Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 7)

e. Tôi lại trẩy miền… khu 9.
Anh em miền Bắc, ở tù Côn lôn, được cách mạng tháng 8 rước về đã “hy sinh” ở lại khu 9.
Họ cũng nói như Saigon có nói : “Không có tù Bà Rá về thì không có cách mạng tháng 8, không có mấy thằng Bắc ở Côn lôn về thì làm gì có Bạc liêu, Rạch giá, có cái khu 9 của ta !”
Dân quê ở nơi nước ngập, muổi mòng thì biết gì về Ất Dậu (ie. không biết gì hết), cứ thấy anh em không về ngoài Bắc, ở lại làm cách mạng cho miền Nam thì mấy bà má rất bằng lòng mà còn thích thú : “Tụi nó nói líu lo nghe vui quá.”
Anh em Côn lôn về, được coi là giỏi cách mạng cho nên trong cơ quan cách mạng cao nhất là “khu Ủy” họ làm lớn hết. Tôi ở chung với anh Tư Vực. Người dễ mến, đau bao tử nặng, cứ ôm bụng mà rên, nên anh ít ý kiến, trong công tác mặt trận mà anh phụ trách. Tôi giúp anh mà tiếp mấy đoàn thể. Anh thích nên viết giấy lên trên xin được cho tôi chức Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến khu.
Xứ ủy viên lúc ấy, người lớn nhất của đảng trong vùng là tôi.
Cho nên tôi cũng để lòng, để trí vào mọi việc mà thấy vừa lòng với cái bộ Tư lịnh khu.
Khu trưởng là Trương Văn Giàu đảng viên đảng Dân chủ VN, được tôi dắt dẫn.
Chính ủy: Phan Trọng Tuệ, Bí thư khu ủy.
Tham mưu truởng : Võ Quang Anh, Khu ủy viên.
Khu phó Trịnh Khánh Vàng : trí thức, Thiên Chúa giáo, địa chủ tư sản.
Và tôi.
Tôi không làm việc quân sự bao nhiêu vì đã có đủ người. Nhưng có lần tôi được mời để bàn về chiến dịch để thí nghiệm. Tôi có phát biểu :
“Tôi không đồng ý, thứ nhất là không thể lấy sinh mạng của binh sĩ mà mở chiến dịch thí nghiệm. Thứ hai là ta không thể triệt phá đồn địch và bắt sống hay tiêu diệt địch được.”
Tôi có kinh nghiệm bản thân trong trận đánh chùm bót Bình Điền.

Ta vừa lệng lựu đạn vừa leo cửa sổ vào trong đồn chính, thì bên trong chúng nó tắt đèn, chúng ta chỉ còn rờ lưng nhau mà ra. Để chậm, ta sẽ bị quân tiếp viện đến bao vây… và diệt quân ta đang ngồi đầy xuồng mà bơi chạy.

Ý kiến không được nghe nhưng kế hoạch có chấn chỉnh : bao vây ở xa và cho bắn vào (bằng súng gì ạ ?). Người ta “thưa” tôi lên cấp trên, anh Duẩn cho là tôi đúng, ai mở chiến dịch làm thí nghiệm ? Có giỏi thì đánh, còn dở thì thôi !
Ba là, đừng vì sĩ diện. Đối với các khu khác, họ chê lính khu 9 không đánh giặc, ở không chơi!
Ta không so với họ. Họ đường liền đất bằng, vận động dễ. Ta đầm ao sông lạch không thể đánh trận với một đại đội được. Ta có lối đánh giặc của ta.
Cuối 1948, Khu ủy mãn nhiệm kỳ. Họp bầu lại. Tôi làm Bí thư. Tôi có đề nghị, để theo cho kịp với tình hình thì Khu ủy phải được mở rộng : “Sau khi Khu ủy họp, Tỉnh ủy sẽ họp. Ai là Bí thư Tỉnh ủy sẽ được bầu làm Khu ủy viên.”
Một điều nữa rất rõ ràng là trong Khu ủy thì thiếu trí thức mà trong khi đó có trí thức đang phụ trách những vấn đề có tầm khu. Tôi đề nghị Phạm Thiều, Hoàng Xuân Nhị, Trương tấn Phát, những người đang phụ trách tuyên truyền, giáo dục và pháp chế của khu.
Họ đều đã được đắc cử. Tin này bay khắp Nam bộ, nhiều người cho rằng tôi mất lập trường giai cấp.
Tôi đi thăm bộ đội. Binh sĩ được ăn no nhưng đốt nát trên 60% chưa được ai cho thấy chữ i, chữ tờ. Một số đông thanh niên vai u thịt bắp, con nhà nông, bị tách ra khỏi sản xuất, nói là đi bộ đội để đánh giặt nhưng ít đánh trận quá, thiệt uổng biết bao nhiêu.
Tôi có đọc Chu Đức. Ngày trước có đọc “l’Armée nouvelle” (Bộ đội Tân biên) của Jean Jaurès.
Tôi đem ý kiến của tôi, thỏ thẻ. Anh Vực đồng ý và khuyến khích : “Làm đi, có bề gì tôi chịu với”
Vậy là tôi tăng cường việc mộ binh giao cho một trung đoàn trưởng, ông Sỏi phụ trách.
Thời gian tòng quân qui định rõ ràng là 8 tháng. Đủ học điều lịnh quân sự, biết bắn, tháo ráp súng, rồi về. Lại mộ tốp khác tiếp theo.
Người nhập ngũ được một bộ quần áo lính.
Họ về nhà làm dân quân của xóm ấp. Làm ruộng vần công, sát đoàn địch, lăn nhà lăn hói (ie. ?) với Việt gian trong đồn, làm địch vận, tạo thời cơ.
Như vậy ta thực hiện được ý muốn, toàn dân vi binh, mọi người đều đi lính.

Còn về bộ đội chính qui.
Tôi có mời cuộc họp những chỉ huy bộ đội chính qui cho tới chỉ huy địa phương. Tôi lấy tài liệu “Đại hội Độc lập” của Võ Nguyên Giáp, đọc cho anh em nghe. Anh em thảo luận để về đơn vị, địa phương mình mà thi hành.
Trong cuộc họp, tôi dõng dạc, đại diện Khu ủy khu 9, tuyên bố rằng : “Chúng ta quân dân khu 9 không thi hành được lịnh “Tích cực chuẩn bị tổng phản công” vì là : tình hình khu 9 không cho phép; nghĩ làm chỉ hại dân.
Vã lại phản công và tổng phản công là sự phát triển tất nhiên của cuộc đánh.”
3 ý kiến đó của Bí thư khu ủy và Chính ủy mới của khu 9, anh Duẩn chịu.

Nhưng xảy ra chuyện “ông Thọ thiệt” đến.
Trên xứ mời họp.
Tôi lên gặp Trần Văn Trà thì bị dọa :
“Ông Thọ vừa đi tới biên giới Nam kỳ là đã đòi lột chức anh về việc không kể phép nước cứ đem bộ đội xé nhỏ ra …”
Sau đó ông Thọ, ông Duẩn đều xuống đóng ở khu 9.
Có lẽ tôi mất chức thật, nhưng một cách còn được giữ mặt mầy : “Anh thôi chức Bí thư khu 9 đi để đi làm đại biểu Đại hội (ĐH) Đảng.
Tôi đi trong đoàn, Ung Văn Khiêm trưởng của Phan Trọng Tuệ và tôi.
Tôi có mang tài liệu “Tạm cấp ruộng đất cho nông dân để nuôi chiến tranh du kích”.
Tài liệu dài 30 trang giấy đánh máy. Tư tưởng chỉ đạo là của anh Duẩn cộng vào với “Toàn dân vi binh” của tôi.

f. Ai cũng được “kiểm thảo” để ra đi.
Tôi cầm bức thư Lê Duẩn gởi Trường Chinh trong đó khen tôi : tốt, chín chắn, có lý luận ngặt lời ăn tiếng nói bị sự phụ trách Bình Xuyên xuyên tạc.
Cũng buồn sau lưng mình. Lê Đức Thọ, đội lớp uy danh của Hồ Chí Minh (HCM) mà hét với cán bộ :
“Nó muốn chết, tôi cho nó chết”
Mà ai muốn chết đâu ? Chỉ là họ không muốn làm Nguyệt Nga, cho Sáu Búa gả cho mình và gả cho những nhà CM đi xa nhà trên 300 cây số.
Và cái hại nhứt mà ông gây ra cho ĐCS, về lâu về dài là có những người mà ông không tiếc lời “tu mu, tu ma” (ie. ?) nhưng rồi ông phong cho làm Trung ương ủy viên.
Ôi ! Đồng bào miền Nam ơi ! Tôi xa đồng bào đây !

18. Chuyến Đi Bắc Kỳ 1951

a. Gặp Bác Hồ.
Tình chung, người trong nước, có lẽ ai cũng như ai, một lòng kính mến … “Bác Hồ”.
Tôi ra Bắc ngày đầu tiên là ngồi trong mấy gộp đá trú ẩn với Bác Hồ, cách nhau gang tấc.
Trên đầu máy bay địch gầm đảo.
Tôi nghĩ bụng, có con đường tắt cho tôi để làm anh hùng là chuẩn bị tư thế sẵn sàng, nếu máy bay địch dội bom, nằm đè lên che đạn cho Bác. Cái ý nghĩ ấy cũng bởi mấy phút trước đó, Võ Nguyên Giáp có bắt tay “le héros de Chợ Đệm” (ie. anh hùng Chợ Đệm) .
Tôi thương HCM lắm. Như thương Lénine vậy. Coi ! Tôi xưng hô với 2 vị như 2 con người bất tử. Vậy mà, tôi kêu ông vẫn bằng “ông” chớ không thay bằng chữ “Người” viết với “N hoa” và tôi giận lắm ai đó đã khởi đầu kêu ông là “cha già của dân tộc” làm cho cái xưng hô ấy chết cứng đi.
Nay tôi đang ở gần ông Hồ mà nói, thì xin, nhất là xin mấy chị đừng mắng : “Cái thằng nhà ở gần chùa nên kêu Phật bằng anh.”
Tôi thương ông, từ khi nghe ông đọc tuyên ngôn độc lập, chưa biết ông là ai. (ở Saigon dân tiệm nước là dân “thời cuộc” mà cũng chưa xì xào được HCM là ai. Cho tới chiều tối hôm 2-9-45, tên đại tá Mỹ Daways bị dân quân An Lạc bắt trói được, anh Thạch xuống xin thả. Nó về tại trụ sở hành chánh mà thổ lộ, HCM là Nguyễn Ái Quốc và xin chia vui rằng : “Các anh có được lãnh tụ rồi, coi như CM đã thành công quá nữa”)
Ông bắt đầu từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Ông đi tới :
“Người ta sinh ra được tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”
của 1789…
Cuộc đại CM Pháp mà được coi là CM là vì cái thần sắc ấy.
Ông HCM đem cái thần sắc ấy vào CM tháng 8 của ta.
Dân ta quí trọng HCM Chủ tịch nước.
Tôi càng thương ông, khi nghe báo chí phương Tây nói ông đau yếu.
Cái câu nói học đường : “Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể khoẻ mạnh”, nghĩ cho người cầm lái vượt thác ghềnh, thì sao không lo ?
Như vần trán rộng, cặp mắt sáng ngởi của người ngồi đó bắt thằng học sinh Pétrus Ký trả bài V. Hugo :
Le vieillard qui revient vers la source première
Entre aux jours éternels et sort des jours changeants
Et l’on voit de la flamme aux yeux des jeunes gens
Mais dans l’oeil du vieillard on voit de la lumière.

(ie. Người xưa đã trở về với nguồn gốc
Giữa số phận đời đời và ngày ngày thay đổi
Và chúng ta thấy ngọn lửa trong mắt của những người trẻ tuổi
Nhưng trong mắt của người xưa được nhìn thấy có ánh sáng.)

b. Trong đại hội.
Được làm tổ trưởng tổ 1.
Tôi lại được chỉ định một chân thư ký…
Bạn nhìn ảnh (ảnh đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng, tháng 2-1951), thấy cái băng trống là có một chỗ ngồi của tôi,
Cái tổ 1 của chúng tôi, ông cụ thích lắm mà nhắc bảo các tổ khác phải bắt chước mà hoạt động ồn ào, sôi nổi lên. Đang trong tháng 2 rừng Việt Bắc lạnh nghiến răng.
Tổ phó thứ nhất là Hồ Viết Thắng.
Thứ 2 là Kay Xon.
Anh nghe, anh có ghê không nào ? Về sau người kia hóa thành Zeus (ie. Vị Thần bậc nhất trong Hy Lạp) trong Cải cách ruộng đất. Người này Tổng Bí thư đảng Lào.
Mà tổ viên còn có Siêu Heng người Khmer, vài người Việt kiều ở Xiêm về (những người đã đùm bọc Nguyễn Ái Quốc).
Đây nữa mới thật đáng nói : Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Bùi Lâm, Bùi Công Trừng, Trần Công Tướng, Trần Duy Hưng, Nguyễn Văn Trân (Bí thư khu 3), Nguyễn Thị Xuân Hồng, Hồ Thị Minh.
Anh em người ta gọi tổ này là tổ Nam bộ, hay tổ quốc tế.
Tổ viên, người nào người nấy đều nói mệt nghỉ. Tôi làm khu trưởng thì được, chứ làm tổ trưởng coi cho một tổ đảng, huống chi một tổ như vầy thảo luận thì không làm nổi.
Nên Hồ Viết Thắng làm nội trợ “Theo dõi thảo luận. Rút ra vấn đề”. Tôi đi “Phản ánh”.
Nhiệm vụ của ĐH II là :
– Đưa kháng chiến đến thắng lời hoàn toàn.
– Tổ chức Đảng Lao động VN (ĐLĐVN)
Về nhiệm vụ kháng chiến thì ai nấy nhất trí. Chỉ còn thảo luận biện pháp.
Mà biện pháp tổ chức lại Đảng thì trong đại hội ý kiến hãy còn phân vân. Khi các đại biểu điạ phương đã về cắm đầu vào chuyện đánh giặc, để cho Trung ương Đảng tự tung tự tác qua mắt “vị cứu tinh dân tộc” lấy “chỉnh đốn tổ chức Đảng” làm lý do cho kháng chiến thắng lợi nên đã gây tội ác “trời, người đều căm giận”.
Việc hãy còn đó, bây giờ tôi trả nợ đại biểu ĐH Đảng mà thuật lại việc nói năng suy nghĩ về Đảng Lao động VN (ĐLĐVN) và về tính chất của “ĐCS” ở ta.
ĐH chính thức bắt đầu với báo cáo chính trị của HCM.
Báo cáo ấy có phát trước. Nghe rồi về tổ đọc lại và “sơ bộ” trao đổi ý kiến để phát biểu ở hội trường.
Sáng hôm sau lên hội trường, anh Trần Huy Liệu ôm theo mấy thứ sách Mác-Lê và phát pháo nói về đảng ta, tên gì thì tên, chứ phải giữ tính chất là CS.
– “Nó chỉ phải là”, anh Liệu nói, “đảng của giai cấp công nhân. Vậy xin hỏi, ĐLĐVN sắp tới đây có còn là ĐCS không mà đi nói là “đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ?”
Trên không trung núi rừng Việt Bắc, câu hỏi ấy đang vang. Anh Dương Bạch Mai ngồi dưới, không xin phép phát biểu, cứ đi a lên đứng sánh vai anh Liệu.
Phải dùng chữ “nổ” mới ăn với tính khí anh Mai :
– “Trong giai đoạn cách mạng này, quyền lợi của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc là một”
Nói vậy thì có ai cãi đâu.
Những người CS của chúng ta muốn làm vừa lòng toàn thể dân tộc mà đổi tên ĐCS ra tên ĐLĐ thì không tội gì mà bộc bạch cù nhầy :
“Chính vì ĐLĐVN có là đảng của giai cấp công nhân thì nó mới là của nhân dân lao động và của dân tộc VN.”
Người ta có từ bỏ chủ nghĩa hay không thì nói đi. Chớ đừng có lập lời làm cho tính chất của ĐLĐ ĐCS hóa ra như nồi cám heo”.

Hội trường cười ồn ào. HCM đang chủ trì buổi họp cũng mỉm cười, không nói là rộng lượng, mà phải nói là mỉm cười dân chủ.
Anh em “xuống” hội trường, sau khi nghe công bố : Chiều nay ở tổ.
Ăn cơm rồi nằm đó, chưa ai ngủ vì anh Liệu và anh Mai….
Thì…
Ban tổ chức ĐH bố trí người có mồm mép nói lại lời nói của cấp trên, “Bác Hồ có đi gặp Staline để xin ý kiến. Staline dạy làm như Mông cổ, đặt tên đảng của họ là Đảng nhân dân cách mạng. Bác Hồ nghe Staline mà đặt tên đảng ta là ĐLĐVN, đâu cũng có nghĩ rằng như người Mông cổ du mục không thể lập ra ĐCS, người VN ta sống trong 2 lớp phong kiến thực dân thì làm sao thoạt một cái, với tới CNCS khoa học và ĐCS”.
Nghe tời Staline thì còn ai hó hé.
Tuy nhiên ban tổ chức cũng yêu cầu các đại biểu nên thảo luận sâu thêm để mọi người làm việc gì cũng phải thông hiểu “ý nghĩa” của việc mình làm.
Ở tổ khác thì sao không biết.
Chứ ở tổ Nam bộ quốc tế : 2 vấn đề nổi cộm nhất trong báo cáo chính trị đã được cắt xẻ.
_ Một là “tư tưởng Mao Trạch Đông”.
_ Hai là vấn để Đảng : giải tán và sửa tên Đảng có cần thiết hay không ?
Về tư tưởng Mao Trạch Đông.
Trong báo cáo chính trị của HCM có câu :
“Về lý luận ĐLĐVN theo chủ nghĩa Mác-Lênin” và tiếp theo đó nói :
“Lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam.”
(sau ĐH báo cáo chính trị này đã được in lại coi như đã được ĐH II thông qua, vẫn còn có tư tưởng Mao Trạch Đông làm tư tưởng chỉ đạo Đảng ta. Nhưng theo tài liệu mới in gần đây thì tư tưởng ấy trốn mất nên tôi không biên ghi cho thật chính xác).
Anh em trong tổ quốc tế này đả tới bới cái tư tưởng Mao Trạch Đông. Ôi ! Cái miệng của Bùi Công Trừng. Anh đả luôn cả cái bọn đi học lớp Hoa Nam đầu tiên ở Trung Quốc về_ nói chuyện thì khen Mao chủ xị với văn phong rặc Trung Quốc.
Nhưng cuối cùng tổ này đồng tuân phục lời dạy của ông bà : môi mất thì răng lạnh, sao răng lại dại mà cắn môi, ngay trong thời điểm mà quyển sách “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” của ông Trường Chinh đang như credo (ie. tín điều) – tín kinh của của cuộc chiến tranh thần thánh của chúng ta. Sách ấy xông mùi Mao. Nếu ta dại mà bài xích tư tưởng Mao Trạch Đông thì không có lợi về mặt giúp đỡ của “bốn phương vô sản”.

Vã lại thà đừng nói. Chớ nói rồi mà chối trước mặt La Quí Ba đại diện cho ĐCS Trung Quốc đi dự ĐH thì rẩy rà biết chừng nào. Anh em đồng ý, thôi không nói tới.
Hôm đó làm tổ trưởng, tôi làm nhiệm vụ phản ảnh trực tiếp. Một mình Bác Hồ, một mình tôi.
Tôi báo cáo tình hình, anh em trong tổ nói, bộ hết duyên rồi hay sao mà lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm tư tưỏng chỉ đạo Đảng ta. Nhưng anh em giao là nói cho nhau biết chớ không phát biểu ở hội trường. Và đã lỡ miệng nói một điều quan trọng như vậy, trong quan hệ quốc tế này thì ngậm miệng đừng nói đi nói lại là hơn.
HCM nhắm hí mắt như Staline khi gặp vấn đề khó nghĩ và tìm chữ.
Tôi thưa tiếp :
– “Có đồng chí còn nói : “Hay là ta viết tư tưởng Mao Trạch Đông và tư tưởng HCM” có phải hay không !”
Câu nói của tôi làm cho mắt ông già rạng lên theo lời đáp cấp kỳ :
– “Không, tôi không có tư tưởng ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin.
Tôi chỉ có phương pháp để giải quyết thỏa đáng từng vấn đề của ta. Như tôi thường nói : “Lạt mềm buộc chặt”; đó là phương pháp cột cái gì đó của tôi. Mà cho đến phương pháp như vậy thì cũng có sự chỉ biểu của phương pháp biện chứng.
Chứ còn tư tưởng là quan niện của vũ trụ về thế giới và về xã hội con người, thì tôi chỉ là học trò của Mác-Lênin chứ làm gì tôi có tư tưởng ngoài triết học Mác.”
(Vấn đề đang có tính thời sự. May sao đồng chí Việt kiều Thái Lan, Lê Quang Lô hãy còn đó mà làm chứng cho tôi)

Tôi về tổ tôi.
Hai là : vấn đề Đảng.
Anh em cũng muốn cho tôi mở màn. Vì tôi là cấp ủy bám chặt địa phương. Vì có người như Bùi Lâm nghe tôi mà bây giờ mới thấy mặt.
Tôi phát biểu nhớ chừng như vầy :
“Năm 1943 tôi đi trốn về gặp Trần Văn Giàu. Anh giới thiệu “Chương trình VM” cho tôi và có nói : “Đảng giải tán, lấy mặt trận VM thay.” Tôi đã nói, tôi không đồng ý chủ trương đó. Nhưng cũng chưa biết sự thực thế nào.
Đến cuối 1945, Cao Hồng Lãnh vô, gặp tôi ở Chợ Đệm, yêu cầu có cuộc họp quần chúng rộng rãi để anh thông tin, ĐCS giải tán và hiện hình “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác.”

Tội nghiệp đồng chí và đồng bào Nam bộ chưng hửng lần này là 2.
Lần đầu không biết HCM là cha nào ở đâu tự nhiên nhảy lên làm chủ tịch.
Rồi lần này. Làm sao nghe nói là bấy lâu nay đi tìm đường cứu nước, đã tìm thấy được ở Liên Xô, bây giờ về nước lại dở chứng giải tán ĐCS của người ta đi.
Nhân dân tin yêu Đảng. Cái đảng ấy đã viết trên vải Tây đỏ những tự do dân chủ và nhân quyền và hô hào giải phóng đất nước, giải phóng con người, rồi theo tiếng trống, bóng cờ của Liên Xô mà đi giải phóng cho toàn nhân loại.
Người CS bị tra tấn, bị tù đày, bị chặt đầu để cho trong lòng người ở Nam kỳ hình thành sự giác ngộ về trách nhiệm, về vạn mạng của người quần rách áo ôm gắn liền với vận mạng của đất nước và của cộng đồng thế giới.
Bây giờ khi không mà hô giải tán Đảng !
Bây giờ ra đây, tôi biết rằng sự giải tán Đảng là có thật. Mặc dù trong ĐH này cụ Hồ đang nói đây :
“Phía Bắc thì quân đội Quốc dân đảng Trung hoa kéo sang. Chúng cũng mượn tiếng là lột vũ trang quân Pháp, nhưng kỳ thật chúng có 3 mục đích hung ác :
– Tiêu diệt Đảng ta.
– Phá tan VM.
– Giúp bọn phản động VN đánh đổ chính quyền nhân dân để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng.
Đứng trước tình hình gay go và cấp bách ấy, Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển để lãnh đạo kín đáo và hiệu quả hơn, và để có thì giờ cũng cố dần dần lực lượng chính quyền nhân dân, cũng cố Mặt trận dân tộc thống nhất.
Lúc đó Đảng không thể do dự. Do dự là hỏng hết, Đảng phải quyết đoán mau chóng, phải dùng những phương pháp – dù là những phương pháp đau đớn – để cứu vãn tình thế.
Mặc dù nhiều khó khăn to lớn, Đảng và chính phủ đã lãnh đạo nhân dân nước ta qua những thác ghềnh nguy hiểm và đã thực hiện nhiều điểm của chương trình VM.”

Đó là để bào chữa cho sự giải tán đảng bằng những câu úp mở nghe phải thương.
Và dưòng như có sự cưỡng bức, phê phán đưa đến sự phân bua này. Tôi nghiệp cho ông già lắm. Người miền Bắc nắm được cái thóp “quốc tết CS đã phê bình Nguyễn Ái Quốc là hữu khuynh cho nên bắt ông HCM như cắn đầu ngón tay lấy máu mà viết thanh minh cho phương pháp đau đớn”, không nói ra chứ ai cũng biết đó là sựvgiải tán Đảng.
Tôi cho rằng giải tán Đảng là không cần thiết vì không thể lừa được mấy vì cháu chắt của Gia Cát Khổng Minh.
Mà đã giải tán rồi, ĐCS có “Hội những người nghiên cứu chủ nghĩa Mác” thay thì cũng được !
Như ở tuổi “thiếu niên” của chủ nghĩa CS Mác và Engels đã lập ra cái “ligue”, cái liên đoàn của những người CS, thì ông Hồ cũng thừa biết, CNCS còn được gọi là CNXH khoa học, không thể nảy sinh trên một đất nước dã man, lạc hậu, mà người dân đang sống dưới mức đói nghèo.
Làm sao HCM không biết câu của Lénine nói : “Cách mạng là do những người không phải CS làm” (la révolution est faite par les non-communistes).
Huống chi ông “đi tìm đường cứu nước” đem thông điệp của cách mạng 1789 của Pháp, đọc cho đồng bào nghe và còn gặng hỏi “đồng bào nghe tôi không ?”
Dạ thưa nghe, mà còn hiểu là ta sẽ theo gương nước Pháp mà làm cách mạng tư sản dân quyền.
Dân ta còn ngu hèn nên ông chưa có lời gì trong tuyên bố nói đến gương của Liên Xô !
Vậy nên đồng bào sẽ nghe và hiểu được HCM rất mặn mà với mặt trận và chưa nói gì lớn lắm về Đảng.
Như ông đã nói đây.
“Cái tên Việt Nam Độc lập Đồng minh” rất rõ rệt thiết thực và hợp với nguyện vọng toàn dân. Thêm vào đó chương trình giản đơn, thiết thực mà đầy đủ của mặt trận gồm 4 điểm như bài ca tuyên truyền đã kể :
Có nhiều chính sách bày ra,
Một là ích nước, hai là lợi dân.
10 điểm ấy, gồm những điểm chung, của toàn thể dân tộc và những điểm đấu tranh cho quyền lợi của công nhân, nông dân và cho mọi tầng lớp nhân dân.
Vì thế VM được nhân dân triệt để hoan nghinh, và cũng do cán bộ rất cố gắng đi sát với dân, cho nên VM phát triển rất mau và rất mạnh. Vì Mặt trận phát triển mạnh, mà Đảng phát triển cũng khá !!!
Tổ viên của tổ một này gồm những tay chính trực. Như Bùi Lâm là người khi ra sân bay tiễn đoàn ta đi Paris dự hội nghị, đã kề tai ông cụ mà nói :
– “Đừng có bán nước nghe đồng chí.”
Anh em nghe tôi nói với tư cách đại biểu của một miền đất nước đang điêu đứng, họ rất thương mà nói vừa vào tính chất của ĐCS, và cùng nhau đi tới bài của Lénine viết tựa là “Những người bạn của dân là thế nào”.
Hồi đó người nói chính là Bùi Công Trừng. Cũng là nói miệng tài. Nay thuật lại, để cho rõ, tôi phải lấy bản chính chép vào đây :
“Và thật vậy, tính chất sau cùng này là cái hoàn toàn tuyệt đối vốn có của chủ nghĩa Mác, vì lý luận này công khai tự đề ra cho mình nhiệm vụ phải vạch trần hết thảy mọi hình thức đối kháng và hình thức bức lột trong xã hội hiện đại, phải theo dõi diễn biến của hình thức đó, sự chuyển biến không thể tránh khỏi của các hình thức ấy thành hình thức khác, và do đó giúp giai cấp vô sản kết kiễu một cách hết sức nhanh chóng và dễ dàng mọi sự bóc lột.
Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người XHCN của tất cả các nước đi theo lý luận đó, đó là chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng, và kết hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì người sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong bản thân mình những phẩm chất của nhà bác học và của nhà CM mà là kết hợp trong chính bản thân luận lý ấy, một sự kết hợp nội tại và khắp khít.
Thật thế nhiệm vụ của lý luận, mục đích của khoa học được nêu thẳng ra ở đây là giúp đỡ giai cấp những người bị áp bức trong cuộc đấu tranh kinh tế đang thực sự diễn ra.
Chúng tôi không nói với thế giới, đừng đấu tranh nữa, tất cả cuộc đấu tranh chỉ là vô vị mà thôi. Chúng tôi đưa ra cho thế giới khẩu hiệu đấu tranh chân chính. Chúng tôi chỉ… chỉ ra cho thế giới thấy rằng thực ra họ đang đấu tranh cho cái gì, còn ý thức thì đó là cái mà thế giới dù muốn hay không cũng cần phải có.”

(l.Lenine trích “Thư Mác gởi cho Rughê”).

Vậy là theo Mác, nhiệm vụ trực tiếp của khoa học là nêu ra một khẩu hiệu đấu tranh chân chính, nghĩa là phải biết trình bày một cách khách quan cuộc đấu tranh đó như là sản phẩm của một hệ thống quan hệ sản xuất nhất định, phải biết hiểu rõ tính tất yếu của cuộc đấu tranh đó, nội dung của nó, tiến trình và điều kiện phát triển của nó.

Không thể nào đưa ra
“Khẩu hiệu đấu tranh” được nếu không nghiên cứu thật tỉ mỉ mỗi một hình thức của cuộc đấu tranh ấy, nếu không theo sát từng bưóc cuộc đấu tranh ấy khi nó chuyển từ hình thức này sang hình thức khác, để biết cách xác định tình thế ở từng lúc nhất định, mà không bỏ qua tính chất chung và mục đích chung của cuộc đấu tranh là : Thủ tiêu hoàn toàn và vĩnh viễn mọi sự bóc lột và mọi sự áp bức.
Tổ chúng tôi đang lựa lời giới thiệu của “giáo sư đỏ” Bùi Công Trừng về bài viết nổi tiếng này của Lénine mà tư lự về ông Hồ. cái ý nghĩ của ông, chắc là chưa tính đến việc tổ chức ra ĐCS trong tình hình người dân còn dã man lạc hậu, sống dưới cái mức nghèo nàn bình thường. Nhưng ông có ý thức mạnh mẽ về một tổ chức gì đó của những người cùng chung lý tưởng đứng trong cái Mặt trận thiêng liêng, phấn đấu cho người ta chấp nhận sự lãnh đạo của mình, qua những hồi chuyển biến của CM, đã đề ra được khẩu hiệu đấu tranh, vì lợi ích của toàn thể dân tộc, trong chính quyền vì nhân dân tạo lập.
Ở những tổ khác, người ta thảo luận vấn đề chia cấp ruộng đất trong kháng chiến và đã đi đến ý kiến là không nên.
Nghe tình hình như vậy HCM lịnh cho cuộc thảo luận tổ ấy tạm dừng, chờ Trung ương tổ chức nghe cho kỹ.
Một tiểu ban được chỉ định ra, gồm những người “ăn nói” đại biểu của các địa phương và 23 người được lựa chọn, trong đó có tôi.
Người đăng ký nói buổi chiều là Nguyễn Chương và tôi. Không ai nữa hết vì họ để nghe coi học trò của Mao Trạch Đông học “khóa Hoa Nam” đầu tiên, về phụ trách giáo vụ trường Đảng “Nguyễn Ái Quốc” sẽ nói ra sao.
Và người đại biểu của nơi đồng ruộng cò bay thẳng cánh.
Chiều vào, Nguyễn Chương tỏ ra trọng ý kiến thực tế nên đã đứng lên nhường lời cho tôi.
Người ta nhìn thằng Nam bộ nói.
“Tôi nói nông dân là lực lượng quan trọng của các cuộc nổi dậy CM. Thường thấy trong sử sách cuộc CM nào bị dập tắt trong thời gian rất ngắn cũng tiếc rằng không kịp thời có chính sách thoả đáng đối với nông dân. Ví dụ như Ba-lê Công xã.
Cuộc CM của ta đã có chính quyền để hô hào dân đánh giặc. Ta yếu, giặc mạnh nhưng chỉ cần ta đánh được lâu ngày thì giặc phải xin hòa, chịu thua.
Vậy thì ta phải bồi dưỡng cho nông dân. Cha ông của chúng ta, của công nhân, của tất cả mọi người là nông dân.
Từ xưa tới nay dựng nước, giữ nước là công của họ.
Khi có Đảng ta ! Bí mật thì đưa ra khẩu hiệu đấu tranh “người cày có ruộng”. Lúc công khai từ 35-36 thì khẩu kiệu đấu tranh cho nông dân là cấp ruộng đất cho dân cày nghèo, bỏ đấu giá công điền, cho công điền cho nông dân nghèo làm.
(Có tiếng vổ tay, hoan hô ở phía ghế ngồi của Bùi Công Trừng)
Bây giờ chúng ta đang đánh giặc được lâu ngày thì tất nhiên phải gấp gấp đem đất cấp cho nông dân, đừng để họ xuống sức. Cấp ruộng đất cho nông dân, có ai nói gì tôi chịu cho.
(Có tiếng cười khắp hàng ghế. Bùi Công Trừng khen lớn tiếng và vổ tay, làm cho không biết mắc mới gì mà đại biểu Trần Quý Hay đứng lên kêu tên anh Đồng hãy bắt Bùi Công Trừng giữ trật tự.
Bùi Công Trừng làm lại một câu : “Người đang nói đó là Bí thư khu ủy chứ không phải vừa đâu nha”)
Vì là thưa Hội nghị. chúng ta đang làm đây là làm CM tư sản dân quyền và sự cấp ruộng đất cho nông dân chứ không phải làm cái gì đi ra ngoài khung khổ của chữ ấy.
Người trí thức trong Nam rất hiểu biết về CM 1789, CM tư sản dân quyền, révolution démocratique bourgeoise” (ie. cách mạng tư sản dân chủ).”

Tôi day phía Nguyễn Chưong mà nói : “Ra đây tôi có nghe anh em nói giai cấp công nhân liệng cho nông dân một cục đất, nghe sao như liệng cục xương cho… chó.
“Không phải ! Đây là Mặt trận cấp, cấp cho nông dân như lấy thịt bò, bó gối cho nông dân đi mạnh.
Sau cùng tôi lấy tư cách đại Bí thư khu ủy khu 9 mà nói về tình hình nuôi quân.
Thường thấy nhà thương, nhà tù có phần nhờ vào sự thăm nom của người thân. Bộ đội đang đóng tại chỗ cũng mong nhờ vậy.
Trong Nam, vùng khu 7 là vùng đa canh. Có lúa lại có hàng bông. Mưa nào cũng có cái gì ngoài chợ nên lính của khu 7, thường xuyên được người nhà gởi cho áo quần, đồ ăn, còn cho tới đồng hồ đeo tay. Nói chi tới thuốc rê, thuốc gò.
Lính của khu 9 đâu được vậy.
Các anh không thấy chứ chắc có nghe : 2 vợ chồng có một cái áo, cái quần. Có chuyện phải đi thì mới mặc. Còn ở trong nhà hay đi làm, lặn ngòi ngoi nước thì quần áo bao bố bao hàng.
Ở khu 9 ruộng đất tập trung lớn lắm, vào tay điạ chủ ta và vào đồn điền của địa chủ Tây. Cá trong ruộng, hàng lát trong bưng, rùa rắn trong rừng. Đều của có chủ. Người nghèo không đánh bắt được, thậm chí không đi trên ruộng của địa chủ nào đó được.”

Người nghe đang muốn nghe, nên cứ để tôi kể cái cảnh khổ của dân trên cái vùng công tử Bạc Liêu. Tôi vốn là tay viết báo. Đảng đã giao cho tôi đi viết bài điều tra cho Ban Cứu tế Bình dân về tình cảnh nông dân trên một đồn điền của người bản xứ : Trần Trinh Trạch.
Tôi nói cũng có trên một giờ. Trong phút giải lao, Phạm Văn Đồng ôm tôi mà nói : “Đúng đắn là một tham luận nghị trường”.
Vào họp lại có vài anh phát biểu cho rằng đại biểu Nam bộ đề nghị tạm cấp ruộng đất trong khi toàn dân đang kháng chiến là tả khuynh”
Nguyễn Chương không nói gì hết. Nói đúng hơn đã nói bằng cái đưa tay, cộng với Bùi Công Trừng, Hà Huy Giáp, Hoàng Tùng với tôi là 5. Nhưng coi lại chỉ có 4 thăm vì Hoàng Tùng thích quá mà đưa tay chứ anh có mặt ở cuộc họp với tư cách phóng viên báo chí, không có quyền bỏ phiếu.
4 thăm tán thành ý kiến của tôi khi chủ tọa Phạm Văn Đồng đề nghị bỏ thăm đối với ý kiến tạm cấp ruộng đất ở khu 9 ngay khi còn đang kháng chiến, của đại biểu Nam bộ “để báo cáo lại cho Bác”. Tôi thiểu số một cách vinh quang.
Vì họp trong tình hình giặc đang đánh (nhà quân sự Võ Nguyên Giáp phải báo cáo với đại hội mà ra đi) cho nên đại hội phải sớm kết thúc.

2 vấn đề. Sự thành lập Đảng Lao động cứ nghe theo Staline.
Sự chia cấp ruộng đất để đẩy mạnh cuộc kháng chiến thì giao ban chấp hành Trung ương Đảng mới này giải quyết.
Chỉ còn có việc các tổ đọc lý lịch của những đồng chí được giới thiệu ứng cử vào Trung ương.
Tới buổi bế mạc, Hà Huy Giáp bảo tôi nói cái gì với ông cụ để về Nam. Tôi không kịp chuẩn bị. Nhưng tổ trưởng của tổ 1, được Bùi Công Trừng kêu lớn lên : “L’orateur de Saigon” (ie. Cái loa của Sài Gòn). Tôi đứng lên, nghiên đầu về phía Nguyễn Văn Tạo và hỏi :
– “Anh hay tôi ?”
– “Allez-y, mon enfant !” (ie. Đi đến đó đi, nhóc con tôi) Anh Tạo cười và đáp.
Tôi cầm sổ tay lên bục.
Bắt đầu nói, tôi nói lòng ái mộ của mấy má miền Nam đối với Nguyễn Ái Quốc mà hỏi HCM là “ừng cha” nào. Hội trường xôn xao. Tôi gỡ lại liền. Khi nghe biết HCM là Nguyễn Ái Quốc thì đồng bào vui mừng xôn xao như sông Mékong nổi sóng lúc trăng lên, gió thổi.
Rồi tôi nói tới mấy đứa Gavroche (ie. Gavroche là nhân vật làm cách mạng trong tác phẩm “Những kẻ Khốn cùng”, Les Misérables, của Victor Hugo) của Saigon, mà Tây bắt được là nó cắt một miếng rái tai.
Ở bót Phú Nhuận, ngày kia nó lượm được 3 em có vành tai bị thểo ấy. Đem về bót, sếp bót lấy tấm hình HCM, để dưới gạch, trên đường đi vào khám. Nó nói : “Đứa nào bưóc qua tấm hình thì nó cho đi luôn ra đường, đứa nào không bưóc qua hình là phải đi thẳng vào khám.”
Em thứ nhất, đi tới đứng trước tấm hình đưa tay lên chào, và đi vào khám.
Em thứ hai, cũng tới đứng như vậy rồi hô : “HCM muôn năm”, và đi vào khám.
Hai đứa đứng ở cửa khám chờ bạn.
Thằng thứ ba, đi tới tấm ảnh mà có hơi ngần ngừ, coi phải làm gì. Hai thằng kia đã làm vậy mình làm theo thì dở quá. Nó vụt cuối xuống lấy tấm ảnh, đội lên đầu, một tay giữ rồi chạy đến với hai thằng kia mà vào khám.

Tôi quay mặt ra phía sau hàng ghế Chủ tịch đoàn, thấy Hoàng Quốc Việt ngồi cạnh Bác Hồ, nước mắt lã chã

Tôi nói tới 6 tháng 3 và 14 tháng 9.
Bộ đội non trẻ ô hợp của ta bị địch đánh mà như hoa trôi bèo dạt không còn ai thấy tông tích. Bỗng nhiên được cái Hiệp định sơ bộ rồi đến cái Thỏa hiệp án. Nếu tôi nói cuộc kháng chiến ở Nam bộ như người chết vùng sống lại thì nói sao được sự phấn khởi của đồng bào Nam bộ. Các anh có đi mà thấy được như tôi từ rừng Phan Thiết chạy vô Bà Rịa, cây điệp có bông cũng không đỏ bằng cờ đỏ treo ở thân cây, banderole (ie. biểu ngữ) đỏ cứ giăng ngang từng khúc đường, hoan nghinh Thoả hiệp án.
Tôi đi về Tân Nhựt, tôi thấy 2 bờ Kinh Xáng treo cờ !
Các anh có biết cây sống đời không ? Nằm khô trong tủ ta lấy ra nhiểu nước lên mấy cánh lá xếp của nó. Nó lần lần bung ra. Như người con gái mỉm cười.
Nói tới đó tôi nghe sau lưng :
– “Chú nghỉ một chút đi.”
Đó là Bác Hồ biểu. Tôi đứng nghiêng minh như đứng nép để nghe. Bác nói :
– “Thấy chưa ? chỉ có nơi chiến đấu với giặc mới thấy cái Hiệp định 6-3 có tác dụng rất lớn.
(Tôi lúc đó đã thấy ra cái ông Hồ hữu khuynh ấy, sống không êm ái với xung quanh.
Vậy nên Bùi Lâm mới tiễn đưa ông phó hội Fontainebleau mà ghé tai bảo nhỏ : “Đi kỳ này đừng bán nước nhé”).
Ông cụ trao lời lại, tôi nói tiếp.
Tôi nói sướng quá. Hơn buổi trước. Hôm nay đông người nghe nên tôi nói sôi nổi, người diễn thuyết với người nghe như lân với pháo.
“Tôi có thưa cha, chúng con mai này về Nam, được cha cho phép, sẽ cầm cục đất bẻ ra chia cho nông dân.”
Tôi đi xuống, đi ngang qua La Quý Ba, nhận của anh cái bắt tay và lời khen “Hấn hảo”.
Mấy anh em trong ban thư ký đi theo xin bài nói… Chị Xuân Hồng giựt cuốn sổ giở ra, chỉ thấy nguệch ngoạc hình vẽ đứa nhỏ đội bức ảnh.
Sau ĐH, đoàn Nam bộ còn đi dự hội nghị Liên Việt.
Cũng có một điều phải báo cáo luôn ra đây là đồng chí Lê Văn Lương phụ trách tổ chức không biết để tôi ở đâu nên gởi tôi ở tại cơ quan của cố vấn La Quý Ba. Nói là để ăn uống đở khổ và học tiếng Trung Quốc chuẩn bị đi học ỏ Bắc Kinh.
Cái số tôi xa cách miền Nam như đã định rồi.
Tôi cố tình không nói tới sự bầu bán vô Trung ương vì là thiên định… lãnh đạo giới thiệu… chứ có ai biết ai đâu mà bầu !
Có người nghe tiếng tôi, lại vừa được nghe tôi nói năng nên hỏi :
– “Sao anh không được giới thiệu ?”
Tôi nói : “Nếu tôi được bầu thì sẽ có người nói, thằng đó mà Trung ương cái gì. Nhục lắm.
Còn tôi mà không được giới thiệu thì sẽ có người như anh đây hỏi : ‘Sao thằng đó không được làm Trung ương ? Coi có phải vinh không ?”

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s