Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 10)

d. Tôi trở về với phận.
Ban Văn giáo ấy tồn tại không lâu. Vì sự ra đời của Ủy ban Khoa học mà phải có Ban Khoa-Giáo.
Cái ban thuần túy Đảng, Tuyên giáo khi xưa nay cắt chữ “giáo” mà cho Khoa-Giáo và lấy tên Tuyên huấn. Lưỡng ban đều do đồng chí Tố Hữu lãnh đạo.
Tôi tuy vừa mới biết người, từ Đại hội II, nhưng tôi vui lòng được Tố Hữu là Thủ trưởng.
Tôi cũng có lý do mà liên kết anh với Đặng Thai Mai, trong đầu tôi.

Khi thời cuộc đưa tôi vào Hà Nội, nơi tôi có đi thăm lão đồng chí uyên bác này.

Tôi đứng ngoài rào xưng tên và được “mời vào”. Người nhà dẫn tôi vô tận giường; anh đang nằm bịnh. Anh liển biểu chị :
– “Bỏ thêm một cái gối cho “thằng này” nằm với tôi.”

Tôi vừa ngã đầu xuống gối là quay qua chào :
– “Notre camarade (ie. Đồng chí của chúng tôi) Đặng Thai Mai”

Anh lấy tay vỗ vỗ trên ngực tôi và nói nghe rất nhỏ :
– “Hồi đó đọc Le Peuple, thấy tụi bây vui mừng báo tin tao đắc cử (Dân biểu Trung kỳ) của đồng chí Đặng Thai Mai của chúng ta. Bây giờ nghe nhắc lại tao… Mầy là Nguyễn văn Trấn đây hả ? Nằm chơi với tao một lúc rồi về.”

Gặp Tố Hữu, tôi nhắc anh nhớ, một là lời nói như mệnh lệnh của báo Dân Chúng đối với cả nước, hai là sự trọng vọng của báo Dân Chúng đối với anh, trong lời giới thiệu tờ báo Mới cơ quan của Thanh niên dân chủ, có Tố Hữu trong ban biên tập.
Tôi tin là anh như Đặng Thai Mai đối với tôi.
Vô ra thấy mặt, lần nào gặp tôi, nhà thơ cũng có lời trìu mến!
Tôi thương mẹ, nên rất quí anh tác giả của
                                 BẦM ƠI !
Ai về thăm mẹ quê ta
Chiều nay có đứa con xa nhớ bầm
Bầm ơi ! có rét không bầm
Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùng
Bầm ra ruộng cấy bầm rung
Chân lội dưới bùn tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu
Bầm ôi sớm sớm chiều chiều
Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe
Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng khó nhọc tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi
Con ra tiền tuyến xa xuôi
Yêu bầm, yêu nước cả đôi mẹ hiền

Nhớ thương con, bầm yên tâm nhé
Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân
Con đi xa cũng như gần
Anh em đồng chí quây quần là con
Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí
Bầm quí con, bầm quí anh em
Bầm ơi ! liền khúc ruột mềm
Có con có mẹ có thêm đồng bào
Con đi mỗi bưóc gian lao
Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm

Bao bà mẹ từ tâm làm mẹ
Yêu quí con như đẻ con ra
Cho con nào áo nào quà
Cho củi con sưởi cho nhà nghỉ ngơi
Con đi con lớn lên rồi
Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con
Nhớ con bầm nhé đừng buồn
Giặc tan con lại về luôn với bầm
Mẹ già tóc bạc hoa râm
Chiều nay chắc cũng nghe thầmn tiếng con
                                                                (1948)

“Bầm ơi” nhất định là phải được viết một chỗ xứng đáng trong lòng tôi, trong tập sách “Viết cho Mẹ và Quốc hội” này.
Và bầm được mời đây, là để cho bầm nghe :
Chị kia nhờ Phạm Minh Giám dẫn đến gặp tôi.
Chị nói : “Chồng em là Dự, nhà văn viết chèo đã cùng với bác Giám học ‘Bốn con một’.
Chồng em vừa mới mất năm ngoái.
Tôi nuôi dạy hai đứa con. Thằng lớn năm rồi thi vào Bách khoa. Làm bài 38 điểm.
Nhưng nó không được lấy vì địa phương đã ghi trong lý lịch của nó là con của Nhân văn-Giai phẩm.
Năm nay đến thằng em. Cũng thi Bách khoa. Điển đạt tới những 39. Mà cũng coi như không được đỏ. Sao giận cha, đánh con tội nghiệp vậy ? Bác coi làm sao cứu cháu với !”

Tôi biểu :
– “Ngày mai chị chít khăn tang đi đến ông Tố Hữu. Nhà ổng kia. Rồi chị nói như chị nói nãy giờ. Có điều coi lại số điểm của cháu. Nói cho thật đúng. Ông Tố Hữu có hỏi… chị nói tôi biểu. Anh Giám có nói tên tôi cho chị biết không né ?
Tôi chắc ông Tố Hữu sẽ coi như chị làm vậy là hỏi : ‘Kính thưa ông, ông có mẹ không ?’ mà lịnh cho tôi nói với nhà trường nhận cho con hai vợ chồng anh Dự được vào.”
Kết quả y như vậy.
Quả là :
– “Bầm nghe bầm cũng mủi lòng”.
Một cái Vụ, trong một cái ban của Trung ương Đảng như vậy có hai chức năng :
_ Chức năng một, là theo dõi. Theo dõi tình hình của các cơ quan thuộc hệ thống nhà nước nằm trong quỷ đạo của mình. Như Vụ Giáo dục theo dõi Bộ Giáo dục.
_ Chức năng hai, là tham mưu. Giúp bổn ban làm theo mưu của Đảng để Đảng có đường lối, chủ trương chính sách cho cơ quan nhà nước.

Vào chốn ấy tôi nói thầm : “Con dê bị cột, chủ nhà có bỏ ô rô, có kén gì cũng phải ăn.”
Và tôi “an tâm công tác” với những bảy anh em chia địa bàn ra mà theo dõi. Để cho ban có bấm nút là phát thanh liền.
Thực ra Đảng có bày chuyện làm hà rừa cho biên chế quá đông người, ít thấy người nào thương hại ngân quỹ của nhà nước.
Chúng tôi làm tham mưu cho Đảng về công tác giáo dục.
May quá Tố Hữu là người lãnh đạo đã để ra nhiều công sức bày vẽ và giúp đỡ nên chúng tôi cũng làm nên công trạng; làm có cái được người ta khen.
Như :

e. Về Cải cách giáo dục.
Tố Hữu gần như đã cầm tay cả vụ chúng tôi để viết ra đề án “to tiếng” này.
Tôi tiếp nhận sự Cải cách giáo dục qua cái Đảng tính tự phát mà thôi. Tôi nghĩ giản đơn rằng mỗi chế độ đều có nền giáo dục của nó. Chế độ phong kiến không nói “Nhất tử thọ hoàng ân, toàn gia hưởng thiên lộc” đó sao ?
Bây giờ tới chế độ ta, thì tất nhiên phải cải cách nền giáo dục cũ.
Người trí thức bạn tôi là Tạ Quang Bửu đã cười tôi là thằng nhỏ thổi kèn không cho người lớn ngủ.
Tôi cũng đã biết nói lại rằng :
“Tôi là đức học trò có diplôme. Ngày xưa người ta, dân, và nhà nước đều vui mừng mà gọi nó là bằng cấp “thành chung”. Nghĩa là “được rồi”, đủ làm người giúp việc cho nhà nước.
Vậy mà có một thằng tây tên Dourneau làm ông đốc trường Gia Định, đề nghị chính phủ thuộc địa nên theo cái manuel, sách giáo khoa của nó soạn, dạy 500 chữ Pháp, đủ cho người bản xứ làm một secrétaire (ie. thư ký). Chứ dạy chi nhiều như chương trình của bằng thành chung, lại còn chương trình tú tài nữa – chỉ để tạo ra lớp người chống lại sự đô hộ của nước Pháp.
Tôi hiểu mục đích của Cải cách giáo dục là đào tạo cán bộ theo yêu cầu của chính trị và kinh tế. Mà khổ ! Về chính trị thì tôi mơ mơ màng màng. Chứ về kinh tế thì tôi mù tịt.
Vậy thì thưa anh, thông cảm chấp nhận điểm trung tâm của đề án Cải cách giáo dục của tôi là “Tiên học lễ, hậu học văn”. Lễ mà tôi nói đây là chủ nghĩa Mác-Lênin, hãy đen dạy nó cho mầy rồi tới học trò. Ít ra thì tôi cũng giữ được Đảng tính.”

Tôi nói thêm một chuyện manh múng :
“Đây là buổi họp của Bộ Chính trị để xét đề án Cải cách giáo dục. Phạn văn Đồng chủ trì. Vụ của tôi cũng được dự ngồi sau lưng Thủ trưởng của mình. Về phía Bộ Giáo dục có Nguyễn Khánh Toàn_ Bí thư đảng đoàn_ và cả bộ sậu.”
Vào họp.
Đáng lẽ bí thư đảng đoàn Bộ Giáo dục là Nguyễn Khánh Toàn phải trình bày và bảo vệ đề án.
Anh lại thưa : “Vì đề án này do Vụ giáo dục thảo nên nhờ Vụ trưởng Giáo dục trình bày.”
Chủ tọa đang phân vân, anh Tố Hữu nói : “Làm vậy sao phải, vấn đề này rất quan trọng đảng đoàn, mà còn đích thân Bí thư phải báo cáo để coi đồng chí phụ trách nắm vần đề tới đâu.
Thôi thì, lần này tôi cho mượn đồng chí Vụ trưởng của tôi để trình bày. Và lần sau không được như thế nữa”.
Tôi nghe mát ruột, trình bày bằng giọng văn vui vẻ.
Kể chuyện đó, ý tôi :
“Từ đầu chí cuối tôi không tán thành sự tổ chức những cái gì gọi là ban để theo dõi và tham mưu cho Đảng. Anh xem như đối với giáo dục, có Vụ giáo dục của ban khoa giáo, có bộ phận trong ban tổ chức, có người trong ban Bí thư, có phòng gì đó, gì đó ở phủ Thủ tướng, có Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (không biết tôi kể có sót không).
Thử nghỉ ta có Bộ trưởng Giáo dục là nhà trí thức Nguyễn văn Huyên, có việc gì về giáo dục thì “bắt” ông làm. Cớ chi lại có Nguyễn Khánh Toàn, có tôi ? Làm cho người phụ trách hóa ra bù nhìn, trong chế độ vô trách nhiệm, nuôi sâu mọt công quỹ làm cho người trí thức ngoài đảng hỗ phận.
Nhiều phen, trong giới lảnh đạo của Đảng cũng có người đề nghị bỏ những cái ban ấy và “chế độ đảng đoàn” đi. Nhưng vì tự ái chăng ? Vì dẹp bỏ cơ quan thì con người hố đâu mà chôn họ ? Cho nên như bà lão có cái răng lung lai mà không nỡ nhỗ.”

f. Về thanh niên lao động XHCN.
Khi đem nghị quyết Cải cách giáo dục ra khai thông, Tố Hữu có nói trong hội đồng nhà nước, thì nhiều vị quan to phát biểu – nói cho có nói- nghe ra không hơn phụ huynh học sinh.
Nhưng truyển giảng với người trong nghề, Tố Hữu có nói tới “Năm kết hợp” như kết hợp giữa chính trị và văn hóa, kết hợp giữa khoa học hiện đại và kinh nghiệm quần chúng.
Bây giờ lâu quá rồi, tôi nhớ không hết. Vã chăng muôn việc trong đời đều quan hệ chằng chịt với nhau đến quỷ lô-gích học cũng không gở ra được nút rối.

Nên tôi cứ mặn mòi với lời Thủ trưởng nói, làm (ie. là ?) người của Nam kỳ 136 thứ đạo, làm một đạo sư, đức thầy nhắm mắt đưa một ngón tay; đạo sư ta bèn tán ra trăm thứ.
Tôi (tức là chúng tôi) viết ra bài “Năm kết hợp” trong giáo dục. Bài được các báo đăng.
Các địa phương giáo dục lắm mời tôi giảng coi như tôi biết làm công tác giáo dục lắm.
Ai không biết thì biết chơi. Mấy người tập kết nhớ lại. Vụ “nhảy” bờ Hồ… Dạ thưa, tôi nói “nhảy” đây là “nhảy đầm”.
Tôi nói từ hội nghị Genève 1954, anh Nguyễn Khắc Viện, người của phong trào thanh niên VN ở Paris, có sang Genève mà xin chỉ thị ở bên nhà thì được dặn dò, anh em nào học xong nên về nước mà miền Bắc đã được độc lập rồi. Anh em miền Nam cũng không được về Saigon mà đều phải về Hà Nội để làm một cái tủ kiếng.
A ! lần lượt trí thức ta ở nước ngoài về làm “tủ kiếng” để…? Chắc là để chưng sơ với Đông Nam Á và Saigon chơi !
Việc ấy con quỷ không cho phép poot hoc ergo propter hoc (ie. tiếng Latin : “sau điều này, do đó vì điều này”, là một sai lầm hợp lý_ của nhiều nguyên nhân gây ra vấn đề_ được diển dịch rằng “kể từ khi sự kiện đó theo sau sự kiện này, sự kiện đó ắt hẵn phải được gây ra bởi sự kiện này.” Nó thường được rút ngắn, chỉ đơn giản là poot hoc và đôi khi cũng được gọi là nguyên-nhân-sai-lầm) nói rằng họ về nước sinh ra vụ nhảy đầm ở bờ Hồ. Thông tấn xã “kết hợp” với Hội Nhà báo mở lớp dạy nhảy vào tối thứ bảy; rùa dưới hồ lịch sử ngó lên coi. Đây là vào 1961. Hỡi ôi ! Hà Nội của ta 1959 thịnh vượng đến đỗi (của nó) mười năm sau HCM mất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mong ước làm sao Hà Nội 70 được như 59 thì tươi quá rồi !
Năm 59, tôi còn ở Thái Hà ấp, một ly nước mía nóng cộng với một trứng gà giá có 4 xu.
Và cũng nơi này, năm sau tôi vào Hà Đông lửa đồng lên rần rật. Người nông dân đốt mía làm củi gánh đi bán.

Cải cách ruộng đất làm cho sản xuất như trẻ con đứng chưn.
Rồi Cải tạo tư sản đánh cái đòn của nó làm cho kinh tế hóa ra cái gì lúc ấy không có lời văn tả vì Nhân văn-Giai phẩm đã bị đánh quẹo.
Miền Bắc vẫn cứ nghèo, nghèo.
Đã là CS thì hết tình, mà còn là chệc nữa thì hảo hán, vậy nên Chu Ân Lai nói ngay khi ông sang thăm đất nước ta, một cách chí tình và hảo hán : “Ta phải biết làm ra mà ăn, chứ không lẽ ngửa tay mà xin hoài”.
Trong tình hình như vậy Đoàn Thanh niên CS đã có chủ trương làm ra Trường Thanh niên lao động XHCN.
Và người đặt trách là anh Ngoạn.
Tôi đã được Ban Khoa giáo giao tôi cho người thanh niên ấy bị ông Thủ tướng Trung Quốc khêu lên ngọn đèn dầu tự hào dân tộc… Và anh đã cùng tôi nghĩ về sự phát triển kinh tế có mạnh mẽ mới sớm “chèo đó” qua tới bến CNXH. Nhãn tiền là yêu thương thanh niên xung nông thôn mà chế độ nào cũng bỏ quân, hay không lo cho đầy đủ.
Trường Thanh niên lao động XHCN này là sự kếthợp rất hùng biện giữa chính trị và kinh tế, giữa học và làm. Nó có mục tiêu sớm đem học thức và khoa học về nông thôn, sớm giải quyết sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn…
Tết năm nào đó, anh Ngoạn và cả nhà trường cộng có tôi viết một bài tổng kết. Nó được đọc lên đài. Anh Nguyễn Văn Tạo nghe cái giọng văn mà khen tôi.

g. Về vấn đề giáo dục ở miền Núi.
Tôi là đại biểu quốc hội của địa phương “Saigon-Cholon”.
Tôi có hai ý kiến được thảo luận ở tổ.
_ Một là : nhìn nhận quyền tự trị ở miền Núi.
Tính nhân văn của vấn đề này dễ thấy quá. Nhưng vấn đề của tôi không được đưa ra hội trường.
_ Hai là : bỏ cái gọi là dân tộc Kinh.
Trong tổ tôi nói gay gắt, không có dân tộc nào là dân tộc Kinh hết.

“Kinh” là khái niệm dùng ở “cực đối lập” với khái niệm “miền núi”, “thiểu số”, của mấy ông nội Bắc Hà đặt ra với tinh thần coi rẻ, kỳ thị bao nhiêu dân tộc khác trên đất nước VN ta.
Vấn đề này cũng bị dập luôn.
Tôi có hai tư tưởng tự do trong người mà đi miền núi, trong dịp thi hành Cải cách giáo dục và “trường Đại học sư phạm Miền Núi” vừa ăn lễ khánh thành.
Nhờ có tư tuởng khoảng khoát nên tôi phát hiện nhạy bén : hiệu trưởng trường này là anh Tuất, người mà tôi có nói là từ bên Anh về được dự lớp Đại học Nhân dân, hiệu phó là một Khu ủy viên khu Việt Bắc.
Tôi la lên : “Ấy chết cho Đại học sư phạm Miền Núi rồi.”
Tôi tự tay thảo một kế hoạch “phát triển giáo dục miền núi”, cầm sang báo cáo với Tố Hữu và xin đi.
Anh Tố Hữu rất bằng lòng, còn điện cho Lê Liêm Ủy viên Trung ương Thứ truởng Bộ Giáo dục biết, và điện cho đồng chí Dục Tôn, Phó Bí thư thường trực của Khu biết.
Anh Dục Tôn là người Tày (lúc đó còn gọi là Thổ như Chu Văn Tấn) là người nóng tính, cán bộ cao cấp ở Hà Nội nhiều người sợ gặp anh.
– “Thưa anh có Vụ truởng Vụ Giáo dục Ban Khoa giáo Trung ương xin vào gặp anh.”
Người thường trực đặt máy xuống và nói : “Mời đồng chí vào một mình, còn những đồng chí đi theo tôi sẽ lo chỗ ngủ và ăn”.
Trên đường đất núi, hai bên cây rậm rạp tôi đi vô theo anh thường trực chỉ. Đi được đôi mươi bưóc, tôi thấy có người đi ra, tay cầm một tờ giấy gặp có ớt chín thì hái bỏ vào.
Dục Tôn mừng rỡ và nói : “Tôi hái một mớ ớt rừng này, cay lắm cho anh đem về Hà Nội mà ăn !”
Vào phòng anh uống chén trà đậm rất ngon (đây là Bắc Thái mà !). Tôi vừa nói vừa rất tiếc về nhân sự lãnh đạo của Đại học sư phạm nên đồng chí Tố Hữu sai tôi lên xin lỗi các anh.
Dục Tôn nghe tôi liền nói như hét :
– “Họ khinh người miền núi chúng tôi lắm. Họ nói chúng tôi không làm hiệu trưởng nổi. Họ xin người, chúng tôi cho một ông trong thường vụ của khu thế mà họ bố trí cho làm hiệu phó mà còn là hiệu phó phu trách tiếp tế nữa mới tức chớ !”
Tôi thưa :
– “Việc đã lỡ rồi, sửa đổi không tiện cho công tác của nhà trường, sẽ thiệt hại cho sự đào tạo cán bộ giáo dục cho đồng bào miền núi chúng ta. Anh Tố Hữu có biểu Lê Liêm lên theo; tôi nhận sự đáng tiếc.
Tối nay anh cho một cuộc họp, tôi sẽ báo cáo với Khu ý kiến của tôi về phát triển giáo dục miền núi.”
Có giận là giận ai kia chứ làm sao lại giận tôi. Tôi lại nỉ non anh Dục Tôn cho kêu hai cán bộ của Vụ tôi, cùng ăn cơm thịt rừng, uống rượu thuốc…
Tối lại, anh Lê Liêm hỉ hả qua truông với Dục Tôn. Tất nhiên là bị bầm dập.
Sau đó tôi đưa cho Chu Văn Tấn bốn trang giấy có chữ viết tay để anh coi và theo dõi tôi trình bày kế hoạch phát triển giáo dục miền núi.
Tôi nói :
– “Tôi có đưa cho đồng chí Tố Hữu đọc cho biết; ý kiến đây là của riêng tôi, của một người miền Nam ra đây công tác muốn đóng góp cho anh em miền núi. Tôi không muốn ban Khoa giáo bị buộc vào trách nhiệm này. Vì tôi nói đây, trước hết là với tư cách một đại biểu Quốc hội về Quyền tự trị của Miền Núi coi như nhân quyền cơ bản trong chế độ ta đang nguyên xây dựng CNXH. Hôm nay tôi từ cái ý đó mà nói về vấn đề giáo dục.”
Tôi đã nói về ngôn ngữ dân tộc và xin Khu ủy hãy cho in vần chữ Tày, qui định từ lớp vỡ lòng trẻ em học bao nhiêu giờ chữ Tày, bao nhiêu giờ chữ Việt.
Tôi nói tới sự bắt buộc cô thầy ở Hà Nội lên phải học tiếng, viết chữ Tày. Khu ủy khuyến khích sự lập gia đình “xuôi ngược”.
Tôi nó về sự định cư, nói về sự bảo vệ rừng để làm giàu cho Tự trị Việt Bắc.
Tôi nói về nghề dệt của người dân tộc, về sự trồng bông công nghệ phó sản phẩm chè Bắc Thái có tiếng.
Tôi còn nói nhiều nữa, nghe vui lắm mà phải có nghĩ tới để làm kế hoạch lâu dài.
Trong buổi nói chuyện đó, có lúc Chu Văn Tấn lấy mấy tờ giấy bản thảo kế hoạch, úp vào ngực khen : “Quý lắm, Quý lắm”.
Trong phút giải lao, anh Dục Tôn khen tôi với mọi người :
– “Năm ngoái Khu ủy có cho một số bốn năm chục lao động tiền tiến xuống chơi Hà Nội vào dịp Quốc Khánh. Đem gởi ở trường Đại học Nhân dân, đồng chí Trấn từ chối và bảo cán bộ thưa lại, nếu cho ăn với chế độ 30 đồng thì nhà trường sẽ dọn một phòng 4 người mà tiếp khách. Chứ không nỡ cho anh em miền núi đi viếng thủ đô mà ăn uống tệ bạc quá. Ăn cái mức 18 đồng, họ ở nhà họ ăn còn hơn.
Tôi nghĩ có phần thua đồng chí Trấn, nên xin nhà trường hãy cho đồng bào miền núi ăn theo chế độ 30 đồng”.
Sau đó đi họp Trung ương, Chu Văn Tấn có nói : “Nếu Trung ương mà có nhiều Vụ truởng như đồng chí Trấn thì tốt biết chứng nào !”

h. Tôi nói về tình thương …
Chắc Chu Văn tấn còn cảm kích câu nói của tôi. Số là, sáng hôm sau buổi họp ấy, Chu Văn Tấn có đi cùng anh em chúng tôi qua Đồng Bẩm coi người ta trồng, sấy trà. Anh cho anh em mỗi đứa một ký “móc câu”. Phần tôi được anh dẫn vào nhà một bà làm “chè lam”, là chè đọt lấy trên núi cao, quết thành như bột dểo, bỏ vào ống nứa, treo dàn bếp đúng ngày đúng tháng; muốn uống chè ấy, phải cạy từ ống nứa, thái thành lát mỏng, đem đi sao, rồi “pha trà”.
Bà cụ nghe ông lớn của mình hỏi, bà lựa chọn một hồi, lấy ra một ống. Nói gì cũng không bắt được bà cụ cầm tiền anh Tấn đưa.
– “Không mấy khi được cụ đến nhà; cả năm ăn không hết.”
Anh Tấn trao ống chè lam cho tôi và nói :
– “Nghe anh nói ở Hà Nội anh thua người ta về chè. Cầm cái này về mời họ uống chơi cho biết. Chè Thanh Tâm so với nó chỉ là để uống giải khát mà thôi !”

Tôi nói về tình thương của anh Phạm Hùng.
Đám cháu học sinh miền Nam ở Chương Mỹ bán hết áo bông và dép mà ăn.
Bấy giờ trời rét, để chúng nó chết rét hay sao ? Tôi chạy lên xin Phạm Hùng. Anh đưa tiền ra và nói :”Đây là tiền bảo hộ đê, tôi phải xin Bác mà cho chúng nó một lần mà thôi nghe !”
Tôi nghĩ ai khác xin thì cũng được vì là việc chung.

Còn tình thương của bác Tôn Đức Thắng với tôi đây mới thật tình riêng.
– “Đi đâu giờ này đây anh hai? Bác Tôn hỏi.”
– “Dạ thưa cháu đi công tác trên Hòa Bình về. Nghe đội Campuchia ra, ba giờ chiều đá trên sân cột cờ.”
Tôi đến mời bác.
– “Thôi đi nha. Có muốn xin vé vào sân thì nói.”
Mà hồi đó tới giờ, người ta có gởi giấy mời coi đá banh cho Phó Chủ tịch nước này đâu !
Thôi thì cũng chiều lòng, sợ “anh hai” phiền.
Hai giờ rưởi kém mấy phút. Cái Cốtmôvich (ie. ?) chở bác Tôn và người bảo vệ là tôi, vô sân Mangin. Ban tổ chức rất mừng đón đưa, năm sáu tay đỡ bác. Còn thì họ lắc đầu : “Khán đài có bảo vệ rồi” cho tôi đành đi xuống đứng khoanh tay úp lên vòng rào của sân.
Bỗng Trương Tấn Bửu đi ngang, tôi kêu :
– “Bửu, Bửu, đưa cái đuôi cá đây !”
Tôi lấy đuôi cá cài vào ve áo, đàng hoàng lọt vào sân coi như người của ban trật tự. Tôi đi ngang qua khán đài, nhìn lên và nâng cái đuôi cá cho bác Tôn xem. Bác cười.
Người ta đọc diễn văn có giới thiệu một khán giả quan trọng : Bác Tôn, Phó Chủ tịch nước.
Trọng tài cho trận banh bắt đầu. Chừng non 5 phút, tôi nhìn lên khán đài, bác Tôn đã về rồi. Có khi lịch sử ghi vì tình hữu hảo giữa 2 nước mà Phó Chủ tịch nước VNDCCH đã tới dự trận đá banh hữu nghị VN-Campuchia. Làm sao ai biết được bác Tôn đi đó là để đưa tôi lọt vào sân banh.
Tôi muốn nói đây là những tình thương mà ít ai nhận được.

Tôi kể lộn xộn.
Anh có nghe anh Kim Ngọc, bí thư Vĩnh Phú ? Là người thứ nhất đề xuất ra chủ trương khoán sản phẩm thay cho hợp tác hóa nông nghiệp. Anh bị Trường Chinh phê bình, rồi “làm kỷ luật”.
Kim Ngọc cũng là người nóng tính, mà cán bộ Trung ương rất ngại gặp.
Và vì có chuyện phải gặp cho nên an ủi tôi.
Chuyện gì ?
Chuyện xin rút cái lịnh của Ủy ban Vĩnh Phú cấm không chấp chứa “trường học sinh miền Nam” ở trong thị trấn, thị xã, gần những nơi có vườn cây ăn quả.
Tôi đến gặp và vì các cháu mà hết sức nhỏ nhoi xin bỏ lịnh ấy đi. Vì chưa nói là các cháu chỉ còn được ở trong rừng sâu mà nói về lời văn ấy là của người chọc thú dữ.
Anh Kim Ngọc cũng có nghe tiếng tôi, những lần đi nói về “Năm kết hợp” ở Vĩnh Phú. Tôi có khen chủ trương khoán sản phẩm là làm cho nông dân có gạo ăn.
Cho nên tôi nói năng với Kim Ngọc cũng dễ và được đãi cơm ngon.

Nói mà nhớ bữa cơm của Lê Quý Quỳnh.
Chấp hành sự nhập hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên làm một Hải Hưng, làm cho dư thừa nhà của cơ quan của Hưng Yên.
Ban Thống nhất muốn xin cơ ngơi ấy để làm một trường cho học sinh miền Nam. Họ bàn với Tố Hữu đồng ý. Họ dự định gởi một phó ban dẫn đầu một đoàn xuống Hải Dương để gặp Bí thư tỉnh ủy Hải Hưng. Tố Hữu nghe vậy có góp ý kiến :
– “Sao không nhờ anh Trấn đi cho ?”
Tiếng đáp lại là : “Một phó ban, không hơn một Vụ trưởng sao ?”
Đoàn của ban Thống nhất mà trưởng đoàn đang trong tình trạng thở oxy. Xuống Hải Dương xin gặp Bí thư tỉnh ủy Hải Hưng. Anh em trong cơ quan “phôn” cho Bí thư của họ đang coi cho dân tình đắp đê đang bị vỡ và nói khách chờ. Chờ hai ngày ông Bí thư không về. Mà mấy túi oxy đã xẹp. Đoàn đành phải rút về. Tố Hữu hỏi : “Sao ?”
Báo cáo : “Vậy, vậy.” Tố Hữu thốt : “Thì tôi đã nói nên để cho anh Bảy đi.”
Đoàn đã trang bị đầy đủ oxy lại ra đi có cho tôi theo.
Xuống Hải Dương, tôi có nói anh em gọi điện (nói nhỏ thôi) là có anh Nguyễn Văn Trấn xuống. Anh em nói với đoàn, chờ tối đồng chí Bí thư sẽ về.
Và anh em được lịnh quay một con heo cỡ 15, 16 ký (nhà nước Lý Ban cấm giết lợn dưới 50 ký).
Anh Quỳnh trong áo quần ướt sũng, nghe phó ban Thống nhất trình bày, và đồng ý ngay. Anh nói thêm : “Đê vá chưa xong, tôi còn trở ra đó nữa.
Sáng mai, tôi cho anh em hướng dẫn đi xem cơ sở. Còn anh Bảy đã biết chỗ đó rồi thì… đi theo đoàn về Hưng Yên hay là theo tôi chơi !”
Tôi ngả ngôn :
– “Dạ thưa ‘là’ theo anh ! Lát nữa ăn heo quay đã.”
Tố Hữu biết người và nhân hậu mà tôi suy là có thương tôi.

Hôm kia đạp xe lên nhà riêng của tướng Lê Thiết Hùng đang nằm dưỡng bịnh. Vì anh là người phụ trách nên phải xin trực tiếp ở anh một cơ quan gì đó của quân đội bỏ không.
Thấy tôi bưóc vô phòng, anh tốc chân ngồi dậy. Tôi bưóc tới theo ngón tay anh chỉ, ngồi xuống cạnh giường, nói lý do gặp mặt. Anh gọi lái xe.
Tôi hỏi anh có khoẻ không. Anh trả lời đi được. Con quỷ phải khen cái diễn biến tư tưởng chớp nhoáng. Anh gọi một lính bảo vệ và bảo :
– “Lấy xe đạp của ông Chính ủy khu 9, đạp xuống ban Thống nhất ở phố Văn Miếu, ngồi
đó chơi, tôi sẽ rước về.”
Tôi lên ôtô đi với anh vào xã Nhân Hòa; ở Chương Mỹ, mượn chỗ cho Vũ Tấn và Nguyễn Thị Nghĩa mở lớp chính trị ngắn ngày cho cán bộ đi B.
Được anh chỉ cho những gian phòng này, này.
Trở về, anh cho tôi về ban Thống nhất và bốc chú bảo vệ lên, cho tôi khỏi trở lại nhà anh ở mút đường Đội Cấn mà lấy xe đạp về, đạp về.
Hôm sau anh Tố Hữu đi làm (tôi kể chuyện vào lúc ban Thống Nhất được nhà thơ làm trưởng ban), anh nghe tôi đi với anh Lê Thiết Hùng… anh đã phê bình khéo các anh chị trong vụ :
– “Sao không có ai đi; chỉ cần làm việc với thư ký là được, lại để cho Bảy đi, bắt buộc anh
Lê Thiết Hùng đau ốm phải ngồi dậy đi với anh Bảy.”
Tôi cũng không dè sự tế nhị đến như vậy.

Bốn chuyện rồi ! Mà bạn cũng phãi cho tôi nói thêm thêm cái tình thương này cho mát dạ.
Tình thương của Xuân Thủy đối với tôi. Đồng chí Xuân Thủy thì đám già mình ai lại chẳng nghe danh.
Không rõ anh chức chi mà có quyền hành duyệt danh sách khách được mời dự chiêu đãi quốc tế. Vậy nên đại sứ nước nào mở tiẹc tôi đều được đi ăn. Chỉ cực có điều là mặc đồ Tây, thắt cà-vạt.
Anh Xuân Thủy đã chỉ thị cho người hữu trách phải ghi tôi ở dưới mỗi danh sách mời.
Tôi biết việc ấy là bởi đại ca tôi tập kết và được cho làm quản trị Câu lạc bộ quốc tế mà nghe Xuân Thủy dặn dò :
– “Lâu lâu cho nó được một bữa văn hóa cao.”
Nhờ vậy mà tôi ăn ngon hoài.
Nhưng nếu vì vậy mà hả dạ thì chớ quên lời mẹ mắng : “Một bữa ăn ở đó, còn bảy bữa ăn đâu ?”
Tình thương đáng nói của Xuân Thủy đối với tôi là anh đã cho tôi mượn tài liệu xét lại và chống xét lại (rất bí mật) mà đọc.
Anh lại còn đưa cho tôi một bản danh sách ghi tên những người được coi là xét lại.
Xuân Thủy bảo tôi coi trong đó có tên tôi không. Tôi chỉ chú ý coi những vị mặt rằn không bị vô sổ xét lại để ngày sau họ đừng nói dóc với tôi. Tôi đọc tới tên Tạ Quang Bửu; tôi làm như cúi đầu chào.
Xuân Thủy hỏi :
– “Anh thấy tên anh hả ?”
– “Làm gì có tên tôi !”
– “Vì anh không phải là xét lại ?” Xuân Thủy cười; cái cười ngọt xớt của anh.
– “Anh nghĩ nha !” Tôi đáp. “Ngày kia tôi có nhờ vợ của Triệu Tuân, ở báo Tân Việt Hoa làm mai con gái của Lý Ban cho con tôi. Nhất sau “thím xẫm” này cười và nói với tôi : ‘Chị Trần Lăng hét : ai có con gái đâu mà gả cho con một thằng xét lại !’ Anh thấy hôn ? Trung Quốc mà còn chiếu cố tôi như vậy thì nói gì VN yêu quí của anh.”
Tôi xin kết thúc đoạn tình nghĩa vừa rồi.

Tôi làm việc với Tố Hữu coi vậy chớ trên 12 năm từ 1962 đến 1974.
Anh đi đâu cũng cho tôi theo với chức vụ nhà nước. Anh đã làm Phó Thủ tướng. Anh làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước. Tôi đều đuợc phong Vụ trưởng của những nơi đó. Vậy là ba rồi. Bây giờ tới Vụ trưởng thứ tư khi anh làm trưởng ban thống nhất đất nước…
Thì cũng cứ là theo dõi để làm tham mưu.
Tôi vẫn giữ gìn tính ưu việt của tôi, việc lớn, việc nhỏ gì cũng không sao, miễn tôi cứ làm người có ích.

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s