Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 12)

26. Con Tằm Trong Tơ
Tôi đã có ý kiến, đất nước ta tốt nhất phải là một Liên Bang, của hai hoặc ba miền.
Ngày nay sự đấu tranh có mặt khắp nơi. Nhưng vì tuổi không còn là lễ hội, góp mặt vui chơi, cũng không phải là một kỳ thi mà ai cũng ra sức cho mình được đậu.
Nhưng cũng vì tuổi mà thiên hạ nói “lão thành” nên tự bắt buộc phải bày tỏ ý kiến của mình về tôn giáo, chính trị, trong văn hóa nghệ thuật, trong luân lý. Nghĩ rằng “đã sinh ra… phải có gì”, ta phải sáng tạo; không sáng tạo thì lựa chọn một cơ chế có sẵn nào đó cho MÌNH. Sự sáng tạo thì giỏi dang cần cù. Sự lựa chọn, đắn đo bứt rứt.
Cho nên vậy mà cuộc sống nơi tôi là phòng làm việc, gần như một phòng thí nghiệm, bắt phải suy tư. Có bạn đến thăm thì trau đổi rồi cười rang.
Bạn về thì chủ nhà mghiêm trang, thầm lặng, âu lo…
Tôi đang nghĩ tới cơ chế liên bang mà tôi chọn chữ.

27. Những Thử Thách Hậu Chiến ở Việt Nam Ta
Nước nào qua chiến tranh cũng có “khó khăn hậu chiến”. Nước ta đánh giặc dài ngày thì ắt phải khó khăn không ít thì nhiều mà bở quân địch để lại cũng có. Cũng có bởi gia chủ gây nên mà ở đây ta nói.
Thủ tướng Phạn văn Đồng vào Saigon, một ngày đầu hậu chiến.
Về Bắc ông nói tình hình bằng một câu buồn : “C’est regrettable” (ie. Rất tiếc).
Sao ông là Thủ tướng mà ông nói lần này là lần thứ hai : “Ce n’est pas moi qui décide” – (Người quyết định không phải là tôi ?)

Không có gì đáng tiếc cả, một anh ở Quảng Trị nói với tôi :
“…
20 năm trước anh lấy thúng úp 17 triệu dân; họ kêu la không xiết. Bây giờ anh lại lấy thúng ấy, úp hơn 70 triệu dân, thì con voi nó giẫm nát thúng anh là phải chớ hối tiếc cái gì !”
Napoléon 1er có nói : “Đi lên dốc thì có thể ngừng, đi xuống dốc thì khó ngừng lại được”.
Những chương trình và chiến lược kinh tế với sự chăm lo của miền Bắc làm cho từ 1975
đến 1979, trong ba năm, miền Nam tuột dốc băng băng đuổi theo kịp miền Bắc đang ngồi dưới chưn dốc thở hỗn hển mời nhau cơm độn.
Sự việc thì rõ ràng. Nhưng nguyên nhân thì chưa ai ở Hà Nội mà dám nhìn thẳng mà phanh phui. Trong khi thống nhất cấp kỳ, Hà Nội đề ra hai nhiệm vụ hàng đầu là, thứ nhất thiết lập một hệ thống kinh tế duy nhất cho cả nước và thứ hai là phát động cả nước thực hiện chương trình phát triển kinh tế.
Kể cũng là Lénine lắm đó chớ !
Nhiệm vụ quản lý nhà nước hiện được đặt ra trước mắt chính quyền Xô viết còn có một đặc điểm nữa là : “Ngày nay có lẽ lần đầu tiên trong lịch sử cận đại của các dân tộc văn minh, đây là một sự quản lý, trong đó cái có ý nghĩa trọng đại hơn cả không phải là chính trị mà là kinh tế. Thông thường, danh từ “quản lý” gắn liền chính là và trước hết với hoạt động chủ yếu hay thậm chí, thuần túy mang tính chất chính trị. Thế nhưng, chính cơ sở, chính thực chất của chính quyền Xô viết, cũng như chính thực chất của sự quá độ từ xã hội tư bản chủ nghĩa sang XHCN lại là ở chỗ các nhiệm vụ chính trị giữ địa vị phụ thuộc so với các nhiệm vụ kinh tế.
…”
Những chương trình và chiến lược kinh tế ban đầu thất bại cũng như những biện pháp sửa chữa. Tất cả chỉ tiêu kinh tế đã giảm từ 1975 và tới 1979 là điểm nguy kịch.
Nguyên nhân chủ yếu rõ ràng là sự lãnh đạo không ngang tầm với đòi hỏi của tình hình. Cái nguyên tắc dân chủ tập trung đã lòi ra chỗ hóc. Không thể có dân chủ trong lãnh đạo của Đảng CS được ! Thì coi ! Mười mấy vị trong Bộ Chính trị, thực tế chỉ có 6 người. Sáu vị lãnh tụ ghê gớm trong chiến tranh, nay hóa ra lãnh tụ tồi mà lại có “bịnh kiêu ngạo CS” “đánh Mỹ còn nổi kia mà !”. Có nhiều vụ việc, dù là quan hệ đến quốc gia mà cũng chỉ do một người định đoạt. Vụ xua binh đi Campuchia được quyết bởi mấy người ? Thậm chí sự thống nhất đất nước này do ai bày đặt ?
Những lãnh tụ cấp thấp hơn – Trung ương Ủy viên và Bộ trưởng – thì làm sao dám tỏ ra hơn cấp trên nên nói chung họ làm ăn kém hiệu quả so với chóp bu của đám già cỗi, suy nghĩ cứng nhắc, (thậm chí có ông đọc hai lần một trang “đít-cua” đánh máy mà không hay) dựa trên tổ chức nhân sự lưng dẻo, gối chai, không thích thú lắm với những người có độc lập suy nghĩ, những nhà kỹ thuật và kinh tế có khả năng mà nước tư bản đào tạo cho.
Sự xây dựng và quản lý kinh tế không thấy có khởi sắc cũng phải. Vì nếu phụ trách những ban Khoa học Nhân văn thì “tha” họ đi; đằng này họ lãnh đạo các ngành khoa học chính xác, đặt biệt là những lãnh vực liên quan đến kế hoạch hóa và vận hành tiền tệ thì đa số họ không có kinh nghiệm và không đuợc đào tạo.
Bác Hồ ơi ! Nếu Bác còn, thì về kinh tế Bác có thể giải quyết tốt tới đâu chưa biết. Chắc chắn là sẽ không có cái tồi tệ cướp của giết người, không có tồi tệ lãnh đạo Đảng dối dân, không có khả năng học tập từ lầm lổi của mình, để cho sai lầm chồng chất, dẫn nền kinh tế son trẻ của Saigon tới suy sụp, mặt nhăn má hóp như bà già sắp chết.
Mong Bác Hồ có mặt trong Nam là từ ngày 1er Mai (xin đọc dùm bằng chữ Tây) 1975.
Chứ như tới 1979 đây rồi mà mong Bác sống lại là mong Bác làm một Hercules, dọn chuồng ngựa của Augias ? Tội nghiệp Bác ! (ie. “Nettoyer les écuries d’Augias” : Hãy làm sạch chuồng ngựa của vua Augias. Trong thần thoại Hy Lạp, Hercules (Heracles), vị thần sức mạnh, đã được yêu cầu làm sạch chuồng ngựa rộng lớn của vua Augias trong một ngày duy nhất, mà ông thực hiện bằng cách chuyển hướng một dòng sông).

Nói chung lại. Tình hình nghiêm trọng hiện nay về kinh tế, chủ yếu là thất bại trong sự lãnh đạo. Cái hy vọng được cải thiện, sao nó xa xôi quá đỗi đối với tôi.
Chỉ thấy tình hình kinh tế tiếp theo thời kỳ 1979 là một cuộc lãnh đạo lén lút “bay” đi ăn đêm, là một cuộc liên miên đi “viếng thăm” – một lần nhiều nước – là một cuộc chạy như đèn cù, để cho lãnh đạo được phép, lúc nào cũng nói được tình hình có những thay đổi tích cực, nhưng mà… nhưng mà…! Thì cho tôi nói về…

==================================

(II) PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Không thể chối cãi về mối lo của Hà nội là sự phát triển kinh tế, như vừa mới nói.
Nhưng lo làm sao ?
Lo bảo toàn quyền thống lãnh để thu “triều cống”. Cái đó là trên hết, bị che lấp bởi cái màn những nhiệm vụ kinh tế trước mắt, cụ thể từng việc nên ít người thấy.
Nhưng nếu anh đã gấp rút ”thống nhất về hành chính” hai miền đất nước thì sự phát triển kinh tế đòi hỏi một sự chỉ đạo chiến luợc cho sự phát triển toàn diện. Mà hỡi ôi ! Nơi đây lại bo bo địa phương chủ nghĩa. Tư tưởng địa phương chúa đối với địa phương chư hầu !
Trong sự phát triển toàn diện ấy, tôi thấy phải có một số điều kiện.
(Tôi vốn có cái hiểu đã viết ra trong tập sách “ ‘Lôgich’ điều kiện là gì ?”
Là môi trường, là những hiện tượng chung quanh có ảnh hưởng đến sự tác động lẫn nhau giữa nguyên nhân và kết quả).
Điều kiện cần thiết đầu tiên cho phát triển kinh tế cả nước là sự lãnh đạo sáng suốt quốc tế chủ nghĩa (khái niệm đối lập với địa phương chủ nghĩa) và theo đó mà hạ quyết tâm. Thường ngày sau Lê Duẩn chết, Hà Nội đều thôi thúc quyết tâm nhưng không dám quyết rạch ròi hướng kinh tế của HAI miền. Tuy nhiên cái lương tri cũng hiểu, phải ăn sinh nhựt cho đứa con non, cái “tứ giác lúa gạo” (ie. ?) không thể nói là quyết tâm. Mà phải nói là sự thấy ra sự tự nhiên.
Mà khổ ! Nín đi cho êm, chớ mà nói quyết tâm là sai, là làm không được.

Thành ủy Hà Nội ra nghị quyết :
“Xây dựng nông nghiệp Hà Nội trở thành một vùng nông nghiệp tiền tiến. Mục tiêu đến năm 1990, ngoại thành lương thực sẽ phát triển năm 1985, 450 nghìn tấn, năm 1990 sẽ lên tới 550 nghìn tấn/năm”

(Trích báo Nhân Dân, Chủ nhật 2-12-1984)

Đây cũng phải nói là một sự thấy ra một sự tự nhiên. Người dân ngoại thành Hà Nội người đã vẫn làm ra; chỉ có điều là không đếm mà thôi. Vậy nên có thể nói quyết tâm nói trên đây là một điều sợ xấu. Người miền Nam có lúc nào bỏ người anh em miền Bắc đói đâu. Xin đừng sỉ diện.
Thật là sự lãnh đạo của Đảng, hay nói đích xác là của Hà Nội thì thật không có phương hướng để hạ quyết tâm.
Trong khi đó thì có cái vạ rất to. Đó là cái vạ thò tay quá xa để lãnh đạo cho mũi Cà Mau được tập trung về Hà Nội. Do đó xảy ra không biết bao nhiêu điều được gọi nghe cho thông thái là “tiêu cực” (coi như sự khai thác cây gỗ, cao su, cà phê). Bên cạn lãnh đạo thì có lý thuyết gia, họ “dùi” nhiều mưu kế mà lãnh đạo không đủ năng lực nghe ra, để đến khi tai bay họa gởi mới hay (coi như cái “giá-lương-tiền”, coi như “lãi xuất”).
Điều kiện cần thiết thứ hai là bộ máy quản lý điều hành. Nhưng nơi đây bị cái vạ lớn lắm. Biên chế quá cồng kềnh.
Tôi biết lơ mơ về cái công ty lương thực của thành phố (hồi chị Ba Thi) nó bị bao vây bởi ít nhất 3 cơ quan “lương thực, thực phẩm” của Trung ương từ Hà Nội; thấy người ta ăn khoai vác mai chạy vào.
Trong tay tôi đang có danh sách các cơ quan Trung ương tại TP HCM. Phần lớn bộ nảo cũng có một hay hai, ba văn phòng tại Saigon, cũng có mang cán bộ nghiên cứu vào.
Họ đông đếm đầu hông hết. Hỏi họ nghiên cứu được gì rồi thì họ nói gọn ơ : “Nghiên cứu là một quá trình đầy tích lũy, chớ đâu phải công việc ngày một, ngày hai đã có kết quả liền.”
Anh hãy nghe tôi kể vài tên. Tên nào tên nấy đều nghe “hoách” lắm. Có cái giấu tên chỉ để là T (Ôi !, T.)
Viện quy hoạch thiết kế tổng hợp bộ xây dựng.
Phân viện quy hoạch thiết kế nông nghiệp bộ nông nghiệp.
Liên hiệp xí nghiệp chế biến cung ứng lâm sản bộ lâm nghiệp.
Phân viện quy hoạch thủy lợi-bộ thủy lợi.
Ủy ban Thanh tra chính phủ chiếm 3 nơi !

Điều đó là một sự nhân anh tổ chức mà di dân rườm ra ngồi ở Hà Nội vốn “ngồi chơi đấu láo”.
“Thống nhất đất nước” để mà thực thi chiếm đoạt chắc ?
Tôi không có tri thức để hiểu cặn kẽ (như người ta nói).
Điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế là một kết cấu hạ tầng, thể chế hiện đại, có liên quan đến nền giáo dục.
Người ta nói :
“Thể chế kinh tế hiện đại của VN ta, không đáp ứng được những yêu cầu kinh tế trước mắt; chưa nói tới những yêu cầu khó khăn hơn của công cuộc xây dựng quốc gia. Cơ cấu hiện tại đã dày đặc, lại yếu và thiếu quyền lực. Đặt trưng của cơ cấu này là sự chồng chéo lên nhau của những cơ quan. Kết quả nền kinh tế tổ chức cồng kềnh, điều hành rất kém, sự kiểm soát thì coi bộ ngặt nghèo lắm nhưng quản lý tồi (người ta nói sao tôi hay vậy).
Nhưng cái tôi biết (nguyên là Vụ trưởng Vụ giáo dục của Ban Đảng đây mà) là những yếu kém kỹ thuật, thiếu dữ kiện tốt cho việc làm kế hoạch và thiếu hệ thống báo cáo, thống kê thích ứng.
Nghiêm trọng là sự yếu kém về giáo dục, có xu hướng đưa nó vào lãnh vực phi sản xuất về mặt kinh tế; “tiên học lễ, hậu học văn”, một nền giáo dục không tầm cỡ và nguồn tài chính không đáp ứng nổi.
Tôi không dám thày lay nói đến sự yếu kém của hệ thống Đại học và chất lượng giảng dạy của nó. Để cho “bà con ta” ngó qua Hàn Quốc và Singapour mà thi đua với họ thử coi. Chứ trước mắt, VN ta chưa có cơ sở giáo dục cần thiết để phát triển kinh tế.

Đó là nói đào tạo mới.
Còn như cái cũ ? Đội ngũ công chức chính họ là máy điều hành sự phát triển đất nước.
Báo Tuổi Trẻ (số Chủ nhật 22-5-1994) thở ra thành câu hỏi, một nỗi ưu tư.
“Đội ngũ công chức liệu có thốt khỏi nguy cơ tụt hậu ?
Và giài bày :
“Theo số liệu… cả nước ta có 1.129.071 công chức cả nước. Trong đó 168.275 người là công chức hành chính. Cũng theo đó trong lãnh vực quản lý hành chính có 30% công chức ở khối Trung ương và 60-70% ở khối địa phương chưa đủ trình độ theo yêu cầu của các nghành công chức. Đa số cán bộ ở chính quyền cơ sở, học chưa hết cấp 2, cán bộ cơ sở là người dân tộc có 30% mù chữ. Số cán bộ quản lý được học về quản lý nhà nước ở cấp tỉnh chiếm 12,8%, ở cấp huyện 10,3%, ở cấp xã 6,4%, về quản lý kinh tế ở cấp tỉnh 33,8%, cấp huyện 16,2% và cấp xã là 7,7% mà chủ yếu là đào tạo ngắn ngày. Thực trạng hụt hẫn về kiến thức và bất cập về năng lực điều hành, về phương pháp và kỹ năng công tác được ghi nhận là phổ biến. Số lượng biên chế đông nhưng ở nhiều nơi lại thiếu công chức về quản lý nhà nước, luật pháp, kiểm tốn, kinh tế đối ngoại. Thiếu cán bộ giỏi và chuyên gia đầu ngành.”

Đã vậy họ còn ở vào độ tuổi tương đối cao : “Cán bộ cao cấp đương nhiệm tại các cơ quan Trung ương ở độ tuổi dưới 50 chỉ có 10%. Cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh có có tuổi bình quân 48, trong đó 37,2% trên 50 tuổi.”
Tuổi tác không nói gì về chất lượng nhưng đó là tiêu chí quan trọng để bảo đảm tính liên tục của nền hành chính quốc gia.
Một đội ngũ công chức nhiều và bất cập như vậy, còn hệ thống đào tạo và bồi dưỡng thì sao ?
Bộ trưởng Phan Ngọc Tướng cho biết việc đào tạo bồi dưỡng hiện nay mang tính tự phát. Có trường mở lớp tùy thuộc vào kinh phí, có trường phải tự biên, tự diễn toàn bộ qui trình và nội dung đào tạo. Đã vậy mỗi địa phương, mỗi tổ chức, trường lớp khác nhau. Nơi ghép với trường Đảng, nơi tách thành trưòng riêng. Công tác đào tạo và bồi dưỡng mất cân đối giữa các lãnh vực. Trong các năm 1990-1993, có 7.685 công chức ở khối Trung ương được bồi dưỡng ngắn hạn về quản lý, trong khi đó ở địa phương con số này chỉ có 5.211 người. Việc đào tạo chủ yếu mới là khâu bồi dưỡng ngắn hạn. Viện hành chính quốc gia đào tạo dài hạn chỉ đạt mức trung bình 48 người/năm.

Chương trình đào tạo nặng về phần lý luận chung chủ yếu vẫn là lý luận chính trị mà ít chú ý trang bị kỹ năng thực hành công vụ. Nhìn chung ngoài giáo trình lý luận Mác-Lênin và giáo trình cao trung cấp hành chính, nhiều bộ môn khác hầu như chưa có giáo trình. Các chương trình giảng dạy thường đầu voi đuôi chuột.
Đảng đã khởi xướng xây dựng một nhà nước pháp quyền. Chính phủ đang ráo riết chuẩn bị cho các bưóc đi cải cách quan trọng nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển đất nước. Những chuyển động đó cho thấy một mong muốn mảnh liệt, đàng hoàng sánh vai với bất kỳ một đối tác nào đi vào làm ăn chính quy hiện đại với bạn bè. Song mong muốn ấy liệu có trở thành hiện thực khi mà đội ngũ những người thực hiện nó đang có một bộ phận không nhỏ bất cập về năng lực, hụt hẫn về trí thức ?
Gần đây nhiều nhà lãnh đạo thường đề cập đến các nguy cơ của đất nước, trong đó nguy cơ tụt hậu luôn được nhấn mạnh. Sự bất cập của đội ngũ công chức hiện nay phải chăng cũng là một phần trong nguy cơ tụt hậu đó ?
(Ở đây có một điều về ngữ ngôn muốn thương lượng với “Tuổi Trẻ”. Các anh nói theo “người lớn” mà không kịp thấy ra, chữ “nguy cơ” là một khái niệm “ở thì” tương lai.
Chớ trước mắt ta lệch hướng thì đã lệch hướng, rồi tụt hậu thì đã ngồi dưới hố, mà còn nói nguy cơ chẳng phải là cho đở mắc cỡ hay không ?)
Tôi đã nói được rồi hai điều kiện, một là lãnh đạo sáng suốt vô tư.
Kế đó có cơ cấu hạ tầng, cớ chế hiện đại để phát triển kinh tế.
Bây giờ tôi nghĩ về điều kiện thứ ba là môi trường để phát triển.
Có thể nói đây là môi trường xã hội để tiếp thu thành quả đạt được của thế giới các nước đang phát triển.
Đây là cái suy nghĩ logich của tôi, cái suy nghĩ đã làm nảy sinh trong tôi chính kiến về một Liên Bang VN.
(Có thể gọi Liên Bang (các) Cộng hòa VN. Cộng hòa thì có cộng hòa dân chủ, có CHXHCN. Ta không nói được rõ ra thôi)
Cái liên bang ấy bao gồm hai miền.
Miền Nam lấy từ Pleiku, Ban Mê thuộc tới Mũi Cà Mau và Côn Lôn, Phú Quốc..
Người trí thức Nam kỳ, tên Trương Vĩnh Ký ngày xưa đã nghĩ đến sự phát triển khác nhau của ba kỳ. Ông đã có ý kiến với toàn quyền Paul Bert là kêu gọi sự đầu tư của người Trung Quốc và của Chetty vào sự khai thác hầm mỏ rất giàu của Bắc kỳ.
Trung kỳ thì đào sông ngang đất nước thông ra biển để buôn bán với Lào và với thế giới.
Nam kỳ thì bào vệ chủ quyền của Nam triều về lưu vực sông Mekong (cái đồng bằng sông Cửu Long ngày nay) phát huy thế mạnh là sản xuất nông nghiệp (xuất khẩu gạo, cao su, café và nhiều thứ lâm sản).
Cái miền Bắc “xí phần” với miền Nam mà cưỡng ép sự thống nhất đã phá hoại môi trường của chính phủ CM miền Nam tranh thủ sự giúp đỡ của các nước tư bản, của Asean.
Cái thống nhất cùng sánh vai tiến lên CNXH, đối ngoại thì làm xấu đi quan hệ có thể thiết lập được; đối nội thì gây ra một sự sợ hãi ngay trong từng lớp trung lưu giàu có và trí thức. Cho nên nhiều người đem vàng mà đóng cho người “CS” để làm thuyền nhân hợp pháp và nộp mạng cho cá và hải tặc.
Nếu cứ đem địa phương chủ nghĩa mà buộc tội nó đã khuấy nhiễu môi trường chính trị, kinh tế của miền Nam thì ta chưa nói cái gì nhiều.
Nhớ lại coi. Ngày xưa ta đã dám chia hai mặt trận, làm hai ngọc cờ, lập hai chính phủ mà cái biện chứng là “tuy hai mà một”.
Sao ngày nay miền Bắc và miền Nam về mục tiêu kinh tế và phương pháp thực hiện của mỗi miền trong chiến lược chuyển hóa dân chủ ở miền Nam; còn miền Bắc thì cứ việc, muốn làm gì thì làm với CNCS với cơ chế một đảng, nhất nguyên về tư tưởng, nhất nguyên về ý kiến, vân vân… Ta không dám làm vậy, mà cứ lại cùng tiến lên ! Cùng tiến lên đâu ?
Những bộ óc tỉnh táo và nghiêm túc (không khóc như trẻ con) đều nghiêng về cần thiết phải chuyển hóa dân chủ chế độ CS của ta. Tôi có tính đến sự lãnh đạo chưa dám nghĩ trọn vẹn như vậy nên xin thưa, cho cái miền Nam này (cũng là của anh, chớ của gì riêng tôi ?) đi trước. Nó dọn dẹp môi trường dân chủ để không nói gì xa mà chỉ để khôi phục lòng tin của những thuyền nhân sống sót, của “cộng đồng người Việt hải ngoại có trọng lượng một siêu cường” (Nguyễn Gia Kiểng).
Chừng nào vấn đề môi trường mà không được nhìn bằng con mắt sách ghèn thì không thể nói tới sự phát triển kinh tế với…

==================================

(III) “THỰC TRẠNG”

Thực trạng đất nước như vầy :
1-Môi trường các điều kiện là nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế, thiếu nguyên liệu.
Tôi xin nhấn mạnh. Đây là sự nghèo nàn sâu sắc, dưới xa những chuẩn mực thông thường về mức sống thấp nghèo.
Ta phải đi từ sự nghèo nàn quá mức này mà xét tư cách con người trong xã hội ta.
Tôi không nói nhiều hơn nữa sợ e sự quan sát đem lại sự mích lòng.
2- Đã nghèo mà nuôi ăn nhiều người. Nhà nước ta phải lo đối phó với Trung Quốc, Polpot, những âm mưu lật đổ nên phải chịu đựng một lực lượng bộ đội, công an rất lớn.

Ta có một bộ máy hành chính rất đông ngưòi, vì tình tạng chung của đất nước là nghèo nên cắt giảm biên chế thì công chức ấy lấy gì mà ăn ? Hố đâu mà chôn họ ?
Ta có sự lãnh đạo của Đảng. Nó có nhiều tổ chức vô tích sự. Tôi mong như ở Pháp chẳng hạn, anh phải lấy tiền “nguyệt phí, Đảng phí” mà trang trải tổ chức của anh.
Ta có mặt trận, làm bộ mặt dân chủ. Ta phải tốn trợ cấp. Nhưng chính trợ cấp đó nó làm mất phẩm chất tức là hủy hoại nhân cách của con người. Ở nơi đâu mà họ không phải là thi mà vào; mà họ là đại biểu được “bầu” bởi nhiều cách thiếu lương thiện. Ta phải nuôi dưỡng những tổ chức thực ra là của Đảng nhưng vẽ cho nó mấy chữ thành viên của Mặt trận.
Nuôi “cố vấn” quả là một nguy cơ. Vì nhà nước ta có tánh CS, nên sợ họ đã quen đi xe hơi, nhà cao cửa rộng, sợ họ làm người như F.Mitterand khi mãn chức Tổng thống, thì xấu hỗ mà bày ra cái ngạch cố vấn. Có người đang tại chức thì làm chẳng ra gì, nay đến tuổi “nghỉ hưu” lại còn được ký hợp đồng làm cố vấn; có xe đưa rước và thêm một món lương. Cứ sống mà xem những vị “Mười Anh Nông Dân” gia nhập đạo quân cố vấn.
3- Sự phụ thuộc vào Liên Xô và Hội đồng tương trợ kinh tế về lương thực, hàng hóa, dầu mỏ, nguyên vật liệu.
Những điều nói đó là sự kiện trung tâm trong thực trạng kinh tế nghèo nàn.
Nếu muốn nói đến sự kiện phụ ?
Mức sản xuất thấp.
Trong nông nghiệp có sự tăng dần. Vì người nông dân Nam bộ không chịu ngậm trong miệng “ơn Đảng lãnh đạo” mà khoanh tay chịu chết đói với “đồng bằng sông Cửu Long”.

Còn trong công nghiệp thì sụp đổ thấy rõ.
Trong tư tưởng của các bậc CS già (tại chức) thì xây dựng CNXH phải đặt lên hàng đầu sự phát triển công nghiệp A nặng, và công nghiệp nhẹ B. Nhưng trong thực trạng bị sụp đổ về công nghiệp thì mấy kỳ Đại hội Đảng gần đây ta không thấy có cương lĩnh.
Phải mời người bí mật viết cương lĩnh giúp (chứ nếu mở hội thảo bàn về cương lĩnh, chẳng hóa ra làm Đại hội rồi sao ?).
* Đầu tư vốn, nói chung không có tiền “đối tác” nào khác hơn là bán đất của tổ tiên.
* Một kết cấu hạ tầng về kinh tế yếu kém, đặc biệt là về huấn luyện và đào tạo; tài năng thiếu ngay trong quản lý hành chính; một cơ chế kế hoạch nghèo nàn; một hệ thống giáo dục không có khả năng đáp ứng những đòi hỏi của khoa học kỹ thuật trong một nền kinh tế như một nước đang phát triển (chưa dám nói một nước phát triển).
* Một sự gia tăng dân số nhanh chóng (tôi đã sống qua thời 17 triệu, rồi 20, 25 triệu đồng bào và giờ đến gần 80 triệu).
* Mức xuất khẩu thấp do thiếu hàng, hàng xấu làm mất đi một khả năng khơi nguồn ngoại tệ; cán cân thương mại xấu đi.
* Một hệ thống kinh tế Trung ương không đáp ứng, không thích hợp với yêu cầu kinh tế của nhân dân địa phương này địa phương khác. Tinh thần lao động thấp.
* Lạm phát kèm theo nhiều “hiện tượng tiêu cực”. Vì Đảng ta trung thành với truyền thống dân tộc “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” cho nên biểu phải nói là “tiêu cực” chứ đừng nói là “ăn cắp” mà mích lòng ông ăn cắp.

Kể ra thì trong cả nước, ai cũng thấy bức tranh xác thực về kinh tế đất nước và tính chất của những vấn đề đang đụng vào trán.
Với sự lãnh đạo của Đảng ta, người bàng dân hay cán bộ mà có góp ý kiến gì thì lập tức nghe trả lời : “Trung ương Đảng đã biết hết cả rồi và còn biết hơn anh. Không thấy lời phát biểu về BỐN NGUY CƠ (mà tôi đã nói chữ nguy cơ dùng ở đây là “impropre” = không xác đúng) là sự công nhận của lãnh đạo Hà Nội về thực trạng không vui của tình hình đất nước đó sau ?” Nhưng sự “tôn nghiệm” không cho phép ai là người còn giữ vững tinh thần CM mà có thái độ nào khác hơn là thái độ lạc quan tin tưởng ở tương lai.
Tôi kết thúc đoạn này sao cho chung thủy với tiêu đề, con tằm có chết cũng nằm trong tơ .
Đời tôi, ngẫu nhiên làm nghề báo. Làm gì rồi cũng quen. Lại quen với mắt láo liên của nhà làm báo mà đã thấy ra những thực trạng âm u của đất nước mà còn thấy ra đây, dính dáng với nghề tư tưởng và văn hóa, cái thực trạng quá ư nghèo nàn về tư duy khoa học, triết học của chúng ta.
Tôi cũng có cái mông lung nghĩ đến nước Đức, từ thuở nó có tên Germanie. Nó đã từng bị xâm lăng, chia cắt, cai trị khắc nghiệt. Nhưng trong tình trạng người dân sống cúi đầu buồn lại sinh ra những nhà tư tưởng lỗi lạc nhất thế giới : Hegel, Kant, Marx, Engels Haine Juerbach, Einstein…
Nhờ đâu mà được vậy ?
Nhờ dân tộc ấy có “nước chưn” học tập. Tôi nói “nước chưn” là để nghĩ tới : có nước đồng, nước sông mới dẫy.
Như ta có Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Khắc Viện, Trần Đức Thảo; họ có bị vùi dập thì như cỏ dưới tuyết trong cảnh isolement et clandestinité -hiu quạnh và bí mật- (Nguyễn Mạnh Tường); họ càng nghĩ ra được những cái có giá trị nhân văn. Vì họ có vốn học thức.
Còn cán bộ hiện nay của ta. Vì là còn đang làm việc. Mà ăn cơm chúa ! Mà vốn từ chúa đến quần thần nói chung là dốt.
Chúa bảo đứa nào không tin tưởng vào tương lai là tinh thần CM đả sa sút. Học trò của Marx mà không nghe lời Marx dạy : “Đừng bỏ công mà dự đoán tương lai.”
Bất cứ lúc nào hiện thực cũng tỏ ra thô lỗ, bướng bỉnh; chứ nó không hoàn toàn đáp ứng cái “xây nhà trên cát”, cái kiến trúc lý tưỏng duy ý chí của các nhà nói lải nhải “đổi mới”, cải cách tư duy.
Vã lại trên cái thiên đàng không biết suy nghĩ, chúa cũng dốt.
Con người làm lịch sử của mình đã biết chia chặng thời gian. Ăn tết là chia chặng thời gian.
Ta- người XHCN đã từng chia ra năm năm làm một chặng thời gian để làm những kế hoạch năm năm.
Hỡi ôi ! Chúa hiện thời không viết cương lĩnh nổi, phải dùng “bao thư” nhờ vài kẻ thông thái viết dùm (mà tôi biết họ viết có ra gì đâu, vì họ bị nghỉ hưu “bất tại kỳ” sự sao “mưu kỳ kế” được).
Vậy thì lãnh đạo tối cao của đất nước không có cương lĩnh (thứ cương lĩnh xứng danh) thì từ nhiệm kỳ này là điểm xuất phát đến nhiệm kỳ sau là cái đích của chặng đường cái khoảng không gian ấy không hề được lấp đầy bằng những nội dung cụ thể, là từng bộ phận quan hệ hữu cơ với nhau trong một ưóc thức chung.
Lâu lâu lấy cơ hội kỷ niệm mà có những “phát biểu quan trọng”. Trên “báo công cụ”, nó cũng lập loè ánh sáng ban đêm như nấm mọc trên thân cây gỗ mục. Người thạo rừng nói là nấm chó đái, nấm độc. Vậy mà trên báo chí cứ có lời khen.
“Cái bản đề án vĩ mô này viết rất hay rất sáng, rất có trí tuệ của một tâm hồn vì nhân dân mà để công phu rất nhiều.
Tôi chỉ có tiếc rằng nếu nó ra đời và đi vào cuộc sống trước đây dăm ba năm thì đất nước ta không đến nỗi quá cực khổ”.
Không biết thầy nói gì, còn tớ thiệt là “siêu nịnh”…
Người yêu nước rất thương mến chữ quốc ngữ. Vì đã lâu có người lưu ý : “Tương lai nước ta có sáng sủa hay không cũng nhờ chữ quốc ngữ.”
Tôi có nghe người Ý, họ nói ngôn ngữ của họ là ngôn ngữ hát ca.
VN lại không tự hào được rằng chữ quốc ngữ là chữ của thơ ca sao ?
Tôi chắc là bạn cũng như tôi, đều đang e ngại là sự lãnh đạo của CS là cho chữ quốc ngữ bị nói cà lăm mà không còn trong sáng nữa.
Hỏi ai không e ngại về sụ quyến rũ của danh từ mà lò văn hóa tư tưởng đã hàng ngày gây ra.
Hãy coi như danh tử “đổi mới”.
Không ai không thấy nó đã từng có tác dụng lịch sử. Sách xưa đã có câu : “Nhựt tân, nhựt tân, hựu nhựt tân”. Đó là nói trong trường hợp thế nào kia chứ ! Chứ nói như hiện nay, nó xuất hiện trong khẩu hiệu các Đại hội và trở thành “một thứ hào nhoáng và có hại, một thứ loè loẹt vô dụng”.
Và chúng ta không thể không e ngại, người và tổ chức có quyền đang thích dùng những danh từ “mới” và “lại”; thực ra không quyến rũ, hấp dẫn được ai, mà chỉ làm cho người ta thấy những “lá khoai” che đậy sự thiếu lý luận, thiếu minh bạch trong tư tưởng, trong việc làm đó thôi.
Chấm hết đoạn lạc này, đang nghĩ coi có cách gì giã từ cho vui vẻ, những nhọc nhằn vừa nói đó không.
Ờ ! Có bài thơ chữ Tây của nhà văn De Saint-Lambert !
Diderot đã chê nát ông này.
Ấy vậy mà tài của ông cũng đã chuộc bằng một bài thơ rất hay. Chữ tây của nó như vậy.
Malheur à qui les Dieux accordent de longs jours
Consumé de douleur vers la fin de leurs cours
Il voit dans le tombeau ses amis disparaitre.
Et les êtres qu’il aime arrachés à son être
Il veut autour de lui pour périr, tout changer
A la race novelle il se trouve étranger
Et lorsqu’à ses regards la lumières est ravie
Il n’a plus en mourant à perdre que la vie.
(De Saint-Lambert)
Vì tôi không làm được thơ, nên nhờ dịch:
Đau khổ ai được thánh thần kéo dài ngày sống
Cuối dòng đời chịu vất vưởng khổ đau
Bạn bè ơi, nằm khuất dưới cỏ khâu
Người thân nữa, với xác ta tách biệt
Ta muốn quanh ta, để chết, phải đổi thay kỳ hết
Giữa lớp trẻ mới sinh, ta bổng thấy lạc loài
Và đến lúc mắt chúng chói chang, chang chói nắng trời
Ta dù chết chỉ là mất sự sống !
(Phan Xuân Hạt dịch)

Tôi có thói quen, viết cái gì rồi, được phần nào, cũng cầm chạy đi nhờ bạn đọc.
Anh này, người dân xứ Nghệ- ngứa thơ, đọc thấy chữ “chết” liền, làm thơ chích tôi, đề tiếp theo đây :
                                Tiễn Bạn
Kho chuyện dân gian đóng lại rồi
Anh đi để lại một mình tôi
Khóc chăng ? Không ! Ta chỉ cười
Cười ra nước mắt.
Sao kẻ nên đi còn ở lại
Người cần ở lại, lại ra đi.
Anh đi để lại lòng thương tiếc
Cho anh em
Cho đồng chí
Cho bạn bè
Tôi thấy anh đi miệng mỉm cười
Nụ cười còn đọng mãi trong tôi
Mặc cho ai hiểu làm sao kệ !
Ta vẫn là ta cứ thế thôi
Ta vẫn ung dung ta vẫn cười
Thương anh tôi viết mấy dòng thơ
Để tiễn anh đi, kẻo đến giờ
Thôi nhé ! Anh đi vào vỉnh cửu
Và với thiên nhiên với cỏ cây
Dòng suối thời gian trôi chảy mãi
Kẻ trước người sau sẽ đến ngày.
(Nguyễn Xuân Diệu
24-12-1993)

1. Quê Nhà Ta
Bài thơ “Tiễn Bạn” là văn tế, tế sống tôi. Quả thật khi mà đại bác của Berthe của Hitler đã bắn lọt đạn vào Mátxcôva, đám Tờ-rốt-kít loi choi đã reo mừng : Thành trì CM của Đệ tam Quốc tế sập rồi !
Tôi nói lại rằng :
“Liên bang Xô Viết mà mất, tôi sẽ tự tử cho các ngưòi coi. Vì bản thân cứu cánh của đời mình đã mất thì sống để làm gì ?”
Đó là lời vàng đá, của lòng tin vào cái viabilité du régime soviétique (ie. sự sinh tồn của chế độ Sô Viết). Con bò tót Hitler mà húc vào điện Kremlin, thì nó sẽ để sừng nó lại dưới chân tường mà thôi.
Tôi nói tôi chết theo Liên Xô nếu nó bị giặc nưóc ngoài kéo đến đánh nó chết kìa.
Đàng này…
Bạn coi đây, vị Thủ tướng của cái nước không còn là Liên bang Xô Viết nữa nói :
“Tôi sẽ nói ngay là tôi cho rằng ngày mà người ta bắt đầu giết chết nền dân chủ ở Nga một cách tàn bạo (tôi không dấu diếm ai diều này) là ngày 6-11-1991. Tôi đề nghị những người thợ in trong tương lai hãy xếp chúng bằng những chữ cái thật đậm nét : 6-11-1991 ! Trong ngày này vị Tổng thống dân chủ nhất thế giới đã ký sắc lịnh : cấm ĐCS hoạt động trên lãnh thổ nước cộng hòa. Tôi không muốn nêu lên bất cứ sự so sánh nào.
Vì tôi kinh hoàng trước chúng nhưng hành động trên rõ ràng tương tự với những hành động của chính quyền Italia và Đức trong những năm 30, khi mà ở các nước đấy, bằng sắc lịnh nhà nước, người ta đã lùa những người CS vào ngục tối”.

(N.T.Ruscôp: “Cải tổ: lịch sử của những sự phản bội”)

Trong buổi họp nào đó, Lénine có nói, “Chỉ có đảng viên CS mới hại nổi thanh danh của CS mà thôi.”
Vậy thì tôi có bị lời thề mà tự tử đâu !
Và tôi còn ngồi đây nghe.
“Hồi chuông báo tử của Đảng Nhà nước”.
Đó là tựa đề một bài đăng trên báo l’Humanité của ĐCS Pháp. Bài báo đã nhấn mạnh :
“Không phải là sự báo tử của Đảng CM và CS vì ĐCS Liên Xô đã không còn được là một đảng CM nữa, vì đã bị một guồng máy nhà nước nặng nề vô hiệu nuốt mất”.
Và cho là :
“Phải tìm nguồn gốc của cuộc khủng hoảng hiện nay, không phải chỉ ở những sai lầm mới đây mà ở hậu quả của một chế độ độc tài quan liêu mà Liên Xô đã phải chịu đựng cho đến 1985, năm mà Gorbachov lên nắm quyền và đưa ra chính sách “perestroika”.”
Báo l’Humanité cũng cho là :
“Để vượt qua được những khó khăn hiện nay không còn có con đường nào khác hơn là phát triển dân chủ đến cùng và nhân dân Liên Xô có quyền và có khả năng giải quyết những vấn đề của họ, và những người CS Liên Xô phải quyết định họ sẽ làm gì với Đảng của họ, một Đảng đã không biết thay đổi quan điểm cũng như phương pháp hành động”.
Chúng ta nên ngó người đi trước đã té. Họ đang nói :
“Ở Liên Xô bất kỳ một sự thay đổi nào cũng chỉ có thể có được nhờ sáng kiến “từ trên xuống”, nhờ những thay đổi nhân sự ở bên trên.
Nếu hiểu chính trị như là quá trình tìm hiểu và thỏa thuận lợi ích của các nhóm xã hội khác nhau, trước hết là lợi ích kinh tế, thì phải thừa nhận rằng ở Liên Xô không có cái hiện tượng được gọi là chính trị đó. Ngay cả những chủ thể thực sự của đời sống chính trị cũng không có. Bản thân ĐCS Liên Xô không phải là một chủ thể chính trị. Đảng với tư cách là một hệ thống bao gồm hàng triệu con người, không hề hoạch định đường lối chính trị. Công việc hoạch định đường lối chính sách vẫn là đặc quyền một nhóm chóp bu trong Đảng với sự giúp đở của bộ máy. Còn cấu trúc của Đảng; nhất là những đảng viên thường chỉ đóng vai trò là người thực hiện, có kỷ luật những ý đồ của cấp trên”.

( “Tổ quốc ta…” Trường tổng hợp quốc gia nhân văn Nga)

Tôi xin lấy thêm một đoạn trong bài xã luận của l’Humanité, số ra ngày 5-10-1993, mà ngày thứ hai hôm qua ở Mạc Tư Khoa đã xảy ra cảnh bạo lực và khủng bố, cảnh những chiếc xe tăng bắn thẳng vào trụ sở Quốc hội.
Đoạn báo ấy viết :
“… những gì vừa diễn ra ở Matxcôva hoàn toàn chỉ là công việc giữa các vị thủ lãnh khát khao vô độ quyền lực. Tất cả bọn họ đều đã được đào tạo từ cùng một lò mà ra, cái lò của sự độc đoán, của chủ nghĩa háo danh và chủ nghĩa cơ hội tệ hại nhất. Tất cả bọn họ đã từ lâu không còn liên quan gì tới lý tưởng CSCN”.

Liên Xô sụp đổ. Tin này làm cho tôi hết sức bàng hoàng mà nghĩ rằng :
Kỳ quá ! Hai vị thanh niên CM. Một vị tên là Thích ca. Một vị là Jésus. Người nào cũng lập được một giáo phái cho môn đồ nói “trên trăng có cuội”. Đạo nào đạo nấy đều sống trên 18 thế kỷ.
Không nói giấu gì ! Khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, tôi có khoái chí. Liên Xô đánh bại Phát-xít Hitler. Nhưng cũng có đánh vào ổ ma túy (tôn giáo là á phiện đối với nhân dân mà).
Vậy mà ! Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại, đã lập ra một cái đạo, hứa hẹn Tự Do và Bình Đẳng cho loài người, cũng oai danh lắm, cũng là một siêu cường oanh liệt một thời nhưng cũng không sống quá một trăm năm.
Sao ĐCS phải rã thân thể…?
Vì nó nhờ nhân dân đưa nó lên làm cái ông Đảng Nhà nước.
Báo Nhân Đạo nói những ông Đảng-Nhà nước đều là cùng một lò mà ra !
Ta không còn bị lật đổ (còn đổ xuống tận đâu nữa ?)
Ta… coi ta đi !

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Advertisements

One thought on “Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 12)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s