Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 3)

b. Giờ thì tôi “phải” nói về tôi VIẾT SÁCH”.
Tại sao lại phải ?
Là tri ơn. Đảng đã nhắm nhía sau đó mà “nuôi thúc” tôi.
Trong thời ĐCSĐD nửa úp nửa mở có báo công khai l’Avant-garde (ie. Tiền Phong), Le Peuple (ie. Nhân Dân), đến Dân Chúng, các anh Tạo, Mai, Ninh, Nguyễn, Quảng cứ lẽo đẽo đi ở tù.
Ở ngoài, tại tòa soạn cũng còn 5, 7 đứa, Nguyễn Văn Kỉnh làm đầu.
Ngày kia có chị bán trầu đến nói nhỏ : “Vô tiệm cà phê bà Xẫm ở Nguyễn Tấn Nghiệm, có người muốn gặp”. Tôi đi đến ngay gặp một vi công tử lục tỉnh, mặc shang-tung màu vỏ trứng gà, cũng giầy đen và cà vạt, mang kiến đen, đầu đội panama, trước mặt có tách cà phê lớn.
– “Ôi ! sao anh đi như vầy ?”
– “Có việc mới diện như vầy.”
– “Ô nàn phò, cho tôi một xíu quẩy.”
Tôi giành chủ động nói lớn bằng tiếng người Saigon.
– “Tôi có việc phải ra đây. Nhơn tiện gọi anh đến trao mấy bài báo.”
Tôi cầm cuộn giấy. Ngồi xuống đổ tách cà phê ra dĩa, chờ xem coi có dặn dò gì.
Té ra anh ấy chỉ nói : “Bây giờ chỉ còn có một mình anh và mấy anh nữa. Nhưng ai có việc nấy. Phần anh cố gắng đi. Lần này mấy anh được ra tù, tôi sẽ cho anh đi Liên Xô học.”

Tôi cảm động quá muốn khóc. Anh ấy liệng một cắc lên bàn, rồi đưa bàn tay cho tôi nắm và ra đi.
Tôi không nhìn theo. Mà nhìn vào dĩa cà phê đã nguội. Tôi bưng dĩa mà uống theo người Saigon nghèo. Tôi thấy trong cổ có cái hậu là tình thương của anh vừa rồi, Hà Huy Tập.
Lúc ấy chưa có báo Dân Chúng, đang còn báo Le Peuple.

Anh Dưong Bạch Mai không bị vướng mấy bài báo La Lutte (ie. Chiến Đấu) nên đang gần gũi, viết bài cho báo, sửa bài cho chúng tôi. Anh Mai thường nói với chúng tôi là mấy con gà chạ, chưa ra trường được.
Nhưng ảnh cũng đốn thấy sự ưu ái của “ở trong” đối với tôi, nên nói với Kỉnh : “Đảng cho nước” con gà Trấn, đã xổ “buông đuôi”, qua mấy nhang coi giò đá được”.
Nhớ anh Hai Mai quá !
Hôm mí-tinh ở rạp hát Thành Xương, tôi trưởng ban tổ chức phải nói đầu. Và nói vấn đề khó : những tự do chính trị. Khó là vì, nói nó không khỏi đụng chạm đến chế độ thực dân…
Nhưng sáng hôm sau, các báo quốc ngữ đều khen có duyên, mạch lạc và dễ hiểu.
Riêng báo Saigon có đề dưới tựa : “Hồi hôm ở rạp Thành Xương tưởng đâu Ninh, Tạo, Nguyễn… ở tù, thì phe Đệ tam hết người nói”.

Dường như làng văn và chính giới nước nào cũng đồng lệ, ai muốn xuất hiện, phải có trình làng tác phẩm hay công trình gì đó của mình. Khẩu hiệu “l’oeuvre d’abord” (ie. công việc đầu tiên) đó mà !
Và trước khi đi đến hội nghị báo chí (nói khi nãy) kêu đòi tự do ngôn luận và dõng dạc hơ hào Mặt trận Quốc gia Dân chủ, tôi được Đảng cho tên tuổi : tác giả ba quyển sách liền.
Một là,
Lần này không phải một chị bán trầu, mà là anh Huỳnh Văn Hớn đến gặp tôi, lại hớ cho tôi biết tên của cái bóng trong vườn trầu.
-Anh Tập gọi !
Cặp kè với Hớn đường d’Espagne. Vô hẽm sát rạp hát bóng Moderne. Lên lầu. Anh Tập cười rạng rỡ, đưa ra cuộn giấy và nói : “Ai chia rẽ nhóm La Lutte ?. Chúng tôi đã chuẩn bị bài chánh cho báo Kịch Bóng. Đã mướn được để cho anh làm chủ bút. Tòa báo và người Gérant cũng đã có rồi. Hãy gặp Thanh Thủy lo dọn nhà. Ta sẽ cho tạp chí mà Ái Liên đang dạy nhảy đầm, thành tờ báo chính trị hàng nhất. Khổ như Điền Tín, Saigon.”

Bây giờ nói lại cho vừa lòng lịch sử.
Năm 1933, chính phủ bên Pháp trục xuất về Saigon 19 thanh niên ta. Trong này có Nguyễn Văn Tạo.
Những người trí thức ấy về quê hương vào lúc phong trào Nguyễn An Ninh chuyển giao nhiệm vụ cứu nước cho CS.
Ở cái thập niên 30 này trong nước đã có đảng CS.
Mấy nhà trí thức ấy họp nhau, có thêm Nguyễn An Ninh lập ra tờ báo La Lutte (thì đã nói báo chứ Pháp nói ra lúc nào cũng được)
Ở ngoài nhìn vô, đó là một khối Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Dương Bạch Mai, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Nguyễn, Lê Văn Thử.
Người Saigon chuyển trọn tình đối với xưa kia tờ La Cloche fêlée (ie. Chuông Nứt) của Nguyễn An Ninh, cho tờ La Lutte này.
Anh em La Lutte có đưa ra sổ ứng cử Hội đồng thành phố, gọi là sổ La Lutte. Trong đó có Nguyễn Văn Tạo mà thiên hạ nghe danh : Ủy viên Trung ương của Đảng CS Pháp; Tạ Thu Thâu con nhà nghèo ở Long Xuyên, có hiếu với mẹ, học rất giỏi; Dương Bạch Mai cựu học sinh trường thương mại ở Paris rồi du học ở Liên Xô; Trần Văn Thạch là người mang kiếng trắng, đẹp trai, nói tiếng Tây hay, học giỏi mới năm thứ hai đã thi đậu brevet (ie. bằng sáng chế).
Họ được coi là cùng chung tư tưởng yêu nước thông qua chủ nghĩa CS.

Bình thường thì nói làm gì, lý sự suông có lớn tiếng, quá lời thì khách chi “bão tố trong ly nước”.
Khi chuông cách mạng đổ hồi thì mới đáng nói.
ĐCSĐD, phân bộ của Đệ tam quốc tế, chấp hành nghị quyết Đại hội VII của Quốc tế CS : các ĐCS phải vận động dân chúng nước mình thành lập Mặt trận Thống nhất chống Phát-xít (7-1935).
Nước Pháp đã có Mặt trận Bình Dân (MTBD). MTBD đã thắng thăm trong cuộc tổng tuyển cử (5-1936) mà thành lập chính phủ MTBD.
Năm 1936, Nhật và Đức ký cái Antikomintern (Hiệp ước chống Quốc tế CS). Năm sau nước Ý tham gia hiệp ước này. Ba nước ấy đã lập ra cái gọi là “trục Phát-xít Đức-Ý-Nhật. Mục đích : Trấn áp nước nhỏ, gây chiến nước lớn (Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô) để thiết lập sự thống trị của Phát-xít trên khắp hoàn cầu.
Đệ tam Quốc tế báo động tai họa ấy, cho nhân dân thế giới và cho 65 phân bộ của mình.
George Dimitrov, Tổng Thơ ký quốc tế đã có lời chỉ đạo chiến lược như vầy :
“Ngày nay trong nhiều nước tư bản chủ nghĩa, quần chúng lao động trước mắt phải lựa chọn một cách cụ thể không phải giữa nền chuyên chính vô sản với chế độ dân chủ tư sản, mà là giữa chế độ dân chủ tư sản với chủ nghĩa Phát-xít.”

Những Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch tự xưng là Tờ-rốt-kít (ie. Leon Trotsky chủ trương Đệ tứ CS Quốc tế) đồ đệ của Trotô-ky, có chủ trương “cách mạng thường trực”.
Họ phản đối Đệ tam Quốc tế.
Tạ Thu Thâu, trong khi ngồi khám đến lúc được thả ra, đứng trên sân khấu Thầy Năm Tú tại Mỹ Tho cứ rổn rảng : “Entre la peste et le choléra, il n’y a pas le choix” (ie. Giữa bệnh dịch hạch và dịch tả, không có sự lựa chọn)
Câu này vốn của Lénine, nói trong cảnh khác.

Nền hòa bình thế giới đang bị nguy ngập, sự sống còn của nhân loại đang bị đe dọa. Tình hình rất là căng thẳng. Quân phiệt Nhật đánh chiếm xứ Tàu, cho súng lớn day họng xuống Đông Dương, lính Nhật đã đạp chân lên Trường Sa.
ĐCSĐD kêu gọi thành lập Mặt trận Bình dân rộng rãi chống Phát-xít, chống chiến tranh, ủng hộ hòa bình.
Ngày ấy tờ Tờ-rốt-kít kịch liệt chống lại và đưa ra khẩu hiệu “Chỉ có Mặt trận Vô sản” và nếu tờ Tờ-rốt-kít Nam kỳ hét “Mặt trận Phản đế Muôn năm” thì tờ Tờ-rốt-kít Bắc kỳ a-tùng reo lên : “Mặt trận Công nông Duy nhất Vạn tuế Vạn tuế”.
Anh em tờ Tờ-rốt-kít ở Nam kỳ được đếm đầu là đông nhất thế giới và cũng vì lèo tèo như vậy nên chủ nghĩa Tờ-rốt-kít không tạo được phong trào có tính cách quần chúng thế giới, để xưng là “Đệ tứ Quốc tế”.
Mà ở Nam kỳ này thì ĐCSĐD đã nắm chặt được nông dân rồi. Ở Saigon Tờ-rốt-kít có gây được ảnh hưởng trong sinh viện, trí thức, công chức. Nhưng trong công nhân hiện đại, Tờ-rốt-kít không len lỏi nổi với Đệ tam.
Đàm đạo ở Salon, cãi nhau trong các nhà máy, bình luận thời cuộc ở các quán cà phê về sự lựa chọn Phát-xít hay dân chủ tư sản, xảy ra sôi nổi.
Người ngồi tiệm nước hay nói về một cuộc cãi mà Tạ Thu Thâu yếu lý phải đổ quạu hỏi Nguyễn Văn Tạo :
– “Nè Tạo, bộ Nhựt bổn nó đến nó đào mả cha mầy, sao mầy ghét nó dữ vậy ?”
Cũng phải ghi nhận rằng nhà nước thuộc địa cai trị nước ta làm cho dân ta ngóc đầu không nổi cho nên tâm lý chung là mong ước một sự “đổi chủ thay thầy”.
Nhưng trình độ chíng trị của người Saigon là rất vững vàng. Họ đã từng biết người CS ra trước tòa. Bây giờ họ nghe người CS nói.
Tôi đã từng được Đảng cho đi làm báo.
Cho tôi làm báo cũng là cho tôi đi cãi lộn với Tờ-rốt-kít, là cho đi nó dễ nghe với người thị dân anh công nhân Saigon về sự lựa chọn mà Đệ tam Quốc tế đã nêu. Nghệ sĩ Năm Phỉ đã khen : “Cậu nói thì con kiến trong hang cũng bò ra”.
Sự chống đối của Tờ-rốt-kít với Đệ tam Quốc tế trong cái “công xi” La Lutte làm như “cây kim bỏ trong bọc” nó đâm ra ra ngay trên mặt báo nhà. Họ viết xéo xắc nhau.
Tôi đã nói : “Mấy anh nằm ngủ chung mền mà anh này đái vào đít anh kia. Phải tốc mền ngủ riêng.”

c. Tình hình chính trị thế giới rất sôi động.
Chỉ nói về chính trị của chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp. Nó bị bọn tài phiệt của “200 gia đình” đại tư sản cá mập ngân hàng tấn công làm cho nó lừng khừng, nhu nhược, không cương quyết chấp hành chương trình của Mặt trận Bình dân.
Người Saigon thấy nó làm hai điều thiệt bậy.
• Một là cấm Đông dương Đại hội.
• Hai là đóng biên giới Pyrénées, giáp ranh Tây ban nha. Làm vậy cắt đứt sự giúp đỡ cho chính phủ (cũng là Mặt trận Bình dân) Tây ban nha đang bị tên Tướng Franco lật đổ.

Lấy cớ đó “công xi La Lutte” theo sáng kiến của Tạ Thu Thâu tổ chức họp.
Bên Đệ tam, anh Nguyễn Văn Tạo và chị Nguyễn Thị Lựu dự.
Cuộc họp ấy đi đến đoạn chót là Tạ Thu Thâu nói : “Nếu trong một tuần nữa mà chính phủ Mặt trận Bình dân của tụi bây không mở biên giới Pyrénées thì buộc lòng tụi tao phải tuyên bố không ủng hộ nó nữa cả về chính quyền và tất cả cái gì là mặt trận ăn mày của bọn bây. Và sự phân liệt này sẽ có bài viết của chúng tao trên La Lutte và có thể trên báo khác nữa”.
Anh Tạo đi họp về kể lại như vậy và có lời đáp tại trận của anh :
_ “Thâu ơi ! Có ăn học sao mầy ngu vậy ! Sao lại ra điều kiện cho tao về những việc mà tao cùng với mầy đáng lẽ phải cùng nhau ra sức đấu tranh để đòi cho được. Tụi bây hàng ngày đọc kinh thân Nhật, chơi cái trò của đám Tây phản động trong nhà nước thuộc địa này. Bọn chúng đang tìm hết cách ngăn chặn, không cho quần chúng đến gần chính phủ Mặt trận Bình dân, tức là không cho người dân bị trị léo hánh tới, đạp cửa tự do dân chủ.
Tao thừa biết Trotskysme trên thế giới đảng viên côi cút, đường lối chính trị không gây được “courant politique de masse” (ie. sách lược hiện tại về khối lượng). Nhưng tao công nhận anh em Trotskiste Đông Dương chưa ló mòi phản động như Tờ-rốt-kít thế giới, nên tao khuyên mầy bỏ cái trò tẩy chay ấy đi. Hãy cứ coi sự tồn tại của chính phủ Mặt trận Bình dân là điều kiện, là dịp để phát động phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, đòi quyền sống làm người, đòi tự do dân chủ.”

Tức cười thằng dân nô lệ, thân có một mình mà muốn làm cha Tây ! Ờ tẩy chay nó, nó sẽ bưng khay trầu rượu và mời anh tự do cái này này…
Sự cộng tác Đệ tam và Tờ-rốt-kít, trên báo La Lutte tan rã.

Anh Tạo thuật lại chuyện ấy với số đông anh em được Đảng mạnh tay điều động lên Saigon.
Đám Tờ-rốt-kít đã cướp báo La Lutte. Cũng dễ ! Vì quản lý của nó là Tờ-rốt-kít Lê Văn Thứ. Vì tòa báo, tầng lầu là nhà ở của Tạ Thu Thâu.

Ta ra báo l’Avant-Garde (rồi sửa là Le Peuple).
Tạo, Ninh, Nguyễn, Hiển, Quảng đi ở tù cùng với Tạ Thu Thâu.
Đảng giao cho tôi chủ bút tờ Kịch bóng và ký tên tôi trên bài báo “Ai chia rẻ nhóm La Lutte ?”
Tờ báo Kịch Bóng mà ra số mới chuyên nói chính trị, thì không chết cũng uổng. Nó ra được số 2 không bán kịp.
Ở trong biểu, lấy bài báo độc nhất ấy in thành sách. Tựa : “Ai chia rẽ nhóm La Lutte ?”
Nguyễn Thị Lưu đề. Tôi được làm tác giả một cuốn sách cô ấy. Tên tôi là đà khắp các tiệm cà phê Saigon.

Và hai là :
CS là gì ?
Đảng đã bắn tôi lên lần nữa. Lần này, cũng một chị bán trầu đem lại cuộn giấy, cuốn tròn. Một bàn thảo với tựa đề : “CS là gì ?”Có để tên tôi, tác giả.
Nhớ cái buổi chiều tối, tôi lo le bản thảo (đã được chép bằng chữ tôi) đi đến gặp bà Thạnh Thị Mậu, chủ nhà in Bảo Tồn.
Vừa ngó qua cái tựa, cái tay còn dư của bà với tới cầm cái ống nhổ cho bà phẹt nhổ trầu, bà nhìn tôi, coi bộ thương tôi lắm, và hỏi trống trơn :
– “Sao vậy ?”
Cái chưng hửng ấy trìu mến nói ngầm : “Bộ ở ngoài buồn lắm sao muốn xin ở tù ?”
Tôi cám cảnh mà nói lại rằng :
– “Bộ bà chị sợ ở tù ?”
– “À ngộ, sợ cho ai, chớ sợ gì tôi ! Tôi làm nhà in có đóng thuế. Ai mướn tôi in. Vừa rồi làm ông chủ báo kịch cọt. Tây nó tức cười nên quên bắt. Keo này “CS là gì hả ?” Là ăn cơm gạo lứt, sướng đời. Cậu nói tôi sợ ? Thì tôi in chịu cho. Bán được thì trả. Xe cây có chở, tôi cho câu huề. Anh Ba đâu ? Coi dùm rồi in.”
Anh sếp typo bưóc ra, coi qua rồi nói :
– “Tôi in dùm thầy trên 2 mặt tờ giấy màu, khổ bằng tờ báo Saigon. Xếp lại 32 trương. Bắt cái tốp quỷ sống nó xếp rồi đem đi bán 4 xu một tập.”
Bà Mậu nhìn tôi rồi ngầm hỏi…Tôi cũng hiểu ra mà : “Dạ thưa được lắm!”
Thế là “CS là gì ?”được in ra 4 xu một cuốn.
Tôi được thêm nổi tiếng. Đảng muốn Saigon nhìn tôi mà thấy người viết báo phải có trình độ học thức và hiểu biết khoa học xã hội.

Sách “của tôi viết”, tôi ra sức đọc để hiểu thật kỹ, để đi nói năng thật nhuần nhuyễn.
Và bây giờ tôi nằm lòng, lời của tôi viết công bằng thật sự, tự do dân chủ thật sự. Đó là CS mà Angghen đã dạy tôi.
Tôi đọc bài discour (ie. bài phát biểu) ở hội nghị báo chí vào cuối 8-1938.
Trong tháng ấy nước Anh, Pháp đã nhục nhã đầu hàng Đức, Ý ở Munich cho phép Hitler thôn tính Tiệp Khắc, Mussolini xua quân xâm lược Albanie.
Đột ngột trong tuần thứ 4 tháng 8 này, Nga và Đức ký hiệp ước bất xâm phạm. Người Saigon xao xuyến với tin Staline ôm hun Ribentrop ở sân ga Mạc tư khoa. Ký giả các báo quốc ngữ Saigon ví tôi tại tiệm nước mà đòi cắt nghĩa. Tôi sanh kế hoãn binh :
– “Các anh cứ dành 2 cột, để đó. Tối nay cũng tại đây tôi sẽ giải thích.”
Tôi ngồi xe thổ mộ lên chị Hai Sóc. Chi véo tai tôi và nói ê chề :
– “Không còn gặp được nữa rồi em ơi !”
Tôi bơ vơ, lộn về nhà Kỉnh. Hai đứa nói qua nói lại với nhau, rồi cùng đọc lại Nghị quyết Đại hội VII Quốc tế CS…
Tối lại, tôi “họp báo” và nhận định thời cuộc theo sức Kỉnh và tôi : “Staline sáng suốt, cao tay, đã gạt mũi nhọn Phát-xít mà Anh, Pháp tìm cách chỉa vào LX, nước CHXHCN đầu tiên trên thế giới, như cái gai trong mắt chúng. Như Khổng Minh kêu gió Đông phong.”

Mấy ngày sau cái Hiệp ước Đức-Nga ấy, ở Pháp 2 tờ nhật báo CS : l’Humanité (ie. Nhân Loại) Ce Soir (ie. Đêm Nay), bị đóng cửa. Cả cuộc họp, mít tinh quần chúng bị cấm, cuộc tổng tuyển cử bị hủy bỏ.
Ngày 1-9, Hitler chiếm “hành lang Dantzig” tuyên chiến với Ba lan.
Ngày 2-9, Pháp ra lịnh tổng động viên và tuyên chiến với Đức, mà người đương thời gọi là cuộc chiến tranh kỳ cục, cho lính ngồi dưới hầm, súng đựng trong lòng, chờ lính Đức đến giọi đầu.
Đêm 3-9, chúng tôi họi tại nhà Kỉnh bàn việc bảo tồn cán bộ, cho Lưu Quí Kỳ, Đào Duy Kỳ, Minh Tranh, Trần Đình Tri, Xính Điểu, La Vĩnh Lợi hát bài tẩu mã về ngoài.
Còn lại Kỉnh, tôi và chìa khóa nhà 43 Hamclin.
Chúng tôi vẫn ngồi đó, thi hành nghị quyết, ra một số Le Peuple cho Tây rồi “dông”.

Tôi viết bằng chữ Tây “Notre Déclaration” (ie. Lời Tuyên bố của Chúng tôi). Ý chính là người CS chúng tôi, coi mình là con của những chiến sĩ Paris công xã, sẽ tự nguyện khi tổ quốc lâm nguy, cầm súng theo tiếng gọi của nhà nước.
Bàn với Kỉnh, tôi cầm bản thảo đi Mỹ Tho gặp Ninh, Tạo, Nguyễn đang bị biệt xứ tại đó, nhờ đọc lại dùm.
Không anh nào nói gì về “dòng dõi của chiến sĩ Paris công xã” cả.
Chỉ có Nguyễn nói :
– “Tao hết sức bằng lòng tụi bây. Mình là người viết báo Đảng phải thủy chung với lời nói của Đảng cho dân nghe, trong lúc nguy nan.”
Anh Nguyễn đưa tôi ra ga Mỹ Tho.
Chuyến xe lửa chót đưa tôi về Saigon.
Kỉnh và tôi, cho ra một số Le Peuple, chỉ có một bài duy nhất, tựa chữ đỏ, chạy dài suốt bề ngang mặt báo. Lời tuyên bố của người CS chúng tôi.
Theo mặt trời mọc, xe cây “toé loe” chạy đi thu báo, bắt người.
Kỉnh đi đâu ? Tôi về Chợ Đệm, nhìn mẹ và cười : “Con đã trưởng thành”
Cuộc sống đúng là khởi sự với tình yêu. Con người tư sản sinh ra mình, bằng lao động báo ơn.

11. Ngậm Vành Cắn Cỏ
Lịch sử của ai cũng có cái gì trọn vẹn.
Mà “lịch sử” đây là gì ? chẳng phải chữ viết, lời văn, viết lại những sự kiện đã qua sao ?
Và sự kiện có cái trọng đại, cái không, có cái nói có tính cách lịch sử, có cái cũng tầm thường.
Biết làm sao, trong vòng rào trăm trang của cuốn sách, lựa cái nào, bỏ cái nào ? Làm sao chia lịch sử của tôi không hóa ra như cũ khoai bi chuột khoét.
Rồi không biết, những sự kiện tôi sẽ kể lúng ra đây có đủ sức nâng cao tư cách của tôi nói năng và đòi hỏi Quốc hội (QH) không ?
Dầu không, tôi cũng nói được lòng biết ơn những người, ở thời kỳ này, đã cõng tôi mà không sợ khòm lưng.

a. Chuyện tôi chạy lính.
Tính lại là đầu tháng 9-1939, tôi bỏ Saigon mà chạy.
Về Chợ Đệm. Ngủ nhà, chưa hết đêm.
Vừa lúc có tiếng chuông chùa, má tôi tốc mùng tôi và la rất nhỏ :
– “Con, dậy ! Dậy… Lính.”
Tay lưới bủa bắt tôi là trong mẻ lưói lớn bắt hết Ninh, Tạo, Mai, Nguyễn, bác Hội đồng Tôn… và những ai có tham gia Ủy ban Hành động. Những tay anh chị du côn cũng bị bắt theo.
Mà bắt tôi không đặng.
Tôi ung dung đi vài chục bưóc là ùm vào tay của bạn : sông Chợ Đệm, đang con nước lớn, nó ôm kín mà giấu tôi.
Tôi trồi lên và đi lang thang.
Tôi vẽ cái hình của tôi miệng ngậm một cọng hoa mười giờ mà đầu ngỗn ngang nổi nhớ. Hướng Thọ, Phú Phước, Tân Hưng, Cái nứa, Cai Lậy, Cái Bè, Sóc Sái, Lái Thiêu, An Ngãi, Bà Rịa, Vũng Tàu. Những nơi này là nơi nhà của bạn học. Đứa nào cũng thương tôi.
Đêm nằm ngủ gác nhau. Thằng thức nhắc thằng đã ngủ về chuyện học đường.
Có người kia nguyên ủng hộ báo Dân Chúng, cùng vợ con đi tắm, gặp tôi ở Long Hải liền bắt bỏ lên xe. Nghe tôi tự sự long đong liền chở tôi về Gò Vấp. Đường đất đỏ, vỏ cây dương; cho xe vào nhà thờ họ Trương, nói gì với bà từ rồi gởi tôi ở đó.
Nhiều người tới viếng nhà thờ ông Trương Minh Ký.
Trời chạng vạng, tôi gói bộ quần áo, đi đâu cũng mang theo để có cái thay. Bà từ thấy vậy hỏi :
– “Đi hà ?”
– “Dạ, phải đi.”
– “Thầy Ba ở Saigon lên hỏi, thì tôi nói sao ?”
– “Bà nói dùm “động ổ”.”
Tôi ra ga Gò Vấp, lên xe chuyến chót đi Lái Thiêu.
Bạn tôi là chủ trại cưa, giàu có.
Nó tay bắt mặt mừng rồi dẫn tôi lên lầu… cho tôi ở một mình, có ghế xích đu và kệ sách.
Và tôi không thể ở đó lâu.
Thằng bạn tôi vì việc làm ăn mà vắng nhà.
Hôm nay mới năm giờ chiều “con mụi” đã bưng cơm. Tôi vừa đi xuống thì chị lên. Chị ngồi đối diện với tôi mà ăn cơm. Tôi chờ nghe; quả nhiên chị nói.
“Tôi rất thông cảm với nổi lo âu của chị, nên tuy hết muốn ăn, nhưng cũng ráng…vui vẻ đưa chén tới, hứng lấy miếng cá chị gắp cho.”

Khi tôi cho đường vô tách cà phê, chị móc túi lấy, để trước mặt tôi tờ giấy 20, biểu tôi cầm mà đi đường.
Lời nói này có ý mời đi rất chân thật.
Chắc rằng bạn nghe tôi nói : trời chạng vạng ủng hộ tôi, thì bạn hiểu liền : tôi là người đi trong bóng tối…
Lại chuyến xe chót, Lái Thiêu-Saigon.
Nó xiết gắt quanh cua tại vàm đường Alsace Lorraine và Quai de Belgique, tôi nhảy xuống, đi bộ lại tiệm gạo của Bác Hai, cha chị Tám Chiếu.
Cúi đầu, làm thinh chào bác, rồi đi thẳng lên lầu. Thằng Tám, con út của bác, mới 12 tuổi, thấy tôi nó mừng lắm, nắm tay lên thang.
Ở đó non tuần. Bữa nọ, đường vừa mới lên đèn, chị Tám hơ hãi báo : “Thằng lính kín đứng co chân hạc 2 bên cửa nhà từ hồi chiều.”
Chị nói nhỏ gì đó với thằng Tám. Nó chạy đi.
Chị dẫn tôi ra phía sau. Ngó xuống đất là hẽm cụt. Chỉ tay về phía phải chị nói :
– “Ngỏ vô là Alsace Lorraine. Vô khỏi đây một chút thì mút không lối ra. Bây giờ anh chuyền theo sân sau mà qua nhà thứ ba. Thằng Tám đang ở đó, nhà của bạn nó, nó chờ anh. Nhất định không ra ngỏ Alsace Lorraine, lính kín bao giờ cũng có ngoài đó. Ngày xưa, cũng ở đó, nó chờ anh Hà Huy Tập, ở trong nhà anh Ba Phẩm đi ra, chúng nó đạp xe theo mà bắt. Anh nhớ cái đó cho tôi. Và gói quần áo của anh đây, cầm mà lách qua tường. Thôi đi đi, mạnh giỏi.”

Tôi bưóc qua tường 2 khoảng trống là nơi chủ nhà phơi phóng. Em Tám đưa tay cho tôi mà dẫn tôi xuống nhà dưới. Nó với tay đầu tủ ăn của nhà đó mà cầm cặp lạp xưởng mà nó mới vừa nướng còn nghe thơm. Tôi vẫn bình tĩnh hỏi em :
– “Chi vậy ?”
Nó cười và đáp : “Cho bạn !”
Nó mở cửa sau, băng qua đường hẽm, ngồi xuống dưới chân rào bằng gỗ ván thùng ciment. Nó cạy mấy tấm vừa trống cho người chun qua. Nó ngoắc tôi. Nó chun qua trước gọi “bạn” nó, là con berger rất lớn làm lính gác sân banh đó, là của trường Chấn Thanh.
Tôi chun qua, Tám thôi giỡn với bạn mà dẫn tôi vào préau của nhà trường, ngồi uống “nước đá nhận” mà chờ học trò tan giờ étude tối.
Học trò ra, thằng Tám và tôi chen theo mà ra đường. Nó chia tay tôi và nói : “Anh ra Galliéni, em ra Cầu Ông Lãnh.
Tôi ra Galliéni, quẹo trái về nhà in của anh chị Nguyễn Phú Hữu.
Cũng quen đường cũ mà đi đại lên lầu.
Anh, chị đang nằm nghe radio.
Chị mừng reo lên :
– “Ở đâu mà trồi đầu lên vậy ? Thôi lên đi nằm với anh Tư đi. Để chị kêu mì.”
Đêm đó nằm chung giường, tôi ngủ một giấc ngon sau khi đã trối :
– “Sáng mai, khi trời chưa thấy mặt, anh cho xe đưa tôi về Chợ Đệm nghen anh Tư.”
Chưa sáng, xe điện đã nghiến đường rầy, Anh Hữu lấy xe đưa tôi về Tân Kiên. Ngó thấy nhà, nhớ má quá mà… ôm lòng chịu.

b. Tôi sẽ đi phá khám lớn Saigon.
Bây giờ đang ở nhà cô tôi, coi bộ yên, vườn tược rậm rạp. Sau nhà lại có con rạch, mà lúc nước lớn nó chảy như mỉm cười.
Bổng dưng từ ngoài lộ Bá Hom có người Đội nón nỉ rơm rộng vành xăm xăm đi vào.
Người cô-ky tôi không né. Đi tới gần. Té ra dân Bà Điểm, cái anh thầy thuốc Nữ.
Hôm ấy anh đưa tôi một tập giấy học trò, có chữ viết tay : “Dự thảo cho cuộc khởi nghĩa Nam kỳ.”
Tôi nói bình thường 2 tiếng : “À ! Ghê !” Rồi mời anh vô nhà.
Anh nói :
– “Anh đọc đi rồi sẽ góp ý kiến. Tôi phải đi đây. Năm bữa nữa… đúng năm bữa… tôi sẽ xuống đưa anh đi công tác. Anh phải ngồi yên. Tìm ra được anh, như cây kim lòn sợi chỉ.”
Thì thầy thuốc xuống.
Theo lời mục đích mà đi tới mà anh nói, “Mình đi Phước Tỉnh” tôi hóa ra liên lạc dẫn anh. Vì tôi sẽ cho anh đi trong lòng bàn tay của tôi ra nhà dì Sáu em ruột của má tôi, mẹ của thằng Tráng một tuổi, một vóc với tôi. Nói vậy để tôi mặc áo đi cày của nó.
Sáng hôm sau Thầy Thuốc lại kéo vành nón sụp xuống mí mắt mà ra đi.
Tôi ở lại với lời dặn rất gọn thành một tiếng “chờ”.
Phước Tỉnh coi như bên ngoại của tôi.
Đi ra, qua cầu Tấn Long, ngó lệch về Bến Lức, có nhà dì Tư của tôi, mẹ của giáo Tiếp và Sáu Nhâm; ngó hướng Thanh Hà có nhà Năm Quản cha của Tám Bình… và nhà của bao nhiêu cậu khác.
Sống được nuôi quá mức tình cảm.
Và chờ… cái xảy ra thật đáng cái chờ.
Nguyễn Văn Kỉnh tới.
Không cần gì hỏi, thằng này nắm tay thằng kia mà cười ha hả là đủ tự khen : đứa nào chạy cũng tài.
Thằng này trời sanh nó làm lớn hơn tôi.
Tôi không hỏi, để coi. Anh khai mạc Hội nghị. Anh không giới thiệu tôi, vì anh thừa biết ai cũng biết tôi.
Theo chương trình nghị sự cổ điển, tình hình thế giới, tình hình trong nước, báo cáo việc thực hiện kế hoạch, sở tại nghe chủ trương của trên. Kỉnh làm việc vừa nói, vừa cười với mục “linh tinh”, anh nói và chỉ vui : “Anh này nè sẽ được về đây làm cán bộ tuyên truyền diễn thuyết và huấn luyện quân sự.”
Ngày trước anh là trưởng ban cán sự những người làm báo công khai của Đảng. Chắc bây giờ anh cũng … anh làm… thôi thây kệ, anh làm chức gì, miễn anh là thằng tốt biết việc, được rồi !

Trong phận sự tuyên truyền hôm kia, tôi liều mạng qua cầu Bến Lức ban ngày như mọi người đi đường, gặp nhau cứ hút gió qua cầu.
Tôi đi đây là đi Bình Nhựt, Lê Văn Kiệt để tỏ lòng tôi với cuộc khởi nghĩa.
Anh Kiệt, có đi Hội nghị Macao. Trong duyên nghiệp tuyên truyền, một hôm tôi liều mạng qua cầu Bến Lức, 2 bên có lính gác, ban ngày, coi như mọi người đi đường gặp nhau thì phải qua cầu.
Tôi đi Bình Thuận tìm Lê Văn Kiệt để sáng tỏ tư tưởng của tôi đối với cuộc khởi nghĩa này; về nước bị bắt đày Côn Lôn. Mặt trận Bình dân an thiệp cho về, nằm ôm ngực và ho khúc khắc tại toà báo Le PeupleDân Chúng cho đến tận ngày, tại nhà của Kỉnh, có cuộc họp “Hô ! Chạy !”
Anh đã đứng tên chung với tôi trong đơn gởi xin yết kiến Thống đốc Pagès để yêu cầu được phép tổ chức (mà nó không cho) mít tinh ngày 14 juillet (1937).
Người mà đi kêu. Anh Kiệt từ trong lùm dừa nước đi ra, với bộ râu coi giận Tây lắm.
Ngồi lại đối diện trên ngạch cửa sau của nhà bếp, tôi vui mừng và đi vào liền mục đích gặp nhau.
Để cho tôi mặc tình “tam tông, tứ nai” anh cứ cười cười. Chờ tôi hết nói, anh xoè bàn tay hộ pháp ra, bấm vào chót đầu ngón út, anh nói :
– “5 điều phải có cho cuộc khởi nghĩa thắng lợi mà Lénine nói, các người không có được một chút téo như vầy.
Xin quí ngài đừng cà rỡn với bạo động. Không khéo mà ôm dân đi nướng lửa rơm. Tao đang trốn buồn khổ lắm, tao nghĩ tới mấy thằng trốn vì không trốn nổi nên bề nào cũng chết làm liều. Hại cho dân không biết bao nhiêu. Mà nói thiệt, tao nghe đứa nào lê gân hò hét tao nghi thằng đó là thằng khiêu khích lắm.”
Tôi nói :
– “Tôi cho là anh nói với ai, chớ không phải nói với tôi. Hết sức tiếc là tôi không dám mang theo đây bản “dự thảo” để tôi cho anh coi ý kiến tôi viết ngoài lề.”

Hôm nay gặp anh, tôi muốn nói “les communistes notoires” (ie. những người cộng sản được biết đến) như anh và tôi thì như 2 con đĩ có giấy. Tây nó bắt được nó chặt đầu. Mà nó chặt đầu ta ngon lắm. Vì ta là người làm báo, làm cái nghề “xúi giục” mà.
Anh Kiệt đâm buồn mà nói :
– “Ta để cho địch bắt, ta cũng có lỗi đối với Đảng.”
Tôi nói :
– “Gà mẹ che gà con, bọn Tây làm sao xớt tôi được.”
Nhưng tôi không đành để anh em chết thiếu tôi.
Anh Kiệt bắt tay tôi lặng thinh về ổ.
Tôi lên tận nhà trên ăn cơm với bác trai, trong khi bác gái coi một đứa bạn cày, tát nước xuống…
Tôi biểu nó ghé lò gạch bác Hội đồng Tôn. Tôi đi bộ về Phước Tỉnh. Cũng cứ thong dong. Vừa đi vừa nghĩ, vừa thương đồng bào.
Nguyễn Văn Kỉnh tới. Đốc thúc. Có nói thêm nhiệm vụ của Long Hưng Hạ, là làm cái việc ngày trước Phan Xích Long không làm được : phá khám lớn Saigon.
Tôi xin giao cho tôi. Đường trong thành tôi thuộc. Thắng về nội, thối về ngoại. Có tôi dìu.

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s