Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 11)

i. Anh hãy xem tôi có ý kiến hữu ích.
Số là ở Paris, len lỏi, chèo kéo với nhau làm sao rồi Lê Đức Thọ và Kissinger, ngày 23- 1-1973 đã gọi là “ký tắt” Hiệp định Paris về VN. Thì bổn ban có mời họp để thông tin mừng : Kissinger hứa là đền bồi cho ta một khoảng tiền là 2 tỷ rưởi dôla.
Nghe nói đâu đó, chính quyền nhà nước cấp cao còn nói đến số đền bồi ấy lên tới 4 tỷ đôla và các Bộ mừng rơn, sửa lại kế hoạch phát triển của ngành với số tiền ấy được chia.
Và anh em cán bộ đã được nghe, mỗi người sẽ được thưởng (hay cho vay ?) 2.000 đồng.
Đi dự cuộc họp ấy, có bên quân đội, có đại tá thời tình báo, con của anh nhà giáo Võ Văn Mông.
Tôi dở sách “Lénine và vấn đề quân sự” ra phát biểu sôi bọt mồm mép rồi theo lời dạy trong sách mà kết luận rất rạch ròi.
– “Thằng Mỹ nó bắt đền con cặc nó cho anh !”
Sau cuộc họp, ông đồng chí chủ trì cuộc họp đã đi thưa với Tố Hữu.
– “Anh Bảy, ỷ ảnh ngày xưa là Phó Bí thư xứ ủy trên tôi nên ảnh phát biểu ngạo mạn lắm.”
Anh Tố Hữu phán :
– “Khẩu ngữ, khẩu khí thì đừng kể. Hãy cãi với anh Bảy về lý thử coi.”
Cái lý ư ? Nhiều người trí thức và chức lớn trong nhiều Bộ hối hận về sự dễ tin của mình và hễ gặp tôi là họ cười, thầm khen.
Tôi làm việc bên cạnh Trung ương, thấy thêm cái chuyện này thì bắt ngán ngầm cho Trung ương !
Cái “ông này” thật chập chờn, “chập chững”.
Nghe thằng Mỹ nói đến bạc tỷ thì mê tít thò lò. Bên quân đội theo lời Võ Nguyên Giáp, số ấy là 3 tỷ rưởi đôla. Về chính phủ ta số ấy lên tới 4 tỷ đôla.
Cái hứa đền tiền mới ở miệng Kissinger đã mua được lòng của Trung ương ta là nảy sinh tư tưởng của Anh Ba vĩ đại, là hòa hoãn. Từ gốc đến ngọn, trong Nam có chủ trương ổn định ranh giới.
Thủ trưởng của tôi ra đi vô Nam. Buổi tiễn đưa, tôi ngẩn ngơ thương tiếc. Hà Nội đang nói : “Tố Hữu se prépare.” Tố Hữu đang chuẩn bị mình làm Tổng Bí thư ! Chứ chi anh cho tôi theo, tôi sẽ có cách cản sự phỗ biến tư tưởng hòa hoãn. Hỏng mất.
Đồng chí Võ Văn Kiệt hãy làm chứng cho tôi. Có phải là tôi đã mời anh đến nhà mà khẩn thiết : “Về Nam tiếp tục đánh mạnh nó đi cho tôi”.
Lời nói anh em đó có giúp vào thanh thế của Anh không ?

Sắp Về Nam.
Cái “ký tắt” làm cho tôi thấy sắp về với anh chị em và mồ cha mả mẹ rồi.
Chỉ mong sao có Đại hội. Vấn đề thống nhất đất nước là vấn đề lớn lắm. Mà bấy lâu nay gọi là “Trung ương” giải quyết nhiều vấn đề bắt người suy nghĩ chính chắn phải ngán ngẩm.
Giờ đây lại có mớ cây kiểng mà chị Nguyễn Thị Thập than rằng vì đám đó mà không còn giá trị cái tập thể gọi là Trung ương. Ở miền Bắc ngót 26 năm, tôi lại gì cái tư tưởng chính thống Bắc Hà, và lại gì “một nhà ba kinh lược” (Hoàng Cao Khải chỉ có hai !)
Tôi vẫn tự tin, bằng lòng với tính ưu việt của tôi : người ta có mời đi giảng thì đi. Còn không thì ngồi viết. Rủi mà có Đại hội ! May ra còn có sự trân trọng ý kiến quần chúng.
Nó mời. Tôi sẽ độc lập phục vụ đảng. Lần nọ tôi đề nghị hai mặt trận, lần này tôi sẽ trình bày cương lĩnh này đây :

21. Việc Thống Nhất Đất Nước
A- VÀO ĐẦU : Bối cảnh chính trị kinh tế
Xã hội VN là một xã hội châu Á, cho đến lúc Pháp chiếm, nó có nền kinh tế cổ truyền, nghèo, đất đai chưa khai phá rộng vì nạn liên miên vua chúa đàng ngoài đánh nhau.
Cho đến giữa thế kỷ XIX, làng xóm nông nghiệp tự túc, nhiều nơi còn thiếu đói. Người Pháp sang có mở mang kinh tế nhưng vẫn bị yếu tố của chủ nghĩa thực dân chèn ép nên đất nước ta không uốn mình làm rồng bay lượn với người ta.
Đến CM tháng 8, tiếp liền là chiến tranh, nước ta đã bị tạm chia làm 2 miền. Vĩ tuyến 17 chia 2 vùng có hệ thống kinh tế riêng. Miền Bắc đất ít, người nhiều nên phát triển chưa đầy đủ; còn có nhiều vùng không đủ ăn, đến “giáp hạt”. Ở miền Nam, ruộng đất đã thành khoảng sẵn, gần đây có ra sức hiện đại hóa nhưng chủ yếu cũng là kinh tế nông nghiệp, thu hút sức lao động vào sản xuất, phân phối, chế biến lương thực làm rừng và các hoạt động liên quan đến nông nghiệp. Còn công nghiệp thì hãy còn hiểu biết hạn chế, thiếu trang bị hiện đại, nguồn tài nguyên thì chưa được nghiên cứu đầy đủ, năng suất lao động thấp, cơ sở hạ tầng yếu.
Có thể nói tóm lại là hệ thống và điều kiện hiện tại của nền kinh tế là sản phẩm của một di sản xa xôi lạc hậu, là sản phẩm của tác hại chiến tranh vừa qua của những nhân tố địa lý, chính trị, những vấn đề chính trị xã hội nội bộ rất phức tạp. Muốn phát triển theo kịp người ta thì cần phải có sự giúp đỡ của nước ngoài về cả hai phe. Không thể không chú ý đến điều, nền kinh tế của phe ta còn lận đận, đồng Rúp của Liên Xô chưa đổi ra được đôla… cũng đừng quên rằng giữa các nước XHCN, người thiên tử láng giềng là Trung Quốc và người thầy của ta là Liên Xô đâu có ai nhịn ai đâu !
Tôi là người dân thuộc địa, có tư tuởng của người nước nhỏ yếu là mong nhờ sự giúp đỡ của những nước văn minh đang có trí khôn và tiền.
Và xin nhớ những bất hòa về tư tưởng giữa bộ phận dân ta ở khác miền.

B- Ý KIẾN VỀ “LIÊN BANG”
a. Câu nói bất hủ của Hồ Chí Minh.
“Nước VN là một, dân tộc VN là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng không đổi dời chân lý ấy.”
Câu ấy làm cho có người lấy làm một đạo bùa trừ tà -chủ nghĩa địa phương. Làm cho ai nói hay nghĩ cái gì đi sai đường “là một”, thì sợ cái “người ấy” cho mình là địa phương chủ nghĩa.
Sao hư quá, mà không thấy rằng chính cái người kết án người khác là điạ phương chủ nghĩa thì người kết án ấy đã xuất phát từ chủng hóa địa phương.
Ở Hà Nội tôi có gặp Lê Duẩn và nói lời này :
“Thưa anh mai kia mà ta giải phóng được miền Nam, ta chớ có thống nhất cập rập, nông dân sẽ bỏ ruộng cày. Kéo nhau đi cho biết Nam kỳ là đâu !”
Lê Duẩn có nghe nhíu mầy. Anh thường có suy tư siêu thường mạnh lắm.

b. Nghĩ về liên bang.
Khi nghị hội Paris ngã ngũ, tôi tìm coi Lènine có giúp tôi gì về “thống nhất” mấy miền đất nước này hay không.
Thấy có bức thơ ngắn Lénine gọi các đồng chí A-giec-bây-giăng khuyên nên lấy tình hình riêng biệt mà ký kết riêng biệt, buôn bán với các nước tư bản.
Tôi nghĩ ngay đến một chính phủ ở miền Nam mà Mặt trận dân tộc giải phóng làm chủ chốt, có Nguyễn Thị Bình, bây giờ ra dáng lắm. Ta có một chủ bài như vậy để giao thiệp buôn bán với tư bản thì hay biết chừng nào !
Vã lại, tôi đây đã từng có ý kiến được chấp nhận về hai miền của tổ quốc, có hai chiến lược CM rạch ròi, có hai mặt trận và hai sắc cờ, là tôi đã nghĩ lung lắm về một liên bang VN.
Tôi lấy sách Lénine ra chép được như vầy :
“Chúng ta chủ trương theo chế độ tập trung dân chủ. Nhưng cần phải hiểu rõ ràng chế độ tập trung dân chủ, một mặt trận khác xa, chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa và mặt khác, thật khác xa với chủ nghĩa vô chính phủ. Những kẻ phản đối chế độ tập trung đều luôn luôn đưa ra chế độ tự trị và chế độ liên bang, xem đó là những biện pháp để chống lại những sự bất trắc của chế độ tập trung. Kỳ thực, chế độ tập trung dân chủ không mảy may loại trừ chế độ tự trị, mà trái lại còn bao hàm sự cần thiết phải có chế độ tự trị. Kỳ thực, ngay cả chế độ liên bang cũng vậy, nếu nó được áp dụng trong những giới hạn hợp lý xét theo quan điểm kinh tế, nếu nó được áp dụng trên cơ sở những đặc thù dân tộc quan trọng đòi hỏi thực sự cần phải có sự riêng biệt nào đó về mặt nhà nước; ngay cả chế độ liên bang nữa, cũng không có chút gì mâu thuẫn với chế độ tập trung dân chủ. Trong một chế độ thực sự dân chủ, và nhất là với hình hình tổ chức nhà nước kiểu Xô Viết, thì chế độ liên bang thường chỉ là một bưóc quá độ để đi tới chế độ tập trung dân chủ chân chính mà thôi. Nước Cộng hòa Xô Viết Nga là một thí dụ đã cho ta thấy một cách đặt biệt rõ ràng chế độ liên bang mà chúng ta hiện đang thiết lập và sẽ thiết lập, chính là một biện pháp chắc chắn nhất để hợp nhất một cách vững chắc nhất các dân tộc trong nước Nga thành một nhà nước Xô Viết thống nhất với chế độ tập trung dân chủ.
Và cũng như chế độ tập trung dân chủ đã không mảy may loại trừ chế độ tự trị và chế độ liên bang, thì nó cũng không loại trừ, mà trái lại, còn bao hàm khả năng để cho các địa phương và cả các công xã khác trong nước có quyền tự do đầy đủ nhất trong việc định ra các hình thức khác nhau về sinh hoạt chính trị, xã hội, kinh tế. Không có gì sai lầm bằng việc lẫn lộn chế độ tập trung dân chủ với chủ nghĩa quan liêu và với lối rập khuôn máy móc. Hiện giờ nhiệm vụ của chúng ta chính là phải thực hiện chế độ tập trung dân chủ trong lãnh vực kinh tế, bảo đảm sự hoạt động tuyệt đối ăn khớp và thống nhất của các ngành kinh tế như đường sắt, bưu điện và các ngành vận tải khác v.v., và đồng thời, chế độ tập trung hiểu theo nghĩa thực sự dân chủ, bao hàm khả năng – khả năng này do lịch sử tạo ra lần đầu tiên – phát huy một cách đầy đủ và tự do, không những các đặc điểm của địa phương mà cả những sáng kiến của địa phương, tính chủ động của địa phương, tính chất muôn hình muôn vẻ của các đường lối, của các phương pháp và phương tiện để đạt đến mục đích chung.”

c. Tiền đề thực tiễn để nghĩ tới liên bang.
1) Vấn đề “Ba Kỳ”.
Ông cha ta đã đặt. Chứ không phải Tây nó đế, nó chia xứ ta làm ba kỳ : chia rẽ để dễ cai trị mà !
Ngày xưa chúng ta đã có :
_ Bắc phần Tổng trấn : Nguyễn Văn Thành.
_ Nam phần Tổng trấn : Lê Văn Duyệt.
Theo sách, “kỳ” là một diện tích 10.000 dặm vuông.
Thằng thực dân Pháp đánh giá về khả năng kinh tế của 3 kỳ mà đầu tư. Và nó đã ước chế sự phân phối lao động và cưa dân bằng cái giấy thông hành (titre d’identité).
Ông trương Vĩnh Ký khi làm việc với thân hữu Paul Bert, cũng đã giải thích vì sao mà Nam kỳ phải chịu suy đồi trong cả nước của vua. Ông đã có suy nghĩ về sự phát triển không đồng đều giữa 3 kỳ mà mong muốn để cho Nam kỳ đi trước. Lý thuyết này quan trọng lắm.
2) Hạ tầng cơ sở kinh tế của Nam kỳ.
Lê Duẩn ra Hà Nội đã từng giới thiệu trong Trung ương Đảng và cho cán bộ nhiều ngành, sự sống lao động trên đất khai hoang lần lần đã làm cho làng xã tự túc được.
Và anh đã “khoe” ở Nam bộ, một nông dân là nuôi đuợc 5 miệng ăn vì một nhà nông dân nghèo làm tới 5 ha ruộng : có cày, có trâu. Cơ ngơi của một trung nông bao gồm : ruộng cày, đất chứa phân và trồng cây lấy gỗ. Đất trồng hàng bông để chạy chở hàng ngày và ao chuồng làm kế hoạch tiết kiện dành để nuôi con ăn học, giổ quảy, dựng vợ gả chồng cho con và cho chúng nó “ra riêng” (vì vậy có câu ví von một hủ vàng chôn không bằng cái lồn heo nái). Nhà trung nông nào cũng có hủ bột nếp, bột gạo, hủ đường, hủ đựng thuốc rê.
“Ban trưa tu hú kêu ở bờ tre, buồn quá làm bánh ăn chơi !”
Lý Ban người quê ở Rạch Kiến nói thêm vào, tính người Nam bộ ham trồng trọt, luôn luôn mở mang và tìm mới những giống cây trồng.
(Hai anh đều bị đả, tất nhiên trình độ gay gắt có khác nhau vì sự nể nang, mà nói chung là “Bắc Hà” không thích nghe nói vậy).
Bùi Công Trừng hay nói : “Cải cách ruộng đất đem lại cho người nông dân Bắc bộ một khoảng đất, con chó nằm còn ló đuôi ra ngoài”.
Chính phủ ta có một ông Phó Thủ tướng bị gậy mà các nước XHCN đều nhẵn mặt.
Người “hảo hớn” ở cùng biên giới đã xỉa xói ta, không làm mà đeo ăn bám.
Có lúc dân ta ở miền Nam nhắn xin ra miền Bắc, đừng tuyên truyền trên đài nữa, những việc cơ quan bình bầu dân chủ để phân phối phiếu mua xe đạp, radio. Hà Nội thì cứ ra rả chống phồn vinh giả tạo.
(Mấy điều nói về miền Bắc là để làm “cực đối lập” mà thấy Nam kỳ).
3) Tư tưởng chống lại “liên bang”.
Trước hết thì vì (ie. thay vì ?) người ấy muốn khóc lên vì bởi “Nước VN là một”.
Sau đây mới là độc hại : người chống liên bang cho rằng bọn chủ trương liên bang không muốn thống nhất, là kẻ muốn giành lấy miền Nam mà ăn một mình.
Tôi viết còn dài nữa… nhưng xin nói đủ nghe để chờ Đại hội. trong khi đó, ngồi tại ban Thống nhất, chờ ai về Nam đến chào tôi. Tôi đều nói, hãy ảnh hưởng với người bà con mình ở chính phủ bên kia mà khuyên họ xin làm Chính phủ liên hiệp với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam. Đó là cánh cửa mở cho họ về với Tổ quốc.

22. Tôi Về
Tôi về… là tôi về. Nghe như tiếng hát. Lâu ngày xa cách, nay thiệt là mừng.
Tuy mẹ cha chờ con không được đã ra đi, thân phận đảng viên bị người nhân danh “dân chủ tập trung” mà coi như kiến cỏ, nhưng quyết sống già nên thấy việc đời có nhiều cái đáng buồn mà vẫn mỉm cười xúc động, không nản chí trong cứu cách : làm gì để trả ơn.
Qua 30-4 ở Saigon rồi, mà ở Hà Nội tôi vẫn bình tĩnh nhớ nhà và đi giảng.
Tôi đang đứng trên bục một lớp sĩ quan công an và bộ đội. Bỗng có bóng người ở cửa.
Tôi nhìn ra. Tôi cúi đầu chào như hỏi có việc chi.
Anh Tiếu, hiệu truởng bưóc vô. Anh không nói với tôi mà nói với tất cả lớp đứng nghiêm :
– “Đồng chí Tố Hữu có điện lên, báo cáo cho đồng chí Trấn biết là hãy thu xếp trong vài ngày để về Nam. Lớp học của ta phải nghỉ ngang nhưng chắc chắn các anh em sẽ vui mừng cho thầy.”
Đồng chí Tiếu quay lại bắt tay tôi trong lúc đó cả lớp vổ tay.
Tôi gói gọn bài học hôm đó và mời các đồng chí phụ đạo của lớp đến nhà của tôi, giảng nghe cho hết logich hình thức rồi giảng lại. Việc nói đó đã được làm.
Một chiều tối tôi băng vườn Bách thảo qua nhà Bùi Công Trừng để chào từ giả.
(Nếu đâu đó tôi có nói, tôi là Phó Bí thư xứ ủy Nam kỳ. Cái xứ ủy ấy là lâm thời vào giờ chót của việc chuẩn bị cho CM tháng 8, Bùi Công Trừng là Bí thư).
Tôi lên hết thang lầu, thấy ngay một cái võng có người nằm. Người ấy ngồi dậy, tướng tá làm tôi hiểu ra mà chào không thưa :
– “Tôi là Nguyễn Văn Trấn đến thăm Bùi Công Trừng.”
Bùi Công Trừng “vôi” cột sống nên nằm. Anh nói lớn cho chị ở nhà trong chạy ra. Chị vừa la “À chú !” thì anh biểu : “Má nó đốt đèn chong bưng vô đây cho chú hút thuốc.”
Tôi ngồi cạnh giường dợm nói thì anh lấy một sấp bản tin mà chỉ vào phía mặt sau là giấy trắng.
Tôi hiểu liền rút bút máy ra đơn phương bút đàm. Tôi viết lời tôi nói, rồi đưa anh và nghe anh nói.
Cái gì tôi viết, anh đọc xong là cho vào đèn. Và tro thì cho vào ống nhỗ.
Lúc trước khi bị khai trừ, anh là Ủy viên Trung ương dự khuyết, có lúc làm Thủ trưởng về kinh tế. Nói vậy để nói rằng anh nói về chính trị-kinh tế là có giá trị nhất định.
Hôm ấy anh nói với tôi :
“Mày về trong ấy thì mọi việc đã xong, chỉ trừ có việc nổi loạn trong lòng người.
Chúng nó cũng mấy thằng ấy, cũng như chính sách ấy, cai trị 17 triệu dân thì dân đã nghèo sát đất. Không đầy 15 năm hai cái rừng Việt Bắc và Tây Bắc bị cạo trọc lóc.
Bây giờ là miền Nam.
Cũng đào kép ấy (même acteurs), hài kịch ấy (même comédie) chưa chi nó đã giành đất của Ban Mê Thuộc, của Đà Lạt và Sông Bé, thì chúng nó đua với miền Bắc 15 năm, miền Nam chỉ cần 3 năm thì cũng sẽ “trơn lu như mu bà bóng” cho mầy coi.”

Anh kêu chị :
– “Mẹ nó đâu ? Ngày mai chú về Nam, ra vĩnh biệt chú đi.” (chị là người Tày).
Chị nắm tay mà nói : “Tôi có đào Cao Bằng thì làm sao gởi chú ?”
Hai vợ chồng anh Trừng đều “ứa lệ” vui mừng cho tôi xa nhà ngót 30 năm, nay được về.

Tôi về nhà, đốt nhang và đứng khóc nhìn cha mẹ trên bàn thờ từ đường.
Rồi là qua Chợ Đệm xem ai còn, ai mất.
Nghe nói ở Chợ Đệm, người có học, có tiền bỏ đi nhiều.
Cái anh trí thức Trương Phương bạn học và rất thân với tôi hồi còn nhỏ, ra đi mà biết thế nào tôi cũng về; nó nhắn mấy bà ngoài chợ :
– “Tôi thương nước không thua gì nó đâu nhưng tôi biết là không thể sống với CS được.
Ở Chợ Đệm cũng có một số anh em tập kết về trước tôi. Tôi về sau họ nên cũng như họ được mấy chị ấy gọi là “cán bộ thế thì”.
Tôi hỏi Năm Châm :
– “Cán bộ thế thì là sao vậy ?”
Vợ Năm Châm :
– “Thấy người tập kết về hay nói “thế thì” cho nên bà con gọi vậy để phân biệt người ở lại với người đi tập kết.”
– “Thím có gọi Năm Châm như vậy không ?”
– “Tôi không kêu chàng là như vậy. Nhưng cũng “thế thì” để ngạo chơi.”
– “Đâu thím “thế thì” một cái coi !”
– “Nè ông Châm, ra ngoài Bắc không làm được ông gì, nay về Nam không có tới được hai cái quần xà lỏn, thế thì, khuya thức sớm, uốn xương sống một cái rắc, nhảy xuống đất gánh hàng cho tôi ngoài chợ, tôi sẽ nuôi cho.”
– “Chanh chua chi dữ vậy, em tôi ? Tôi hứa sẽ viết về gái Chợ Đệm.”
– “Sẽ nói tới chị Bảy hôn ? À mà chị ở đâu, anh về đây chỉ một mình ?”
– “Chi đang nằm trên núi Sơn Tây.”
– “Thế thì…”
– “Thôi thôi. Cho anh xin cái ‘thế thì’ của em đi.”

Tôi trở lên Saigon, rày đây mai đó ở nhà của các tay anh chị ông Lãnh khi xưa.
Tôi tâm tình như tôi đã viết trước lúc về Nam. Đổi lại anh em nói : “Nam kỳ Khởi nghỉa tiêu công lý, đổng Khởi vùng lên cướp tự do.” Họ coi miền Bắc vào là một cuộc Nam phạt. Họ cho biết tiệm càfé Saigon đã tổng kết luân lý của CS là đi chiếm đất, là “nói vậy chứ không phải vậy”. Ngày nào, từ đất Bắc chính anh (họ nói với tôi) đã nhân danh chính sách hòa hợp dân tộc, đoàn tụ gia đình mà kêu gọi đồng bào miền Nam hãy kêu gọi con em mình hãy sớm rời bỏ hàng ngũ địch mà về với gia đình.
Vậy mà khi các anh vào thì lập tức “bắt đi học tập cải tạo”. Việc trở trái làm mặt ấy cũng là nhẹ so với việc, anh coi cái miền Nam, tức người miền Nam này là “ngụy”. Nói một chuyện nhỏ là chuyện đá banh. Anh đã động viên đội anh là “ta nhất định thắng không thể thua bọn ngụy”.
Anh em trong nhà đóng cửa nói với nhau như vậy nghe rất đau xót.
Người ta còn nói (coi như là tôi nói đi) :
– “Thưa chiến thắng quân sự, người ta đã đưa kinh tế gọi là XHCN miền Bắc vào miền Nam.
Tâm linh của người VN bấy lâu nay yêu nước coi đó là sự thống nhất đất nước. Đó là bề ngoài mà thôi.
Còn ở bên trong ? Từ thuở xưa ông Trường Chinh chưỡi Tây, nó chia rẽ đất nước ta làm cho kinh tế của mỗi miền đất nước phải què quặt. Vậy nên dưới sự lãnh đạo của người Bắc Hà -cũng là CS- đã có sự nhanh chóng cưỡng bức sự thống nhất giữa hai miền.”
Tôi để sự lo âu của Hà Nội về sự cứng đầu của chính phủ gì đó ở miền Nam, ra ngoài.
Mà đây chỉ nói sự trị (ie. cai trị) què quặt đã làm cho bại liệt hết hai chân.
Bây giờ ta coi lại, trong khói hương nghi ngút làm bộ cúng bái sự thống nhất đất nước, những pháp lịnh dở ẹc từ 1955 ở miền Bắc, bây giờ đem xài ở miền Nam đã đem lại kết quả thực sự là phá hoại đại bộ phận kinh tế của miền Nam mà miền Nam không được thay thế đến bù.
Tầng lớp trung Lưu, intelligentsia trí thức của miền Nam ra đi như nước chảy từ lu bể thình lình. Và mấy bà con người Hoa từ giã cột đèn mà đi, làm cạn đi nguồn nhân lực chủ chốt.
Chính sách nông nghiệp và sự kiểm soát kinh tế của Hà Nội làm cho nông nghiệp miền Nam khó phát triển.
Tác hại ghê gớm nhất là chính sách quân bình kinh tế (tôi đã “bắt” được Võ Nguyên Giáp tự bộc lộ : “Trong xây dựng kinh tế không nên để miền Nam lên mạnh, miền Bắc, miền Trung tụt lại sau.” Nếu khuyên đồng bằng sông Cửu long đừng đi vượt miền Đông… thì tôi có phải là một thằng ngu không anh Giáp ?) Chính sách ấy muốn tháo gở bịnh viện Chợ Rẫy đem về miền Bắc… chuyển “của” (chứ chưa phải là sự giàu sang) miền Nam sang cho miền Bắc. Chính sách đã dùng nhiều biện pháp làm rối loạn nền kinh tế và khiến cho nó trì trệ và làm được việc mà đàng ngoài mong ước : miền Nam nghèo để đuổi kịp miền Bắc.
Ngay từ ngày đầu thống nhất, sự điều hành kinh tế theo chính sách bất lương và bởi những kẻ thừa hành tồi bại cho nên biểu sao nó chẳng thất bại; nếu không mỉa mai là thắng lợi trong sự cùng ăn độn.
Hỡi ơi ! Hai nền kinh tế vốn khác nhau rất nhiều mà nỡ duy ý chí, thống nhất một cái một thì biết bao nhiêu khó khăn ghê gớm đã xảy ra.
Nhưng xét cho cùng, tai nạn cho VN là trong lòng sự thống nhất giống nòi và tiếng nói tư tưởng của CNCS – là tiền tiến nhất a. Không giải quyết được sự chia rẻ cổ truyền giữa miền Bắc, miền Nam, mà lại còn làm cho nó sâu thêm vì tư tưởng Bắc Hà là cái gì lũng đoạn Đảng đã ôm ấp thành kiến, tính cách địa phương và sự tự cao.
Người có quyền ở phía Bắc thường lấy “chủ nghĩa địa phương” để làm bùa ma, dọa con nít. Ở đằng trước tôi có nói, sao không hỏi họ chính các anh mới là chủ nghĩa địa phương nên mới nhìn thấy người ta như vậy.
Người miền Bắc cũng thường ngắm lãnh tụ mà kết luận : “Thâm nho và nồng phong kiến tệ hại đó đã tạo nên sự lãnh đạo mạng lịnh. Cái bọn Nam kỳ là dân thuộc địa nên nhiễm tư tưởng tự do bình đẳng của phương Tây.” Điều nói đây cũng là điều không thể bỏ qua khi chúng ta nhìn vào sự thống nhất đất nước.

23. Tôi Cũng Thế Thì…
Tôi đã tính sai. Vì lòng tôi trong trắng, ngỡ là những người anh em họ không quên rằng ĐCS là một sự liên hiệp của những người giác ngộ theo cùng một lý tưởng – lý tưởng CS với nhau như tay chân và cùng ra sức “mầy kéo gỗ, tao lợp nhà” cùng chung sức xây dựng lâu đài CSCN.
Tôi nghĩ bây giờ đã giải phóng miền Nam, công việc bề bộ và khó khăn triệu lần hơn đánh giặc thì “người ta” phải nghỉ tới “bọn già” này.
Nhưng mà, sợ nó cứng đầu nên người ta làm bài điếu văn ca ngợi chính sách chính phủ của “Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam” và cho một trí thức lên đu bay.
Còn những người uống một liều thuốc đỏ : ra đi tập kết cũng là làm CM mà lại gần Trung ương sẽ được học thêm mà xây dựng cho miền Nam tương lai; bây giờ tóc đã bạc trắng trở về, được người ta nhân danh nhân đạo mà cho hưu trí. Nhưng người “thề trước ba ông Chủ tịch Tây và ông Chủ tịch ta” nguyện hy sinh cho CM đến hơi thở cuối cùng thì không thể là người hưu trí được.
Ở trên thì như vậy. Ở dưới thì… ở các xã phường mọc lên một số cường hào mới. Họ trù ẻo “mấy thằng già hưu trí có chết hết đi mới cho êm chuyện”.
(Tới đây tôi có lời nhắn với vài anh trí thức VN ở hải ngoại. Những anh này thông thái chê trách CNCS. Họ quên rằng lịch sử làm ra bởi con người. Xin hãy xem những người này :
Lê Đức Thọ
Trường Chinh
Hoàng Quốc Việt
Đỗ Mười
Nghe tới tên họ Clio, Nữ thần sử thi cũng trốn đi. Còn ta trước hết coi quê hương họ ở đâu)
Tôi nói rằng họ là những người “dầm mưa”, rất sợ chúng tôi.
Mà sao lại sợ chứ, chúng tôi can ngăn Hợp tác hóa nông nghiệp và Cải tạo tư sản (chứ có làm gì đâu ?)
(Ai không tin cứ hỏi Võ Văn Kiệt coi, có phải là một bửa sáng tươi tỉnh tôi đến Ngài, và nói về phải cẩn thận trong việc Cải tạo tư sản thì Ngài đưa hai nắm đấm cho tôi).
Tôi đã từng nói dóc : “Cái bao đầy để đâu nó cũng đứng”.
Thế thì sung sướng thay tôi viết được. Tôi liền chào đất đai thủy thổ bằng “Chúng tôi làm báo” (1977). Vỏ Văn Kiệt khen nức nở.

24. Chợ Đệm Quê Tôi
Sách ra rồi, Hà Nội có thơ vô của nhà văn, nhà viết tuồng Bửu Tiến.
Trong bức thư dài 8 trang giấy học trò, Bửu Tiến không tiếc lời khen bạn mà còn tinh ranh nói rằng tôi nói tục tĩu là như tát nước bẩn vào mặt kẻ đương quyền.
Tôi cám ơn mà viết thơ trả lời :
“Anh Bửu Tiến này, anh ranh lắm. Nhưng anh bỏ qua cái tính tôi gần nhân dân và nhớ mẹ tôi.
Thái độ ấy làm cho tôi biết nhiều câu nói dân gian thú vị lắm.
Anh Bửu Tiến nè, trong “Chợ Đệm quê tôi”, ở những dòng cuối cùng, hai thầy trò, có hô khẩu hiệu “Nào ! Hô sống”. Tôi thích lắm mà đã mượn của Lénine.
Ông đã nói ở đâu đó, câu “to be or not to be”- chỉ có trẻ con như Hamlet mới nói vậy.
Chứ đối với chúng ta thì bất cứ như thế nào, ta cũng phải sống mà thôi. Tôi kết thúc cuốn sách bằng nỗi lòng thầm kín của tôi nghe có có khoẻ không ? Thân mến…”

Tôi ăn được cái gì ngon là nhớ mẹ. Tôi đang được nhà khảo cứu văn học Bằng Giang khen !
Trong văn học Quốc ngữ ở Nam kỳ (1865-1930), Bằng Giang viết :
“Từ Trương Vĩnh Ký đến nay, còn không bao nhiêu người lựa chọn phong cách khẩu ngữ tự nhiên cho câu văn xuôi quốc ngữ. Khuynh hướng phong cách ngôn ngữ tự nhiên thấy rõ ở Hồ Biểu Chánh, xuất hiện nổi bật ở Vương Hồng Sển, Nguyễn Văn Trấn, đếm không hết đầu ngón tay.
“Chợ Đệm quê tôi” (1985) của Nguyễn Văn Trấn cũng đặc sệt khẩu ngữ. Tác giả viết “lịch sử nhỏ của quê mình mà sử dụng thức đối thoại ròng trong suốt 500 trang”. (Hơn một trăm năm trước, Trương Vĩnh Ký cũng viết “Kiếp phong trần” (1882) hoàn toàn bằng hình thức đối thoại nhưng với số trang khiêm tốn hơn). Câu văn và giọng văn của Nguyễn Văn Trấn thì không thể lẫn lộn với ai được.
Trong cá thể loại văn học tiểu thuyết có khả năng gần với khẩu ngữ tự nhiên hơn hết qua ngôn ngữ của nhân vật. Nhưng bây giờ không nói là khó mà phải nói là rất khó tìm ra một tác phẩm nào viết câu văn xuôi theo phong cách khẩu ngữ tự nhiên trơn tuột như lời nói kiểu “Chuyện đời xưa” (1866), “Kiếp phong trần” (1882) của Trương Vĩnh Ký hay “Chợ Đệm quê tôi” (1985) của Nguyễn Văn Trấn.

25. Dù Tôi Có Muốn…
Anh ở đây mà với hai vợ chồng em. Đi đâu cho mệt. Viết gì đó thì ngồi đó mà viết.
Đó là tiếng nói ân tình, êm mát như giọt mưa đêm trên trí nhớ của tôi.
Nhưng đối với tôi, chỗ ngồi viết sướng nhất là nhà thương.
“Chúng tôi làm báo” viết ở bịnh viện Thống Nhất.
“Chợ Đệm quê tôi” viết ở trạm điều dưỡng Long An.
“Chuyện trong vườn lý” viết ở trại Âu Dương Lân.
Tôi xin lưu ý “Chúng tôi làm báo”ra năm 1977. “Chợ Đệm quê tôi” cắn được đuôi nó cho tới 1985.
Tôi chờ những 8 năm. Thời gian ấy tôi xin phép tái bản logich (mà người ta khuyên nên thêm chữ “vui” để dễ bán). Từ ở miền Bắc viết về vấn đề này tôi đã nghĩ tới làm sao giúp bạn trẻ tập tành thói quen : suy nghĩ, nói năng có lý và chấp nhận điều gì sau khi đã suy nghĩ chính chắn.
Tôi dịch “La cousine Bette” của H. de Balzac, từ khi nghe Gorki nói, ai mà chưa đọc “Chiến tranh và Hòa bình”, “David Copperfield”“Cousine Bette” là coi như mình đọc tiểu thuyết chưa đủ. Và thực tình vì có nghĩ đến những đứa em như Diệp Minh Châu, Bích Lâm, Nguyễn Sinh v.v.; gặp tôi thì họ nói thiên hô bá sát, mà tôi đã phải nói với họ, cứ ngồi mà chờ người ta mời mình phát biểu ý kiến về văn học, nghệ thuật mà tự mình không ra sức sáng tác thì đừng gặp mặt nhau nữa.
“Chợ Đệm quê tôi” mà in được, thì theo lời người có hiểu biết nói là nhờ có người yêu văn học mà không nịnh như Hà Mâu Nhai.
Nay tôi đang nằm Nguyễn Trãi, mấy vị hào kiệt ở Bến Chương Dương sai người vào đưa tiền bồi dưỡng để viết “Trương Vĩnh Ký”.
Tôi được giấy của bác sĩ Lương Phán gởi cho bộ phận thu viện phí, biểu : “Tha cho ông này cả tiền cơm lẫn tiền thuốc” (1988) mà ra viện.
Tôi viết “Trương Vĩnh Ký” trong có hơn 8 tháng.
Bạn biết tôi chạy bay tóc trán để đi in. Nơi nào cũng không dám lại còn nói : “Thường vụ tỉnh ủy có ý kiến là in cuốn này ra thì miền Bắc sẽ nói.”
Miền Bắc là ai ? Sẽ nói là nói cái gì ?

Tôi nhớ má tôi quá. Má tôi đã nói với tôi :
“Khi đẻ con ra, mẹ nhờ bà mụ “móc miếng” con thật sạch để cho con có ngu thì cũng ngu vừa vừa”.

Tôi chợt nhớ ra. À, có Đoàn Thanh Hương trưởng của “Ban Khoa học Xã hội thường ủy”.
Ngày ở Hà Nội, trong Ban Khoa giáo, nó một chi bộ, nói với tôi :
– “A này, ông Hương, nhất tử thọ hoàng ân, toàn gia hưởng thiên lộc, bây giờ trong triều đình, ông cũng có chức lớn. Vậy cũng làm cho anh em được nhờ chớ !”
Đoàn Thanh Hương :
– “Nói chi cho tội cháu vậy chú ? Chứ chú định nhờ gì ?”
Tôi :
– “Một cái biên khảo về Trương Vĩnh Ký.”
– “Được quá ! Nhưng tôi đề nghị là in ra làm tài liệu tham khảo nội bộ. Được hôn ? Và tựa sách là gì ?”
Tôi :
– “Trương Vĩnh Ký-Con người và sự thật”.
– “Xin chú sửa cho. Con người và sự nghiệp.”
– “Được, đuợc hết. Nhưng đây là chỗ rất thân nên tôi xin chú cho tôi 200 đồng để tôi thuê đánh máy bản thảo.”
Hương :
– “Để phần đó cháu lo cho.”
– “Không được đâu. Chú đưa cho người ta đánh máy… Có nhà xuất bản chó má đã ăn cắp tài liệu của tôi…”
– “Với chú thì sao cũng được. Nhưng mà cho cháu nói cái này : ‘Chú cháu mình đều cần phải tồn tại nên chú hãy bóp bụng mà coi công trình của chú là một tài liệu lưu hành nội bộ và “sự thật” đổi ra thành sự nghiệp để đở “chiếu tướng” người ta.’ ”
Tôi xin cho tôi bắt tay một cái. Tôi vui như mẹ tôi sống lại mà !

In một quyền sách, không có gì là lật đổ cả mà cũng “to be or not to be”- “Chú cháu ta cần phải tồn tại”.
Quả thật triết gia Joubert nói có lý :
“Các cuốn sách đều có kẻ thù như của con người nào là lửa, ẩm ướt, mối mọt và thời gian; và chính là nội dung của chúng nó” (Les livres ont les mêmes ennemis qua l’homme, le feu, l’humidité, les bêtes, le temps, et leur propre contenu)

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s