm soát”,1 điều nầy có lẽ là một ước tính đúng về vị thế như nó đã tồn tại sau nầy. Kể từ đó, quá trình tiến triển nầy đã được tăng gia tốc mãnh liệt bởi chiến tranh, và những khiếm khuyết và nguy hiểm nghiêm trọng của nó sẽ ngày càng trở nên rõ ràng khi thời gian tiếp tục trôi qua.
Ý tưởng về sự tập trung hoàn toàn của việc điều hành hoạt động kinh tế vẫn làm kinh hoàng hầu hết mọi người, không chỉ vì những khó khăn vô cùng to lớn của công việc, mà còn thậm chí nhiều hơn bởi vì sự khủng khiếp lấy cảm hứng từ ý tưởng của mọi thứ đang được điều hành từ một trung tâm duy nhất. Nếu chúng ta tuy nhanh chóng di chuyển hướng đến một nhà nước như thế, điều nầy phần lớn là vì hầu hết mọi người vẫn tin rằng ắt hẳn có thể tìm thấy một Cách Trung gian giữa sự cạnh tranh “vi tử” và sự điều hành tập trung. Quả thật, không có gì có vẻ là lúc đầu hợp lý hơn, hoặc có nhiều khả năng kêu gọi những người biết lý lẽ, so với ý tưởng mà mục đích của chúng ta ắt hẳn không phải là việc phi tập trung cực độ của sự cạnh tranh tự do, cũng không phải là việc tập trung hoàn toàn một kế hoạch duy nhất, ngoại trừ sự trộn lẫn có suy xét của hai phương pháp. Tuy thế, chỉ là cảm giác chung chứng tỏ sự hướng dẫn xảo trá trong lãnh vực nầy. Mặc dù sự cạnh tranh có thể chịu sự trộn lẫn thêm vào nào đó của quy củ, nó không thể được kết hợp với việc hoạch định đến bất kỳ mức độ nào mà chúng ta muốn là không có việc ngưng hoạt động như là một hướng dẫn hiệu quả cho việc sản xuất. Cũng không phải “việc hoạch định” là một liều thuốc vốn, được cho uống với những liều lượng nhỏ, có thể sản sinh ra những ảnh hưởng mà người ta có thể hy vọng từ sự ứng dụng hoàn toàn của nó. Cả sự cạnh tranh và sự điều hành tập trung trở thành những công cụ nghèo nàn và vô hiệu quả nếu chúng chưa toàn vẹn; chúng là những nguyên tắc thay thế khác được sử dụng để giải quyết cùng một nan đề, và sự pha trộn của hai biện pháp mà không một biện pháp nào trong hai thứ sẽ thực sự hiệu nghiệm và kết quả sẽ tồi tệ hơn nếu một trong hai hệ thống đã phải luôn luôn dựa vào nó. Hoặc, để bày tỏ một cách khác hơn, việc hoạch định và sự cạnh tranh có thể được kết hợp chỉ bởi việc hoạch định vì sự cạnh tranh, nhưng không phải bởi việc hoạch định chống lại sự cạnh tranh.
============
1 Tạp chí The Spectator, ngày 3 tháng Ba năm 1939, p. 337.
=============

p44

Điều đó có tầm quan trọng cao nhất đối với cách lập luận của cuốn sách nầy cho đọc giả đọc luôn lưu ý rằng việc hoạch định mà tất cả những lời phê bình của chúng ta được hướng dẫn chống lại, chỉ là việc hoạch định chống lại sự cạnh tranh –việc hoạch định vốn sẽ được thay thế cho sự cạnh tranh. Điều nầy quan trọng hơn khi chúng ta không có thể, trong phạm vi chủ đích cuốn sách nầy, bước vào một cuộc thảo luận về việc hoạch định rất cần thiết vốn được đòi hỏi để tạo nên sự cạnh tranh có hiệu quả và có lợi nhất như có thể. Nhưng như trong cách sử dụng hiện thời, “việc hoạch định” đã trở thành gần như đồng nghĩa với các loại trước đó về việc hoạch định, đôi khi điều đó sẽ tất yếu vì lợi ích của sự ngắn gọn khi đề cập đến nó một cách đơn giản như là việc hoạch định, ngay cả mặc dù điều nầy có nghĩa là để lại cho đối thủ chúng ta một từ ngữ rất hay đáng có một số phận tốt hơn.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

===========================================

Phụ Chú :
pc 02_ Laissez-faire (không can thiệp) : là một môi trường kinh tế mà trong đó những giao dịch giữa các bên tư nhân không bị bó buộc bởi những hạn chế, những thuế quan (thuế xuất nhập), và những khoản trợ cấp của chính phủ, chỉ có những quy định đủ để bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Nhóm chữ laissez-faire là tiếng Pháp và theo nghĩa đen có nghĩa là “hãy để cho [họ] làm”, nhưng nó ngụ ý rộng rãi là “để mặc nó”, “hãy để cho họ làm như họ muốn,” hoặc “đừng đụng chạm đến.”

Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định

p45

Chương 04: “Điều tất yếu” của việc Hoạch định

“Chúng ta là những người đầu tiên khẳng định rằng những hình thức của nền
văn minh càng phức tạp, quyền tự do cá nhân phải trở nên càng bị hạn chế.”

B. Mussolini

Chính là một sự kiện thực tế mà một số ít những nhà hoạch định sẵn lòng cho biết rằng việc hoạch định tập trung là điều mong muốn. Hầu hết trong số họ khẳng định rằng chúng ta không có thể chọn lựa lâu hơn nữa ngoại trừ bị bắt buộc bởi những hoàn cảnh ngoài tầm kiểm soát của chúng ta để thay thế việc hoạch định cho sự cạnh tranh. Một chuyện hoang tưởng được cố tình vun trồng mà chúng ta đang bắt tay vào một quá trình diễn biến mới không phải từ ý muốn tự chọn nhưng bởi vì sự cạnh tranh bị loại bỏ một cách tự nhiên bởi những thay đổi về kỹ thuật mà chúng ta hoặc không thể đảo ngược hoặc cũng không mong muốn sẽ ngăn chận. Lập luận nầy hiếm khi được phát triển ở bất kỳ mức độ dài nào –chính là một trong những khẳng định được chiếm lấy bởi một nhà văn từ một ngăn kéo khác, bởi sự lặp lại mà thôi, điều đó cuối cùng đã được chấp nhận như là một sự kiện thực tế được thành lập. Tuy nhiên, nó không có nền tảng.

p46

Khuynh hướng đối với sự độc quyền thương trường và việc hoạch định không phải là kết quả của bất kỳ “những sự kiện khách quan” nào ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, ngoại trừ sản phẩm của những ý kiến được nuôi dưỡng và tuyên truyền trong nửa thế kỷ cho đến khi cuối cùng chúng đã thống trị tất cả chính sách của chúng ta.
Trong số những lập luận khác nhau được dùng đến để chứng tỏ điều tất yếu của việc hoạch định, người ta gần như thường hay nghe nói rằng những thay đổi về kỹ thuật đã khiến cho sự cạnh tranh không thể xảy ra trong một số lượng không ngừng gia tăng của những lãnh vực, và rằng sự lựa chọn duy nhất được để lại cho chúng ta là giữa sự kiểm soát về sản xuất bởi những công ty độc quyền tư nhân và sự điều hành của chính phủ. Niềm tin nầy xuất phát chủ yếu từ học thuyết Mác-xít về “sự tập trung kỹ nghệ”, mặc dù, giống như rất nhiều ý tưởng Mác-xít, hiện thời nó được tìm thấy trong nhiều giới vốn là những người đã từng nhận lấy nó ở bàn tay thứ ba hoặc thứ tư và không biết nó xuất phát từ đâu.
Sự kiện lịch sử về sự tăng trưởng tiến triển của sự độc quyền thương trường trong suốt năm mươi năm qua và sự hạn chế ngày càng gia tăng của lãnh vực mà trong đó những quy tắc cạnh tranh, dĩ nhiên, không được tranh cãi mặc dù mức độ của hiện tượng nầy thường được phóng đại rất nhiều.1 Câu hỏi quan trọng là liệu sự phát triển nầy là một hệ quả cần thiết của bước tiến kỹ nghệ, hoặc nó chỉ đơn giản là kết quả của những chính sách được theo đuổi trong hầu hết các quốc gia. Hiện tại, chúng ta chắc chắn nhìn thấy rằng lịch sử thực sự của sự phát triển nầy cho thấy một cách mạnh mẽ sự kiện sau cùng. Nhưng trước tiên chúng ta phải suy xét là những phát triển về kỹ thuật hiện đại tiến xa như thế nào về một loại chẳng hạn như tạo nên sự tăng trưởng sự độc quyền thương trường trong các lãnh vực rộng lớn tất yếu.
Nguyên nhân tăng trưởng bị cáo buộc về kỹ thuật của sự độc quyền thương trường là sự vượt trội của công ty lớn trên hãng nhỏ, do hiệu quả lớn hơn của các phương pháp hiện đại về sự sản xuất hàng loạt. Những phương pháp hiện đại, nó được xác nhận là, đã từng tạo ra những điều kiện trong phần lớn những kỹ nghệ nơi mà việc sản xuất của một công ty lớn có thể được gia tăng nhờ những chi phí giảm xuống trên một đơn vị món hàng, với kết quả là những công ty lớn đang bỏ thầu giá thấp ở mọi nơi và tống khứ những hãng nhỏ ra; quá trình tiến triển nầy phải tiếp tục cho đến khi trong mỗi kỹ nghệ chỉ có một hoặc nhiều nhất là một số ít công ty khổng lồ còn sót lại.
=============
1 Dành cho một cuộc thảo luận đầy đủ hơn về những nan đề, xin xem bài tiểu luận của Giáo sư L. Robbins về “The Inevitability of Monopoly” (“Điều tất yếu của sự Độc quyền thương trường”) trong tác phẩm “The Economic Basic of Class Conflict” (“Cơ bản Kinh tế về cuộc Xung đột Tầng lớp”), năm 1939, pp. 45–80.
=============

p47

Lập luận nầy chọn ra một tác động đôi khi kèm theo sự tiến bộ về kỹ thuật; nó không quan tâm đến những thứ khác vốn làm việc theo chiều hướng ngược lại; và nó nhận được ít sự hỗ trợ từ cuộc nghiên cứu nghiêm túc về những sự kiện thực tế. Ở đây, chúng ta không thể điều nghiên câu hỏi nầy một cách chi tiết và phải vui lòng chấp nhận bằng chứng tốt nhất hiện có. Cuộc nghiên cứu bao hàm nhất về các sự kiện thực tế được thực hiện trong những lần gần đây trực thuộc “Ủy ban Kinh tế Quốc gia Tạm thời” của Mỹ trên vấn đề về Sự tập trung Quyền lực Kinh tế. Bản báo cáo đúc kết của Ủy ban nầy (vốn chắc chắn là không thể bị cáo buộc về thành kiến tự do quá mức) đi đến sự kết luận rằng quan điểm theo điều mà tính chất hiệu quả lớn hơn của việc sản xuất có quy mô lớn là nguyên nhân của sự biến mất cạnh tranh, “tìm thấy sự hỗ trợ ít ỏi trong bất kỳ bằng chứng nào mà hiện thời có trong tay.”1 Và sự chuyên khảo chi tiết trên câu hỏi vốn được chuẩn bị cho Ủy ban, tổng kết phần trả lời trong câu phát biểu nầy :

Tính chất hiệu quả vượt trội của các cơ sở lớn đã không được chứng minh; những lợi thế vốn được cho là phá hủy sự cạnh tranh, đã thất bại tự thể hiện chính mình trong nhiều lãnh vực. Cũng không phải những nền kinh tế có kích thước, nơi mà chúng tồn tại, không trách khỏi cần thiết phải là độc quyền… Kích thước hoặc những kích thước của tính chất hiệu quả tối ưu có thể được đạt đến từ lâu trước khi một phần lớn của cung cầu phải chịu sự kiểm soát như thế. Những kết luận mà lợi thế của việc sản xuất có quy mô lớn chắc chắn phải dẫn đến việc bãi bỏ sự cạnh tranh, không thể được chấp nhận. Vã lại, điều nên được lưu ý là sự độc quyền thương trường thường là sản phẩm của các yếu tố khác so với những tổn phí thấp hơn của kích thước lớn hơn.

=============
1 “Final Report and Recommendations of the Temporary National Economic Committee” (“Báo cáo Đúc kết và những Kiến nghị của Ủy ban Kinh tế Quốc gia Tạm thời”), Đại hội Quốc hội lần thứ 77, Phiên họp lần thứ 1, Văn kiện Thượng viện No. 35, 1941, p. 89.
=============

p48

Nó được đạt đến qua sự thỏa thuận thông đồng và được thúc đẩy bởi những chính sách công cộng. Khi những thỏa thuận nầy bị mất hết hiệu lực và khi những chính sách nầy bị đảo ngược, những điều kiện cạnh tranh có thể được phục hồi.1

Một cuộc điều tra về những điều kiện trong đất nước nầy sẽ dẫn đến những kết quả rất giống nhau. Bất cứ ai vốn đã từng quan sát về việc những nhà độc quyền thương trường khao khát thường xuyên tìm kiếm và thường xuyên có được sự trợ giúp về quyền lực như thế nào từ nhà nước để làm cho quyền kiểm soát của họ có hiệu quả, có thể có chút ít nghi ngờ rằng không có gì chắc chắn về sự phát triển nầy.

* * * * *

Phần kết luận nầy được hỗ trợ mạnh mẽ bởi mệnh lệnh lịch sử mà trong đó sự suy giảm của cạnh tranh và sự tăng trưởng của độc quyền thương trường tự thể hiện rõ nét ở các nước khác nhau. Nếu chúng là kết quả của sự phát triển kỹ thuật hoặc là một sản phẩm cần thiết của sự tiến hóa của “chủ nghĩa tư bản”, chúng ta nên kỳ vọng chúng xuất hiện trước tiên ở các nước có hệ thống kinh tế tiên tiến nhất. Thật ra, chúng đã xuất lần đầu tiên trong suốt phần ba cuối của thế kỷ mười chín trong những cái gì đó mà sau nầy đã là các nước kỹ nghệ tương đối trẻ, Hoa Kỳ và Đức. Đặc biệt là trong quốc gia đứng sau, mà cuối cùng được xem như là một đất nước mô hình điển hình cho sự tiến hóa cần thiết của chủ nghĩa tư bản, sự tăng trưởng của những nghiệp đoàn và công đoàn kể từ năm 1878 đã được nuôi dưỡng một cách hệ thống bởi chính sách có chủ ý. Không chỉ là một công cụ bảo vệ, mà còn là những nguyên nhân xui khiến trực tiếp và sự ép buộc sau hết, đã được sử dụng bởi những chính phủ nhằm thúc đẩy xa hơn việc tạo ra sự quy định về những giá thành và giá bán của những công ty độc quyền thương trường. Chính là ở đây nơi mà, với sự giúp đỡ của nhà nước, mà cuộc thử nghiệm to lớn lần đầu tiên trong “việc hoạch định theo khoa học” và “cách tổ chức kỹ nghệ có ý thức” dẫn đến việc tạo ra những công ty độc quyền khổng lồ, vốn được tượng trưng như là những tăng trưởng tất yếu, năm mươi năm trước cùng một cuộc thử nghiệm đã được thực hiện ở Anh Quốc.
=============
1 C. Wilcox, “Competition and Monopoly in American Industry” (“sự Cạnh tranh và sự Độc quyền thương trường trong kỹ nghệ Mỹ”), Temporary National Economic Committee, (Ủy ban Kinh tế Quốc gia Tạm thời), Chuyên khảo No. 21, 1940, p. 314.
=============

p49

Phần lớn, chính là do ảnh hưởng của những lý thuyết gia xã hội chủ nghĩa người Đức, riêng biệt là Sombart, phổ biến hóa từ kinh nghiệm của đất nước họ, rằng sự phát triển tất yếu của hệ thống cạnh tranh biến thành “chủ nghĩa tư bản độc quyền thương trường” đã trở nên được chấp nhận rộng rãi. Mà qua đó ở Hoa Kỳ, một chính sách có tầm cao của những người chủ trương bảo vệ nền kỹ nghệ trong nước đã làm cho sự phát triển hơi tương tự có thể xảy ra, dường như nhằm xác nhận sự phổ biến hóa nầy. Sự phát triển của Đức, tuy nhiên, nhiều hơn điều đó của Hoa Kỳ, cuối cùng được xem như là sự tiêu biểu của một khuynh hướng phổ quát; và nó đã trở thành một điều đáng ghi vào sổ tay khi nói về –hoặc khi trích dẫn một bài tiểu luận chính trị được đọc rộng rãi của ngày tháng gần đây– “Nước Đức nơi mà tất cả những lực lượng xã hội và chính trị của nền văn minh hiện đại đã đạt đến một hình thức tiên tiến nhất của chúng.”1
Có điều ít chắc chắn như thế nào trong tất cả điều nầy, và kết quả của chính sách có chủ ý là bao nhiêu, trở nên rõ ràng khi chúng ta suy xét vị thế ở đất nước nầy cho đến năm 1931 và sự phát triển kể từ năm mà trong đó Đại Anh Quốc cũng bắt tay vào một chính sách bảo vệ nền kinh tế chung chung. Chỉ một mười hai năm kể từ khi, ngoại trừ một vài ngành kỹ nghệ vốn đã có được sự bảo vệ trước đó, kỹ nghệ Anh Quốc trên toàn bộ, có lẽ, cạnh tranh như là vào bất kỳ lúc nào trong lịch sử của nó. Và, mặc dù trong suốt những năm 1920s, nó gánh chịu khốn đốn một cách nặng nề từ những chính sách không phù hợp được theo sau với việc liên quan đến lương hướng và tiền tệ, ít nhất là những năm cho đến năm 1929 so sánh với việc liên quan đến việc làm và hoạt động chung chung không có lợi cho thập niên 1930s. Chỉ là kể từ khi sự chuyển đổi sang việc bảo vệ nền kinh tế và sự thay đổi chung chung trong chính sách kinh tế Anh Quốc đi kèm với điều đó, mà qua đó sự tăng trưởng của những công ty độc quyền thương trường đã tiến triển với một tốc độ đáng kinh ngạc và đã chuyển đổi kỹ nghệ Anh Quốc đến một mức độ mà công chúng hiếm khi nào đã nhận ra. Lập luận rằng sự phát triển nầy có liên quan gì đó với sự tiến bộ về kỹ nghệ trong suốt giai đoạn nầy, rằng những điều cần thiết về kỹ nghệ mà ở Đức đã hoạt động trong những năm 1880s và 1890s, khiến cho chính họ cảm nhận nơi nầy trong thập niên 1930s, thì không kém nhiều lố bịch hơn lời tuyên bố có ngụ ý trong câu phát biểu của Mussolini (được trích dẫn ở phần đầu của chương nầy) rằng nước Ý phải bãi bỏ quyền tự do cá nhân trước khi những người Âu châu khác bởi vì nền văn minh của họ cho đến nay đã tiến xa phía trước những nước còn lại !
============
1 R. Niebuhr, tác phẩm “Moral Man and Immoral Society” (“Con người Đạo đức và Xã hội Vô đạo đức”), năm 1932.
=============

p50

Đến một mực độ mà đất nước nầy được quan tâm, một luận điểm mà cho rằng sự thay đổi trong quan điểm và chính sách chỉ đơn thuần theo sau sự thay đổi không thể lay chuyển được trong những sự kiện thực tế, có thể được ban cho một bề ngoài nào đó của sự thật chỉ bởi vì nước Anh tại một khoảng cách đã từng theo sau sự phát triển trí thức ở nơi khác. Điều đó có thể vì thế được lập luận rằng tổ chức kỹ nghệ độc quyền thương trường đã mọc lên mặc sự kiện thực tế là quan điểm công chúng vẫn ưa chuộng sự cạnh tranh, nhưng những biến cố bên ngoài đã làm hỏng những mong ước của họ. Mối quan hệ thực sự giữa lý thuyết và thực hành, tuy nhiên, sẽ trở nên rõ ràng ngay sau khi chúng ta nhìn vào nguyên mẫu của sự phát triển nầy, ở nước Đức. Mà nơi đó sự đàn áp cạnh tranh là một vấn đề của chính sách cố ý, mà qua đó nó đã được thực hiện trong việc phục vụ lý tưởng mà chúng ta hiện thời gọi là việc hoạch định, không có thể có một nghi ngờ nào. Trong bước tiến bộ hướng đến một xã hội có kế hoạch hoàn toàn, những người Đức, và tất cả những người vốn đang bắt chước theo tấm gương của họ, chỉ đơn thuần đi theo quá trình mà các nhà tư tưởng của thế kỷ mười chín, riêng biệt là những người Đức, đã từng chỉ vẻ cho họ. Lịch sử tri thức của sáu mươi hoặc tám mươi năm qua quả thật là một thí dụ minh chứng hoàn hảo về sự thật mà trong sự tiến hóa xã hội không có gì là không thể tránh được nhưng tư duy làm cho nó như thế.

* * * * *

Sự khẳng định rằng sự tiến bộ về kỹ thuật hiện đại khiến cho việc hoạch định không thể tránh được, cũng có thể được giải bày theo một cách khác nhau. Điều đó có thể có nghĩa là sự phức tạp của nền văn minh kỹ nghệ hiện đại của chúng ta tạo ra những nan đề mới mà chúng ta không thể hy vọng giải quyết một cách hiệu quả ngoại trừ bằng việc hoạch định tập trung. Trong cảm nhận, điều nầy là đúng –tuy thế, không phải trong một cảm nhận rộng lớn mà trong đó nó được tuyên bố. Chính là, thí dụ, một điều đáng ghi lại mà phần nhiều trong số những nan đề được tạo ra bởi một thị trấn hiện đại, giống như nhiều vấn đề khác được gây ra bởi tiếp giáp gần kề trong khoảng không gian, không được giải quyết một cách thỏa đáng bởi sự cạnh tranh.

p51

Nhưng không phải là những nan đề nầy, giống như những vấn đề về “những tiện nghi công cộng”, v.v., vốn là trên hết trong tâm trí của những người vốn khơi lên sự phức tạp của nền văn minh hiện đại như là lập luận cho việc hoạch định tập trung. Điều mà họ thường đề nghị là sự khó khăn đang gia tăng của việc có được một bức tranh mạch lạc của toàn bộ quá trình tiến triển về kinh tế khiến cho nó không thể thiếu được mà qua đó mọi thứ nên được phối hợp bởi một trung tâm cơ sở nào đó nếu đời sống xã hội không muốn hòa tan trong sự hỗn loạn.
Lập luận nầy được đặt nền tảng trên một sự ngộ nhận hoàn toàn cách làm việc của sự cạnh tranh. Rất không thích hợp chỉ đối với những điều kiện tương đối đơn giản, chính là điều thực phức tạp của sự phân chia lao động dưới những điều kiện hiện đại vốn làm cho sự cạnh tranh trở thành phương pháp duy nhất mà qua đó sự phối hợp như thế có thể được đưa đến một cách thích đáng. Có thể sẽ không có sự khó khăn nào về quyền kiểm soát hiệu quả hoặc việc hoạch định là những điều kiện quá đơn giản đến nổi một người riêng lẻ hoặc hội đồng quản trị có thể khảo sát một cách hiệu quả tất cả những sự kiện có liên quan. Điều đó chỉ như là những yếu tố vốn phải tính đến, trở nên quá nhiều đến nổi không thể nào có được một cái nhìn khái quát về chúng, đến nổi việc phi tập trung quyền lực trở nên cấp thiết. Nhưng một khi việc phi tập trung là cần thiết, nan đề về sự phối hợp phát sinh, một sự phối hợp vốn để cho các cơ sở tách biệt tự do điều chỉnh những hoạt động của mình theo những sự kiện thực tế mà chỉ có họ mới có thể biết được, và hơn nữa, mang lại một sự điều chỉnh hỗ tương của những kế hoạch tương ứng riêng của họ. Khi việc phi tập trung đã trở nên cần thiết bởi vì không ai có thể cân bằng một cách có ý thức tất cả những suy xét mang trên những quyết định của quá nhiều cá nhân, sự phối hợp có thể không bị ảnh hưởng một cách rõ ràng bởi “sự kiểm soát có ý thức”, nhưng chỉ bởi những sắp xếp vốn truyền đạt đến mỗi tác nhân thông tin mà ông ta phải có nhằm mục đích điều chỉnh một cách hiệu quả những quyết định của mình đối với những quyết định của những người khác. Và bởi vì tất cả những chi tiết của những thay đổi liên tục tác động đến những điều kiện của cung và cầu của các mặt hàng khác nhau không bao giờ có thể được biết một cách đầy đủ, hoặc đủ mau chóng để được thu thập và phổ biến, bởi bất cứ ai là trung tâm, điều mà được đòi hỏi là dụng cụ ghi vào sổ sách nào đó vốn tự động ghi lại tất cả những ảnh hưởng có liên quan của những hành động cá nhân, và những dấu hiệu của người đó cùng một lúc là kết quả của, và là sự hướng dẫn cho, tất cả những quyết định cá nhân.

p52

Điều nầy chính xác là cái gì mà hệ thống giá cả làm dưới sự cạnh tranh, và điều mà thậm chí không có hệ thống nào khác hứa hẹn sẽ hoàn tất. Nó cho phép các nhà doanh nghiệp, bằng cách quan sát sự chuyển động của một số ít giá cả tương đối, như một kỹ sư quan sát những cây kim của một vài mặt đồng hồ, để điều chỉnh những hoạt động của họ theo những hoạt động của người bạn của họ. Điểm quan trọng ở đây là hệ thống giá cả sẽ hoàn thành chức năng nầy chỉ khi nào sự cạnh tranh chiếm ưu thế, đó là, nếu một nhà sản xuất cá nhân phải tự thích nghi với những thay đổi giá cả và không thể kiểm soát chúng. Càng phức tạp hơn cả khối, càng các phụ thuộc hơn chúng ta trở nên trên sự phân chia đó về kiến thức giữa những cá nhân mà những nỗ lực riêng biệt của họ được phối hợp bởi một cơ chế khách quan cho việc truyền đi những thông tin có liên quan được biết đến bởi chúng ta như là một hệ thống giá cả.
Không một sự cường điệu nào khi nói rằng nếu chúng ta đã phải dựa vào việc hoạch định tập trung có ý thức cho sự tăng trưởng của hệ thống kỹ nghệ của chúng ta, điều đó sẽ không bao giờ đạt đến mức độ của sự khác biệt, phức tạp, và linh hoạt mà nó đã từng đạt được. So với phương pháp nầy của việc giải quyết nan đề kinh tế bằng biện pháp phi tập trung cộng với sự phối hợp tự động, một phương pháp rõ ràng hơn về sự điều hành tập trung nằm trong một phạm vi vụng về, thô sơ, và bị giới hạn đến khó tin. Sự phân chia về lao động đã đạt đến một mức độ mà nó làm cho nền văn minh hiện đại có thể xảy ra, mà qua đó chúng ta nợ một sự kiện thực tế là nó không phải được tạo ra một cách có ý thức, nhưng là người đàn ông đã tình cờ tìm ra một phương pháp bằng cách mà sự phân công lao động có thể được mở rộng vượt xa những giới hạn bên trong phạm vi mà nó đáng lý ra đã được lên kế hoạch. Bất kỳ sự tăng trưởng nào thêm nữa về sự phức tạp của nó, vì vậy, xa khỏi việc thực hiện điều hành tập trung cần thiết hơn, làm cho nó quan trọng hơn bao giờ hết so với điều mà chúng ta sẽ sử dụng một kỹ thuật vốn không không phụ thuộc vào sự kiểm soát có ý thức.

p53

* * * * *

Còn có một lý thuyết khác vốn kết nối sự tăng trưởng của những công ty độc quyền thương trường với sự tiến bộ về kỹ nghệ, và sử dụng những lập luận gần như tương phản với những lập luận mà chúng ta vừa xem xét; mặc dù không thường xuyên được nêu rõ, nó cũng đã tạo nên ảnh hưởng đáng kể. Nó dám chắc rằng, không phải là kỹ thuật hiện đại phá hủy sự cạnh tranh, nhưng là, ngược lại, nó sẽ không thể nào dùng đến phần nhiều những điều có khả năng có về kỹ thuật mới, trừ khi sự bảo vệ chống lại sự cạnh tranh được cho phép, có nghĩa là, sự độc quyền thương trường được ban cấp. Loại lập luận nầy không nhất thiết phải là sự gian lận, như một đọc giả khó tính có lẽ sẽ nghi ngờ: câu trả lời rõ ràng, rằng nếu một kỹ thuật mới nhằm đáp ứng những cái muốn của chúng ta thì thực sự tốt hơn, nó phải có khả năng đứng lên chống lại tất cả sự cạnh tranh, không vứt bỏ tất cả các trường hợp mà lập luận nầy đề cập đến. Không một nghi ngờ nào trong nhiều trường hợp, nó được sử dụng chỉ đơn thuần như là một hình thức cầu xin đặc biệt bởi các phe nhóm có ý quan tâm. Thậm chí thường xuyên hơn, có thể nó được đặt nền tảng trên sự lầm lẫn giữa điểm nổi bật về kỹ thuật từ quan điểm hẹp hòi nghĩ ra và điều đáng khao khát từ quan điểm của xã hội như là một khối.
Vẫn còn có, tuy nhiên, một nhóm các trường hợp nơi mà cách lập luận có sức mạnh nào đó. Đó là điều, thí dụ, ít ra có thể hiểu được rằng ngành kỹ nghệ xe hơi của Anh Quốc có thể có khả năng cung cấp một chiếc xe rẻ hơn và tốt hơn so với những chiếc xe quen được sử dụng ở Hoa Kỳ nếu mọi người trong đất nước nầy được thúc đẩy để sử dụng cùng một loại xe; hoặc rằng việc sử dụng điện cho tất cả các mục đích có thể được thực hiện rẻ hơn so với than đá hay xăng nếu mọi người có thể được thúc đẩy để chỉ sử dụng điện. Trong những trường hợp giống như những điều nầy, đó là điều ít nhất ra có thể là tất cả chúng ta có thể là khá hơn, và sẽ ưa thích tình hình mới hơn nếu chúng ta có sự lựa chọn –nhưng không một cá nhân nào từng được lựa chọn, bởi vì một cách khác là hoặc tất cả chúng ta nên sử dụng cùng một loại xe giá rẻ (hoặc tất cả chỉ nên sử dụng điện), hoặc là chúng ta nên có sự lựa chọn giữa những điều nầy với mỗi chiếc xe trong số đó ở một mức giá cao hơn nhiều. Tôi không biết liệu điều nầy là đúng ở một trong những trường hợp được đưa ra. Nhưng ắt hẳn được thừa nhận rằng có thể là bởi sự tiêu chuẩn hóa bắt buộc hoặc sự ngăn cấm đa dạng vượt xa hơn mức độ nhất định, sự phong phú có thể được gia tăng trong một số lãnh vực nhiều hơn là vừa đủ nhằm bù đắp cho sự hạn chế về lựa chọn của người tiêu dùng.

p54

Thậm chí có thể hiểu rằng một phát minh mới có thể được tạo ra một ngày nào đó mà sự ứng dụng của nó sẽ có vẻ là lợi ích một cách chắc chắn, nhưng phát minh nào chỉ có thể được sử dụng nếu tất cả mọi người đã được thúc đẩy để dùng nó có lợi cùng một lúc.
Cho dù những trường hợp như thế có là bất kỳ tầm quan trọng to lớn hoặc lâu dài nào, chúng chắc chắn không phải là những trường hợp nơi mà nó có thể được tuyên bố một cách hợp pháp rằng sự tiến bộ về kỹ thuật khiên cho việc điều hành tập trung không thể tránh khỏi. Chúng chỉ đơn thuần là sẽ làm cho điều đó cần thiết để chọn lựa giữa việc đạt được một lợi thế riêng biệt bởi sự ép buộc và việc không có được nó –hoặc, trong hầu hết các trường hợp, có được nó một chút sau đó, khi bước tiến về kỹ thuật xa hơn đã vượt qua những khó khăn riêng biệt. Đúng thật là trong những tình huống như thế, chúng ta có thể phải hy sinh cái lợi trước mắt có thể có như là một cái giá của quyền tự do của chúng ta –nhưng chúng ta tránh né, về mặt khác, sự cần thiết của việc thực hiện những phát triển tương lai phụ thuộc vào kiến thức mà những người dân riêng biệt hiện thời có được. Bằng cách hy sinh những lợi thế hiện thời có thể có như thế, chúng ta bảo tồn sự kích thích quan trọng cho sự tiến bộ xa hơn nữa. Mặc dù trong trường hợp ngắn hạn, cái giá mà chúng ta phải trả cho sự đa dạng của lựa chọn và quyền tự do chọn lựa có thể là đôi khi quá cao, trong trường hợp lâu dài thậm chí sự tiến bộ về vật chất sẽ phụ thuộc vào chính sự đa dạng nầy, bởi vì chúng ta không bao giờ có thể tiên đoán từ một hình thức nào trong số những hình thức mà trong đó sự cung và cầu qua hàng hóa và dịch vụ có thể được cung cấp một cái gì đó tốt hơn, có thể phát triển được. Điều đó không thể, dĩ nhiên, được khẳng định rằng việc bảo tồn quyền tự do bằng chi phí thêm vào sự tiện nghi vật chất hiện thời nào đó của chúng ta vì thế sẽ được tưởng thưởng trong tất cả các trường hợp. Nhưng lập luận cho quyền tự do chính xác là chúng ta nên dành chổ cho sự tăng tưởng tự do không thể nhìn thấy trước. Nó áp dụng, vì vậy, không kém hơn khi, trên cơ bản của kiến thức hiện thời của chúng ta, sự ép buộc dường như chỉ mang lại những lợi thế, và mặc dù trong một trường hợp riêng biệt, nó thực sự có thể là không làm gì tai hại.
Trong phần lớn cuộc thảo luận hiện nay về những tác động của sự tiến bộ về kỹ nghệ, sự tiến bộ nầy được trình bày cho chúng ta như thể nó là một cái gì đó bên ngoài chúng ta mà qua đó có thể buộc chúng ta sử dụng kiến thức mới theo cách riêng biệt.

p55

Trong khi sự thật, dĩ nhiên, là những phát minh đã ban cho chúng ta sức mạnh khủng khiếp, điều vô lý khi đề nghị rằng chúng ta phải sử dụng sức mạnh nầy để tiêu diệt phần kế thừa quý giá nhất của chúng ta: tự do. Điều đó thực sự có nghĩa là, tuy nhiên, nếu chúng ta muốn bảo tồn nó, chúng ta phải canh chừng nó một cách chặt chẽ hơn bao giờ hết và chúng ta phải sẵn sàng thực hiện những hy sinh cho nó. Trong khi không có gì trong những phát triển hiện đại về kỹ thuật vốn thúc đẩy chúng ta hướng đến việc hoạch định toàn diện về kinh tế, có rất nhiều phát triển mà trong số đó gây ra vô cùng nguy hiểm hơn quyền lực mà một người có thẩm quyền hoạch định có thể có.

* * * * *

Trong khi, có thể vì thế có chút nghi ngờ rằng sự di chuyển hướng đến việc hoạch định là kết quả của hành động có chủ ý và rằng không có những nhu cầu cần thiết nào bên ngoài vốn thúc đẩy chúng ta đến điều đó, việc đáng tìm hiểu là tại sao một phần rất lớn của các chuyên gia sẽ được tìm thấy trong đội ngũ giỏi nhất trong số những nhà hoạch định. Lời giải thích về hiện tượng nầy được chặt chẽ kết nối với sự kiện thực tế quan trọng mà những nhà phê bình về các nhà hoạch định sẽ luôn luôn ghi nhớ; mà qua đó có nghi vấn nhỏ mà hầu như mọi người thuộc những lý tưởng kỹ thuật của các chuyên gia của chúng ta có thể được nhận ra trong một thời gian tương đối ngắn nếu đạt được chúng, đã được tạo nên cho mục đích duy nhất của nhân loại. Có một số lượng vô hạn của những điều tốt đẹp, mà tất cả chúng ta đồng ý, thì rất đáng mong muốn cũng như có thể có, nhưng trong đó mà chúng ta không thể hy vọng đạt được nhiều hơn một số ít trong phạm vi cuộc đời của chúng ta, hoặc chúng ta có thể hy vọng đạt được chỉ rất là không hoàn hảo. Chính là sự thất vọng về những tham vọng của chuyên gia trong lãnh vực của riêng mình mà qua đó khiến cho ông ta nổi dậy chống lại trật tự đang có. Tất cả chúng ta cảm thấy khó khăn để phải chịu nhìn thấy những điều chưa thể hoàn thành mà mọi người phải thừa nhận, thì đáng mong muốn và lẫn có thể có. Mà qua đó tất cả những điều nầy không thể được hoàn thành cùng một lúc, mà qua đó bất cứ ai trong số họ chỉ có thể đạt được ở sự hy sinh của những người khác, có thể được nhìn thấy chỉ bằng cách tin tưởng vào những yếu tố vốn nằm ngoài bất kỳ tính chất chuyên môn nào, vốn có thể được đánh giá cao chỉ bởi nỗ lực đau đớn về trí thức –càng đau đớn hơn khi nó buộc chúng ta phải nhìn ngược vào một nền tảng rộng lớn hơn của những mục đích mà hầu hết những lao động của chúng ta được hướng đến, và thúc đẩy chúng ta cân bằng chúng ngược lại những mục đích khác vốn nằm ngoài sự quan tâm trước mắt của chúng ta và những điều mà, vì lý do đó, chúng ta ít quan tâm đến.

p56

Mỗi một trong số nhiều điều mà, được xét trong tình trạng tách riêng, sẽ là điều có thể đạt được trong một xã hội có kế hoạch, tạo ra những người đầy nhiệt tình cho việc hoạch định vốn là người cảm thấy tự tin rằng họ sẽ có thể truyền dẫn vào trong những người điều hành của một xã hội như thế cảm nhận của họ về giá trị của mục đích cụ thể; và những hy vọng của một vài người trong số họ chắc chắn sẽ được trọn vẹn, vì một xã hội có kế hoạch sẽ chắc chắn đẩy mạnh một số mục đích nhiều hơn là trường hợp lúc hiện thời. Đó sẽ là điều điên khùng khi phủ nhận rằng những trường hợp của những xã hội có kế hoạch hoặc kế hoạch một nửa mà chúng ta biết đến, thực sự cung cấp những hình minh họa theo quan điểm, là những điều tốt đẹp mà người dân của những quốc gia nầy hoàn toàn nhờ có việc hoạch định. Những con đường xe hơi tráng lệ ở Đức và Ý là một thí dụ thường được dẫn chứng –ngay cả mặc dù chúng không đại diện cho một loại việc hoạch định không có thể sánh ngang trong một xã hội tự do. Nhưng đó là điều tựa như điên khùng khi dẫn chứng những trường hợp nổi bật về kỹ thuật như thế trong các lãnh vực riêng biệt như là một bằng chứng của sự vượt trội chung chung của việc hoạch định. Đó sẽ là điều đúng hơn khi nói rằng điểm cực kỳ xuất sắc về kỹ thuật như thế không phù hợp với những điều kiện chung chung là một bằng chứng của sự hướng dẫn sai lạc của các nguồn tài liệu. Bất cứ ai vốn đã từng lái xe dọc theo những đường xe chạy nổi tiếng của nước Đức và tìm thấy một số lượng lưu thông trên chúng kém hơn trên phần lớn con đường thứ cấp ở Anh Quốc, có thể có chút nghi ngờ rằng, đến một mức độ mà những mục đích hòa bình được quan tâm, có rất ít sự biện minh cho chúng. Cho dù nó không phải là một trường hợp nơi mà những người hoạch định quyết định trong sự ủng hộ “những cây súng” thay vì “bơ”, là một vấn đề khác.1 Nhưng theo những tiêu chuẩn của chúng ta, có rất ít nền tảng cho lòng nhiệt tình.
Ảo tưởng của những chuyên gia là trong một xã hội có kế hoạch ông ta sẽ bảo đảm sự chú ý nhiều hơn đến những mục đích mà ông ta quan tâm đến nhiều nhất, là một hiện tượng chung chung so với phần của chuyên gia đưa ra ý kiến trước đó.
=============
1 Nhưng khi tôi đang sửa lại cho đúng điều nầy, tin tức đến cho biết rằng công việc duy trì trên những con đường xe chạy ở Đức đã bị đình chỉ !
=============

p57

Trong những ưu thích riêng và mối quan tâm của chúng ta, tất cả chúng ta trong một mức độ nào đó là những chuyên gia. Và tất cả chúng ta nghĩ rằng quy củ cá nhân của chúng ta về những giá trị không chỉ đơn thuần là riêng tư, nhưng trong một cuộc thảo luận tự do trong số những người hữu lý chúng ta sẽ thuyết phục những người khác rằng quy củ của chúng ta là một điều đúng. Người yêu mến thuộc phía quốc gia vốn là người, trên hết, muốn rằng bề ngoài truyền thống của nó nên được bảo tồn và rằng những vết nhơ đã được tạo ra bởi kỹ nghệ trên khuôn mặt đẹp của nó nên được loại bỏ, không kém hơn một người nhiệt tình lành mạnh vốn là người muốn tất cả những ngôi nhà thôn dã, cũ kỹ có vẽ đẹp như tranh nhưng thiếu vệ sinh phải được dọn đi khỏi, hoặc người lái xe vốn là người ước muốn đất nước được cắt xẽ bởi những con đường lớn xe chạy, người cuồng nhiệt có ảnh hưởng vốn là người mong muốn mức tối đa của tính chất chuyên môn và tính chất cơ giới hóa không kém hơn người lý tưởng hóa vốn là người vì sự phát triển của tính chất con người muốn bảo tồn nhiều thợ thủ công độc lập như có thể, tất cả họ biết rằng mục đích của họ có thể đạt được đầy đủ chỉ qua việc hoạch định –và tất cả họ đều muốn có việc hoạch định vì lý do đó. Nhưng, dĩ nhiên, sự thích ứng dụng của việc hoạch định xã hội mà họ kêu la, chỉ có thể đưa ra sự xung đột được che giấu giữa mục đích của họ.
Sự chuyển động của việc hoạch định có được phần lớn sức mạnh hiện thời của nó là nhờ sự kiện thực tế, trong khi việc hoạch định trong phần chính vẫn là một tham vọng, mà qua đó nó kết hợp gần như tất cả những người theo chủ thuyết lý tưởng có đầu óc theo đuổi một mục đích duy nhất, tất cả những người đàn ông và phụ nữ vốn là những người đã từng cống hiến cuộc đời mình cho một công việc duy nhất. Những hy vọng mà họ đặt vào việc hoạch định, tuy nhiên, không phải là kết quả của một cái nhìn toàn diện về xã hội, mà là một cái nhìn rất hạn chế, và thường là kết quả của một sự phóng đại to lớn về tầm quan trọng của những mục đích cuối cùng mà họ đặt hàng đầu. Điều nầy không phải là đánh giá thấp giá trị rất mực thực dụng của loại nầy của những người nam trong một xã hội tự do giống như chúng ta, mà qua đó khiến cho họ trở thành đối tượng của sự ngưỡng mộ thích đáng. Nhưng nó sẽ tạo ra chính những người vốn nóng lòng hoạch định xã hội, trở thành những người nguy hiểm nhất nếu họ được phép làm như thế –và là những người cố chấp nhất về việc hoạch định của những người khác. Từ những người lý tưởng hóa có tính chất thánh thiện và có tâm đầu óc đơn thuần đến những người cuồng nhiệt tín thường chỉ là một bước. Mặc dù đó là sự oán giận của giới chuyên gia chán nãn vốn đưa ra nhu cầu cho việc hoạch định động lực thúc đẩy mạnh nhất của nó, khó có thể là một thế giới không thể chịu đựng hơn nữa –và phi lý nhiều hơn– so với một thế giới mà những chuyên gia nổi tiếng nhất trong mỗi lãnh vực được phép tiến hành mà không bị cản trở với sự nhận thức về những lý tưởng của họ.

p58

Cũng không phải là “sự phối hợp” có thể, như một số nhà hoạch định dường như tưởng tượng, trở thành một tính chất chuyên ngành mới. Nhà kinh tế là người sau cùng cho rằng ông ta có kiến thức mà nhà phối hợp sẽ cần đến. Lời kêu gọi của ông ta là vì một phương pháp vốn ảnh hưởng đến sự phối hợp như thế mà không cần một nhà độc tài toàn năng toàn trí. Nhưng điều đó có nghĩa chính xác là sự giam giữ một số kiểm soát khách quan và thường khó hiểu như trên những nỗ lực cá nhân như những nỗ lực chống lại điều mà tất cả những chuyên gia bực tức.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ

p59

Chương 05: Việc hoạch định và nền Dân chủ

“Một chính khách vốn là người sẽ thử cố gắng hướng dẫn trực tiếp riêng
những người dân theo cách gì đó mà họ phải dùng đến vốn liếng của họ,
sẽ không chỉ tự chất vào mình với một sự chú ý không cần thiết nhất,
nhưng gánh lấy một thẩm quyền vốn có thể được tin cậy một cách an
toàn đối với không một Hội đồng và Thượng viện nào cả, và sẽ là không
đến nổi rất nguy hiểm như trong tay của một người vốn có đủ sự điên
rồ và tự phụ để ảo tường chính mình phù hợp để thực hiện điều đó.”

Adam Smith

Những nét đặc trưng chung của tất cả những hệ thống tập thể có thể được mô tả, trong một nhóm chữ thân thiết hơn bao giờ hết đối với những người theo chủ nghĩa xã hội của tất cả các phái, như là một tổ chức có chủ ý của những người lao động trong xã hội cho một mục đích xã hội nhất định. Mà qua đo xã hội hiện nay của chúng ta thiếu sự hướng dẫn “có ý thức” như thế hướng đến một mục đích duy nhất, mà qua đó những hoạt động của nó được hướng dẫn bởi những ý tưởng bất chợt và những ảo tượng của những cá nhân thiếu trách nhiệm, đã luôn luôn là một trong những than phiền chính của các nhà phê bình xã hội chủ nghĩa của nó.
Trong nhiều cách, điều nầy đặt ra một vấn đề cơ bản rất rõ ràng. Và nó tức thời hướng dẫn chúng ta đến điểm nơi mà sự xung đột phát sinh giữa quyền tự do cá nhân và chủ nghĩa tập thể.

p60

Những loại khác nhau của chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát-xít, v.v., tạo sự khác biệt giữa chúng tự trong bản chất của mục đích hướng đến điều mà họ muốn chỉ đạo những nỗ lực của xã hội. Nhưng tất cả chúng đều khác biệt đối với chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa cá nhân trong việc mong muốn tổ chức toàn bộ xã hội và tất cả các nguồn tài lực của nó cho mục đích đồng nhất cuối cùng nầy, và trong sự từ chối nhìn nhận những lãnh vực tự trị mà trong đó những mục đích cuối cùng của những cá nhân là tối cao. Tóm lại, họ độc tài theo đúng nghĩa của từ ngữ mới nầy mà chúng ta đã từng ứng dụng để mô tả những biểu hiện bất ngờ nhưng vẫn không thể tách rời của những gì trong lý thuyết mà chúng ta gọi là chủ nghĩa tập thể.
“Mục đích xã hội”, hoặc “mục đích chung”, cho điều mà xã hội phải được tổ chức, thường thường được mô tả một cách mơ hồ như là “điều tốt chung”, hoặc “phúc lợi chung”, hay “lợi ích chung.” Nó không cần nhiều sự phản ảnh để thấy rằng những thuật ngữ nầy không có ý nghĩa nào đủ xác định để định rõ một quá trình hành động riêng biệt. Phúc lợi và hạnh phúc của hàng triệu không thể được đo lường trên một mức thang điểm duy nhất không hơn không kém. Phúc lợi của một người dân, giống như hạnh phúc của một người, phụ thuộc vào rất nhiều thứ vốn có thể được cung cấp trong sự đa dạng bất tận của những kết hợp. Nó không thể được thể hiện một cách đầy đủ như là một mục đích cuối cùng duy nhất, nhưng chỉ như là một hệ thống thứ bậc các mục đích nầy, một hệ thống mức độ toàn diện của các giá trị mà trong đó mọi nhu cầu của mọi người được cho một chổ của nó. Nhằm chỉ đạo tất cả những hoạt động của chúng ta theo một kế hoạch duy nhất giả định trước rằng mỗi một trong số những nhu cầu của chúng ta được cho cấp hạng của nó theo một trật tự của những giá trị vốn phải được hoàn chỉnh đủ làm cho nó có thể quyết định giữa tất cả những quá trình khác nhau, giữa những điều mà nhà hoạch định phải chọn. Nó giả định trước, tóm lại, sự tồn tại của điều lệ hoàn chỉnh về đạo đức mà trong đó tất cả những giá trị nhân bản khác nhau được định chổ thích ứng của chúng.
Quan niệm về điều lệ hoàn toàn hợp với nguyên tắc thì không quen thuộc và nó đòi hỏi một nỗ lực nào đó của trí tưởng tượng để nhìn thấy nó liên quan đến những gì. Chúng ta không có thói quen nghĩ đến những điều lệ hợp với nguyên tắc như là hoàn chỉnh hơn hay ít hơn.

p61

Sự kiện thực tế mà qua đó chúng ta không ngừng chọn lựa giữa những giá trị khác nhau mà không có một điều lệ xã hội quy định là chúng ta phải lựa chọn như thế nào, không làm cho chúng ta ngạc nhiên, và không đề nghị với chúng ta rằng điều lệ đạo đức của chúng ta thì không hoàn chỉnh. Trong xã hội của chúng ta, không có hoặc là duyên cớ cũng không là lý do tại sao những người dân nên phát triển quan điểm chung về cái gì đó nên được thực hiện trong những tình huống như vậy. Nhưng nơi mà tất cả các phương tiện được sử dụng là tài sản của xã hội, và nhân danh của xã hội phải được sử dụng theo một kế hoạch đồng bộ, một quan điểm “xã hội” về điều gì cần được thực hiện, phải hướng dẫn tất cả những quyết định. Trong một thế giới như thế, chẳng bao lâu chúng ta sẽ tìm thấy rằng điều lệ đạo đức của chúng ta đầy những kẽ hở.
Ở đây, chúng ta không quan tâm với câu hỏi là liệu điều đó sẽ là điều đáng mong muốn để có một điều lệ hoàn toàn hợp với nguyên tắc như thế không. Điều đó có thể chỉ đơn thuần được chỉ ra rằng cho đến nay, sự tăng trưởng của nền văn minh đã được đi kèm với sự thu nhỏ đều đặn của khoảng không gian mà trong đó những hành động cá nhân đang bị ràng buộc bởi các quy tắc cố định. Những quy tắc mà điều lệ đạo đức chung của chung ta bao gồm, đã dần dần trở nên ít hơn và tổng quát hơn trong đặc tính. Từ một người nguyên thủy vốn là người đã bị ràng buộc bởi một nghi lễ phức tạp nơi hầu hết mọi người trong các hoạt động hàng ngày của mình, vốn là người đã bị giới hạn bởi vô số những điều cấm kỵ, và vốn là người hiếm khi có thể nhận ra là đang làm những việc theo một cách khác biệt với những người đồng bào của mình, những đức tính đạo đức càng lúc càng có khuynh hướng trở thành chỉ đơn thuần là những giới hạn bao quanh khoảng không gian trong phạm vi mà một cá nhân có thể hành xử như anh ta thích. Việc ứng dụng một điều lệ hợp với nguyên tắc chung đủ bao hàm khái niệm để định rõ một kế hoạch kinh tế đồng bộ sẽ có nghĩa là một sự đảo ngược hoàn toàn khuynh hướng nầy.
Điểm thiết yếu đối với chúng ta là không có một điều lệ hoàn toàn hợp với nguyên tắc như thế tồn tại. Sự cố gắng chỉ đạo tất cả hoạt động kinh tế theo một kế hoạch duy nhất sẽ nêu lên vô số câu hỏi cho điều mà câu trả lời có thể được cung cấp chỉ bởi một quy tắc đạo đức, nhưng cho điều mà những đức tính đang tồn tại không có một câu trả lời nào và nơi mà không có sự tồn tại của một điểm tán thành nào trên điều gì cần được thực hiện. Những người dân sẽ có một trong hai điều hoặc là không có những quan điểm rõ ràng nào hoặc là những quan điểm mâu thuẫn nhau trên những câu hỏi như thế, bởi vì trong một xã hội tự do mà trong đó chúng ta đã sống, đã không từng có một dịp nào để suy nghĩ về chúng và vẫn có ít cơ hội để hình thành những ý kiến chung về chúng.

p62

* * * * *

Không chỉ là chúng ta không có một hệ thống mức độ bao gồm tất cả những giá trị như thế: đó sẽ điều không thể đối với bất kỳ tâm trí nào hiểu được tính chất đa dạng vô hạn của những nhu cầu khác biệt của những người khác nhau vốn tranh đua vì các nguồn tài lực sẵn có và đối với bất kỳ tâm trí nào kèm theo một sức nặng nhất định cho mỗi nhu cầu. Đối với nan đề của chúng ta, nó có tầm quan trọng không đáng kể là liệu những mục đích cuồi cùng mà bất kỳ người nào quan tâm đến, chỉ bao gồm những nhu cầu cá nhân của riêng mình không, hoặc liệu chúng bao gồm những nhu cầu của những người bạn gần gũi hơn của anh ta hoặc ngay cả những nhưng cầu của những người bạn xa hơn của mình không –điều đó là, liệu anh ta có phải là người ích kỷ hay vị tha trong những ý nghĩa thông thường của những từ ngữ nầy. Một điểm mà nó rất quan trọng là một sự kiện thực tế cơ bản mà đó là điều không thể đối với bất kỳ người nào muốn khảo sát nhiều hơn một lãnh vực bị hạn chế, có nhận thức về sự cấp bách nhiều hơn của một số lượng hạn chế của những nhu cầu. Liệu những lợi ích của anh ta có xoáy quanh những nhu cầu vật chất của mình, hoặc liệu anh ta có sự quan tâm nồng ấm về phúc lợi của mỗi con người mà anh ta biết khong, những mục đích cuối cùng mà anh ta có thể cảm thấy quan tâm đến, sẽ luôn luôn chỉ là một phần nhỏ li ti những nhu cầu của tất cả người dân.
Đây là một sự kiện thực tế cơ bản mà trên đó toàn bộ triết lý về chủ nghĩa cá nhân dựa vào. Nó không giả định, như thường hay được khẳng định, rằng con người thì vị kỷ hoặc ích kỷ, hoặc phải là thế. Nó chỉ đơn thuần bắt đầu từ sự kiện thực tế không thể chối cãi mà những giới hạn sức mạnh của chúng ta về sự tưởng tượng khiến cho nó không thể nào bao gồm trong hệ thống mức độ của chúng ta về những giá trị nhiều hơn một phần những nhu cầu của toàn thể xã hội, và rằng, từ đó, nói một cách nghiêm túc, những hệ thống mức độ về giá trị chỉ có thể tồn tại trong tâm trí cá nhân, không là gì cả ngoại trừ một phần những hệ thống mức độ về những giá trị tồn tại, những hệ thống mức độ vốn không thể tránh khỏi khác biệt và thường không đồng nhất với nhau. Từ điều nầy, người theo chủ nghĩa cá nhân kết luận rằng những cá nhân nên được cho phép, trong phạm vi những giới hạn được xác định, tin theo những giá trị và những gì ưu thích hơn của riêng họ hơn là của một người nào khác, rằng trong phạm vi những khoảng không gian nầy, một hệ thống của cá nhân về những mục đích cuối cùng sẽ là tối cao và không phải chịu bất kỳ sự sai khiến nào bởi những người khác.

p63

Chính là sự nhìn nhận nầy về cá nhân như là vị thẩm phán cuối cùng của những mục đích của anh ta, một niềm tin mà qua đó những quan điểm của riêng anh ta phải chi phối những hành động của mình xa như có thể, vốn hình thành cái thực chất của vị thế chủ nghĩa cá nhân.
Quan điểm nầy, dĩ nhiên, không loại trừ việc nhìn nhận những mục đích cuối cùng của xã hội, hoặc đúng hơn là sự trùng hợp ngẫu nhiên của những mục đích cuối cùng của cá nhân mà qua đó làm cho nó đáng cho người ta kết hợp cho việc theo đuổi của họ. Nhưng nó giới hạn hành động chung như thế đối với những trường hợp nơi mà những quan điểm cá nhân trùng hợp; điều mà được gọi là “những mục đích cuối cùng của xã hội”, đối với nó chỉ đơn thuần là những mục đích giống nhau của nhiều cá nhân –hoặc những mục đích đối với thành tích của những cá nhân vốn sẵn sàng đóng góp để đổi lấy sự trợ giúp mà họ nhận được trong sự thỏa mãn những ham muốn của riêng mình. Hành động chung vì thế bị giới hạn trong những lãnh vực nơi mà những người dân đồng ý trên những mục đích chung. Rất thường khi những mục đích chung nầy sẽ không là những mục đích tối hậu đối với những cá nhân, nhưng có nghĩa là những người khác biệt nào có thể sử dụng cho những mục đích khác nhau. Thật ra, những người dân có nhiều khả năng đồng ý trên hoạt động chung nơi mà mục đích chung không phải là một mục đích tối hậu đối với họ, nhưng là một phương tiện có khả năng phục vụ tính chất đa dạng to lới của những mục đích.
Khi những cá nhân kết hợp trong một nỗ lực chung để làm cho những mục đích cuối cùng mà họ có điểm chung trở thành hiện thực, những tổ chức, giống như nhà nước, mà chúng hình thành vì mục đích nầy, được giao một hệ thống của riêng họ về những mục đích và những biện pháp của riêng họ. Nhưng bất kỳ tổ chức nào vì thế được hình thành vẫn còn một “người” trong số những người khác, trong trường hợp nhà nước mạnh hơn nhiều hơn bất kỳ tổ chức nào trong số những tổ chức khác, đúng là thế, tuy vẫn với khoảng không gian riêng biệt và hạn chế của nó mà trong đó chỉ riêng mục đích cuối cùng của nó là tối hậu. Những giới hạn của khoảng không gian nầy được xác định bởi mức độ mà những cá nhân đồng ý trên những mục đích cụ thể; và xác suất mà họ sẽ đồng ý trên một quá trình cụ thể về hoạt động, nhất thiết phải giảm đi khi phạm vi hoạt động như thế mở rộng. Có những chức năng nhất định của nhà nước về việc thực thi điều mà sẽ có sự đồng bộ thực tiển trong số những công dân của nó; sẽ có những thứ đồng nhất khác về điều mà sẽ có sự thỏa thuận của một số đông đáng kể, và cứ thế, cho đến khi chúng ta đến với những lãnh vực nơi mà, mặc dù mỗi cá nhân có thể ước muốn nhà nước hành động theo một cách nào đó, gần như sẽ có nhiều quan điểm về điều gì mà chính phủ nên làm như có nhiều người khác nhau.

p64

Chúng ta chỉ có thể dựa vào sự thỏa thuận tự nguyện để hướng dẫn hành động của nhà nước miễn là nó bị hạn chế trong những khoảng không gian nơi mà sự thỏa thuận tồn tại. Nhưng không chỉ khi nhà nước đảm nhận sự kiểm soát trực tiếp trong những lãnh vực nơi mà không có một sự thỏa thuận nào như thế, nó buộc phải đàn áp quyền tự do cá nhân. Tiếc là chúng ta không thể mở rộng một cách vô hạn khoảng không gian của hoạt động chung và vẫn để cho cá nhân tự do trong khoảng không gian của mình. Một khi bộ phận công xã, mà trong đó nhà nước kiểm soát tất cả các phương tiện, vượt quá một tỷ lệ nhất định của toàn bộ, những tác động của những hoạt động của nó khống trị toàn bộ hệ thống. Mặc dù nhà nước kiểm soát trực tiếp việc sử dụng chỉ một phần lớn các nguồn lực sẵn có, những ảnh hưởng của những quyết định của nó trên phần còn lại của hệ thống kinh tế trở nên quá lớn đến nổi nó gián tiếp kiểm soát gần như mọi thứ. Nơi mà, thí dụ, như thực sự là ở Đức vào khoảng đầu năm 1928, chính quyền trung ương và địa phương trực tiếp kiểm soát việc sử dụng của hơn một nửa thu nhập quốc gia (theo ước tính chính thức của Đức sau đó, là 53 phần trăm). Họ gián tiếp kiểm soát gần như toàn bộ đời sống kinh tế toàn của dân tộc. Sau đó, hiếm khi có một mục đích cá nhân mà không phụ thuộc vào hành động của nhà nước vì thành tích của nó, và “hệ thống mức độ xã hội về những giá trị” vốn hướng dẫn hành động của nhà nước, phải thực tiển ôm chặt tất cả những mục đích cá nhân.

* * * * *

Không khó để nhìn thấy cái gì phải là những hậu quả khi nền dân chủ bắt tay vào quá trình của việc hoạch định mà trong việc thực hiện của nó đòi hỏi sự thỏa thuận nhiều hơn so với cái trong thực tế hiện có. Những người dân có thể đã đồng ý trên việc ứng dụng một hệ thống kinh tế được chỉ đạo bởi vì họ đã được thuyết phục rằng nó sẽ tạo ra sự thịnh vượng to lớn. Trong các cuộc thảo luận dẫn đến một quyết định, mục đích của việc hoạch định chắc sẽ được mô tả bằng thuật ngữ nào đó chẳng hạn như là “phúc lợi chung” vốn chỉ che giấu sự vắng mặt của sự thỏa thuận thực sự trên những mục đích của việc hoạch định.

p65

Sự thỏa thuận thật ra sẽ chỉ tồn tại trên cơ chế được sử dụng. Nhưng nó là một cơ chế vốn có thể được sử dụng chỉ cho một mục đích chung; và vấn đề về mục đích chính xác hướng đến điều mà tất cả hoạt động phải được chỉ đạo, sẽ xuất hiện ngay sau khi quyền lực điều hành phải biến nhu cầu cho một kế hoạch duy nhất trở thành một kế hoạch cụ thể. Sau đó, nó sẽ có vẻ là sự thỏa thuận trên sự mong muốn việc hoạch định không được hỗ trợ bởi sự thỏa thuận trên những mục đích mà kế hoạch định phục vụ. Tác động của việc đồng thuận của những người dân mà qua đó phải có kế hoạch tập trung, không có sự đồng thuận trên những mục đích, sẽ đúng hơn như thể là một nhóm người định dấn thân làm cuộc hành trình với nhau mà không có sự đồng thuận về nơi nào họ muốn đi: với kết quả là tất cả họ có thể phải làm cuộc hành trình mà hầu hết trong số họ không muốn chút nào. Mà qua đó việc hoạch định tạo ra một tình huống mà trong đó điều cần thiết cho chúng ta là đồng thuận trên một số lượng chủ đề lớn nhiều hơn so với thứ mà chúng ta đã từng quen thuộc, và qua đó trong một hệ thống có kế hoạch, chúng ta không thể giới hạn hành động tập thể đối với những công việc mà trên đó chúng ta có thể đồng ý, nhưng buộc phải sản sinh ra sự thỏa thuận trên mọi thứ nhằm mục đích là bất kỳ hành động nào có thể được dùng đến dù là nhỏ nhoi, là một trong những nét nổi bật vốn đóng góp nhiều hơn hầu hết những hành động khác cho việc xác định đặc tính của một hệ thống có kế hoạch.
Điều đó có thể đã từng là một ý chí được bày tỏ một cách đồng thuận của những người dân mà nghị viện nên chuẩn bị một kế hoạch kinh tế toàn diện, tuy không phải là những người dân cũng không phải là những người đại diện của nó vì vậy cần có khả năng đồng ý trên bất kỳ kế hoạch cụ thể nào. Sự bất lực của hội đồng dân chủ nhằm thực hiện điều gì có vẻ là một khoán ước chính thức rõ ràng của những người dân, sẽ không tránh khỏi gây ra sự bất mãn đối với thể chế dân chủ. Nghị viện cuối cùng được xem như là “những hội tán dốc” vô hiệu quả, không có khả năng hoặc thiếu trình độ để thực hiện những công việc mà họ đã được chọn lựa. Niềm tin chắc chắn tăng lên là nếu muốn việc hoạch định hiệu quả được thực hiện, việc điều hành phải được “đưa ra khỏi chính trị” và đặt vào trong tay của các chuyên gia, những quan chức chính thức hoặc thể chế độc lập tự trị.

p66

Điều khó khăn được biết rõ đối với những người theo chủ nghĩa xã hội. Chẳng bao lâu sẽ là nửa thế kỷ kể từ khi vợ chồng họ Webbs bắt đầu than phiền về “sự thiếu khả năng ngày càng tăng của Hạ viện đối phó với công việc của nó”.1 Gần đây hơn, Giáo sư Laski đã diễn giải thêm một lập luận :

Đó là nền tảng chung mà guồng máy Nghị viện hiện nay không thích hợp lắm để nhanh chóng vượt qua một thể chế to lớn của pháp chế phức tạp. Chính phủ Quốc gia, quả thật, trên cơ bản đã thừa nhận điều nầy bằng bổ sung những biện pháp kinh tế và thuế xuất nhập của nó, không phải do những cuộc tranh luận chi tiết trong Hạ viện nhưng bởi một hệ thống đại lý của pháp chế được ủy thác. Một Chính phủ Lao động, tôi cho là, sẽ xây dựng trên tầm hoạt động rộng lớn của chính phủ tiền nhiệm nầy. Nó sẽ hạn chế Hạ viện trong phạm vi hai chức năng mà nó có thể làm việc một cách đúng đắn: sự giải tỏa những bất bình và cuộc thảo luận về những nguyên tắc chung của các biện pháp của nó. Những Đạo luật của nó sẽ mang hình thức của những công thức chung ban cho những quyền lực rộng rãi trên những cơ quan chính phủ thích hợp; và những quyền lực đó sẽ được thực thi theo Lệnh Hội đồng vốn có thể, nếu muốn, bị tấn công trong Hạ Viện qua biện pháp của một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm. Điều cần thiết và giá trị của pháp chế được ủy thác gần đây đã được tái khẳng định một cách mạnh mẽ bởi Ủy ban Donoughmore; và sự mở rộng của nó là điều tất yếu nếu quá trình tiến triển của việc xã hội hóa không phải bị đắm chìm bởi những phương pháp ngăn chận thông thường mà quy trình hiện có của nghị viện thừa nhận.

(Martha Beatrice (Potter) Webb, Baroness Passfield (1858–1943),
là nhà xã hội học, kinh tế học, nhà xã hội cải cách, và là nhà xã
hội chủ nghĩa người Anh)

(Sidney James Webb, Baron Passfield thứ nhất (1859–1947), Chủ
tịch Hội đồng Thương vụ, người chồng của Martha Beatrice Potter,
cũng là nhà xã hội chủ nghĩa, nhà kinh tế, và nhà cải cách người Anh)

Và để làm cho điều đó hoàn toàn rõ ràng là một chính phủ xã hội chủ nghĩa không được cho phép mình bị kiềm chế quá nhiều bởi quy trình dân chủ, Giáo sư Laski nơi phần cuối của cùng một bài viết nêu lên câu hỏi là “liệu trong giai đoạn chuyển đổi thành Chủ nghĩa Xã hội, một Chính phủ Lao động có thể liều lĩnh việc đạp đổ những biện pháp của nó như là một kết quả của cuộc tổng tuyển cử tiếp theo” –và để lại cho không lời giải đáp gợi ý.2

============
1 S. và B. Webb, tác phẩm “Industrial Democracy” (“Nền Dân chủ Kỹ nghệ”), năm 1897, p. 800, chú thích dưới trang.

2 H.J. Laski, bài viết “Labour and the Constitution” (“Lao động và Hiến pháp”), tạp chí The New Statesman and Nation (Chính khách mới và Quốc gia), No. 81 (Tập mới), ngày 10 tháng Chín năm 1932, p. 277. Trong cuốn sách (“Democracy in Crisis” (“Nền Dân chủ trong cuộc Khủng hoảng”), năm 1933, riêng biệt là ở trang 87), trong đó giáo sư Laski sau nầy đã diễn giải thâm những ý tưởng nầy, sự cả quyết của ông ta mà qua đó nền dân chủ nghị viện không được phép hình thành một trở ngại cho việc mang vào hiện thực chủ nghĩa xã hội, thậm chí được bày tỏ một cách thẳng thắn hơn: không chỉ là một chính phủ xã hội chủ nghĩa sẽ “nắm lấy những quyền lực rộng lớn và lập ra pháp luật theo họ bởi pháp lệnh và nghị định” và “đình chỉ những công thức cỗ điển của phe đối lập bình thường”, nhưng “sự tiếp tục tồn tại của chính phủ nghị viện sẽ phụ thuộc vào [tức là của Chính phủ Lao động] sự có được những bảo đảm của nó từ Đảng Bảo thủ mà công việc chuyển đổi của nó sẽ không bị gián đoạn bởi sự hủy bỏ trong trường hợp thất bại của nó tại các cuộc thăm dò !”
Khi Giáo sư Laski kêu gọi thẩm quyền của Ủy ban Donoughmore, điều có thể đáng gợi nhớ lại rằng Giáo sư Laski là một thành viên của ủy ban đó và có thể giả định là một trong những tác giả của bản báo cáo của nó.
=============

p67

* * * * *

Rõ ràng, đó là điều quan trọng để nhìn thấy những nguyên nhân của sự thiếu hiệu quả được thừa nhận nầy của những nghị viện (i.e. Hạ viện và Thượng viện) khi điều đó nói đến việc quản trị đầy chi tiết về những vấn đề kinh tế của một quốc gia. Phần lỗi không phải là với các đại diện cá nhân hoặc cũng không phải với các tổ chức nghị viện như là thế, nhưng với những mâu thuẫn vốn có trong công việc mà họ chịu trách nhiệm. Họ không buộc yêu cầu phải hành động theo phần mà họ có thể đồng ý, nhưng tạo ra sự thỏa thuận trên mọi thứ –sự điều hành toàn bộ những nguồn tài nguyên của quốc gia. Đối với một công việc như thế, một hệ thống theo sự quyết định đa số, tuy nhiên, thì không phù hợp. Những cái đa số sẽ được tìm thấy ở nơi mà nó là một sự lựa chọn giữa những sự lựa chọn khác thay thế có giới hạn; nhưng nó là một điều mê tín khi tin rằng phải có một quan điểm theo đa số trên mọi thứ. Không có một lý do nào về việc tại sao cần phải có một đa số trong sự ủng hộ của bất cứ ai về những quá trình có thể khác biệt của hành động tích cực nếu số lượng của chúng nhiều vô số kể. Mỗi thành viên của hội đồng lập pháp có thể ưu thích một kế hoạch riêng biệt nào đó cho việc điều hành hoạt động kinh tế hơn là không có một kế hoạch nào, nhưng không một kế hoạch nào dường như có thể đáng ưu thích đối với đa số hơn là không có kế hoạch nào cả.
Cũng không phải là một kế hoạch chặt chẽ có thể đạt được bằng cách phá vỡ nó ra thành những phần nhỏ và bỏ phiếu biểu quyết trên các vấn đề riêng biệt. Việc biểu quyết kiểu dân chủ trong cuộc họp và việc sửa đổi kế hoạch kinh tế toàn diện theo từng điều khoản, khi nó trao đổi kỹ lưỡng trên một dự luật bình thường, khiến cho vô nghĩa.

p68

Một kế hoạch kinh tế, để xứng đáng với cái tên, phải có một nhận thức đồng nhất. Ngay cả khi nghị viện có thể, qua việc tiến hành từng bước, đồng ý trên một kế hoạch phối hợp nào đó, chắc chắn là cuối cùng nó sẽ không đáp ứng bất kỳ một ai. Một khối phức tạp nơi mà tất cả những phần phải được điều chỉnh với nhau một cách cẩn thận nhất, không thể đạt được qua một sự thỏa hiệp giữa những quan điểm xung đột. Việc vạch ra một kế hoạch kinh tế theo kiểu nầy thậm chí là điều ít có thể hơn, thí dụ, so với việc lên kế hoạch một cách thành công một chiến dịch quân sự bằng quy trình dân chủ. Như trong chiến lược, nó sẽ không thể tránh được là càng lúc ủy thác công việc cho những chuyên gia.
Tuy sự khác biệt là, trong khi một vị Tướng vốn là người được đặt vào vị trí chịu trách nhiệm chiến dịch, được giao cho một mục đích duy nhất mà, trong suốt thời gian của chiến dịch, tất cả phương cách dưới sự kiểm soát của ông ta phải được dành hết cho nó một cách không ngoại lệ, không thể có một mục đích duy nhất như thế được giao cho những nhà hoạch định kinh tế, và không có một sự giới hạn tương tự nào của phương cách áp đặt lên ông ta. Vị Tướng đã không phải cân bằng những mục đích độc lập khác biệt chống lại với nhau; đối với ông ta, chỉ có một mục đích tối thượng. Nhưng những mục đích cuối cùng của một kế hoạch kinh tế, hoặc của bất kỳ phần nào của nó, không thể được xác định xa khỏi một kế hoạch riêng biệt. Chính là bản chất của nan đề kinh tế mà việc làm ra một kế hoạch kinh tế liên quan đến việc lựa chọn giữa những mục đích gây xung đột hoặc tranh đua –những mục đích khác biệt của những người khác nhau. Nhưng những mục đích cuối cùng nào tạo ra sự xung đột như thế, mà qua đó sẽ phải chịu hy sinh nếu chúng ta muốn đạt được những mục đích khác nào đó, trong một thời gian ngắn hạn, mà qua đó là những lựa chọn thay thế khác giữa những mục đích nào mà chúng ta phải chọn lựa, chỉ có thể được biết đến đối với những người vốn biết tất cả những sự kiện thực tế; và chỉ có họ, những chuyên gia, đang ở trong một vị trí quyết định mục đích nào trong số những mục đích khác nhau phải được ưu tiên chọn trước. Đó là điều tất yếu mà họ sẽ áp đặt hệ thống mức độ của những chọn lựa ưu tiên trên cộng đồng mà họ lên kế hoạch cho nó.
Điều nầy luôn luôn không đưọc nhận thức một cách rõ ràng và sự ủy thác thường thường được điều chỉnh theo đặc tính của công việc.

p69

Nhưng điều nầy không có nghĩa là chỉ những chi tiết chuyên môn được ủy thác, hoặc thậm chí là việc thiếu khả năng của những nghị viện hiểu được những chi tiết chuyên môn là nguồn gốc của sự khó khăn.1 Những thay đổi trong cấu trúc của pháp luật dân sự thì không còn kém chuyên môn hơn và không còn khó khăn hơn để thấy rõ trong tất cả những quan hệ mật thiết của chúng; tuy là không ai đã từng nghiêm túc đề nghị rằng pháp chế ở đó nên được ủy thác cho một hội đồng gồm những chuyên gia. Một sự kiện thực tế là trong những lãnh vực nầy, pháp chế không đi xa hơn những quy định chung chung mà trên đó phần lớn sự thỏa thuận thực sự có thể đạt được, trong khi theo chiều hướng hoạt động kinh tế, những lợi ích được hòa giải thì rất đa dạng đến nổi không có một sự thỏa thuận thực sự nào gần như được đạt đến trong một cuộc họp dân chủ.
Điều đó sẽ được nhìn nhận, tuy nhiên, rằng điều đó không phải là sự giao phó quyền lực làm ra luật pháp như là thế, mà qua đó đáng bị phản đối. Phản đối việc giao phó như vậy là phản đối một triệu chứng thay vì một nguyên gây ra và, như vậy điều đó có thể là một kết quả cần thiết của những nguyên nhân khác, làm suy yếu trường hợp nầy.
=============
1 Đây là điều thông tin sáng tỏ trong sự kết nối nầy ngắn gọn đề cập đến tài liệu Chính phủ mà trong đó qua những năm gần đây, những nan đề nầy đã được thảo luận. Lâu như cách đây mười ba năm, đó là trước khi đất nước nầy cuối cùng bỏ rơi chủ nghĩa tự do về kinh tế, một quá trình tiến triển về việc ủy thác những quyền lực lập pháp đã thực sự được mang đến một điểm nơi mà nó được cảm thấy là cần thiết phải chỉ định một ủy ban để điều tra xem “những biện pháp an toàn đang mong muốn hoặc điều cần thiết để bảo đảm quyền tối cao của Pháp Luật là gì.”
Trong báo cáo của nó, “Ủy ban Donoughmore” (“Report of the Committee on Ministers’ Powers” (“Bản báo cáo [là của Ngài Chưởng ấn] của Ủy ban về Quyền lực của các Bộ trưởng”, Cmd.(pc 03) 4060, 1932) cho thấy rằng ngay cả ở vào ngày tháng đó, Nghị viện đã dùng đến “việc thực thi sự ủy quyền cho cả khối đảng phái và không phân biệt” nhưng xem điều nầy (đó là trước khi chúng ta đã thực sự thoáng nhìn vào trong vực thẳm độc tài !) như là một sự phát triển tất yếu và tương đối vô hại. Và có lẽ, sự thật là việc ủy thác cần thiết như là thế, không phải là một mối nguy hiểm cho sự tự do. Điểm thú vị là tại sao sự phó thác đã trở nên cần thiết trên một quy mô như thế. Nơi đầu tiên trong số những nguyên nhân được liệt kê trong bản báo cáo được phơi ra một sự kiện thực tế là “Nghị viện ngày nay thông qua rất nhiều những luật lệ hàng năm” và rằng “phần nhiều chi tiết thì quá chuyên môn như là không phù hợp cho cuộc thảo luận trong Nghị viện”. Nhưng nếu điều nầy chỉ có thế, sẽ không có lý do nào về việc tại sao phần chi tiết sẽ không được thực thi trước khi hơn là sau khi Nghị viện thông qua một luật lệ. Điều mà có lẽ trong nhiều trường hợp là một lý do quan trọng hơn nhiều về việc tại sao, “nếu Nghị viện không vui lòng ủy thác quyền lực làm ra luật pháp, Nghị viện sẽ không thể thông một loại và số lượng pháp chế mà dư luận đòi hỏi” được tiết lộ một cách ngây ngô trong câu nhỏ nhít là “phần nhiều những luật lệ ảnh hưởng đến đời sống người dân quá chặt chẽ đến nổi sự độ đàn hồi là điều cần thiết”! Điều nầy có nghĩa là gì nếu không phải là sự ban cho quyền lực độc đoán, một quyền lực không bị hạn chế bởi bất kỳ những nguyên tắc cố định nào và một quyền lực mà theo quan điểm của Nghị viện không thể bị giới hạn bởi những quy định rõ ràng và không mơ hồ ?
=============

p70

Miễn là quyền lực vốn được ủy thác, chỉ đơn thuần là quyền lực làm ra những quy định chung chung, có thể có những lý do rất đúng về việc tại sao những quy định như thế cần được đặt ra bởi địa phương hơn là bởi thẩm quyền trung ương. Nét nổi bật đáng bị phản đối là việc ủy thác rất thường dùng đến bởi vì vấn đề trong tay không thể được điều chỉnh bởi những quy định chung chung nhưng chỉ bởi việc thực thi sự suy xét khôn ngoan trong việc quyết định những trường hợp riêng biệt. Trong những trường hợp nầy, việc ủy thác có nghĩa là một thẩm quyền nào đó được ban cho quyền lực để tạo nên bằng sức mạnh của pháp luật cái gì đó mà trong mỗi ý nghĩa thực tiển thật ra là những quyết định độc đoán (thường được mô tả như là “việc xét đoán trường hợp trên những lý lẽ phải trái của nó”).
Việc ủy thác về những công việc chuyên môn riêng biệt nhằm tách biệt những thể chế, trong khi một điểm nổi bật thường khi, chỉ là bước đầu tiên trong quá trình tiến triển nhờ vào một nền dân chủ vốn bắt tay vào việc hoạch định, dần dần từ bỏ những quyền lực của nó. Thủ đoạn của việc ủy thác thực sự không thể loại bỏ những nguyên nhân vốn làm cho tất cả những người bênh vực việc hoạch định toàn diện rất nản lòng với sự bất lực của nền dân chủ. Việc ủy thác những quyền lực riêng biệt cho các cơ quan tách biệt tạo ra một trở ngại mới cho việc đạt được một kế hoạch phối hợp duy nhất. Ngay cả khi, do thủ đoạn nầy, một nền dân chủ sẽ thành công trong việc hoạch định mọi lãnh vực của hoạt động kinh tế, nó sẽ vẫn phải đối mặt với nan đề về việc hợp nhất những kế hoạch tách biệt nầy trở thành một khối đồng nhất. Nhiều kế hoạch tách riêng không tạo nên một khối có kế hoạch –thật ra, như các nhà hoạch định phải là những người đầu tiên thừa nhận– chúng có thể tồi tệ hơn so với việc không có một kế hoạch nào. Nhưng cơ quan lập pháp dân chủ sẽ còn rất ngần ngại từ bỏ những quyết định trên các vấn đề thực sự quan trọng, và miễn là nó làm như thế, nó làm cho không thể nào quy định một kế hoạch toàn diện đối với bất kỳ người nào khác. Tuy sự thỏa thuận mà qua đó việc hoạch định là cần thiết, cùng với sự thiếu khả năng của những cuộc họp dân chủ nhằm tạo ra một kế hoạch, sẽ khơi lên những nhu cầu càng lúc càng mạnh mẽ hơn mà chính phủ hoặc một cá nhân duy nhất nào đó sẽ được ban cho những quyền lực để hành động trên trách nhiệm của riêng mình. Niềm tin đang trở nên càng lúc càng lan rộng hơn mà qua đó, nếu mọi việc phải được hoàn tất, nhà cầm quyền có trách nhiệm ắt hẳn được thoát khỏi những sự kiềm chế của quy trình dân chủ.

p71

Tiếng kêu đến một nhà độc tài kinh tế là một giai đoạn đặc trưng trong sự chuyển động hướng đến việc hoạch định, không xa lạ ở đất nước nầy. Hiện thời cách nhiều năm kể từ khi một trong những người có đầu óc sắc sảo nhất trong số những sinh viên nước ngoài của Anh Quốc, Elie Halévy quá cố, đưa ra ý kiến rằng “nếu bạn chụp một bức ảnh ghép tổng hợp của Lord Eustace Percy, Sir Oswald Mosley, và Sir Stafford Cripps, tôi nghĩ rằng bạn sẽ tìm thấy nét nổi bật chung nầy –bạn sẽ tìm thấy tất cả họ đồng ý nói rằng: ‘Chúng ta đang sống trong sự hỗn loạn về kinh tế và chúng ta không thể thoát ra khỏi nó ngoại trừ dưới một loại lãnh đạo độc tài nào đó.’”1 Số lượng những người có ảnh hưởng công chúng mà sự bao gồm của họ sẽ không làm thay đổi một cách cụ thể những điểm nổi bật của “bức ảnh ghép tổng hợp”, đã tăng trưởng kể từ đó một cách đáng kể.
Ở nước Đức, ngay cả trước khi Hitler lên nắm quyền lực, sự chuyển động đã thực sự tiến triển xa hơn nhiều. Điều quan trọng để nhớ rằng trong một khoảng thời gian nào đó trước năm 1933, nước Đức đã đạt đến một giai đoạn mà nó, trong thực chất, đã từng phải chịu cai trị một cách độc tài. Không ai sau đó đã dám nghi ngờ rằng trong thời gian lúc ấy, nền dân chủ đã bị phá vỡ, và rằng những nhà dân chủ chân thành giống như Brüning thì không còn khả năng nào hơn nữa để cai trị một cách dân chủ so với Schleicher hoặc von Papen. Hitler đã không cần phải phá hủy nền dân chủ; ông ta chỉ đơn thuần là lợi dụng sự phân hủy của nền dân chủ và vào khoảnh khắc rất quan trọng chiếm được sự hỗ trợ của nhiều người, mặc dù họ ghét cay ghét đắng Hitler, mà ông ta tuy dường như là một người duy nhất đủ mạnh để hoàn thành mọi việc.

(Heinrich Brüning (1885–1970), vị Chưởng ấn Đức (1930–1932), là
một nhà dân chủ chân chính nhưng không còn khả năng hơn nữa để
chống lại đảng Cộng sản và đảng Quốc xã khi Adolf Hitler trở thành
Chưởng ấn vào ngày 30 tháng Giêng năm 1933. Ông ta phải trốn sang
Hoa Kỳ sau khi hay tin Hitler truy nả mình)

(Kurt von Schleicher (1882–1934), là một vị Tướng Đức, cũng là vị
Chưởng ấn cuối cùng thứ hai (1932–1933) trong suốt kỷ nguyên Cộng
hòa Weimar, bị Hitler cho người ám sát mặc dù sau khi ông ta đã từ chức)

(Franz Joseph Hermann Michael Maria von Papen zu Köningen hoặc
Franz von Papen (1879–1969), là vị sĩ quan trong Ban tham mưu, và
là nhà chính trị. Ông ta cũng từng là vị Chưởng ấn Đức vào năm 1932
và Phó Chưởng ấn trong khoảng 1933–1934 dưới thời Hitler)

* * * * *

Lập luận mà những nhà hoạch định thường cố gắng làm cho chúng ta đồng thuận với sự phát triển nầy, đó là trong suốt thời gian dài, nền dân chủ vẫn nắm quyền kiểm soát tối hậu, những yếu tố cần thiết của nền dân chủ không bị ảnh hưởng.
============
1 Bài viết “Socialism and the Problems of Democratic Parliamentarism” (“Chủ nghĩa Xã hội và những nan đề của Chế độ Nghị viện Dân chủ”), Bộ sách International Affairs (Những vấn đề Quốc tế), vol. XIII, p. 501.
=============

p72

Do đó, Karl Mannheim viết :

Cách duy nhất [theo nguyên văn] mà trong đó một xã hội có kế hoạch khác biệt với xã hội thuộc thế kỷ mười chín là càng lúc những khoảng không gian của đời sống xã hội càng rộng mở thêm ra, và cuối cùng là mỗi và tất cả chúng, phải chịu dưới quyền kiểm soát của nhà nước. Nhưng nếu một số ít quyền kiểm soát có thể được nắm giữ dưới sự điều khiển bởi quyền tối cao của nghị viện, nhiều quyền khác cũng có thể được nắm giữ… trong một nhà nước dân chủ, quyền tối cao có thể được gia tăng mạnh mẽ hơn một cách vô giới hạn bởi những quyền lực tuyệt đối mà không từ bỏ quyền kiểm soát dân chủ.1

Niềm tin nầy nhìn sơ qua một sự khác biệt rất quan trọng. Nghị viện có thể, dĩ nhiên, kiểm soát việc thực hiện những công việc nơi mà nó có thể đưa ra chỉ thị rõ ràng, nơi mà nó đã lần đầu tiên đồng ý trên mục đích và chỉ đơn thuần là giao phó cách làm việc từ chi tiết. Tình hình thì hoàn toàn khác biệt khi lý do cho việc ủy quyền đoàn là không có một sự thoả thuận thực sự nào trên những mục đích cuối cùng, khi thể chế bị buộc tội với việc hoạch định phải chọn lựa giữa những mục đích mà sự xung đột của nó, nghị viện không hề biết đến, và khi hầu hết mục đích vốn có thể được thực hiện, phải trình bày cho nó một kế hoạch mà kế hoạch đó phải được chấp nhận hoặc bị bác bỏ như là toàn bộ. Có thể và có lẽ sẽ có những lời chỉ trích; nhưng khi không có một đa số nào có thể đồng ý trên một kế hoạch thay thế khác, và những phần bị chống đối hầu như luôn luôn có thể được tiêu biểu như là những phần thiết yếu của cả khối, nó sẽ vẫn hoàn toàn vô hiệu quả. Thảo luận của nghị viện có thể được giữ lại như một khóa thoát hơi an toàn, hữu ích, và thậm chí hơn nữa như là một môi trường trung gian tiện lợi mà qua đó những câu trả lời chính thức cho những lời than phiền được phổ biến. Nó có thể thậm chí ngăn chận một số lạm dụng trắng trợn và thành công nhấn mạnh vào những thiếu sót cụ thể được sửa đổi. Nhưng nó không thể chỉ đạo. Nó sẽ bằng cách hay nhất buộc phải chọn lựa những người vốn sắp có quyền lực tuyệt đối thực tiển. Toàn bộ hệ thống sẽ xoay hướng đến chế độ độc tài đó theo trưng cầu dân ý mà trong đó người đứng đầu chính phủ theo thời gian được khẳng định trong vị trí của mình bằng cuộc đầu phiếu phổ thông, nhưng nơi mà ông ta có tất cả những quyền lực chịu mệnh lệnh của mình để chắc chắn rằng cuộc đầu phiếu sẽ xảy ra theo chiều hướng mà ông ta mong muốn.
=============
1 K. Mannheim, tác phẩm “Man and Society in an Age of Reconstruction” (“Con người và Xã hội trong một Kỷ nguyên Tái thiết”), 1940, p. 340.
=============

p73

Chính là cái giá của nền dân chủ mà qua đó những điều có thể xảy ra về quyền kiểm soát có ý thức được thu hẹp trong những lãnh vực nơi mà sự thỏa thuận thực sự tồn tại, và qua đó trong một số lãnh vực, mọi việc ắt hẳn để lại một cơ hội. Nhưng trong một xã hội mà đối với sự hoạt động của nó phụ thuộc vào việc hoạch định tập trung, quyền kiểm soát nầy không thể buộc phải phụ thuộc vào một đa số có thể đồng ý; rất thường điều cần thiết sẽ là ý chí của một thiểu số nhỏ được áp đặt lên người dân, bởi vì cái thiểu số nầy sẽ là một nhóm lớn nhất có thể tự đồng ý với nhau trên câu hỏi còn đang tranh cãi. Chính phủ dân chủ đã từng làm việc một cách thành công ở nơi mà, và trong suốt thời gian dài đó, những chức năng của chính phủ, do một hệ thống tín ngưỡng được chấp nhận rộng rãi, bị hạn chế trong những lãnh vực nơi mà sự thỏa thuận giữa một đa số có thể đạt được bằng cuộc thảo luận tự do, và đó là công trạng to lớn của hệ thống tín ngưỡng tự do mà nó làm giảm đi phạm vi của những chủ đề về điều mà sự thỏa thuận là điều cần thiết đối với một chủ đề mà qua đó gần như nó phải tồn tại trong một xã hội của những người tự do. Bây giờ, người ta thường nghe nói rằng nền dân chủ sẽ không dung thứ “chủ nghĩa tư bản.” Nếu “chủ nghĩa tư bản” ở đây có nghĩa là một hệ thống cạnh tranh được đặt nền tảng trên sự chuyển nhượng tự do trên tài sản tư nhân, đó là điều rất ư quan trọng để nhận ra rằng chỉ trong phạm vi hệ thống nầy là nền dân chủ có thể có. Khi nó càng ngày bị khống chế bởi một hệ thống tín ngưỡng của người theo chủ nghĩa tập thể, nền dân chủ không sao tránh khỏi là sẽ tự tiêu diệt chính mình.

* * * * *

Chúng ta không có một ý định nào, tuy nhiên, về việc tạo nên sự tôn sùng nền dân chủ. Cũng có thể đúng là thế hệ của chúng ta nói và nghĩ quá nhiều về nền dân chủ và quá ít về những giá trị mà nó phục vụ. Người ta không thể nói về nền dân chủ, như Lord Acton thực sự nói về tự do, rằng nó “không phải là một phương tiện cho mục đích chính trị cao hơn. Tự chính nó là mục đích chính trị cao nhất. Nó không phải là vì lợi ích của việc quản trị tốt công chúng vốn được đòi hỏi, nhưng là vì sự bảo đảm trong việc theo đuổi những mục đích cao nhất của xã hội dân sự, và của đời sống riêng tư”. Nền dân chủ trên cơ bản là một phương tiện, một dụng cụ tiện dụng cho việc canh chừng bảo vệ nền hòa bình nội bộ và quyền tự do cá nhân. Như thế không tuyệt đối là không thể sai lầm hoặc chắc chắn.

p74

Chúng ta cũng không được quên rằng thường là từng có sự tự do về văn hóa và tinh thần nhiều hơn dưới sự cai trị chuyên quyền so với dưới một vài nền dân chủ –và ít ra điều đó có thể hiểu được rằng dưới chính phủ của một đa số rất đồng nhất và giáo điều, chính phủ dân chủ có thể là áp bức như chế độ độc tài tồi tệ nhất. Quan điểm của chúng ta, tuy nhiên, không phải là chế độ độc tài không thể tránh khỏi phải trừ tiệt quyền tự do, nhưng đúng hơn là việc hoạch định dẫn đến chế độ độc tài bởi vì chế độ độc tài là công cụ hiệu quả nhất cho việc ép buộc và thúc ép tuân theo những lý tưởng, và như là yếu tố cần thiết như thế nếu việc hoạch định tập trung trên một quy mô lớn sẽ là điều có thể có. Cuộc đụng độ giữa việc hoạch định và nền dân chủ chỉ đơn giản là phát sinh từ sự kiện thực tế là nền dân chủ là một trở ngại cho sự đàn áp quyền tự do mà chiều hướng hoạt động kinh tế đòi hỏi. Nhưng trong chừng mực nào đó, nền dân chủ không còn là một bảo đảm của quyền tự do cá nhân, nó cũng có thể cứ dai dẳng trong một hình thức nào đó dưới chế độ độc tài toàn trị. Một “chế độ độc tài đúng nghĩa của giai cấp vô sản”, ngay cả khi có tính chất dân chủ trong hình thức, nếu nó định điều hành hệ thống kinh tế theo một cách tập trung, có thể là nó sẽ phá hủy quyền tự do cá nhân một cách hoàn toàn như bất kỳ chế độ chuyên chế nào đã từng làm.
Sự tập trung hợp thời vào nền dân chủ khi giá trị chính bị đe dọa không phải là không nguy hiểm. Nó chịu trách nhiệm phần lớn cho niềm tin lầm lạc và vô căn cứ mà trong suốt khoảng thời gian dài, nguồn sức mạnh tối hậu là ý muốn của một đa số, sức mạnh không thể là chuyên quyền. Sự bảo đảm giả tạo mà nhiều người rút ra từ niềm tin nầy, là một nguyên nhân quan trọng của sự vô nhận thức chung chung về những nguy hiểm mà chúng ta phải đối mặt. Không có một lý lẽ bảo chữa nào cho niềm tin mà trong suốt khoảng thời gian dài, quyền lực được trao cho bởi quy trình dân chủ, nó không thể là độc đoán; sự tương phản được đưa ra bởi lời phát biểu nầy là hoàn toàn giả tạo: nó không phải là nguồn sức mạnh ngoại trừ sự giới hạn của quyền lực vốn ngăn chận nó trở thành chuyên quyền. Quyền kiểm soát dân chủ có thể ngăn chận quyền lực trở thành độc đoán, nhưng nó không làm như thế bởi vì chỉ là sự tồn tại của nó. Nếu nền dân chủ giải quyết một công việc vốn nhất thiết liên quan đến việc sử dụng quyến lực mà không thể được hướng dẫn bởi những quy tắc cố định, nó phải trở thành một quyền lực độc đoán.

[01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10] [11] [12] [13] [14] [15]

===========================================

Phụ Chú :
pc 03_ Cmd. : (Command Paper) là tài liệu được phát hành bởi của chính phủ Anh Quốc và được trình cho Nghị viện. Những tài liệu nghị viện nầy được đánh số theo giai đoạn được phát hành và những chứ viết tắc đứng trước cũng thay đổi theo. Cmd. thuộc về giai đoạn 1919–1959, từ Cmd. 1 đến Cmd. 9889. Những chữ viết tắc đứng trước đã có như C., Cd., Cmd., Cmnd., Cm.