Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 8)

c. Tôi được đi học.
Cùng với hai đoàn đại biểu ĐH của khu 5 và Nam bộ.
Theo cấp bậc trong Đảng thì tôi làm bí thư và trưởng của một đoàn họp thành một chi bộ.
Đi tới biên giới, chúng tôi nằm đợi đoàn của miền Bắc đi theo. Vì trong đoàn này có người thay tôi làm lãnh đạo. Tôi biết thân là người Nam không dám so bì với người Bắc lại còn cảm thấy lý thú được rảnh rang.
Trường chúng tôi học được xây tối tân ở địa điểm Tân Bắc Kinh để chấp hành nhiện vụ mà “Cơ quan thông tin quốc tế” giao cho nó. Bồi dưỡng chủ nghĩa Mác-Lênin cho đảng viên các ĐCS và đảng công nhân Đông Nam Á.
Ban VN tới trước, lục tục các ban khác reo cười mà đến. Nam Dương, Mả lai, Thái lan, Pakistan, Phi luật tân, Nhựt bổn.
Tôi đã học được cái gọi là chủ nghĩa Mác-Lênin. Trước đây tôi biết kể cũng khá nhiều.
Nhưng rời rạc. Nói tới đâu biết tới đó. Dùng để hoa hoè một bài báo thì được. Chứ không dạy người ta học được.
Chủ nghĩa Mác-Lênin có hệ thống đây là triết học Duy vật Lịch sử, Duy vật Biện chứng được chứng minh bằng con vượn biến thành người, năm phương thức sản xuất; chủ nghĩa Duy tâm siêu hình và Phép biện chứng.
Học phải như “bắn tên có đích”. Đó cũng là nói lý luận liên hệ thực tế. Vậy nên học để hiểu cách mạng nước mình trong khung cảnh chung của cách mạng thế giới.
Lịch sử là do con người làm. Vậy nên học để biết mà làm và để biết mà cải tạo mình.
Chủ nghĩa Mác-Lênin có tính chất phê phán, biết rằng cái suy nghĩ của con người luôn luôn đi khó kịp với thực tế cho nên phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm cái gọi là Phương pháp tư tưởng để nhận thấy trong việc làm có sai, cắt nghĩa được tại sao mà sửa.
Ta làm việc cho nhân dân quần chúng mà cứ nhắm mắt làm liều thì liệu có thể nói là người có luân lý, đạo đức hay không ?
Đã 53 năm rồi tôi còn nhớ lời thầy tôi Dương Hiến Trân và Phùng Định đã dạy vậy.
Tôi còn nhớ Dương Hiến Trân vừa giảng bài (phương pháp tư tưởng nổi danh của ông) vừa gác chân lên ghế mà nói :
“Tôi được Quốc Dân đảng bắt tôi đứng lên ghế đút đầu vào vòng thắt cổ và dọa nếu tôi không khai thì nó sẽ đạp ghế dưới chân tôi. Tôi vẫn không nói theo lời nó muốn. Tôi nhắm mắt, nhớ mẹ, thương dân biết chừng nào.”
Tôi không muốn nói dài về kết quả của khóa học có gây án mạng, một đồng chí cũng cấp cao bị động viên “thản bạch” (ie. ?), ban chiều lên hội trường nói ra những hành động tham ô, tối lại mua bia, táo đãi anh em, rồi khuya viết thơ từ giã vợ và treo cổ.
Tôi lấy chuyện đó để nói người ta đã cho tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lênin là có sức mạnh phi thường, là không có gì chống lại nó nổi.vv.
Nhà trường báo cáo kết quả học tập của chúng tôi cho Trung ương ĐLĐVN và có lưu ý hai đồng chí Hoàng Tùng và Nguyễn Văn Trấn có thể làm công tác lý luận.

d. Lúc đi học về.
Thì liền được nghe nói rằng Trung ương chiếu cố cho chúng tôi vào Thanh Hóa cũng là trên con đường về Nam, tham gia thí điểm cải cách ruộng đất bắt đầu bằng phát động “giảm tô, giảm tức”.
Hồ Viết Thắng làm ấu chúa của một đoàn cố vấn Trung Quốc.
Họ “cố vấn” cho là :
“Thẳng tay và phóng tay phát động quần chúng nhưng tuyệt đố không dựa cơ sở cũ của Đảng, vì sống lâu ngày trong vùng địch nên khí tiết CM bị ăn mòn, làm tay sai cho địch, chống phá trở lại CM.
Kiên quyết dựa vào bần cố nông. Nhất là cố nông. Họ triệt để CM. Vì (xin lỗi ông Mác) trong CM, được thì được tất cả còn nếu phải mất thì người cố nông cũng chỉ mất cái quần xà lỏn mà thôi.
Đã phát động lên thì phải tiếp tục thổi lửa cho cháy mạnh thêm. Đó là nói thẳng tay.
Cán bộ công tác mà tỏ ra có chút thương tình với bọn địa chủ cường hào và bọn cho vay nặng lãi, là tạt nước lạnh vào gáy nông dân, làm nhục nhuệ khí đấu tranh của họ.”

Cái loài cố vấn ấy còn dở sách ra (nói có sách mà) lấy lời Mao Trạch Đông :
“Kiểu uông tất tu quá chỉnh
Mà anh phiên dịch vừa nói vừa ra bộ “như cái cây nó cong về bên hữu, ta muốn uốn nó cho ngay thì tất nhiên là phải bẻ cong nó quá về bên tả, bên trái. Buông ra nó thẳng lại là vừa”.
Cho nên không sợ quá trớn. Có quá trớn mới bớt lại mà ngay được. Đấu tranh ruộng đất là một cuộc CM kinh thiên động địa. Trong một cuộc đảo lộn lớn lắm của cuộc sống, có người chưa quen, họ kêu. Không có gì lạ cả. Ta đánh họ đau mà họ không kêu, đó mới đáng lấy làm lại chứ !
Đây mới là thí điểm, nó đòi ta phải làm hồ sơ trong từng xã. Một xã có từng này bần cố nông thì theo kinh nghiệm Trung Quốc, nhứt định phải có bằng này địa chủ.

Độc giả ơi ! Anh mà hỏi tôi (dầu cho hồi ấy) có tin những lời thánh thần ấy hay không là anh chưỡi cha tôi. Tôi giận trong lòng, sao họ khinh miệt dân ta đến như vậy.

Như tôi có nói, Hồ Viết Thắng nguyên là tổ phó của tôi. Anh đặc cách phong tôi Đoàn ủy viên (của anh là trưởng) phụ trách tuyên huấn, chăm sóc nguyệt san của “Đoàn cải cách ruộng đất ở liên khu 4”, và cho tôi làm Đội trưởng một đội gọi là Đội “chủ công”, tức là đội tin cậy của Đoàn cho đi phát động lấy kinh nghiệm cho Đoàn. Cho nên Đội chủ công này gồm những anh tài : Xuân Diệu, Thép Mới, Vĩnh Mai, Trần Hữu Thung…
Kỷ luật của Đoàn ra cho Đội là phải “ba cùng” :
_ Cùng ăn với người ta. Kham khổ quá ngủ không được thì đi chợ Hậu Hiền, Rừng Thông, ta làm một dĩa lòng lợn và trái chuối. Tôi cho phép.
_ Cùng ở phải làm việc trong nhà với người ta và khi ngủ, muỗi có cắn, chết bỏ chứ không được ngủ mùng.
_ Cùng làm, phải cùng người mình ở đi làm lao động theo sự phân công của một tổ chức lao động.
Bạn nghĩ coi tôi mà lao động theo người ta thì sao nổi. Bà con thấy bàn tay, bàn chân của tôi, họ rộ lên : “Ối giời ơi, ông Đội trưởng mà trời cho chúng tôi, thì còn được việc gì !”
Tôi nói với mấy cô :
– “Đội trưởng của mấy chị xài được nhiều chuyện lắm chứ, để rồi các chị coi.”
– “Chúng em cũng chờ coi đây.”
– “Ừ, mấy chị lo tát nước, tôi ngồi xa xa gác máy bay cho…”
– “Chỉ vậy thôi à ?”
– “Còn xài được nhiều nữa chứ ! Tôi nói chuyện miền Nam cho mấy má nghe đỡ mệt. Có được hôn nào ?”
– “Ối ông Đội trưởng ơi. Được gì thì được. Chứ không được hôn đâu !”
Đội chủ công là Đội ruột của Đoàn, nhưng nhiều việc không nghe lời Đoàn mà chúng tôi coi đó là lịnh của mấy ông cố Tàu.
Bắt rễ xâu chuỗi phải cẩn thận từng người, phải điều tra lý lịch cho kỹ, coi chừng bắt nhằm rễ thối. Tôi nói với Đội : “Mấy ông cố quan trọng hóa vấn đề. Bắt rễ trong cải cách ruộng đất sao bằng thời bí mật chúng ta tiến hành điều tra để tổ chức anh thợ Ba Son, chẳng hạn, vào đảng. Vậy mà mấy cố cũng bắt mình học tập “bắt rễ xâu chuỗi”.”
Đoàn cũng đã chỉ thị là không dựa và cơ sở Đảng cũ. Chúng tôi cho như vậy là bậy. Sao nỡ bạc bẽo dứt tình với người đồng chí hôm qua của mình mà mình không biết người ta có tội gì. Riêng tôi, đến Linh Xuân một cái là hỏi ngay người Bí thư của chi bộ trong xã.
Tôi lấy anh ấy làm “cố vấn” cho tôi. Coi vậy mà quí và rẻ tiền hơn cố vấn Trung Quốc.
Đội chủ công (thiệt cũng đáng nói ngược) xuống xã được một tuần thì Đoàn ủy triệu tập họp các Đội để nghe báo cáo về số địa chủ, mức có ruộng, cách cho vay và ăn lãi. Tình trạng dân có phản ứng gì không. Đội viên có chặt chẽ “ba cùng” không? Đội có thăm nghèo, nghe khổ và được kết quả gì. Có bắt đúng rễ không, có bắt nhằm rễ thối ? Và phát động, bồi dưỡng, gây căm thù và tập luyện đấu tố tới đâu…
Tôi nói không biết xấu là Đội chủ công có bắt rễ xâu chuỗi tập thể, có “ba cùng” đàng hoàng vui vẻ nhưng chưa thấy đường đi đấu tranh.
Khi ra hội trường chung, tổng kết báo cáo và cho mạng lịnh mới, Bí thư Đoàn ủy có nói tới hai đứa chúng tôi :
“Ông Đội trưởng của chúng ta là một trí thức xuất thân thành phần địa chủ tư bản của Nam kỳ nói rằng trong khu 4, ở đâu không biết chứ Thọ Xuân thì không có địa chủ.
Người cầm đầu có lập trường như vậy thảo nào Đội viên là nhà báo Thép Mới…
Không để thì giờ đi thăm các đến thờ, ghi lịch sử các ông thần, phát động các ông thần chứ không phát động bần cố nông. Đã không thấy địa chủ thì cuộc CM ruộng đất không còn đối tượng”.
Thép Mới và tôi ngồi dưới nghe và cười về công tác phát động mấy ông thần !
Hôm sau cuộc họp, tôi có gặp Nguyễn Văn Châu, cán bộ liên khu 5, cùng học Bắc Kinh.
Hai đứa không đến nỗi ôm nhau mà khóc chứ thực là hết sức buồn.
Tôi nói với nó bằng tiếng ta, một thành ngữ Pháp “Canh bạc, lấy xâu không đủ lấy tiền mua đèn cầy”.
Châu nói lời hối tiếc : “Đấu tố như vậy rốt cuộc được cái gì ! Được cái nát tan tình làng nghĩa xóm. Tôi sẽ điện cho Khu ủy cho tôi về”
Nó đã về được chưa ?
Chứ mà tôi…

e. Được điều đi…
Về Đoàn phụ trách tờ báo.
Mới viết một bài tướng thuật được Hồ Viết Thắng khen không dè, tôi liền được điện của Lê Văn Lương gọi : “Về Việt Bắc gặp, có liên lạc đặc biệt đưa, vượt dốc Kun ban ngày cũng phải vượt.”
Tôi được dẫn về Tuyên Quang qua đòi vườn Quít đi vào “Nông trường Canh nông”.
Có mấy dãy lán, lợp chưa xong.
Nhưng xong rồi một cái nhà sàn. Lên đó tôi gặp Văn Chương, bạn xưa rất quí, làm cán bộ hướng dẫn học tập tại học viện Mác-Lê, Bắc Kinh.
Lại nghe tiếng rít của ống điều cày.

– “Ôi ! Xin chào bác Tiến.”
Bác đây là nguyên hiệu phó của học viện ấy. Bác là một ông đồ. Nên chúng tôi thường trêu bác : “Một cái hũ Mác, đựng trong cái hũ nho”.
Nói gió mưa gì đó một hồi, rồi bác giao đãi :
“…
Trung ương quyết định lập ra trường này để phục vụ một số đảng viên trung cao, “có vấn đề”.
Lê Văn Lương hiệu trưởng, tớ hiệu phó trực.
Chú mầy và Văn Chương phụ trách giáo vụ.
Trường này trong giấy khai sinh là “Nguyễn Ái Quốc, phân hiệu II”. Tên ấy khó kêu nên tớ lấy theo số điện thoại của nó mà gọi là “trường 4 con một” (1111).
Từ sau khi tôi đến, có hôm thì 5, 7, có bữa đôi mươi người “có vấn đề” được giải tới.
Đúng là “giải tới”. Vì có người trong một buổi hoàng hôn đã tiếp mấy người có cầm súng đến nhà, đưa giấy lịnh phải đi ngay. Trong hoàng hôn, anh ấy ra đi không kịp có lời với vợ, với mẹ già đang sợ hãi.
Không đầy một tuần lễ. Sự tập trung như vậy đã đưa về “1111” một số gần 300 người.
Tôi thấy ra : anh Bùi Quang Thân, một tay trí thức ủng hộ báo Dân Chúng ngày xưa, nay vừa làm trưởng công an Rạch giá.
Anh Nguyễn Chánh Nhì, nguyên đại biểu ĐH I của Đảng, họp tại Macao.
Anh Trần Mai Thưởng, công an khu IV.
Anh Hoàng Đạo, tác giả vụ đốt tàu Amyot d’Inville của Pháp tại Sầm Sơn.
Anh Hoàng Điền, đại tá giảng viên chính trị ở một đại học quân sự.
Tôi ngẩn nghĩ : biểu tôi lên lớp mấy người này thì lên lớp cái gì ?

Khi đã hết người giải tới, nhà trường có một cuộc họp lãnh đạo.
Từ sau ĐH II của Đảng, cán bộ được chỉnh huấn theo kế hoạch chỉnh Đảng, chỉ mới là cốt cán cao cấp.
Đảng còn là một số đông như anh em đã tới đây.
Phần lớn là tiểu tư sản trí thức, công chức cũ có, người xuất thân giai cấp bóc lột và không loại trừ người hai mặt “chui vào Đảng”.
Nói chung anh em ta trót đã hưởng thụ sự giáo dục của Đế quốc tư bản thì sự tham gia CM không khỏi có phức tạp.
Huống chi nay lại còn có Cải cách ruộng đất để bồi dưỡng cho nông dân để đảm bảo cho cuộc kháng chiến thắng lợi, thì biết đâu tư tưởng của họ không biến đổi phức tạp hơn nữa.
Vậy nên Trung ương cho mở cuộc vận động chỉnh huấn này để tiếp tục giáo dục, để cải tạo họ một cách triệt để, cho họ phân rõ địch ta trong tư tưởng, cho họ… cho họ… nào là tự mình cắt đứt mối liên hệ với thành phần xuất thân, dứt khoát từ bỏ các thứ tư tưởng cầu an hưởng lạc, tự tư, tự lợi.
…”
Tôi ngồi nghe đã !
Từ khi tôi mới ra miền Bắc, được nói chuyện với những đàn anh có Tây học nhiều thì thấy ai nấy đều không tán thành cái lối chỉnh huấn mà Mao Trạch Đông sáng tác.
Ai nấy đều cho rằng muốn trấn áp bọn đặc vụ chui vào hàng ngũ Đảng thì với công tác của công an cũng đủ rồi. đằng này còn muốn gạt bỏ những người đồng chí có quan điểm bất đồng với mình.
Ai nấy đều nói chỉnh huấn phản ánh sự cường bạo của bực vua chúa CM “phương Đông”. Là một sự bày vẽ một cách phi nhân, thần thánh tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, rồi bắt người ta theo đó mà kiểm điểm mình.
Tôi có đi học tập chỉnh huấn ở Bắc Kinh. Cũng may cho tôi là đã được nghe đàn anh họ nói đó và bản thân tôi cũng được văn hóa Pháp và văn minh phương Tây giáo dục nên tôi tin cái gì thì cũng qua gạn lọc của lý trí, cho nên tôi có tinh thần phê phán của Descartes mà tiếp xúc với con người, mà tiếp nhận các vấn đề của đời sống đặt ra, ngay của Đảng đặt ra.
Cho nên qua chỉnh huấn thì phải qua các ải của kiểm thảo tư tưởng. Nhưng tôi tự coi như “Ai-văn-hô” mình mặc áo giáp văn hóa nói trên mà ung dung xông vào trận kiểm thảo tư tưởng.
Bạn có biết hôn ?
Khi tôi báo cáo “Bản tổng kết tư tưởng của tôi” tôi có nói như vậy với anh Thới khi nãy, thì anh em đề ra xin Trung ương xét tôi có thể là “Việt gian”.
Tôi nghe, tôi từ Bắc kinh phương xa, nhớ mà xót xa má tôi lắm. Trước mặt tôi có một nữ phiên dịch con gái Hoa kiều ở Sóc Trăng. Tôi nhìn nó mà nghe nó dịch “Vyé chẹn” (ie. Việt gian), rồi nó ngó xuống bàn, tỏ ra thương hại người lãnh đạo của nó khi xưa.
Tôi nhìn quanh quất thấy có người viết bản kiểm thảo khổ sở. Họ nói khổ sở không phải là nói ra lỗi lầm mà khổ sở là phải bịa ra lỗi lầm để bản kiểm thảo được coi là thành khẩn…
Thật ra sự học tập chỉnh huấn đã làm cho người CS thơ ngây ngày xưa thấy học rồi mình chẳng còn là con người nữa.
Thôi bây giờ cái ôn dịch không còn. Còn để kiểm thảo ông Đỗ Mười không còn dám gọi “Đế quốc Mỹ” hay sao ?

Tôi trở lại lúc ngồi nghe ông già Tiến nói rồi chung với tôi có anh… là Nguyễn Trung Thành phụ trách tổ chức của “1111” (gần đây bị khai trừ với Lê Hồng Hà, đều là bạn tôi).
Tôi có phát biểu :
“…
Trong tay ta vừa nhân viên, vừa học viên cũng có đến 500. Cái vốn con người quí báu này lớn lắm. Ta phải làm cho cuộc sống ở “bốn con một” này thở được..”
(Có tiếng cười : “Không ai bóp mũi anh.”).
“Thở được đối với anh em bị áp giải lên chỗ đèo heo hút gió này… và họ là trí thức, là cán bộ nhiều ngành nghề, ta phải coi cái cạnh nào là tích cực của họ mà phát huy.”
(Có tiếng xì : “Cái đám người này còn coi ra tích cực!”)
“Vậy tôi đề nghị : ‘nhà trường cho tôi làm người truyền đạt kế hoạch học tập.’ Cái anh Văn Chương là thầy tôi nhưng nói năng không dễ nghe bằng tôi.
Hai là cho tôi làm giảng viên là phụ. Khi nào mời giảng viên người ngoài không được thì tôi “bao”.
Cái chính của tôi là xin làm người phụ trách sinh hoạt.
Nói không phải nói dóc chứ chưa có ai làm câu lạc bộ ăn tôi. Trong ĐH II, Bác Hồ cũng khen tôi mà. Và sự sinh hoạt ở Bắc Kinh, Bác Tiến không thấy sao ?
…”
Bác Tiến cười ừ.

Coi tôi làm.
Các tổ học tập, buổi tối họp lại, cứ một anh phụ trách sinh hoạt và bắt đầu sinh hoạt :
– “Học viên cho biết nghề nghiệp của mình ngoài cái nghề lãnh đạo chỉ tay 5 ngón.”
Có những buổi họp tiếp theo, học viên ngồi chung 2, 3 tổ. Mỗi người thuật lại đời mình :
– “Đã coi tuồng hát cải lương, chèo, quan họ gì ?”
– “Đã đọc sách hay nghe người ta kể về tuồng tích gì ?”
– “Chính mình đã sáng tác ra được vở kịch, vở tuồng gì ?”
Chung quanh bếp lửa phừng phừng anh em vui cười ngồi ăn khoai lang lùi mà kể chuyện.
Anh phụ trách sinh hoạt ở mỗi chi sinh hoạt ghi lại.
Chúng tôi đã tổ chức một đội lao động sản xuất, trồng thuốc lá để có hút chơi, trồng khoai để bổ sung cho bữa cơm hẩm hiu với rau tàu bay và muối “trắng”.
Đã tổ chức được… tổ thợ mộc, thợ rèn làm guồng xe kéo nước suối cho nhà bếp. Tổ thợ may may áo giáp cho diễn viên đóng tuồng. Anh Hải cán bộ của tổng cục đường sắt đóng Lỗ Trí Thâm khoác cà sa may bằng cái mùng, nhuộm nâu. Khi ngồi xem văn nghệ, Lê Văn Lương mê quá, kêu lão thầy chùa say rượu cho anh coi cái áo thụng.
Ở mỗi chi đều có một đội tuồng, cho nên ở “bốn con một” không diễn hết tuồng tự biên tự diễn. Vì vậy mà chi này đi thưa, chi kia kêu nài, phải cho họ lên sân khấu.
Một hôm không có lên lớp. Học viên được tự do. Anh Lương đến ngồi chơi với tôi thì nghe từ các lùm bụi “bùm bum” tiếng trống.
Anh Lương hỏi tình hình gì vậy ? Tôi thưa :
“Đoàn cải cách ruộng đất của Hoàng Quốc Việt đã về đây. Và chung quanh trường ta có những Đội phát động, họ nghe nói trường này là trường bá nghệ. Họ nhờ bịt trống.
Anh em ta cưa một thân cây thành nhiều khúc, và khoét ruột khúc gỗ ấy. Họ lấy da trâu của bếp nhà mà thuộc, làm mặt trống. Những cái trống ấy được để phơi nắng. Khi mặt trống khô và đánh lên : mặt thì kêu tiếng “trống”, mặt thì kêu tiếng “mái”, theo đúng ý muốn là họ đem giao cho Đội cải cách và xin được coi như có đóng góp phần mình vào “quyết đánh cho tan địa chủ đế quốc”.

Bác Tiến nói nửa chơi nửa thiệt với tôi :
– “Ông Trấn biến nơi đây làm rạp hát với xưởng bịt trống và đang cho làm đờn cò để kéo chơi, chứ còn có học hành gì.”

19. Tôi Vào Hà Nội
Cho phép tôi đi như chạy.
Tôi ở với anh em “bốn con một” tới quá giữa 1954.
Ta thắng Điện Biên Phủ. Có hòa nghị Paris.
Những cơ quan ta sơ tán, nay dòm chừng về Hà nội.
“Bốn con một” dọn về Phùng.
Về đây tôi đề nghị làm ở bên kia cầu (đã sập) một cái phòng hạnh phúc, cách xa xa với lán lớp học. Trong phòng có 2 giường song song. Có bàn trải náp trắng, có bình bông và luôn luôn có trà Thái nguyên.
Ngồi trên giường lót nứa, nhìn lên cửa ra vào. Phất phơ tờ giấy trắng có hàng chữ xanh :
“Chào mừng anh, chị và cháu”.
Anh em học viên khen là biết điều, đạo nghĩa.
Những buổi chiều tôi thơ thẩn ra cầu chơi đi ngang qua đó, lần nào cũng thấy có chị, cháu, và anh.
Tôi cúi đầu chào. Im lìm, sướng hết sức với hạnh phúc của bạn.
Tàu tập kết chở vợ tôi ra.
Và không biết ai đã chỉ, vợ tôi gặp tôi ở đó.
Nỗi vui mừng nói không đủ lời. Chén vui chưa cạn.
Anh Cường lại gởi giấy điều động tôi về trường mới lập, có tên là Đại học Nhân dân.
Tôi ra đi trong lòng nặng trĩu nhớ thương anh em “Bốn con một”.
Xa nhau thì nhớ; chỉ đáng nói là : thương anh em sắp qua ải. Tổ chức Trung ương lại gởi Lý cố vấn tới. Tôi liệu trước những tai nạn sẽ xảy ra do cố vấn. Một người (ie. hoàn) toàn không hiểu biết về lịch sử nước tôi lại chủ trì cuộc tổng kết tư tuởng của mấy trăm cán bộ “trung cao” của tôi. Tôi sợ e nhân danh tư tuởng Mao Trạch Đông mà làm công tác gián điệp, tìm hiểu đất nước của tôi.
Tôi chỉ sợ một điều ấy.
Chớ làm sao truy bức mà biết đuợc Hoàng Đạo là người tên thiệt là gì, quê quán ở đâu !
Nói một chuyện vậy thôi.
Tôi rất nhớ các anh. Tôi cũng nghĩ vậy mà chắc rằng trong “Bốn con một” không ai dại mà tự vận với chỉnh huấn, chỉnh đốn tổ chức.

a. Tôi yên lòng đi trình diện.
Hoàng Minh Giám làm hiệu trưởng; tôi rất thông hiểu về mặt trận, nên “dạ thưa anh” mà nhận được sự thân mật.
Người lãnh đạo thực sự của nhà trường cứ theo sách vở là “đảng ủy” Đoàn Trọng Tuyển là thư ký của nhà trường kiêm (phải vậy) Bí thư đảng ủy.
Tôi được đưa ra phòng khách để cho người ta đãi cà phê.

Tôi gặp hai người, một là Trần Đức Thảo, hai là ông Phạm cố vấn. Thuở ấy anh Thảo còn quần áo nên ăn mặc đẹp hơn cố vấn Tàu.
Tôi nói bập bẹ tiếng Bắc Kinh. Có người nói chuyện với mình nên cố vấn mới xưng, mình họ Phạm, cán bộ trường Đại học Nhân dân Bắc Kinh.
Ông cố vấn càng vui khi nghe người ngoại quốc nói tiếng của ông, nên ông bày tỏ :
– “Gom lại được, trong thời gian rất ngắn, cả ngàn thanh niên nam nữ vùng địch chiếm là rát giỏi. Nhưng cũng phải thấy họ rất tin tuởng ở Đảng và nhà nước ta nên họ vui lòng chấp nhận sự tập trung để cải tạo, mà họ thừa biết là một động tác trị an, theo yêu cầu của ngành công an. Ở Bắc Kinh cũng đã làm như vầy. Và kinh nghiệm cho thấy học tập đến cuối khóa mà học sinh khai báo vũ khí của họ đã chôn giấu ở đâu, là khóa học có kết quả. Ở Việt Nam ta, tôi thấy sự tin tưởng của thanh niên đối với chính quyền, tôi cho là công tác của trường này dễ hơn của trường Đại học Nhân dân Bắc Kinh.”
Tôi không kịp biết là anh Trần Đức Thảo có nghe được tiếng Tàu không. Anh ngó ra sân nhìn hai vợ chồng chim se sẻ, làm như xưa nay không thấy.
Phần tôi suy lời Phạm tiên sinh. Cứ theo kinh nghiệm trường Đại học Nhân dân Bắc kinh, nếu trải dài suốt khóa học mà học viên không đem nộp vũ khí hay chỉ những chỗ có vũ khí, thì coi như lớp học căn bản là thất bại.
Thiệt sướng cho giảng viên ! Họ phải giảng và khêu gợi giúp vào với sự tra hỏi của công an.
Tôi được Phạm Văn Đồng phong chức “giáo sư cố định”. Thì cũng mời giảng viên. Còn bài nào không ai giảng thì tôi.
Lương của tôi 120 ký gạo. Phụ cấp giáo sư, được 30 ký nữa.
Tôi có giảng CMVN và phương pháp tư tưởng.
Bài “CMVN” của tôi được anh Bùi Công Trừng lấy trích in ra thành sách “Đóng góp nhỏ vào lịch sử VN” của 3 người ký tên chung : Bùi Công Trừng, Nguyễn Văn Trấn và Văn Hòa.
Có thể coi đây là sự viết sách đầu tiên của tôi ở Hà nội.
Nhưng đây là điều tôi không có nghĩ.
Tôi có nghĩ : lần đầu tiên được về tới Thăng Long của tổ tiên, đứng trên bục của Hà Nội mà nói thì phải nói với hiểu biết mới xứng đáng.
Kế nữa là nói chính trị, nói lịch sử của nước mình với người mình -mà là bạn trẻ- thì phải nói có chiều hướng luân thường. Tổ tiên đắp xây đất nước, luôn luôn có lưu lại lời chỉ đạo lý tưởng của cuộc sống, thiếu cái đó, mất công cho Thượng đế lấy đất nặn ra người.
Sau cùng là tâm hồn của người “thầy” với học trò phải khuyên : khi mình còn bé phải học theo gương thánh hiền và vĩ nhân.
Tôi nói về Phan Chu Trinh theo sự suy nghĩ đó mà anh Trừng khen.
Đây tôi nói trong bài “lịch sử CMVN”.
“…
Hồi tôi mới 12 ruổi tôi đã cùng học trò trường Phú Lâm nghỉ học để đưa đám ma Phan Chu Trinh. Tới trưa tôi về nhà kiếm cơm ăn. Má tôi thấy miếng vải đen trên ngực áo.
Má tôi nói như thường :
– “Con muốn làm Nguyễn An Ninh hả con ?”
Thờ bái Phan Chu Trinh là đi con đường, là chí sĩ như Nguyễn An Ninh.
Chí sĩ là người hết mực yêu nước. Tôi lần lần biết ra để giới thiệu với các anh, các chị.
Phan Chu Trinh tự Từ Can, hiệu Tây Hồ biệt hiệu Hy Mã, sinh năm 1872 ở làng Tây Lộc, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Cha là Phan Văn Bình theo nghề võ, có tham gia hàng ngũ Cần Vương. Mẹ là Lê Thị Chung, con nhà danh tiếng, học giỏi chữ nho, quê Phú Lâm. Mẹ mất sớm, theo cha chống Pháp đếm 1887; cha bị hại lúc đó 16 tuổi mới theo học ông Bùi Giám, rồi đến ông Cử An Tráng, ông Huấn Lộc Sơn_ ông người Xuân Đài.
Năm 1899, cụ Đốc Trần Mã Sơn ghi vào danh sách học sinh của tỉnh.
Năm 1900, đỗ Cử nhân thứ 3, năm 1901 đỗ Phó bảng. Cho đến 1905, đọc Tân thư, tiếp xúc với tư tưởng Montesquieu, Voltaire, Rousseau. Bỏ chức Thừa Biện bộ Lễ bắt đầu hoạt động với Lương Văn Can, Phan Bội châu, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp. Sang Trung hoa rồi cùng Phan Bội Châu sang ở Nhựt vài tháng sau ra về; ông Sào nam tiễn đến Hương Cảng. ở Nhựt về hô hào phong trào Duy Tân, dùng nội hóa, hớt tóc ngắn, bận đồ Tây, viết “Đầu Pháp chính phủ thư”, đề nghị sửa đổi chính sách, vạch tệ nạn tham những của quan lại. Năm 1908, nhân phong trào nhân dân biểu tình chống thuế ở miền Trung, đương quyền mượn cớ bắt giam ở tòa Khâm. Ông tuyệt thực 7 ngày, Pháp trao trả cho Nam triều. Triều đình Huế kết án tử hình. Sau nhờ Hội Nhân quyền can thiệp được đổi thành án lưu đày chung thân, đưa ra Côn lôn. Khi bị giải qua cửa Thượng Tư, ông cất tiếng ngâm :
Luy tuy thiết tỏa xuất đồ môn
Khảng khái bi ca thiệt thường tồn
Quốc thổ trầm luân, dân tộc lụy
Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn
Dịch :
(Kéo lê xiềng xích khỏi đô môn
Khảng khái ca reo lưỡi vẫn còn
Đất nước lầm than, dân tộc lụy,
Làm trai há lại sợ Côn Lôn ?)
Năm 1910, Hội Nhân quyền cử ông E.Babut can thiệp ở Côn Lôn gần 3 năm, đến 1911, ông được về nước nhưng lại bị an trí ở Mỹ tho. Ông phản đối. Tháng 4 năm ấy, ông cùng con là Phan Chu Dật (có sách nói là Phan Văn Dật) sang Pháp cùng một chuyến với toàn quyền Klobukowsky.
Mấy năm đầu chính phủ Pháp có trợ cấp cho ông và cho Dật hưởng học bổng. Sau 2 món ấy đều bị cắt, cha con ông sống rất kham khổ ở Paris với món tiền công rửa ảnh 50f mỗi tháng. Năm 1914, không chịu đi lính đánh Đức, bị bắt bỏ ngục Santé. Năm 1915, Dật chết; ông được tha nhờ Hội Nhân quyền và Đảng xã hội can thiệp. Năm 1922, Khải Định sang Paris dự đấu xảo, ông viết thơ kể 7 tội đáng chết của y và đòi y thoái vị, trả quyền lại cho quốc dân. Ông ở Pháp 16 năm, đến tháng 6-1925 về nước. Cuối năm Khải Định chết. Ông điện cho Pasquier Khâm sứ Trung kỳ, cho biết ông sẵn sàng đưa ra cải tổ triều chính và lập dân đảng.
Ngày 24-3-1926 ông mất, thọ 55 tuổi.
Ở Saigon, đồng bào cử ban tang lễ. Ngày 4-4, an táng tại nghĩa trang Gò Công ở Tân Sơn Nhất. Khắp nước làm lễ truy điệu. Học sinh Saigon nghĩ học đưa đám tang.
…”
Tôi nói óng ả không hề nghĩ tới chuyện khêu gợi cho học sinh nộp vũ khí.
Nghĩ cũng tức cười. Thì ông cố vấn kia quy định số địa chủ theo tỷ lệ với số cố nông.
Lại ông cố vấn này nói thanh niên đã sống trong vùng địch nay được đi học chân lý cách mạng mà không đem vũ khí ra nộp, thì coi như “phăng teo” (ie. ?).
Ban tổ chức Trung ương tất nhiên là anh Lương lại gọi :
– “Anh sẽ ra riêng mà phụ trách một trường Đại học Nhân dân nữa.”
– “Sao mà cứ Đại học Nhân dân hoài vậy anh ?”
– “Không có hoài đâu. Trường anh đang dạy, nay mai sẽ chuyển thành trường Kinh tế Tài chính.”
– “Rồi còn tôi Đại học Nhân dân, chi vậy ?”
– “Ta còn một mảnh rất lớn trí thức và công chức không kháng chiến, cần phải cải tạo.
Dự định sẽ làm hai khóa. Mỗi khóa 12 tháng. Khóa đầu là cho tri thức lớn. Khóa sau là cho công chức lưu dung.”
– “Dạ thưa lưu dụng.”
– “Ta sẽ kiêng… mình nói với nhau là cải tạo. Nói với họ mà nói cải tạo thì họ nói họ sẽ bị cạo đầu khô.
Ta gọi là lớp trí thức nghiên cứu chính trị, khóa I, khóa II. Còn có khóa III hay không sẽ tính sau.”
– “Khóa đầu là trí thức lớn, như ai ?”
– “Bác sĩ Đặng Văn Chung.”
– “A ! Anh này học Petrus Ký với tôi, trên tôi hai lớp…
– “Nguyễn Ngọc Thắng, Phạm Khắc Quảng, Vũ Công Hoè : phe bác sĩ. Giáo sư có Vũ Như Canh, anh em ruột Vũ Văn Mẫu. Có người ở Pháp là Lê Văn Sáu, có anh Tuất ở Anh mới về.”
– “Dạ thưa còn trên đầu tôi ?”
– “Ban tổ chức coi anh là “người phụ trách” và Hoàng Minh Giám làm hiệu trưởng. Anh có ý kiến, có hỏi, xin gì không ?”
– “Bây giờ xin anh cho một dàn cán bộ.”
– “Những ai, anh đề xuất đi ?”
– “Trịnh Bốn tổ chức, Lê Khoa Minh_ giáo vụ Anh văn của Phủ Thủ tướng và anh Nhã quản trị. Anh Điều của Đoàn Trọng tuyển cho tôi. Đó là dàn máy cái. Còn dàn “trục láp” cán bộ bồi dưỡng học tập cho mỗi chi, thì xin cho các anh chị tập kết, người khu 5 có qua lớp chỉnh huấn của Nguyễn Duy Trinh, người Nam bộ có tham gia khóa chỉnh huấn khóa Trường-Chính, của Hà Huy Giáp.”
Anh Lương ghi ghi.
Tôi nói tiếp :
– “Vấn đề quan trọng đối với tôi là, thưa anh, trường này phải được đặt dưới sự lãnh đạo, trong tài trợ của Thủ tướng phủ và quí hơn nữa là được Hồ Chủ Tịch trực tiếp nghe báo cáo và cho chỉ thị.”
– “Sao đòi hỏi khó quá vậy ?”
– “Cho việc giải quyết từ xin tiền đến sự mời giáo sư; việc gì cũng giải quyết mau lẹ, khỏi phải nạn họp liên tịch (ie. liên tục) mà bàn lề mề, không ai có quyền giải quyết tại chỗ nên lâu lơ và chậm chạp lắm.
Thì tôi được, ít nhất là được gọi “người phụ trách” “Đại học Nhân dân, lớp nghiên cứu chính trị của trí thức”.

Trường này mở trên dinh cơ Hoàng Cao Khải. Tôi ôm cái chức “người phụ trách” đi vào sân nhà của người có chức là :
“Văn minh điện, Đại học sĩ, Thái tử thiếu bảo kiêm lãnh Bắc kỳ kinh lược, duyên mộ tử Thái công” người mà thiên hạ ca tụng :
“Con cháu một nhà ba Tổng đốc,
Pháp Nam hai nước một công thần”.

Tôi ra mắt chào hỏi anh chị em mà tổ chức đã điều cho.
Tôi tổ chức công đoàn (theo “quán tính giai cấp” làm việc phải dựa vào công nhân) và họp một đại hội cán bộ công nhân viên.
Đối với tôi thì sự truyền đạt chủ trương của Đảng bằng diễn văn nói miệng thì cũng dễ; dễ hấp dẫn thôi, chỉ có điều không biết có mất lập trưòng hay không.
“…
Anh, chi, em !
(Tôi không dùng chữ “thưa” như sau này người ta :”Thưa các đồng chí”) Chúng mình mở lớp này gọi là lớp nghiên cứu chính trị cho những vị trí thức lớn, bác sĩ, tỉnh trưởng, luật gia, giáo sư. Nhớ dùm cho chắc cái tên lớp nha !”
Tôi nói tiếp theo. “Lớp mở trong hoàn cảnh nào ?”
Cuộc cải cách ruộng đất đang làm xao xuyến nhân tâm. Nó lại gây một cuộc nổi loạn trong giới văn nghệ sĩ. Họ là trí thức đã đi đánh giặc, cũng chịu cực chịu khổ, vào sinh ra tử.
Họ lập ra nhóm Nhân văn-Giai phẩm mà làm như nổi loạn. Mà tôi nghĩ làm văn sĩ làm gì mà không biết bất bình với cải cách ruộng đất ?
Lớp của ta lại mở trong tình hình giản chánh, bớt biên chế và sụt lương.
Ai bị đánh ?
Thì trí thức và công chức của chúng ta. Nói một bác sĩ Đặng Văn Chung. Ông ở lại Hà nội làm việc. Pháp trả cho ông lương trên 600. Nay ta sụt còn đâu một trăm tám.
Thì nhân viên công tác của ta. Anh em đó là người ngoài này chăng ? Họ có bà con họ hàng, có chỗ mà nhờ ao rau muống chùm tương. Anh em tập kết chúng ta, tứ cố vô thân. Nhưng họ vẫn giữ gan anh chị :
“Heo mẹ nhằm con có 8 vú, mà lại đẻ tới 10 con. Hai con đành nhịn bú cho tám đứa đệ huynh kia.
Họ vui lòng ra “biên chế”; một số lên rừng làm tre, làm nứa. Một số tự động làm ra tập đoàn sản xuất và sửa chữa máy móc. Một số đông nằm chờ ngày thống nhất. May sao bác Tôn đã tìm cho họ công việc làm ăn. Anh Nguyễn Tạo và tôi đả làm theo ý bác, lập ra nông trường Quý Cao. Đài và báo ở Saigon và ở nước ngoài rêu rao anh em miền Nam tập kết bị bắt đi tập trung cải tạo.
Lại có tình hình nhức nhối là “học sanh miền Nam” mới biết có trên 4.000 học ở Chương Mỹ, trong Hà Đông. Ta nuôi dạy nó không nổi, còn tệ là thành kiến với “con cái của Nam kỳ”, để cho các cháu ra đường, đi ngang vườn mía thì mía trốc gốc. Tội nghiệp bà con ta ở miền Nam đang đánh giặc, bụng dạ cồn cào khi nghĩ tới con mình ra miền Bắc đi hái trộm ba trái ổi quỷ mà ăn.
Lớp nghiên cứu chính trị của trí thức này mở trong tình hình như vậy, gay go cho cuộc đấu tranh tư tưởng. Nhưng tôi không ngại, vì họ là trí thức. Nguyễn An Ninh đã nói :
“Càng có trí thức càng phải yêu nước” cũng có hơi cường điệu, nhưng phải đạo đối với người trí thức của dân tộc bị nhục mất nước.
Hôm nay ta liên hoan nhận nhiệmvụ.
Và cho phép tôi chia đôi công tác ra mà nói về bộ phận ăn uống, sinh hoạt, vui chơi và yêu cầu anh chị lo về phần này hãy cô lập cái chiến trường đấu tranh tư tưởng ra, cho tôi.
Là nghĩa làm sao vậy ?
Anh chị phải lo chu đáo việc ở ăn, tiện nghi học hành. Và chúng ta còn phải nghiêm ngặt giữ gìn lời ăn tiếng nói đối với họ.
Như vậy là làm cho họ buồn vì với chế độ thì buồn nhưng không tìm ra cớ để trách anh em chúng ta nấu cơm sống, thức ăn thiếu, nước uống không có trà,v..v…, rồi từ đó mà buồn lây qua sự nghiên cứu chính trị. Cho nên mặt trận đấu tranh tư tưởng, tôi thong thả nói triết học Mác; trọn vẹn với niền tin vào sức thuyết phục của triết học này.
Người ta hay nói đấu tranh tư tuởng là rất khó khăn. Tôi nói và xin anh chị chia sẻ với tôi là không khó.
Anh nói khó. Là vì anh coi trong chiến đấu “ai thắng ai” mà anh nhất định người thắng phải là anh. Anh có quyền nói, rồi anh cứ nằng nặc bắt người ta phải nghe. Tôi vừa nói chữ “thuyết phục”. Ở đây tôi muốn nói chữ “tuân phục”. Người ta tuân phục chứ không chịu thua, thì anh thắng cái gì ? Vã lại đây là anh em trong nhà, đem đạo lý luân thường mà nói cho nhau nghe, chẳng có ai thắng ai thua.
Tôi nói với anh chị đây là nói phương châm của chúng ta là thuyết phục, huống chi là đối với anh em trí thức.
Anh chị hãy đứng sau lưng tôi mà ủng hộ tôi. Tôi sẽ nói với anh Nhã chuyền loa ra tới nhà bếp cho chị gọi mướp, xắt thịt cũng nghe được tiếng nói của Thủ trưởng mình nói chủ nghĩa Mác-Lênin.
… ”
Một buổi nói công tác với cơ quan của tôi như vậy.
Và tôi nắm vững phương châm công tác cho anh chị coi theo.
Thật tình tôi cũng muốn anh em trí thức Hà nội, những người không có đi kháng chiến, họ khen : “Thằng tướng Nam bộ này biết điều.”
Trước khi khai giảng, phòng giáo vụ mời học viên lên hội trường nghe truyền đạt chương trình và thời gian khóa nghiên cứu. Rồi anh em về tổ để yêu cầu và nói thắc mắc.
Với tư cách “người phụ trách” nhà trường tôi cho gõ kẻng, lên lớp để tôi tiếp thu hay giải đáp.
Trong buổi ra mắt ấy, tôi nói ba đồng, bảy đỗi, rồi đi tới cái mà Tiếng Tây gọi là “frisson métaphysique”
“…
Vua Lê Thánh Tôn đứng trong đền rồng ngó ra đường mà thấy chạnh lòng
“Thấy dân rét mướt nghĩ thêm thương”
Frisson métaphysique dịch ra là sự rung cảm siêu hình. Là như sự rung động tâm hoàn của vua kia vậy đó.
Sự sống cuộc đời phản ảnh vào ta, làm cho ta rung động mà có tiếng nói của lý trí và lương tâm.
Đối với cuộc đời, đối với đất nước, đối với người thân thì lòng ta như thế nào ? Rõ ràng là đời sống của nhân dân ta đang khổ. Nếu điều đó không làm ta cảm động thì còn có lời gì, còn có ai kêu gọi và đọng viên ta, làm cho tim ta rung động mà “nghĩ thân thương” đời được.
Cho nên đối với mục đích của lớp nghiên cứu này trong tấm lòng quyết đem lại hứng thú; chứ không bày điều gò bó tư tưởng của các anh. Chúng tôi thấy nhiệm vụ của Đảng giao phó cho chúng tôi là đem chủ nghĩa Marx-Lénine và đường lối, chính sách của Đảng, giới thiệu cho anh chị nào chưa biết thì biết.
…”
Tôi nói vậy mà anh em “cán bộ chi” phản ánh, “anh em họ cho rằng tôi đánh họ đau”.
Nói mà nhớ thương Bác Hồ.
Như đã nói, lúc đó có chủ trương giản chính.
Nhà nước gởi quyết định đó cho trường và chỉ thị truyền đạt cho nhân viên và học viên.
Tôi là đại biểu quốc hội, tôi không đồng ý với chủ trương cắt giảm đó. Tôi gởi giấy lên ban Thường vụ Quốc hội và khảng khái nói, tôi không đồng tình, nên không thể truyền đạt chủ trương đó một cách trung thành được nên xin cho ai đó đến nói dùm.
Thường vụ Quốc hội phái ông Nguyễn Văn Chi đến.
Ông nói cả buổi.
Kết quả là học viên vẽ tranh bích báo. Người bận đồ Tây, thắt rề-gát (ie. ?), đeo kính trắng, mặc quần xà-loỏng đang cày ruộng.
Tôi mời tới anh Trường Chinh. Anh cũng đến nói cho một buổi. Anh đã nói gì ? Bích báo các chi cũng phản kích rất mạnh.

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s