Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 13)

2. Cải Cách Ruộng Đất
Luân lý là cái hướng dẫn sự sống.
Chúng ta sẽ xem trong Cải cách ruộng đất (CCRĐ) (và trong vụ Nhân Văn-Giai phẩm (NVGP)), cái luân lý thông thường ở miền Bắc nước ta, từ khi “Đảng ta” thành Nhà nước.
Tôi nói xâm lo (ie. ?) hai chuyện “đất bằng cù dậy” này vì cái chuyện trước có phần gây ra chuyện sau
Hãy đọc cái quyết định “Nhiệm vụ Cải cách ruộng đất trong kháng chiến” của Hội nghị lần thứ IV, Ban chấp hành Trung ương Đảng lao động VN (và đọc ngay câu cuối).
“Hội nghi ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ IV đánh dấu một bưóc chuyển biến quan trọng trong việc kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược chống Đế quốc và chống Phong kiến đưa sự nghiệp CM của nhân dân ta tới những thắng lợi to lớn hơn.”
Hội nghị này đã kiểm điểm việc thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng trong kháng chiến.
Và nêu rõ :
“Chúng ta chưa nắm vững nhiệm vụ cơ bản của cuộc CM dân tộc dân chủ nhân dân VN là phản đế và phản phong kiến, chưa thấy rõ nông dân là lực lượng to lớn của CM, cho nên chưa có chính sách thật đúng…
Cho nên chúng ta chưa phát động lực lượng CM của quần chúng nông dân, chưa phát huy đầy đủ lực lượng to lớn ấy để kháng chiến ngày thêm mạnh, tiến đến dành thắng lợi cuối cùng.”
Đây là 25 tháng 2-1952.
Đến 24-4-1953, “Trung ương” chỉ thị làm ngay sự PHÁT ĐỘNG QUẦN CHÚNG và huớng dẫn :
“…
Mục đích đánh đổ thế lực phản động.
Nội dung, tổ chức và giáo dục nông dân lao động đoàn kết đấu tranh đánh đổ Việt gian phản động và cường hào gian ác, triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, chia hẵn ruộng đất của thực dân Pháp, của Việt gian phản dộng và ruộng đất công cho nông dân không có hoặc có ít ruộng.
Phương châm dựa vào quần chúng đông đảo, theo sách lược của Đảng : “dựa vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông.”
Còn về phương pháp thì tất nhiên là có kế hoạch, có từng bưóc, bưóc một, bưóc hai… có lãnh đạo.
Kiên quyết chống mọi tư tuởng ngăn trở, bi quan, không mạnh dạn.
…”

Ác hết sức là cố vấn Trung Quốc hiến cho cái kế PHÓNG TAY. Phóng tay ! Nói nôm na (theo Nam bộ là cứ việc “làm mạnh thả cửa”. Và họ dẫn lời vàng ngọc ngụy biện, “à la” Mao Trạch Đông.
Kiểu “Uông tất tu quá chỉnh”
Có nghĩa là : muốn uốn khúc cây cong, ắt phải kéo nó quá chiều.
Trời ơi ! Đảng của tôi đã nghe lời người ngoài, kéo khúc cây cong quá trớn. Nó bật trở lại giết chết bao nhiêu vạn sinh linh.

Nói cho trọn gói.

Trước ngày có chỉ thị đó, Tôn Đức Thắng đã họp thường trực Quốc hội với Ủy ban Liên Việt toàn Quốc để “phấn son” cho phát động quần chúng, coi nó là công tác trung tâm của năm 1953.
Đến Quốc hội họp (từ 1 đến 4 tháng 12, 1953), chủ tịch HCM báo cáo tình hình và nói nhiệm vụ CCRĐ.
Quốc hội nhất trí đưa tay tán thành.
Tôi là đại biểu của Saigon-Cholon trong quốc hội. Nếu má tôi đội mồ ngồi dậy mà hỏi :
– “Tại sao con đồng ý cái luật bất nhân ác đức ấy ?”
Tôi sẽ thưa :
– “Luật ấy có ác nhơn cũng tại người làm.”

Nè nghe má. Có lần anh chị em Nam bộ “đại biểu” tôi đến gặp ông già Tôn mà hỏi, tại sao ổng để cho CCRĐ giết người như vậy ?
Bác Tôn đang ngồi, nghe tôi hỏi, liền đứng dậy bưóc ra khỏi ghế, vừa đi và nói :
“Đụ mẹ, tao còn sợ nó, mầy biểu tao còn dám nói cái gì ?”

Quả thật, lúc CCRĐ còn nghe theo chệc mà phóng tay phát động, ai mà có ý kiến với nó thì sẽ bị quy là có tư tưởng địa chủ. Cho nên Trường Chinh, con có hiếu, không nỡ để cho cha mình bị bắt quì gối ở sân đình, liền đem cha đi giấu ở phố Hàng Mắm, rồi về ngồi trên chóp bu của Đảng mà nín thinh, mang nỗi sợ.
Thiên thần của CCRĐ sẽ quy mình chưa từ bỏ tư tưởng địa chủ của thành phần xuất thân.
Tôi có nói ở Đại hội II của Đảng là chúng ta đang làm CM tư sản dân quyền. Việc CCRĐ – coi như trong CM 1789 ở Pháp – không có vượt ra ngoài khung khổ tư sản của chữ ấy đâu.
Vậy thì lỗi ở cách làm của người mà Đảng đã cho quyền làm, mà vì ngu đần nên cố vấn Trung Quốc dạy cho làm bậy.
Khi tập kết, anh Ung Văn Khiêm trở ra Hà Nội.
Có nhiều buổi chiều, anh rủ tôi đi bộ chơi để nghe tôi nói những gì tôi muốn nói về miền Bắc.
Lững thững trên đường vào Hà Đông.
Cây trên lề đường, cây nào cũng có máng một cái nia hay một cái tràng có viết chữ bằng vôi trắng “Cám ơn Đảng”, “Cám ơn Bác”.
Thằng Nam bộ, Ung Văn Khiêm (đang là Ủy viên Trung ương Đảng) nói trống lổng : “Phong kiến quá!”
Vừa lúc ấy, trên cây nào đó có loa phóng ra bài hát xẫm xoan :
“Quyết đánh cho tan những quân tham tàn
Địa chủ Đế quốc, bóc lột dân ta
Nhờ ơn chính phủ, nên đời ấm no
Áo ấm, cơm no
Những nơi phát động dân cày
Thôn quê hoa nở như ngày sang xuân
Ơn này ta nhớ, muôn đời không quên…”
Anh Khiêm nhìn tôi mà cười.
Tôi nói :
– “Ra sống ngoài này được ít lâu, tôi thấy đồng bào ta ở thôn quê miền Bắc : tánh lành, trí thấp, phải sống cực còn lâu.”
– “Sao đâu ?”
– “…
Tánh rất hiền, trí tin tưởng không hề tư lự vì vậy mới bị xúi biểu, vợ đấu tố chồng “nó hãm hiếp tôi.”
Mình phải thay trâu mà kéo cày, nhưng vẫn tin như thật : có cơm chan nước mắt mà luôn là nhờ ơn Đảng, ơn Bác.
Tôi chắc rằng không thể trong Nam mà làm được CCRĐ như vậy.
Tội ác của CCRĐ thì nói sao cho xiết.
Anh đi hỏi bất cứ người dân nào họ cũng kẻ ít nhất một chuyện; nghe khó tưởng tượng là có thiệt cho anh nghe.
Tôi lại là nhiều chuyện :
“Ở Hải Dương, huyện Thanh Hà, xã Trường Thành có một ông đồ. Ông hai vợ. Vợ lớn nân (ie. ?). Ông kiếm vợ hai và được một mụn con. Vợ lớn của ông có một miếng đất nho nhỏ và mướn người ta làm. Vậy mà ông bị đấu tố và bị quản thúc tại gia.
Ông ra vào than thở, Mình lấy lễ nghĩa mà dạy đời. Nay người ta gọi mình là thằng nọ, thằng kia. Đời như vậy thì sống làm gì nữa !
Bữa kia, ông họp mặt đủ hai bà. Ông biểu chạy sang xin hàng xóm một trái bầu. Và ông nói, hôm nay cả nhà ba người lớn và đứa trẻ ăn bầu luộc, uống nước bầu thỏa thuê với một bữa ăn, không mấy khi có. Cơm xong (tôi nói văn học quen miệng chứ đâu có cơm), tối lại ông treo cổ.”
…”
Anh Khiêm nói hóm :
– “Theo chú mầy là tội gì hè ? Ông già tự vận chứ có ai đem bắn ổng đâu !”
– “…
Trời ơi ! Anh chà đạp con người, là anh đã giết ổng rồi, trước khi ổng tự tử !
Tôi phải nói tiếp theo một tội ác các anh giết người đồng chí. Đồng chí ấy tên là Nguyễn Văn Soạn, đương Bí thư liên chi tư xã Lam Thao. Bị quy đủ ba tội để được tử hình.
_ Tội đầu, phản động chui vào hàng ngũ Đảng.
_ Tội kế, địch cài để làm chiến tranh tâm lý.
_ Tội ba, địa chủ bóc lột, cho dân mướn đất để cho dân cám ơn địa chủ nuôi mình.
Anh bị tra tấn gì anh cũng không nhận mình có tội.
Bị đấu tố và giam chung với anh là một quần chúng tốt. Người ta cũng dựng lên theo đúng thủ tục, có đủ ba tội, mà tội đầu là tuyên truyền nhục mạ Đảng.
Mới bị sơ vài cây đòn gánh vào lưng, anh đã : “Da thưa có hết”.
Đồng chí Soạn hỏi : “Sao vậy ?”
Người quần chúng trả lời rằng : “Đời tôi chỉ có Đảng, mà Đảng đã phát động người của Đảng giết tôi, thì tôi chỉ có chịu chết mà thôi.
Bây giờ đồng chí cùng tôi ôm nhau mà chết. Khác nhau chỉ có một điều, thân thể của đồng chí thì bầm dập còn tôi thì lành.”
Các đoàn cải cách đã rút kinh nghiệm về cách đem phạm nhân đi bắn, và đã cho lịnh bắn sau lưng kẻ thọ hình. Vì kinh nghiệm cho thấy, đem trói nó vào cọc trụ để bắn thì nó sẽ la : “Đảng lao động VN muôn năm ! HCM muôn năm ! Kẻ địch của ta, chúng nó gian ác lắm. Chúng nó vẫn dùng hơi thở cuối cùng mà bơi xấu chế độ ta !”
Anh là Trung ương Ủy viên, tôi muốn nói riêng với anh điều này cho đích đáng :
“Tôi ra đây mới thấy cái gọi là Trung ương của các anh bất quá là một xứ ủy Bắc Hà cải tiến mà thôi !”
…”

3. Nhân Văn-Giai phẩm

Chúng ta có vụ Nhân Văn-Giai phẩm (NVGP).
Tôi cũng có bộn tuổi rồi trong cái ngạch “trăm năm”.
Nên muốn viết về chuyện gì mà có người đã viết, tôi bèn lấy của người ta. Cho đỡ mệt.
Là đã đành. Nhưng chính là muốn thoát khỏi cảnh cô đơn của “phòng văn” và cô độc trong chính kiến.
Tôi thấy trên tập san Thông Luận, xuất bản bên Pháp có bài phỏng vấn : “Hữu Loan nói về vụ án Nhân Văn-giai phẩm” bèn chớp cho vào đây (có bớt đoạn đầu) :
“…
– Phóng viên (PV) : Xưa nay bác vẫn là người nói thẳng, nói thật, lúc trẻ bác còn dám nói, giờ già rồi không lý nào bác lại sợ, lại hèn ?
Hữu Loan (HL) : Anh kích động tôi đấy phỏng ? Tôi là người không bị động bao giờ.
– PV : Cháu không dám hỗn thế đâu nhưng đây là một vấn đề lịch sử, trước sau rồi cũng phải đưa ra ánh sáng. Chỉ có bác là người trong cuộc, bác giúp cho bọn cháu thì nó cụ thể hơn, sát hơn, để các cháu có thể hiểu được những cái vô cùng rắc rối của giai đoạn xã hội hiện nay…
HL : Thật ra, nếu bên Liên Xô không có ông Khơrusốp lật Xtalin đưa ra phong trào chống sùng bái cá nhân thì bên Tàu không làm gì có Mao Trạch Đông đưa ra chuyện “Bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng” và bên ta hưởng ứng tức thời bằng phong trào mang tên dịch lại nhãn hiệu Trung Quốc “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”. Tên nôm na của ta là “Chống sùng bái cá nhân”.
Trước đó thì ở ta có hiện tượng phổ biến này : khi gặp nhau trước bất cứ đâu, câu đối đáp nào đều phải có nhóm thành ngữ “ơn Đảng, ơn Bác” đứng đầu. Thí dụ :
– Ơn Đảng, ơn chính phủ vụ mưa này thu hoạch có đủ nộp không ?
– Ơn Đảng, ơn chính phủ nhà em có con lợn độ 30 ký đang lớn, thanh niên Cờ đỏ vào bắt nợ rồi, được bảo đóng hết sạch mà còn thiếu phải bù bằng lợn…
Dân tộc VN là một dân tộc liên tiếp bị đô hộ, hết Tàu đến Tây, đến Nhật, đến Mỹ… Cái khao khát, cái đói cố hữu của dân tộc này là đói độc lập, tự do, cơm áo. Khi thấy Đảng hứa đem lại những thứ ấy cho thì ngừi dân tin tuyệt đối vào Đảng.
Đảng bảo gì thì họ theo nấy
bảo phá nhà thì phá nhà
bảo bỏ ruộng thì bỏ ruộng
bảo bỏ bố mẹ
bỏ vợ bỏ chồng
bỏ Trời bỏ Phật
bỏ được tất cả còn dễ hơn Khổng Tử bỏ đôi dép rách.
Anh Đội trưởng cải cách chỉ là một sứ giả của Đảng mà dân cũng đã tin hơn trời : “Nhất Đội, nhì Trời”.
Lòng dân tin vào Đảng không thước nào đo được nên khi phát động để phủ nhận một điều gì Đảng đã chủ trương trước kia, thật ra vô cùng khó khăn. Nguyên chỉ thay đổi câu “ơn Đảng ,ơn Bác” và kiểm điểm những việc làm trước kia có tính chất sùng bái cá nhân mà cũng mất hàng tháng phát động ở mọi cơ quan.
Khẩu hiệu “Nói thẳng, nói thật, nói hết” để xây dựng Đảng. Không những nói mồm mà còn viết lên các báo. Không những viết lên các báo, Nhà nước mà còn khuyến khích mở báo tư nhân để viết. Vì thế mới có Nhân Văn-Giai phẩm” của chúng tôi, “Trăm Hoa” của Nguyễn Bính.
Bài thơ “Màu tím hoa sim” của tôi (từ trước vẫn do dân tự tiện truyền tụng ngầm, bất chấp lịnh nghiêm cấm của những Tướng trấn ải giáo điều) được đăng công khai lần đầu tiên trên báo “Trăm Hoa”. Nguyễn Bính còn thuê taxi có loa phóng thanh đi quảng cáo khắp Hà Nội là “Trăm Hoa” số này có thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan.
Mấy tháng sau tôi đi Cải cách ruộng đất, làm Bí thư “Hoa lúa”, 22 anh em nhà báo, nhà văn đi cải cách, truyền tay nhau chép; chị Bạch Diệp ở báo Nhân Dân xin chép đều tiên nhưng ý trung nhân của chị là anh Xuân Diệu ở báo văn nghệ không đăng, bảo là thơ tình cảm hữu khuynh mất lập trường. Trần Lê Vân đến mách với Nguyễn Bính; Bính lên xin ngay bài “Hoa lúa” về đăng “Trăm hoa”. Anh Bính còn làm một cử chỉ rất hào hùng là đem cho vợ tôi 15 đồng nhuận bút, trong khi đăng Văn Nghệ chỉ được 7 đồng. Anh bảo với vợ tôi : “Hữu Loan ở nhà thì tôi xin (tôi vẫn viết không lấy nhuận bút để giúp những tờ báo nghèo, mới ra) nhưng Hữu Loan đi cải cách chị cũng cần tiêu (15 đồng bằng 150.000 đồng bây giờ). Một chỉ vàng lúc ấy mới 20 đồng. Nói ra điều ấy để thấy rằng mức sống người cầm bút hiện nay đã vô cùng xuống dốc.
Nhuận bút của một cuốn sách hiện nay không bằng tiền một bài thơ Nguyễn Bính trả cho tôi. Nhà thơ Tố Hữu đã có dự báo thiên tài : “Chào 61 đỉnh cao muôn trượng”. Từ ấy đến giờ xuống dốc tuồn tuột không phanh, không thắng. Chính sự xuống cấp thảm hại trong đời sống đã là nguyên nhân chính trong việc lưu manh hóa một số nhà văn đã phải uốn cong ngòi bút, cũng như trong việc in sách đen, sách trắng vừa rồi.
– PV : Xin bác cho biết lại về vụ “Nhân Văn ?
HL : “Nói thẳng, nói thật, nói hết” để xây dựng Đảng. Không những chỉ có “Nhân Văn hay Trăm Hoa” mới nói thật, mà cả nước nói thật. Cả nước kêu oan. Những “ban giải oan” đã thành lập để vào trong các nhà tủ giải oan cho hàng vạn người bị cải cách quy oan…
Những đã ăn thua gì. Đơn từ kêu oan từ các nơi gửi về toà soạn Nhân Văn thật đã cao bằng đầu, như đã cao “đồng xương vô định”. Nhân Văn xếp thành văn kiện chuyển cho Trung ương Đảng nghiên cứu thay đổi chính sách. Thật ra Nhân Văn chỉ khái quát tình hình để đúc thành lý luận. Bài báo bị cho là phản động, phản Đảng, phản dân nhất của Nhân Văn là : “Vấn đề pháp trị” do Nguyễn Hữu Đang viết. Trong bài, ý nói sở dỉ chỗ nào cũng có áp bức chà đạp lên con người là vì chưa có pháp luật rõ ràng. Tóa án là một tòa án tha hồ tùy tiện còn hơn “tôn giáo pháp đình” của Giáo hội Trung cổ. Muốn bắt ai thì bắt, muốn xử ai thì xử, bịa ra luật nặng nhẹ tha hồ để xử… Bài báo kêu gọi cần phải phán quyền thì người dân mới có bình đẳng trước pháp luật. Sau hơn 30 năm do tình trạng pháp luật tùy tiện mà xã hội xuống cấp một cách tệ hại như hiện nay. Vấn đề hàng đầu đang đặt ra để giải quyết cũng là vấn đề pháp trị mà Nguyễn hữu Đang đã đặt ra cách đây hơn 30 năm (mà phải nói, đây là vấn đề sống còn của chế độ).
Không có cộng đồng nào mà thành viên nào cũng chứa toàn âm mưu đen tối để chủ bại người bên cạnh. Không người nào phải biết phải biết trái mà sống nổi lâu dài. Nhân loại sinh ra để hợp tác với nhau, để tin nhau là chính, mới sống được đến giờ. Ngày xưa, ngay hồi Pháp thuộc cả một vùng lớn như một huyện, mới có 6-5 tên trộm mà trộm không được pháp luật bênh như thế, mà dân chúng cũng lo sợ ngay ngáy cho số phận trâu bò, của cải của mình. Còn bây giờ chỉ một thôn thôi cũng có hàng vài chục tên trộm cướp công khai, coi thường pháp luật thì hỏi người dân còn an cư thế nào để lạc nghiệp được ?
Một số vấn đề nữa Nhân Văn đặt ra là “Vấn đề Trần Dần” đăng ngay trang đầu Nhân Văn số 1, có chân dung Trần Dần to tướng với một vết dao lam cứa cổ to hoác do danh họa Nguyễn Sáng vẽ.
Từ trước, ai cũng có lòng tin Đảng, cả trong lãnh vực văn học. Từ Liên Xô đưa về rồi từ Diễn An đưa sang, tài liệu Hiện thực XHCN, tức là con đường đi lên trong văn học nghệ thuật. Nghĩa là văn nghệ chỉ được nói đến xã hội thiên đường vô cùng đẹp chưa có, chưa bị cướp, áp bức, bóc lột đang diễn ra trước mắt. Rất hiếm những Bí thư, Chủ nhiệm, Thủ kho, cửa hàng trưởng tốt, phải nói là hầu hết ăn cắp, thi nhau ăn cắp, nhưng văn học không được nói thật mà phải dựng lên toàn là những người lý tưởng. Luận điệu thuộc lòng là : “Không có ăn cắp mới lạ, có ăn cắp là tất nhiên.” Đấy là thứ sốt rét vở da của nhân vật Khổng lồ, của một chế độ Khổng lồ !
Đường lối đó ở ta được ông Trường Chinh tiếp thu và bảo vệ, và truyền giáo như một thánh tông đồ xuất sắc.
Một người nhà báo hỏi ông :
– “Như vậy là CM đã cấm tự do ngôn luận ?”
Ông Trường Chinh sửng sốt :
– “Anh nói sao ? Các anh được tha hồ tự do chưỡi Đế quốc đó thôi.”

Như thế là đường lối hiện thực XHCN đã cấm hẵn hiện thực phê phán là thứ vũ khí sắc bén nhất của văn học và báo chí để cải tạo kịp thời xã hội. Lý luận thực tiễn XHCN này được học tập ráo riết trong quân đội. Trung tâm đào tạo những tông đồ để áp dụng và đi phó thuyết về “Con đường đi lên.” Tổng cục chính trị lúc bấy giờ do ông Nguyễn Chí Thanh là Tổng cục Trưởng và ông Tố Hữu là Tổng cục Phó. Trong số nghệ sĩ phản đối đường lối hiện thực XHCN có Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Tử Phác… Có lẽ quyết liệt nhất là Trần Dần nên Trần Dần bị bắt giam và trong nhà giam, Trần Dần đã dùng dao lam cắt ven cổ nhưng chỉ hoác da chưa đứt đến “ven” thì đã kịp thời chận lại. Vì thế mà có bài “Vấn đề Trần Dần” ở trang đầu Nhân Văn số 1 như đã nói trên. Đây là một vấn đề văn học, hoàn toàn văn học. Đây là một cử chỉ khí tiết của nho sĩ VN trước cường quyền không bao giờ là không có, dù cường quyền có thiên la địa võng đến đâu thì cái truyền thống đáng tự hào ấy, của sông núi ấy không tà khí nào làm mờ nổi.

Trần Dần chỉ là hậu thân của những người đã viết “Vạn ngôn thư, Thất trảm thư”… cũng như vấn đề pháp trị của Nguyễn Hữu Đang. Vấn đề văn học mà Trần Dần đòi xét lại cách đây hơn 30 năm, hiện giờ cũng đang rất là thời sự. Cái tai họa lớn nhất hiện giờ vẫn là do khuyến khích tô hồng, đề cao con người giả, việc giả, hàng giả… Những người thấy trước tai họa, muốn ngăn chặn tệ nạn tô hồng thì bị gán ngay cho cái tội bôi đen.
Đáng lẽ những con người như Nguyễn Hữu Đang và Trần Dần phải được giải thưởng quốc gia, một cái giải vinh quang là đưa ra được giải pháp cứu nguy cho dân tộc. Nhưng trái lại, lại vu oan giá họa, đặt lên đầu họ cái án gọi là “án Nhân Văn.”
Thật ra Nhân Văn hưởng ứng lời Đảng gọi : “Nói thật, nói thẳng, nói hết” để xây dựng Đảng và chỉ đấu tranh cho tự do báo chí, tự do ngôn luận, mong thực hiện thật sự dân chủ nội dung của hiến pháp ta cũng đã là lý tưởng rồi.
Hiện nay báo Văn Nghệ cũng đang làm cái việc như Nhân Văn ngày xưa làm, cũng do được kêu gọi, được giao trách nhiệm Nguyên Ngọc mới dám làm, và báo Văn Nghệ cũng đang bị khép tội là mắc những lệch lạc quan trọng.
Có điều khác là : Nhân Văn ngày xưa đơn độc, khi bị đánh không ai dám bênh, cứ ngậm miệng cúi đầu mà mang án. Còn bây giờ thì hoàn cảnh trong nước và ngoài nước đã khác. Không thể đóng cửa mãi mãi trên những sai lầm vô định. Khi Nguyên Ngọc bị đánh, đã có báo chí khắp nơi lên tiếng, những bản kiến nghị được tiếp tục gởi về… Nếu phong trào tự do báo chí, phong trào ủng hộ Nguyên Ngọc và báo Văn Nghệ mà bị dập tức là bọn quan liêu cơ hội thắng thế; kết quả là xúc tiến sự sụp đổ toàn diện, sự tổng khủng hoảng kinh tế, cũng như chính trị và uy tín của Đảng sẽ mất hoàn toàn vì bọn chúng. Quần chúng sẽ mất hết tin tưởng vào Đảng.
Từ trước đến giờ
làm sai cũng là bọn cơ hội
Kêu gọi sửa sai cũng lại là chúng rồi đàn áp sửa sai cũng lại là chúng
Khi sai quá rồi không sửa thì dân không chịu nổi phải nổ.
Nhưng sửa đến triệt để thì cháy nhà ra mặt chuột nên cứ sửa nửa chừng thì lại đàn áp sửa sai; họ vu cho những người đã từng làm theo họ tội rất nặng; càng nặng thì quần chúng càng dễ quên tội của chúng và cho rằng những rối loạn trước kia là do âm mưu bọn hưởng ứng sửa sai gây ra. Chúng bàn nhau mưu kế dựng chuyện theo bài bản, những ông trên không sát cũng phải tin như thật.
Chính Nguyễn Hữu Đang đã rơi vào trường hợp như vậy. Đang là người giác ngộ CM sớm. Anh là linh hồn của hội Truyền bá Quốc ngữ mà cụ Nguyễn Văn Tố là danh nghĩa. Dựa vào truyền bá quốc ngữ, Nguyễn Hữu Đang đã hoạt động cho Mặt trận văn hóa cứu quốc. Những nhà văn như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi… đều do Đang tổ chức vào Mặt trận. Khi chính phủ vào Hà Nội, Nguyễn hữu Đang đã là Trưởng ban tổ chức lễ tuyên ngôn độc lập, sau là Bộ truởng Thanh niên. Khi rút khỏi Hà Nội (52-53) vào Thanh Hóa, Nguyễn Hữu Đang là Tổng thanh tra Bình dân học vụ. Năm 1954 tiếp quản thủ đô, Trung ương cho xe vào Thanh Hoá mời Đang ra muốn nhận Bộ trưởng nào thì nhận, mời sinh hoạt Đảng, anh cũng khước từ. Tôi hỏi vì sao, anh bảo :
– “Nội bộ thiếu dân chủ trầm trọng, mình bây giờ chỉ một mình một đảng.”
Sau anh làm gì ? Anh xin về làm nhà in trình bày cho báo Văn Nghệ. Mãi đến gặp phong trào Trăm Hoa, Đảng phát động cho viết báo tự do, lại cho mở báo riêng thì anh Đang mới ra làm Nhân Văn. Anh Đang là một người rất có khả năng về chính trị, cả về lý luận làm tổ chức, lại là một người đối với mọi người rất hay giúp đỡ anh em và rất giữ lời hứa.
Để một người có tài đức như vậy thì bọn cơ hội hết đường xoay sở nên phải đánh. Một mặt phát động tổ điêu dựng tội (như hồi cải cách dựng địa chủ) để đưa Nguyễn Hữu Đang lên thành phản động đầu sỏ… Một mặt sai điều động từ Thanh Hoá, từ các nơi về hàng 6 sư đoàn để vây thủ đô, đề phòng bọn Nhân Văn (trong khi Nhân Văn chỉ mấy thằng đi kháng chiến về, đói rách, trói gà không nổi). Việc điều động một lực lượng quân đội lớn như vậy, mãi sau này tôi về quê gặp những người ở trong các đơn vị ấy nói lại tôi mới biết.
Khi học tập dựng tội cho Nguyễn Hữu Đang xong, cả lớp học sát khí đằng đằng, hò hét; nào là tên Đang, nào là thằng Đang phản động đầu sỏ. Mọi người ký vào kiến nghị lên Trung ương Đảng đòi xử tội đích đáng tên Nguyễn Hữu Đang.
Tôi là người duy nhất đã ký như sau :
“Khi Nguyễn Hữu Đang hoạt động chung với tôi, tôi thấy Nguyễn Hữu Đang là người có tài, có đức. Tội trạng mới đây của Nguyễn Hữu Đang tôi chỉ nghe, mắt không thấy, tôi không dám kết luận. Ký tên : Hữu Loan”.
Thế là Nguyễn Hữu Đang bị kết án 17 năm tù, mới đi được 7 năm thì nghe đâu nhờ có sự can thiệp của hội Nhân quyền quốc tế, nên anh được tha. Đáng lẽ không thưởng, không giải oan cho Nguyễn Hữu Đang thì im quách đi cho xong; đằng này nay gọi, mai gọi “Vụ Nhân Vănlà một vụ án chính trị”. Gọi như vậy, nhưng nếu có ai hỏi đến để tìm hiểu lịch sử thì lại bảo : “Đó là vụ án đã qua, bọn Nhân Văn đã nhận tội; không nên nhắc đến nữa”.
…”
Nếu không nhắc đến Nhân Văn sao người ta vẫn nhắc đến Phát-xít, Hitler, đến Staline, đến Polpot. Thậm chí bọn vua chúa hay Pháp, Nhật, Mỹ đã đi từ lâu rồi mà bao nhiêu vụ ăn cắp cũng là do phong kiến đế quốc, bao vụ cưỡng hiếp phụ nự trong cơ quan cũng là do phong kiến đế quốc, mặc dù những người thực hiện các vụ ấy đều thuần túy XHCN gốc Việt.

Hitler, Staline, Mao Trạch Đông có cấm nói đến mình được mãi không dù đó là những bạo chúa, những nhà độc tài cỡ quốc tế ?

Ngoài Nguyễn Hữu Đang còn thêm những người này. Phùng Cung, tác giả truyện ngắn “Con ngựa già của Chúa Trịnh”, 7 năm tù giam cứu. Vũ Duy Lân (bộ Nông Lâm) bị nghi là cho Nguyễn Hữu Đang một áo len khi Đang đi tù, bị giam 7 năm mới tha. Nhà xuất bản Minh Đức bị án 17 năm tù như Đang.
Nhà nước xuất bản thì lúc nào cũng kêu lỗ mặc dù in nhiều hơn Minh Đức mà trả quyền tác giả lại rất rẻ mạt. Mỗi bài thơ của tôi, báo Văn Nghệ trả 8 đồng thì Minh Đức trả 110 đồng, trả 10% theo giá bìa. Nhà này xuất bản tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, mời con gái anh Phụng lên lãnh nhuận bút và còn về Hà Đông xây mộ cho Vũ Trọng Phụng do tiền nhà xuất bản. Minh Đức định xuất bản Kiều để xây dựng mộ cho Nguyễn Du nhưng bị bắt nên phải dành việc này cho Vương Trọng. Ở đây ngụ ngôn “Tái ông thất mả” lại đúng. Nếu Minh Đức không phải tù, nếu mộ Nguyễn Du đã xây xong thì văn học mất đứt bài thơ bất hủ của Vương Trọng :
Tưởng rằng đây mộ Đạm Tiên
Chẳng hay cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây.
Ngoài ra từ 1945 đến 1956, Minh Đức còn mua được 1/2 nhà in giá 30.000 đồng (bằng 150 cây vàng). Nhà Minh Đức làm ăn lời lãi như vậy mà ngoài anh ra chỉ có thêm vài người giúp việc. Còn những nhà xuất bản của nhà nước thì nhà nào cũng rất đông người làm mà chẳng được bao nhiêu việc; nhà nào cũng kêu lỗ nhưng vẫn cứ cố bao nhiêu rồi cũng ôm.
Xưa nay bất cứ ai nhận một công việc gì đều phải có trách nhiệm với công việc ấy; công việc càng khó khăn lớn lao, trách nhiệm càng nặng nề. Ở ta lại toàn chuyện ngược đời. Một lái xe chặn chết ngưòi muốn sửa sai không được anh phải đi tù, phải tước bằng. Anh bác sĩ chữa bịnh làm chết người cũng thế, phải tước bằng và đi tù. Đây là những người làm chết ít người.
Còn những người cầm vận mệnh cả nước đã làm cho đồng bạc mất giá hàng vạn lần, làm cho hầu hết công nông trường, xí nghiệp phá sản, cho 90% con cái gia đình thành lưu manh, cho 50% trẻ em mất dinh dưỡng, còn giết oan bao nhiêu người có tài có đức, còn phá phách bao nhiêu công trình văn hóa lịch sử. Những con giun bị đạp gọi lên : “Sai rồi !”, thì họ rất bình tỉnh trả lời : “Sai thì sửa !”, hoặc bất đắc dĩ phải sử thì không sửa chân thành. Họ vẫn núp dưới cờ Đảng để đi từ sai lầm tày trời này đến sai lầm tày trời khác.
Họ đang làm cho dân không còn tin vào Đảng. Họ coi thường những đảng viên ưu tú đang không ngớt đấu tranh để thể hiện những tính cách vô cùng cao quí của người CS : cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, khổ trước sướng sau…
Hỡi những người Đảng viên lương thiện của ĐCSVN, người dân đau khổ lâu đời lúc nào cũng đứng bên các bạn.

***

Ừ thì “bọn Nhân Văn đã nhận tội” nhưng cũng cho tôi nhắc đến tên của chúng.
Phan Khôi, Nguyễn Mạng Tường, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Trần Duy, Trần Lê Vân, Nguyễn Hữu Đang, Sĩ Ngọc, Hữu Loan, Phùng Quán, Văn Cao, Nguyễn Bính, Bùi Quang đoài, Chu Ngọc, Hoàng Tích Linh, Tạ Hữu Thiên, Mai Sinh, Hà Thi, Phụng Cung.
Để nói người ta, xài không biết tiếc cái của không phải do mình khó nhọc làm ra, đã chà đạp, vùi dập cái intelligentsia -cái giới trí thức không phải là đông lắm mà chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm quà cho ta.
Trần Dần bị ở tù, Hữu Đang đi lượm bao thuốc lá để đổi lấy cóc nhái của đám con nít Hữu Loan làm chú thài (Chợ Đệm gọi vậy những người đi thiến heo…)
Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường sống cuộc sống bị bạc đãi, bị tuyệt thông (excommunié).
Anh đã đánh vào lòng chân thực, người trí thức thấy bất công là nổi loạn. Và có vậy mới xứng danh trí thức.
Lúc đó cuộc nổi loạn này (theo cách nói của tôi) không làm cho quảng đại quần chúng lưu tâm. Vì đang bận tâm với Cải cách ruộng đất. Và đám cán bộ trung lưu đang ngợp mắt với sự thắng lợi vĩ đại nên người thì thờ ơ, có người trách móc.
Giới lãnh đạo Đảng cũng vì “tính kêu ngạo CS” mà không thiết gì lời châu ngọc.

4. Bài Diễn Văn của Ls Nguyễn Mạnh Tường
Ta thấy đây trong bài diễn văn sau đây của Nguyễn Mạnh Tường :

Thưa các quí vị,
Hội nghị Mặt trận Trung ương họp để nghiên cứu các sai lầm trong CCRĐ và chính sách sử chữa sai lầm ấy. Hôm nay tôi được đúc kết trước toàn thể Hội nghị các ý kiến trong 10 ngày vừa qua, tôi đã trình bày trong tổ thảo luận, với tinh thần thận trọng của người trí thức không bao giờ quên trách nhiệm của mình trước nhân dân và lịch sử nước nhà.
Tôi phấn khởi được nghe bản phê bình của Đảng Lao động (ĐLĐ) do ông Trường Chinh đọc trước Hội nghị. Nhưng tôi cũng phải thú rằng lòng phấn khởi của tôi, một phần bị giảm đi vì tôi nhớ lại kết quả tai hại của các sai lầm đã phạm trong CCRĐ. Tôi xin phép các vị được kính cẩn nghiêng mình trước kỷ niệm những người vô tội bị chết oan, không phải vì bàn tay của địch mà chính của ta. Trong cuộc khángchiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hy sinh, có thể nói, được chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch cho ta. Đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà tổ quốc ghi nhớ muôn thuở… Trái lại các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc CCRĐ này, lúc tắt thở, cay đắng, đau xót vì chết với ô danh. Chúng ta đã xóa bỏ cái ô danh đó nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi ? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm an ủi cho họ được ? Nếu chúng ta duy tâm và tin rằng linh hồn còn tồn tại thì một phần nào, ta chuộc lại được tội lỗi của ta. Nhưng ta duy vật và các người chết ấy cũng duy vật. Do đó cái nỗi khổ cực của họ, ta biết rõ rằng bây giờ ta không thể nào thủ tiêu được nữa. Quyền hạn của ta không tới đó. Nhưng cái gì ta có thể làm được, ta cần làm, để như là đến bù một phần nào sự tổn thiệt của các người ấy, và chứng minh ta thấm thía nỗi khổ đau của họ khi từ trần, là ta cương quyết rút bài học kinh nghiệm đau đớn và sửa chữa các sai lầm nghiệm trọng mà họ là nạn nhân.
Với tinh thần của một người trong quần chúng, của một người công dân đau khổ trước bao nhiêu cái chết oan của người vô tội, tôi xin phép trình bày mấy ý kiến xây dựng.
Chủ yếu tôi sẽ phê phán và truy nguyên các sai lầm trong CCRĐ nhưng theo ý tôi, các sai lầm chỉ biểu hiện điển hình và bi đát nhất của những thiếu sót trong sự lãnh đạo của ĐLĐ. Do đó, tôi xin phép được góp ý kiến xây dựng quan điểm lãnh đạo của ĐLĐ.
Tại sao tôi tin như vậy ? Là vì không những trong CCRĐ, chúng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng mà cả trong nhiều khu vực khác nữa. Trong các khu vực này, sai lầm cũng đưa một số người trong quần chúng đến cái chết thê thảm. Do đó nếu chỉ cục bộ hóa các sai lầm, chúng ta không thể rút được bài học kinh nghiệm, chúng ta sẽ khiếm khuyết với sự tín nhiệm của tất cả các đảng viên ĐLĐ với sự mong đợi của toàn dân.
Chúng ta phải cương quyết không cho các sai lầm ấy tái diễn và tác hại nữa. Đó là nhiệm vụ tối thiểu của chúng ta đối với các người đã chết oan.
Tình hình nước ta hiện thời ra sao ? Tình hình ấy có bi quan không ? Đó là vấn đề nhận định thôi. Nhưng cái chủ yếu là ta không nhìn tình hình ấy với con mắt bi quan. Vậy sự thật khách quan như thế nào ? Nhìn vào nông thôn ta thấy hiện thời, tình trạng thiếu đoàn kết rất phổ biến. Vì thi hành sai chính sách cải cách, ta đối lập các từng lớp trong giai cấp nông dân, cán bộ cũ và mới, chi bộ cũ và mới của Đảng. Trong khi đập tan giai cấp điạ chủ, ta không phận biệt đối xử, ta để cho chết thê thảm những người hoặc già cả, hoặc thơ ấu mà ta không chủ trương tiêu diệt. Ta chỉ cần đọc các bài giáo huấn cho đồng bào nông thôn đăng trong báo Nhân Dân là ta đủ hiểu mặt mũi nông thôn hiện thời ra sao ? Nhìn về các công xưởng, công trường, ta thấy gì ? Cứ đọc báo Nhân Dân thôi, ta thấy gì ? Ta thấy chính phủ gởi các phái đoàn đi thăm anh chị em công nhân, ủy lạo họ bắt buộc thi hành quy chế lao động mà chính phủ đã ban ra… Nghĩa là thế nào ?
Nghĩa là giai cấp công nhân đã phải lao động sản xuất hai năm mà không được bồi dưỡng đúng mức. Lắng nghe dư luận đồng bào Hà Nội thôi, ta biết rằng ít ra một doanh nghiệp quốc gia lãnh phí bao nhiêu triệu trong khi dưới chế độ Pháp thuộc, cũng doanh nghiệp ấy mang lại cho thực dân đế quốc số lãi khổng lồ. Về mậu dịch nửa năm nay, đồng bào ta ca thán thế nào, ta đã biết. Nào chèn ép các nhà kinh doanh tư nhân; nào lãnh phí bao nghìn triệu trong khi thực hiện chính sách; nào tàn nhẩn với những người bán sức lao động cho mình; nào đưa ra thị trường sửa hư mà không bao giờ nghĩ đến tính mệnh của người ốm, của trẻ sơ sinh nào_ tung ra : bô hỏng, thuốc lá mốc, phạm đến sức khoể của nhân dân; nào bất lực trước hiện tượng vật giá ngày càng lên trong khi nhiệm vụ của mình là phải bình ổn nó. Có nói được, suốt ngày đêm, không đâu là không có lời oán trách mậu địch. Về hộ khẩu thì cán bộ tỏ vẻ không phải là nhằm duy trì trật tự an ninh, phá vỡ cơ sở của địch, trái lại quấy nhiễu nhân dân tạo ra một đời sống thành thị điêu đứng cho tất cả. Nếu các vị cần những dẫn chứng cụ thể, tôi chỉ xin nhắc lại hồ sơ mênh mông, thu lượm các thắc mắc cay đắng của đồng bào Thủ đô, trong Đại hội lần thứ III của nhân dân Hà Nội vừa họp cách đây 2 tháng. Nói về chính sách khôi phục kinh tế ta thấy gì ? Số vốn mà các nhà công thương mang ra kinh doanh chỉ là một phần ti tiểu; số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân không có nghĩa lý gì. Trái lại ta thấy tất cả phong trào các nhà tư sản thu hẹp hoạt động của họ, hoặc “chuyển hướng”!!! bằng cách đâm ra quay chỉ, bán nước mía hay dệt vải thước vớ vẩn hoặc đóng cửa ăn vốn để khỏi đụng chạm đến Sở Lao động vì vấn đề công nhân, với Sở Công thương vì vấn đề đăng ký và nguyên liệu sản xuất, với Sở Tài chánh vì thuế khóa đặc biệt thuế bổ sung đã đưa bao nhiêu người đến chỗ phá sản_ có kẻ đến chỗ tự sát.
Các người tiểu thương buôn thúng bán mẹt, đẩy chiếc xe hàng tiều tụy rong phố, cũng “được” nộp thuế, cũng như các người suốt ngày làm việc ở công sở hay công xưởng, tối về thức đêm dệt vải thước kiếm thêm tiền độ thân. Hàng trăm, hàng nghìn công chức cũ về hưu, với gia đình của họ; trước đây sống bằng lương hưu trí hai năm nay không được ai chiếu cố đến, chết dần chết mòn_ có người đâm đầu xuống sông tự tử, có người hai lần uống thuốc độc để quyên sinh. Còn như các cán bộ ta có cần nói đến không ? Ta cứ trông mặt mũi, quần áo họ, ta chỉ cần hỏi con số những nơi qua các phòng khám bịnh, các bịnh viện, ta liếc mắt xem họ ăn những gì trong bữa cơm, là ta đủ hiểu nỗi cực của họ. Ta quên thế nào được các đồng bào tập kết ra Bắc, số phận con cái của họ ở Hà Nội, Hải Phòng, số phận chính của họ, bi đát quá nỗi ? Khổ cực nhất của các anh chị em, là không nơi nương tựa được vào một đời sống gia đình để khuây khỏa trong lúc thảm sầu. Các hiện tượng trên đây có đúng không, tôi chỉ yêu cầu các vị đọc báo Nhân Dân, nghiên cứu hồ sơ chồng chất lên ở Mặt Bắc Thành Hà Nội sau Đại hội lần III vừa rồi, nghe những lời than phiền của quần chúng, nhìn nhận các quang cảnh diễn ra trước mắt của các vị, là các vị đủ hiểu rồi. Nếu thực như ông Trường Chinh đã tuyên bố, uy tín của chính phủ, của Đảng bị tổn thiệt rất nhiều. Thế tại sao đồng bào chúng ta bị khổ cực ? Phải vì cán bộ của ta non, kém cỏi, chưa thấm nhuần lý luận CM, không tôn trọng giá trị của con người, các nhu cầu và đòi hỏi chính trị của nó ? Phải chăng vì ta đang mắc trầm trọng bệnh tự hào của CM ? Các điều đó là có, ta không hề chối cãi mà ta cũng không thể chối cãi được. Nhưng nhận định như vậy vẫn còn hời hợt. Ta phải đi sâu hơn nữa. Khi làm CCRĐ của ta, ta thấy bao nhiêu người vô tội bị giết oan trong đó, bao nhiêu người dân ưu tú cũng góp phần không nhỏ vào sự nghiệp CM khi hiện thời ở nông thôn, vẫn có người bị đánh đập, ngược đãi, khi ta không xây dựng đoàn kết giữa các đồng bào, ta phải nhận định rằng các sai lầm ta đã mắc trong việc CCRĐ này chỉ là những biểu hiện cực nhỏ giữa các sai lầm ta đã phạm và các sai lầm ấy nêu lên mà tôi trình bày trên đây_ một vấn đề cực kỳ quan trọng là vấn đề lãnh đạo của ĐLĐ.
Do đó tôi yêu cầu các vị cho phép tôi bắt đầu nghiên cứu các sai lầm trong cải cách đó, để đạt mấy ý kiến về vấn đề lãnh đạo.

A- VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG CCRĐ
Ta đã sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ. Ta có thể tránh được sai lầm ấy mà vẫn bảo đảm được đường lối căn bản của CM không ? Tôi xin giả nhời (ie. trả lời) cương quyết rằng có.
Đường lối CM của ta đòi hỏi gì ? Ruộng phải trở về dân lại; đại đa số trong nhân dân, nông dân là quân đội chủ lực của CM, nhất định CM không thể nào thành công được nếu ta không thỏa mản nhu cầu thiết yếu và cấp bách của nông dân. Không cần phải là một nhà chính trị cao, một nhà CM thạo, cũng nhận thấy điều ấy. Chỉ cần nhìn lịch sử CM từ thời kỳ cổ đại đến giờ là đủ hiểu rồi.
Như vậy về nguyên tắc, ta tán thành chủ trương CCRĐ.
Về phương pháp, ta có nên ban ơn cho nông dân không ?
Nhất định là không. Nông dân ta trong bao nghìn năm đã khổ cực dưới chế độ bóc lột phong kiến và một trăm năm nay dưới chế độ bóc lột thực dân. Đồng bào nông thôn ta lầm than như vậy, mất khí thế con người. Ta cần khôi phục khí thế của người nông dân, xây dựng cho tinh thần chủ nhân ông trên đất nước. Do đó ta cần thấy cần thiết được phân minh kẻ thù của họ để họ vùng dậy nắm lấy quyền thế ở nông thôn.
Nhưng từ đây trở đi, ta thấy khởi phát các sai lầm. Sai lầm này, ông Trường Chinh đã nhận thấy là ở chỗ : “Ta quên hẵn ta hiện thời nắm chính quyền và chính quyền ấy, nếu ta biết sử dụng nó, khai thác nó một cách sáng suốt nhất định ta vẫn thành công nhưng ta tránh được bao tai họa làm ta đau khổ hiện thời.”
Con đường ông Trường Chinh đã đi để tiến tới kết luận ấy là con đường chính trị. Các anh em tôi là những nhà luật học, chỉ là nhà chuyên môn và lý luận trên cơ sở chuyên môn thôi, đã trông thấy kết luận ấy ngay từ khi chính sách phát động và cải cách được đề ra.
Tại sao ? Vì giải pháp chính quyền cụ thể là giải pháp pháp lý, đảm bảo thắng lợi hoàn toàn của CM nếu ta biết mang nó ra phục vụ chính trị và CM…
Ta muốn gì ? Tìm kẻ thù của nhân dân, của CM để tiêu diệt nó. Nhưng đồng thời nếu ta biết lo xa, nhìn xa, ta cũng không quên rằng, công lý của CM muốn bảo toàn được uy tín và thắng lợi của CM, phải biết đánh đúng địch. Khi đưa ra khẩu hiệu : “Thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch”, thì khẩu hiệu này không những quá tải một cách vô lý mà lại phản lại CM đằng khác nữa. Muốn chứng minh điều này, ta chỉ cần nhìn thực tế: kết quả sai lầm ta đã phạm khi thực hiện khẩu hiệu này, rất tổn thiệt cho uy tín CM.
Nếu không phải đó là phản lại CM thì là gì ?
Khẩu hiệu của Pháp lý lại là khác hẵn : “Thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan.”
Thế ta có lo ngại rằng địch sót không ? Không, vì ta nắm chính quyền, vì CM ta đã thành công. Như vậy kẻ thù CM chẳng sớm thì chậm; nhất định hoặc cải thiện, giác ngộ, hoặc lọt vào lưói của ta. Khẩu hiệu này lợi ở chỗ : “Không một người oan nào bị kết án.” Do đó không có kết quả cực kỳ tai hại diễn ra hiện thời.
Làm thế nào thực hiện được khẩu hiệu ấy ? Kinh nghiệm pháp lý của hàng nghìn năm lịch sử thế giới cho ta rằng ta có phương pháp để tìm đúng địch mà đánh, không đánh tràn lan, không đánh người vô tội. Tôi xin phép nhắc tóm tắt sau đây nguyên tắc căn bản mà pháp lý nêu lên để đạt mục đích ấy. Một nguyên tắc đầu tiên là không hình phạt các tội đã phạm qua lâu rồi mà bây giờ mới khám phá ra. Tại sao ? Vì rằng vấn đề bằng chứng khó giải quyết được. Tang vật đã mất, nhân chứng có người đã từ trần, có người không nhớ rõ các sự việc họ đã mục kích. Hơn nữa sở dĩ hình phạt các tội là vì các tội ấy đã xâm phạm vào trật tự xã hội, gây tai nạn cho nạn nhân và gây tác dụng xấu trong quần chúng. Nhưng khi tội đã phạm quá lâu, trật tự xã hội hết bị xâm phạm, rồi nạn nhân không còn đau khổ nữa, tác dụng xấu của tội lỗi cũng hết, thời gian đã hàn gắn vết thương. Bây giờ lại vạch lại chuyện cũ thì không những khó thu thập được bằng chứng kết tội mà lại gây sự náo động trong xã hội không cần thiết. Chính xã hội thấy “quên” hơn là “nhớ”.
Một nguyên tắc thứ hai là trách nhiệm của phạm nhân thì chỉ một mình phạm nhân phải chịu, không có trách nhiệm chung của vợ con, của gia đình. Nếu trách nhiệm trước hình luật của các người “có quan hệ với phạm nhân” không những là bất công mà lại còn gây các sự rung động vô ích trong xã hội. Hơn 400 năm nay không một nước Tây Phương nào làm việc đó nữa; trách nhiệm trước hình luật chỉ là trách nhiệm cá nhân mà thôi. Không những thế về phương diện nhân đạo, thì các phạm nhân quá già được miễn nghị, miễn tố và các “vị thành niên” được chiếu cố.
Một nguyên tắc thứ ba là muốn kết án một người, phải có bằng chứng xác đáng. Phải có nhân chứng là những kẻ đã mục kích sự phạm pháp và cung khai một cách cụ thể, rõ ràng, chắc chắn. Một nhân chứng thôi chưa đủ, ít ra cũng phải hai nhân chứng cung khai phù hợp với nhau, mới được coi là đáng kể. Cung khai của các nhân chứng phải ăn khớp với nhau và trong quá trình phạm pháp, các tang vật thu được phải có tác dụng hợp lý, sát hợp với kết quả do cuộc điều tra mang lại.
Một nguyên tắc thứ tư là thủ tục điều tra, xét xử phải bảo đảm quyền lợi của bị tố nhân. Bị tố nhân có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình, và khi thiếu điều kiện nhờ luật sư, khi nào là một trọng tội, tòa phải cử luật sư bào chữa không cho bị can. Trong tất cả giai đoạn điều tra ở trình độ công an thẩm vấn trong quyền lợi bị can, nghĩa là nếu công tố viện đưa hết lý lẽ để buộc tội, bị can đưa hết lý lẽ để minh oan. Cuộc đấu lý diễn ra trong tất cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử giữa công tố viện và luật sư. Các vị thẩm phán ngồi xét xử phải là vô tư, đứng giữa để theo dõi cuộc đấu lý diễn ra trước mặt mình. Như thế mới phân định đúng và xử công minh. Tòa án xét xử không chịu lịnh của ai trong khi xét xử, chỉ biết xử dụng lương tâm của mình và căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ, sau khi nghe hai tiếng chuông buộc tội và gỡ tội. Người thẩm phán phải được đủ đảm bảo để làm nhiệm vụ của mình, mà không sợ khiển trách hay gây khó khăn cho mình được. Khi điều tra thẩm vấn tuyệt đối cấm không dùng phương pháp tra khảo, đánh đập, hành hạ bị can, mớm cung cho bị can, dọa nạt hay dụ dỗ hắn. Khi nào có điều nghi ngờ thì bị can được miễn nghị. Nếu kêu án, thì còn quyền chống án lên tòa trên. Nếu bị kết án tử hình, thì còn quyền xin ân giảm trước vị Chủ tịch Chính phủ. Con người của bị can, trong tất cả quá trình truy tố và xét xử, phải được tôn trọng triệt để, khi bị can ra trước tòa thì không được xiềng xích họ và không lúc nào được dùng nhục hình đối xử với họ.
Theo một nguyên tắc căn bản, không phải vì một người tác hại cho một người khác mà người ấy phải chịu trách nhiệm trước hình luật. Tác hại cho ai thì chỉ nêu trách nhiệm về phương diện dân sự nghĩa là bồi thường thôi của người tác hại. Muốn truy tố người ấy để thi hành luật đối với hắn, thì phải chứng minh rằng hắm phạm một tội, nghĩa là phạm vào một điều khoản nào quy định trong hình luật và hình luật không bao giờ có tác dụng đối với quá khứ cả : nếu hành động của một người diễn ra trong thời kỳ, mà hình luật chưa quan niệm là một tội, thì người ấy không thể mang ra truy tố được.
Không những bị can phải phạm một tội đã quy định rồi trong pháp luật mà ta lại còn phải xét xem rằng lúc phạm tội ấy, bị can có ý thức, có ý chí phạm pháp không hay là vô tình mà phạm pháp. Sự đối xử trong hai trường hợp ấy khác nhau.
Lúc tôi nhắc lại các nguyên tắc này thì có vị cho rằng như thế là phiền phức, phức tạp. Dĩ nhiên rồi nhưng tất cả vấn đề là : “Ta có muốn giết người vô tội không ?” Nếu không thì không thể nào làm khác được. Hơn nữa, muốn nhận định vấn đề cho đúng, ta không nên đứng vào vị trí một người hiện thời không dây dưa với pháp luật, một người ở cương vị chính quyền. Ta phải đứng vào cương vị của bị tố nhân, lúc ấy vấn đề rất sáng tỏ, không những ta đói thi hành các nguyên tắc pháp luật, ta lại còn cố gắng tìm hiểu thêm các nguyên tắc mới để đảm bảo người oan khỏi bị chết.
Nếu mang ra áp dụng các nguyên tắc ấy vào cuộc CCRĐ của ta, ta sẽ làm thế nào ?
Thủ tục cải cách cứ diễn bày những sự trừng trị bọn cường hào gian ác hay phản động, ta sẽ không thiếu sót về phương diện pháp lý mà ta đã biết. Trái lại sau khi phát động tư tưởng của nông dân, ta sẽ nghe lời họ tố cáo những kẻ thù của họ. Ta sẽ ủy nhiệm tòa án nhân dân thường, lập các hồ sơ để tòa án với bộ máy và kinh nghiệm của nó, tiếp tục điều tra, kiểm tra, lấy cung chứng, truy tố, luận tội, xét xử. Ta đảm bảo triệt để cho bị tố, nhân quyền bào chữa của họ; ta tôn trọng triệt để con người của bị tố nhân. Ta chỉ thù ghét và kết án, trừng phạt tội của nó đã phạm thôi. Ta tin tưởng ở toà án; ta đảm bảo cho các vị Thẩm phán làm việc ngoài sự điều khiển của chính quyền, một cách biệt lập, theo lương tâm của các vị và căn cứ vào hồ sơ là kết quả của cuộc thẩm vấn.

B- CÁC NGUYÊN NHÂN SAI LẦM
Theo như tôi nhận định, với chủ quan của tôi, các nguyên nhân sai lầm, thuộc hai loại, có loại trực tiếp, nhưng nếu ta phân tích loại này thì ta sẽ đi tới một loại thứ hai, mà theo tôi là những nguyên nhân chính, ta cần chú ý.
Các nguyên nhân trực tiếp ta trông thấy ngay : sở dĩ mà khi nghiên cứu chính sách cải cách, ta không nghĩ đến giải pháp pháp lý đưa ra để điều hòa với giải pháp chính trị, phải chăng vì ta không biết giải pháp pháp lý ? Nếu không thì là một sự thiếu sót nghiêm trọng của các cấp lãnh đạo. Nhưng tôi tin rằng không phải như thế đâu. Sở dĩ ta không để ý đến giải pháp pháp lý là vì có 3 lý do :
1- Quan điểm ta, địch, thù, bạn của ta rất mơ hồ.
2- Ta bất chấp pháp luật, lấy chính trị lấn áp pháp lý.
3- Ta bất chấp chuyên môn.

a. Quan điểm bạn thù ta định mơ hồ.
Các hiện tượng trên trường quốc tế và trong nước rất nhiều và rõ rệt.
Trên trường quốc tế, trong các nước dân chủ của ta thôi, ta thấy những điều làm ta suy nghĩ. Ta thấy chẳng hạn những người suốt đời hy sinh cho sự nghiệp CM giữ những trọng trách trong chính thể CM, rồi bỗng nhiên phải truất quyền, khai trừ tống giam, thậm chí có khi bị giết nữa. Rồi ít lâu sau, ta lại thấy các người ấy khôi phục được công quyền, đảng tịch, cương vị, người nào bị kế án tử hình rồi thì được an táng lại ở các đài kỷ niệm các liệt sĩ mà tổ quốc ghi tên muôn đời.
Trong nước ta, qua cuộc CCRĐ, ta thấy bao nhiêu chiến sĩ CM thành tích lộng lẫy, có người ngực gắn tới hai huy chương kháng chiến (ở ngoại thành Hà Nội) bị kết án là phản động, cường hào, gian ác và sau khi nhận tội, bị tống giam hay là bị hành hình. Ấy là không nói đến các người trong quần chúng bị hy sinh oan. Đối với nạn nhân này, ta có thể có một phần nào hiểu các sai lầm đã phạm vì họ thiếu hay không có thành tích CM hay kháng chiến. Nhưng đối với các đảng viên ưu tú, tinh hoa của dân tộc, lúc bị xử trí như ta đã biết, thì ta tự hỏi trong đầu óc của những người xử, họ có cái gì mà ta gọi là lý tính không ?… Ngay một thường dân không phải là một nhà chính trị hay văn hóa, chỉ sử dụng các lẽ phải của mình thôi, cũng không thể nào hòa hợp người xấu với kẻ tốt như vậy được. Ta phải đặt vấn đề rằng cán bộ từ trên xuống dưới, tham gia CCRĐ, không phải là người điên cuồng, cũng không phải là người chủ mưu, dụng tâm phá hoại.
Nếu như thế thì ta sẽ gởi họ đến bác sĩ chuyên môn chữa bịnh thần kinh hay đến các vị công tố viện của các tòa án. Nhưng không phải như thế, ta tin như vậy. Do đó kết luận mà ta tiến tới, dù muốn hay không, là các cán bộ ấy có một quan điểm rất mơ hồ về ta, thù, bạn, địch.
Còn gì đau đớn hơn là câu ta được nghe “Ta đánh cả ta nữa”. Nếu như vậy, thì ta phải nhận rằng ta không phân biệt được bạn và thù. Ta đọc lại các bài gần đây đăng trong báo Nhân Dân của các đồng chí bị xử trí oan; hoặc các đồng chí ấy nói, hoặc không nói nhưng ai đều hiểu các đồng chí ấy nghi ngờ những người đã kết án các đồng chí không phân biệt được bạn và thù… Vì vậy nên đánh cả bạn, giết cả bạn.
Tôi thấy đây là một điều cực kỳ quan trọng. Nguyên do ở đâu ? Phải chăng ở một tinh thần cảnh giác quá cao đến đỗi mù quáng; ở một tả khuynh mà ta thường mắc trong giai đoạn ấu trĩ của CM ? Đây không phải là nơi và lúc ta mà ta cần phân tích sâu sắc điều ấy. Chủ yếu là ta nhận thấy rằng một nguyên nhân sai lầm là ở trong quan điểm thù bạn rất mơ hồ. Nếu ta không kịp thời sửa chữa sai lầm, xây dựng lại quan điểm thù-bạn, một ngày kia ta lại phải khóc lên trên kỷ niệm của các vị có công nhất với CM, với nhân dân. Ta cương quyết không thể nào để tình trạng ấy tái diễn ra được.

b. Bất chấp pháp luật.
Giáo sư Ba lan, Mahelli nói chuyện ở Bộ Tư Pháp cho ta biết rằng bên Ba lan, khi CM thành công, các nhà chính trị bất chấp pháp luật. Họ quan niệm rằng họ đủ tài năng để đảm nhận các cương vị lãnh đạo trong ngành Tư Pháp, để bó buộc tư pháp phục vụ triệt để chính trị mà không đếm xỉa đến các nguyên tắc căn bản của pháp lý. Kết quả là chẳng bao lâu, bộ máy tư pháp xộc xệch, không những không cũng cố được chính thể CM; ngược lại tác hại quá nhiều, gây bao nhiêu khó khăn cho chính quyền CM. Sai lầm ấy uốn nắn kịp thời : hoàn cảnh khách quan đã dạy một bài học cho chủ quan các nhà chính trị. Sau đó phải trả lại cho tư pháp tính chất biệt lập của nó và các nhà chính trị, để lãnh đạo chuyên môn, lập trường học tập, trước non hai năm, sau 5 năm, để qua pháp lý, phục vụ chính trị CM.
Điều này không làm chúng ta ngạc nhiên. Trong giai đoạn đầu tiên, chính trị say sưa với các thắng lợi đã thu được và dĩ nhiên, các thắng lợi ấy vĩ đại – lâm vào tình trạng tự mãn và bao biện. Nhưng quản trị một nước, đặc biệt là một nước đang xây dựng chính quyền CM, nghĩa là một cái gì vô cùng mới mẻ và khó khăn – không giống như là đề ra đường lối và khẩu hiệu tranh đấu CM và vận động quần chúng làm CM. Hai khu vực hoạt động ấy, tuy quan hệ mật thiết với nhau, nhưng mỗi ngành hoạt động có kỹ thuật và quy luật riêng của nó. Lúc nhà chính trị bao biện bất chấp hoàn cảnh khách quan kinh nghiệm xương máu của lịch sử, thì chẳng sớm thì muộn ta thấy diễn ra những tai hại hiện thời làm chúng ta đau xót. Trên con đường bao biện và tự mãn ấy, các nhà chính trị đã bị thúc đẩy bởi những thành kiến đối với pháp lý. Và tin rằng pháp lý là cái gậy chỉ dùng để chọc bánh xe, không hiểu rằng trái lại, pháp lý, chính giúp xe khỏi lật, khỏi gây tai nạn. Nguy hại hơn là chính trị đặt mình lên trên pháp luật. Ngay trong trường hợp chính trị sau khi đặt mình lên pháp luật, giữ vửng thái độ chân chính, cũng gây ra bao khó khăn rồi. Pháp luật chủ yếu đề ra những cái gì có thể làm được, cái gì không được phép làm, do đó nhân dân vững tâm biết rõ đường mà đi, nhưng tâm hồn quần chúng chỉ được ổn định khi nào quần chúng biết rõ rằng cái gì bó buộc mình cũng đồng thời bó buộc nhà cầm quyền, thì nhà cầm quyền mỗi lúc có thể vẽ ra các đường mới mà quần chúng chưa từng biết. Vì vậy quần chúng hoang mang : cái gì hôm qua làm được, ngày mai với sực độc đoán của nhà cầm quyền, có thể coi là phi pháp. Hoang mang ấy, lên tới cực độ khi tác dụng của sự thay đổi thái độ này của nhà cầm quyền không những không ảnh hưởng tới tương lai mà lại ảnh hưởng cả về quá khứ nữa. Đó là trường hợp nhà cầm quyền lúc tự đặt mình lên trên pháp luật, giữ thái độ chân chính đúng mức; huống hồ là khi nhà cầm quyền sử dụng quyền thế của mình một cách lộng quyền, như ông Trường Chinh đã nhận định. Quyền xử tử người một cách đơn giản như vậy trái với luật pháp : đó chỉ là một giải pháp chính trị mà thôi. Nếu mà các người sử dụng quyền ấy, lại không sử dụng đúng với tinh thần của chính sách, của lãnh đạo, sử dụng một cách lộng quyền thì kết quả thế nào, hiện thời ta đã trông thấy rõ.

c. Bất chấp chuyên môn.
Các nhà chính trị bất chấp pháp luật. Nhưng nếu các vị ấy tranh thủ ý kiến của các nhà chuyên môn (đây là những luật gia) và cho phép các nhà chuyên môn đề đạt ý kiến, thì các nhà chuyên môn cũng sẽ yêu cầu các nhà chính trị chú ý đến pháp luật, và dùng pháp luật phục vụ CM.

Nhưng tiếc thay trong 10 năm vừa qua, ta thấy một tình trạng quái gở. Chính trị ám ảnh đầu óc chúng ta đến nỗi hai chữ “lập trường” làm ta mất ăn, mất ngủ. Nếu được dùng một hình ảnh “duy tâm”, tôi ví lập trường như cái oan hồn theo đuổi ngày đêm kẻ nào đã hãm hại chủ nó. Có một điều lạ là các anh em công nông, các vị lãnh tụ không bao giờ hỏi đến lập trường trong sinh hoạt hành ngày. Trái lại các cán bộ, đảng viên tiểu tư sản không lo ngại gì bằng sự mất lập trường. Vì vậy để nhớ đến nó, mở miệng ra là nêu lập trường rồi. Đó là tinh thần tự ti của một giai cấp mất khí thế, quên rằng mình đứng trong hàng ngũ CM. Dù sao, ở VN chúng ta đã xảy ra những việc như sau đây, ta cần ghi nhớ để con cháu ta cười muôn thuở : khi chọn một người vặn lái xe ô tô, ta không hỏi người ấy có bằng vặn lái bao năm, ta chỉ hỏi : “Có lập trường không ?” Kết quả là : “Từ hai năm nay, riêng trong thủ đô Hà nội, có hàng trăm tai nạn xảy ra do các người vặn lái xe ô tô có lập trường mà không nắm chuyên môn.” Khi đưa tới bịnh viện, một bịnh nhân cấp cứu, vấn đề mang ra thảo luận trước tiên là : “Bịnh nhân thành phần giai cấp nào ?”; chữa cho địa chủ thì “mất lập trường”. Để nó chết mới chứng minh mình “có lập trường giai cấp” (hiện tượng do bác sĩ Nguyễn Xuân Nguyên đưa ra).
Tại sao có những hiện tượng quái gở như vậy. Là vì chính trị chiếm đóng tất cả các khu vực trong nhận thức chúng ta, làm chúng ta mất cả cái nhân đạo tối thiểu của con người, chúng ta khước từ cả chân lý, luân lý_ cho biết rằng chính trị không thể nào thay thế cho chuyên môn, không làm được việc của chuyên môn. Nói như vậy thì ít ra chính trị cũng hỏi ý kiến chuyên môn là phải. Nhưng không, chính trị nghi ngờ chuyên môn, không tin ở chuyên môn. Lúc thì cho rằng chuyên môn do văn hóa và khoa học tư sản đế quốc xây dựng là vô dụng; đó là một sai lầm nghiêm trọng chứng minh rằng các người thì như vậy chưa đọc Lê Nin. Lúc thì cho rằng các nhà chuyên môn không phải xuất thân ở tầng lớp cơ bản, công hay nông, thì không có đảm bảo vì thái độ lừng chừng lập trường lỏng lẻo. Dù là 10 năm nay, họ đã bưóc chân vào đường CM, và chứng minh nhiệt tình của mình đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, kiến thiết quốc gia.
Theo ý tôi, đây là một vấn đề then chốt. Các anh em trí thức kháng chiến thường phàn nàn rằng ĐLĐ thiếu tín nhiệm họ. Họ đau khổ mà nhận thấy rằng mặc dầu họ đã trải qua bao nhiêu thử thách, chịu đựng bao nhiêu hy sinh, trải qua bao nhiêu gian nguy, Đảng vẫn chưa tin ở họ. Nào họ có yêu sách gì quá đâu? Họ có đòi là Bộ trưởng hay Đại sứ đâu ? Không, đại đa số các anh em trí thức nói chung, không mơ ước các cương vị công tác lộng lẫy đâu; họ vui lòng nhường chỗ cho các nhà chính trị, các đảng viên. Họ chỉ thiết tha đòi hỏi được mang khả năng chuyên môn và kinh nghiệm của họ ra phục vụ nhân dân mà thôi. Họ chỉ thiết tha mong muốn được bảo toàn danh dự trí thức của họ và cái tự do tư tưởng mà họ quan niệm là cần thiết cho nhân phẩm của người trí thức là vốn quý của dân tộc. Nhưng họ cảm thấy vốn ấy quý giá đến nổi cất nó thật kỹ, giữ gìn nó trong một bán ảnh, một hoàng hôn trường cửu. Nếu ai có cho rằng tôi nói không đúng, tôi cứ đề nghị người ấy quát mặt nhìn chung quanh, ở các cương vị công tác trong chính thể của ta. Có một chỗ nào người trí thức ngoài Đảng nắm được thực quyền không ? Tác dụng “hiểu hỉ” hay “cười gật” thì có, mà lại có nhiều. Nhưng ngay ở cương vị ấy ngoài vai trò hiếu hỉ, cười gật, người trí thức có một trách nhiệm gì không ? có quyền nói gì, làm gì không ? Quần chúng đã biết và miễn tôi trả lời.
Chính trị chèn ép chuyên môn như thế nào, xua đuổi người trí thức ra ngoài con đường CM ra sao; lịch sử kháng chiến đã cho ta kinh nghiệm đau đớn. Năm 1949, phong trào tư pháp liên khu III tan vỡ vì chính quyền quan niệm tư pháp phải thuộc sự điều khiển của mình. Năm 1951, phong trào quân y, dân y, liên khu IV sụp đổ vì chính trị đưa vào các bịnh viện, đã đàn áp chuyên môn, thúc đẩy các bác sĩ có công với CM, với kháng chiến phải gạt nước mắt mà rời bỏ kháng chiến. Đó không phải chủ trương của ĐLĐ.
Nhưng có một điểm làm ta suy nghĩ : “Sao mãi bây giờ, sau 10 năm Đảng mới nghiên cứu một chính sách cho trí thức.” Điều ấy chứng tỏ rằng từ khi CM thành công, ta chưa đánh đúng giá người trí thức, chưa đặt vấn đế trí thức. Do đó làm thế nào khai thác được tất cả khả năng của người trí thức mang chuyên môn ra phục vụ nhân dân ?
Trên đây tôi nói về người trí thức từ chiến khu trở về. Đối với người trí thức vẫn ở trong thủ đô, ta thấy sự thiếu tín nhiệm ấy còn trầm trọng hơn nữa. Bao lần ta nghe tiếng chua cay của các anh em yêu nước, đã khắc phục mọi lo sợ, do tuyên truyền của địch gây ra, và ở lại với chúng ta. Ta để cho cán bộ hộ khẩu xâm phạm đến danh dự của các anh em, ta không tìm cách nào sửa chữa sai lầm ta phạm đối với các anh em. Ở các công sở, tình trạng chèn ép của chính trị đối với chuyên môn đã đưa đến cái danh từ bi đát làm cho ta đau lòng : “họ Lưu, họ Kháng”. Không đoàn kết được các anh em, ta lại còn có thái độ úp mở, nhùng nhằng (ta tưởng như vậy là thượng sách); thậm chí ta lại còn nghi ngờ các anh em, ta không tôn trọng lời ta hứa qua chính sách tiếp quản và cương lĩnh mặt trận, ta đẩy anh em xa rời, ta vô tình ném xuống bể tiêu cực cái vốn chuyên môn của các anh em trí thức trong thủ đô.
Đó là những nguyên nhân trực tiếp. Đào sâu hơn nữa ta thấy rằng sở dĩ có những hiện tượng như ta vừa phân tích trên đây, chẳng qua chỉ vì sự lãnh đạo của ta thiếu dân chủ, xa lìa quần chúng.
Chính thể ta thiếu dân chủ như thế nào, ta đã từng biết. Vai trò của các vị Bộ và Thứ trưởng ngoài đảng như thế nào; các vị đó làm được những gì trong Hội đồng chính phủ, trong các ngành chuyên môn mà các vị ấy phụ trách, ta không nên đi quá sâu. Ta chỉ cần liếc mắt nhìn qua công việc làm của mỗi Bộ, ta chỉ cần nghe tiếng than phiền của các cán bộ, công chức, làm việc trong các Bộ là ta hiểu. Ta cũng biết rằng chủ trương của Đảng có lẽ không phải như vậy đâu nhưng trong thực tế, công tác mỗi anh em ta tiếp tục với các vị Bộ hay Thứ trưởng ngoài Đảng, đều nhận thấy rằng quyền hành của các vị ấy hình như không phải là quan trọng cho lắm. Nhận định như vậy có lẽ ta nhằm đấy. Nhất định ta lầm. Nhưng dù sao có “dư luận” : “Không ai chối cải được.” Do đó nếu ta chủ trương của Đảng không phải như vậy thì ít ra Đảng cũng mang trách nhiệm không làm thế nào để tiêu tan cái dư luận tai hại mà chúng ta thấy tồn tại từ thời kỳ kháng chiến đến giờ. Nhưng cũng có điều chắc chắn không ai chối cãi được, là các vị Bộ hay Thứ trưởng không có trách nhiệm gì trước Quốc hội, trước nhân dân; chỉ có trách nhiệm trước Chính phủ mà thôi. Chưa bao giờ ta thấy vị Bộ trưởng nào bị lật đổ cả. Phải đợi đến các sai lầm đặc biệt nghiêm trọng trong khi cải cách mới thấy hai vị Thứ trưởng phải rút lui khỏi Hội đồng Chính phủ. Các hiện tượng ấy chứng tỏ rằng chính phủ ta chưa thực hiện được dân chủ trong khi lập hội đồng chính phủ, vì các vị Bộ hay Thứ trưởng đều được cử hay bị truất, ngoài sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp (qua Quốc hội) của quần chúng.
Tình trạng của Quốc hội (QH) lại rõ hơn nữa. 10 năm QH đã thành lập. Các vị đại biểu QH còn phản ảnh được ý nguyện của quần chúng không, quần chúng có tìn nhiệm ở QH nữa không; đó là một vấn đề. Nhưng dù vấn đề ấy, ta giải quyết như thế nào cho nữa, có một điều chắc chắn là một QH già 10 năm rồi mà vẫn tồn tại, ngoài sự can thiệp của quần chúng, sự lựa chọn của quần chúng, chứng minh rằng quần chúng 10 năm nay đã bị truất quyền cử đại diện của mình rồi. Dĩ nhiên trong thời kỳ kháng chiến, bầu lại QH là điều không làm được. Và hiện thời Nam-Bắc tạm chia cắt, do đó sự bầu lại toàn thể QH cũng là khó khăn. Nhưng dù sao riêng ở các miền giải phóng này, nếu ta chú ý đến quyền người dân cử đại biểu của họ, thì nhất định ta phải cho phép người dân bỏ phiếu rồi. Từ khi hòa bình trở lại 2 năm qua, mãi bây giờ trước phong trào quần chúng đòi thực hiện dân chủ, ta mới nghĩ đến quyền bỏ phiếu của người dân, và bổ sung QH.
Nào thế thôi đâu ? Ngay cái QH ta đang có hiện thời, ta có thực hiện dân chủ với nó không ? Chắc chắn là không. Thỉnh thoảnh ta mới họp QH và trong các buổi họp đó, ta chỉ thấy chính phủ đưa ra các báo cáo để QH nghiên cứu, xây dựng hay các chính sách để QH tán thành và bổ khuyết. Quyền lập pháp của QH ở đâu ? Quyền đề ra đường lối, chủ trương trong nội trị, ngoại giao, quyền nêu trách nhiệm của chính mình và các bộ, quyền lực chọn các nhân vên trong Hội đồng chính phủ; bấy nhiêu quyền, QH có được hưởng dụng không ? Dư luận quần chúng quan niệm rằng QH chỉ có quyền thông qua các chính sách mà thôi. Còn như các sắc lịnh hay đạo luật thì thường thường, quyền thông qua ấy chỉ thuộc ban thường trực của QH. QH là tổ chức cao nhất của quần chúng, đại diện cho quần chúng thì ta phải khách quan nhận thấy rằng với vai trò vô cùng yếu ớt của QH hiện thời, quyền dân chủ của quần chúng không được thực hiện.

Nói đến mặt trận thì tình hình cũng tương tự. Mặt trận hiện thời là tổ chức quần chúng; có lẽ sát tình hình quần chúng nhiều nhất. Nhưng ta có để nó đóng vai trò của nó không ?
Không. Tác dụng của nó là động viên quần chúng để tán thành, ủng hộ và thi hành các chính sách. Đứng về phương diện này, nó làm tròn nhiệm vụ của nó. Nó xứng đáng với tín niệm của Đảng và chính phủ nhưng hoạt động của nó như thế chỉ có một chiều thôi. Ta chưa khai thác các khả năng của nó. Ta chưa nhận thấy bản chất của nó. Nó có thể là “liên lạc” hai chiều giữa quần chúng và Đảng. Chính phủ “một mặt” như nó thường làm nó động viên quần chúng để thực hiện các chủ trương của Đảng và chính phủ. Nhưng mặt khác nó cò thể là cơ quan phản ảnh lên Đảng và chính phủ các ý kiến, thắc mắc, nguyện vọng của quần chúng, góp phần xây dựng các chính sách, nói lên tiếng nói của quần chúng, cung cấp tài liệu ở quần chúng, tích cực giúp đỡ cấp lãnh đạo tránh khỏi chủ quan, thắt chặt liên lạc giữa các cấp lãnh đạo và quần chúng. Nhưng muốn để cho nó đóng vai trò ấy, ta phải “dân chủ” đối với nó, có nghĩa là phát động tự do tư tưởng cũ nó để nó mạnh dạn nói lên ý kiến của quần chúng dù là các ý kiến ấy trái ngược với nhân định của cấp lãnh đạo. Nhưng từ trước tới nay, ta không làm như vậy, ta thấy khó chịu khi nó thỏi thẻ, chỉ thỏi thẻ thôi – những lời làm ta một phút chốc, tỉnh giấc mộng chủ quan mà ta, trong cấp lãnh đạo đang say sưa. Vì vậy ta chỉ thường cho phép nó, chỉ khuyến khích nó phụ họa ta, tán đồng ta, với thái độ của đứa con khen hay khi mẹ nó hát. Tóm lại ta không dân chủ với nó. Do đó ta hạn chế khả năng của nó, nó không giúp ích gì cho cấp lãnh đạo.
Tác dụng của nó là Thiếu dân chủ là gì ? Là xa rời quần chúng, là giam hãm mình trong ngục thất của chủ quan. Tại sao một chính thể CM lại có thể sai lầm nghiên trọng như vậy được ?
Trước đây, ta không trả lời đuợc. Những người kính yêu CM rất ngạc nhiên khi khi thấy có kẻ đi tìm tự do rời bỏ hàng ngũ CM để lánh sang phía tư bản. Ngay trong thủ đô ta hiện thời, qua Đại hội lần thứ III của Mặt trận thành, ta thấy phản ảnh ý muốn của bao nhiêu đồng bào muốn đi Nam. Ta nghĩ đến các đồng bào, trong thời kỳ kháng chiến, gạt nước mắt mà trở về Hà Nội. Nếu chính thể của ta tốt thì tại sao có người dụng ý xa lánh với trong lòng nổi đau khổ bi đát ? Nếu CM lại cho ta ánh sáng và hạnh phúc, sao lại có người lo ngại trước CM, đau đớn vì CM ? Các người ấy không thuộc về thành phần kẻ thù của CM, trái lại thuộc thành phần cơ bản trong nhân dân như nông dân, công nhân.
Thế thì ở đâu là chân lý ? Đó là một vấn đề mà trước đây ta chỉ đặt thôi và không giải quyết được.
Bây giờ sau Đại hội lần thứ 20 của ĐCS Liên Xô, sau các cuộc bạo động ở Berlin, Poznan, bên Tiệp, bên Hung, ta hiểu rõ vấn đề, ta giải quyết được nó. Chung quy, mặc dầu CM là tốt đẹp, mang lại hạnh phúc cho dân tộc, sở dĩ có người xa lánh CM chẳng qua là vì chính thể CM mắc trầm trọng bịnh xa lìa quần chúng, thiếu dân chủ do đó đi ngày càng sâu vào tình trạng quan liêu, mệnh lệnh, duy trì một thái độ lãnh đạo hẹp hòi, độc đoán; có khi độc tài. Thái độ một chiều không muốn, không cho phép ai nói cái gì trái ngược ít nhiều với ý kiến nhận định, thành kiến của mình. Mình tự phụ, tự hào mình có độc quyền tìm thấy và gìn giữ chân lý. Đó là tật tự cao, tự đại của các nhà CM. Ta bay bổng trên trời xanh của ảo tưởng, ta chỉ tin ở ta, trong tư tưởng ta không khinh quần chúng nhưng trong hành động; quả thực trong con mắt khách quan nhận thấy rằng ta bất chấp quần chúng. Thậm chí khi ta nghe thấy một tiếng nào từ quần chúng, nói lén rằng ta nhằm, ta làm như thế này mới phải, lập tức ta thét ngay đó là tiếng của địch. Sở dĩ quan điểm bạn thù ta mơ hồ, và đâu ta cũng trông thấy địch, chẳng qua là vì ta quá tự phụ, ta sùng bái ta quá đáng mà thôi. Bây giờ ta biết rõ là nếu bịnh ấy phổ biến trong hàng ngũ CM hiện thời, thì trách nhiệm chính là Staline phải chịu. Vì tự cao, tự đại, tự phụ, tự mãn , Staline không cho phép ai dân chủ với mình, đâu cũng trông thấy địch.
Kết quả là thế nào, ta biết khẩu hiệu nêu lên, gọi lên là : “Đề cao cảnh giác.” Và lợi dụng tình thế ấy, ta biết Bêria đã làm những gì, phạm tội như thế nào.
Nếu không có quyết nghị của đại hội lần thứ 20 của ĐCS Liên Xô, nếu không có sai lầm cực kỳ tai hại trong cải cách, ta chưa mở mắt được, ta sẽ còn thấy bao nhiêu máu oan chảy thành suối, thành sông, bao nhiêu người kính yêu CM mà vẫn đau xót rời bỏ CM. Tuy ta phải trả một giá quá cao nhưng bây giờ ta biết rõ nguyên do của các đau khổ của ta : “Ta thiếu dân chủ.”

d. Phương hướng sửa chữa sai lầm.
Qua lịch sử tranh đấu của quần chúng 2.000 năm nay, ta thấy cái gì mà nhân bản của loài người đòi hỏi thiết tha nhất; đó là một đời sống vật chất tương đối đầy đủ, êm ấm, đó là đời sống tinh thần tương đối ổn định, có đảm bảo tự do. Hạnh phúc của loài người xây dựng trên cơ sở dân sinh và dân quyền. Tôi muốn nhấn mạnh ở đây hai chữ Dân Quyền. Ta được biết từ hai thế kỷ nay, chủ yếu trong vấn đề dân quyền là vấn đề dân chủ, nghĩa là quyền của người dân làm chủ trên đất nước; đồng thời là quyền của con người được sống theo các nhu cầu thiết yếu và chính đáng của nhân bản.
Từ cuộc CM tư sản ở Hoa Kỳ cuối thế kỷ XVIII, CM tư sản Pháp 1789, tới cuộc CM XHCN của Nga, quần chúng nổi dậy, mang xương máu để tranh đấu dành cho kỳ được chế độ dân chủ. Sau đại chiến lần thứ hai, Hiến chương Liên hiệp Quốc đúc kết những thành quả của các phong trào lịch sử tranh đấu cho dân chủ và đặt các nước văn minh trước trách nhiệm của họ để thực hiện và đảm bảo nguyên tắc dân chủ. Đối với các nước tư bản, ta không ngạc nhiên thấy chế độ dân chủ thực hiện với những thiếu sót quan trọng. Nhưng ta có quyền ngạc nhiên khi ta thấy các thiếu sót ấy cũng xuất hiện trong các nước đã hoàn thành cuộc CM dân chủ nhân dân và XHCN. Đại hội lần thứ 6 của hội quốc tế các luật gia dân chủ họp trong tháng 5 vừa rồi tại Bruxelles đã lấy làm tiếc mà nhận thấy rằng trong tất cả các nước, dù tư bàn hay XHCN mặc dầu các Hiến pháp, các bộ luật tuyên bố trịnh trọng, tôn trọng, thực hiện, đảm bảo thực hiện các nguyên tắc dân chủ tuy nhiên các nguyên tắc này vẫn bị giày xéo. Vì vậy trong tất cả các nước, quần chúng tranh đấu kịch liệt.
Ở nước ta, trong bản Tuyên ngôn độc lập, trong Hiến pháp cũng như trong các sắc lịnh, đạo luật đã được ban bố. Nhưng qua phong trào phát huy dân chủ mà chính phủ chủ trương, qua Đại hội Nhân dân lần thứ 3, các Đại hội mặt trận Trung ương, mặt trận Thành, qua thông cáo của Hội nghị lần thứ 10 của Trung ương ĐLĐ, của chính phủ… Nhân dân nhận thấy, và Đảng cũng như chính phủ xác nhận rằng ta thiếu sót về dân chủ khá nhiều. Vì các thiếu sót ấy, ta phạm các sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ, như tôi đã trình bày trên đây. Nguyên nhân sâu sắc của các sai lầm ấy, ta có thể quy kết được. Sở dĩ đời sống tinh thần của ta không được ổn định, lúc nào ta cũng nớp nớp lo sợ “lộng quyền” của nhà đương cục là vì ta thiếu một chế độ pháp trị phân minh, không đề ra nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người; đồng thời cả của cấp lãnh đạo nữa. Sở dĩ cấp lãnh đạo có thể phạm được các sai lầm nghiêm trọng trong CCRĐ, tổn thất xương máu, mồ hôi nước mắt của đồng bào, cho uy tín của Đảng và chính phủ là vì người dân không có quyền, không có phương tiện nói lên ý kiến của mình tham gia xây dựng các chính sách của chính phủ. Do đó phương hướng sửa chữa các sai lầm là một chế độ pháp trị chân chính, một chế độ dân chủ thật sự.
1) Một chế độ pháp trị chân chính.
Ở đây chưa phải lúc và chỗ để tôi trình bày ý kiến về vấn đề pháp trị. Ta sẽ có dịp khác. Ở đây tôi chỉ muốn trình các quý vị một nhận xét.
ĐLĐ (và chính phủ) có nhận thấy cần thiết trong chính sách sửa chữa các sai lầm trong cải cách, phải “tăng cường chế độ pháp trị” của ta ? Tôi e rằng trong tư tuởng lãnh đạo, sự nhận thức về vấn đề pháp trị chưa được rõ và đầy đủ. Chính trị vẫn đối với pháp luật như “một đứa con nghèo”. Chữ “tăng cường” là một chứng minh. Tuy rằng trong nước ta hiện thời có Bộ Tư pháp, có các tòa án, có các luật lệ nhưng chế độ pháp trị hầu như không có. Đó là một điều tôi sẽ nghiên cứu sâu sắc hơn khi nào tôi trình bày ý kiến về chế độ pháp trị, trong một chế độ pháp trị chân chính. Theo ý tôi thì vấn đề không phải là tăng cường mà là xây dựng.
Một chứng minh khác là ngay trong chính sách sửa sai trong cải cách này, tôi vẫn thấy chính trị lấn áp pháp lý. Trước hết, bức thư ông Hồ Viết Thắng tự phê bình và rút lui khỏi Mặt trận Trung ương chỉ là một giải pháp chính trị mà thôi. Trong cuộc mạn đàm với các vị đại biểu đến họp Hội nghị này, tôi nhận thấy không ai thông về ý kiến và biện pháp ông Hồ Viết Thắng trình bày cả. Riêng về phần tôi là một nhà luật học, tôi chưa thể nào nhận định được trách nhiệm của ông Thắng. Có thể trách nhiệm của ông ấy rất lớn, có thể rất nhỏ… Đứng trên tinh thần pháp lý, sự nhận tội lỗi của một người không đủ để quy định trách nhiệm của người ấy.
Trong cải cách, khi những đảng viên ưu tú bị đoàn cải cách cho là phản động, ra trước nhân dân mà nhận tội trong khi biết mình oan. Ta nên rút kinh nghiệm vừa qua, sửa sai không phải là phạm các sai lầm khác. Do đó, đứng trên một lập trường pháp trị chân chính, tôi đề nghị phải lập một Ủy ban Điều tra gồm các vị đại biểu Quốc hội, Mặt trận, ĐLĐ, với sự cộng tác của các vị Thẩm phám cao cấp, giàu kinh nghiệm, để lập một hồ sơ theo phương pháp pháp lý, để nhận định trên quá trình đi từ lãnh đạo qua chỉ đạo đến chỗ thực hiện chính sách, trách nhiệm ở chỗ nào và do những ai phải chịu. Sau khi kết thúc cuộc điều tra, Ủy ban ấy sẽ phải tách trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý.
Ai chịu trách nhiệm chính trị sẽ phải trả lời trước Quốc hội, biến thành tòa án tối cao. Ai chịu trách nhiệm pháp lý sẽ trả lời trước các tòa án tư pháp. Dưới con mắt của quần chúng theo dõi cuộc điều tra và xét xử, công lý phát huy không ai còn thắc mắc nữa.
Có người hỏi : “Làm thế để làm gì ?” Tôi xin phép trả lời. Làm thế để rút kinh nghiệm. Tôi cảm thấy ngay hiện thời ta chưa rút được kinh nghiệm. Tôi cảm thấy ngay hiện thời ta chưa rút được kinh nghiệm đâu. Chính trị không những lãnh đạo pháp lý -đó là đúng nhưng vẫn lấn áp pháp lý, thay thế cho pháp lý như trong trường hợp ông Hồ Viết Thắng; như thế là ta vẫn mở cửa cho các sai lầm mới còn nguy hại hơn nữa. Không những thế, ta biết rằng nhu cầu công lý thuộc nhân bản của người văn minh. Từ người bị xử oan cho đến các người chỉ chịu gián tiếp vì các sai lầm, có thể nói được rằng toàn dân đợi chờ công lý. Một biện pháp chính trị xuề xòa, không được thỏa mãn được ai.
Bằng chứng ở nông thôn, ta được biết tình hình “căng thẳng”. Phong trào trả thù, tự xử diễn ra khắp mọi nơi, kéo chúng ta trở về quá khứ lịch sử. Còn như các đảng viên bị xử trí sai, tâm hồn các anh em như thế nào ? Ta chỉ cần đọc lại báo Nhân Dân, tuy rằng các anh em kết thúc các bài tướng thuật đau khổ của mình bằng những lời phấn khởi nhưng các lời này không làm ta quên được các lời phẫn uất, chua xót, cai đắng mà các anh em nói lại với ta từ đầu bài. Nhưng bi đát hơn hết là các chiếc khăn trắng chít lên đầu họ hàng thân thích của những anh em bị xử tử, những bàn thờ vẫn dựng trong nhà, các thổn thức phá vỡ im lặng của các đêm hiu quạnh, các ngày giỗ nhắc lại hàng năm bi kịch thê thảm đã diễn ra trong gia đình vì cuộc cải cách. Nhân dân đòi hỏi các người có công được thưởng và người có tội phải đền tội. Trách nhiệm của tất cả mọi người từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên phải được quy định rõ ràng, dứt khoát. Như thế mới yên được lòng dân, như thế mới thu phục được nhân tâm. Kinh nghiệm lịch sử đã dạy ta điều ấy. Trong chính sách sửa chữa sai lầm, ta không thể nào quên được bài học lịch sử.
Quần chúng im lặng đợi chờ công lý.
Chúng ta thiết tha mong ước ở chính trị một nhận định đúng về vai trò pháp luật phục vụ CM. Kinh nghiệm đau đớn vừa qua, bó buộc ta phải xây dựng lại quan điểm “địch” trên cơ sở pháp lý và pháp trị. Các sai lầm ta đã phạm, bắt nguồn ở quan điểm chính trị về địch. Quan điểm ấy linh động quá, “biện chứng” quá nên ta không biết phân tích địch và ta, do đó ta đánh cả ta nữa. Muốn tránh các sai lầm hôm qua đừng tái diễn ngày mai, ta cần xác định theo hình luật thế nào là địch. Lúc đó ta mới đánh trúng địch và có đánh đúng địch, ta mới củng cố được ta, ổn định được nhân tâm, duy trì lại trật tự và an ninh ở thôn quê, kiến thiết lại đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân ở thôn quê cũng như ở thành thị, đảm bảo cho quần chúng một đời sống tự do, thoát khỏi sự đe dọa của “lộng quyền”, bênh vực quyền căn bản và thiết yếu của con người.
Tóm lại nếu chính trị giác ngộ, vui lòng tôn trọng pháp lý, thiết lập một chế độ pháp trị trong đó chính trị vẫn lãnh đạo pháp lý nhưng đồng thời nêu thật cao gương phục tùng pháp lý và pháp trị thì nhất định chính trị khôi phục được uy tín, và được quần chúng nhiệt liệt ủng hộ.
2) Một chế độ thực sự dân chủ.
Thế nào là một chế độ thực sự dân chủ ? Đó là chế độ trong đó người dân được làm chủ trên đất nước không những trong Hiến pháp mà cả trong thực tế nữa. Đây không phải là lúc, là chỗ mà ta đi sâu vào vấn đề. Ta chỉ cần nhận thấy rằng trong giai đoạn hiện thời, quần chúng có đòi hỏi cái gì quá đáng đâu, chỉ yêu cầu có một điều thôi, là được đàm thoại với cấp lãnh đạo, được đề đạt lên cấp lãnh đạo ý kiến của mình về các chính sách do cấp lãnh đạo xây dựng. Các vị lãnh tụ đã bao lần khen dân ta tốt. Mà dân ta tốt thật. Bằng chứng là điều tôi vừa nhắc tới đây.

Trong khi quần chúng có quyền đòi hỏi một chính thể CM rất nhiều, nhân ta chỉ có một yêu cầu, yêu cầu ấy thiết yếu. Tôi tin rằng cấp lãnh đạo cũng nhận thấy như vậy. Ta không quên lời của ông Trường Chinh đọc bản tự phê của ĐLĐ tại Hội nghị này. Ta nghe thấy cấp lãnh đạo thú nhận trước Hội nghị rằng Trung ương Đảng đã phạm sai lầm là xa quần chúng, chỉ tiếp xúc với quần chúng qua báo cáo của các cán bộ đảng viên mà thôi. Ta phải nhận định rằng đây là một sai lầm nghiêm trọng. Do đó cuộc CCRĐ của ta đã gặp các thất bại cay đắng. Trái lại với lời ta thường nói, ta thiếu dân chủ với nhân dân.
Nhân dân nhất định không để tình trạng tai hại ấy kéo dài nữa. Tôi xin phép Hội nghị góp một số ý kiến để chấm dứt tình trạng đó. Tôi không đặt vấn đề dân chủ nói chung.
Tôi chỉ chú ý đến các nhu cầu thiết tha nhất hiện thời của quần chúng là được phản ảnh lên ý nguyện của mình. Theo ý tôi, để thực hiện và đảm bảo yêu cầu vô cùng chính đáng ấy, thì cần 3 giải pháp :
1- Một chế độ báo cáo của cán bộ. Đảng tín nhiệm ở cán bộ. Đúng ! Không tài nào khác được. Vậy phải đặt các cán bộ có nhiệm vụ báo cáo, trước trách nhiệm của họ. Một báo cáo không phản ánh trung thành sự thực bởi các khía cạnh của nó, với các ưu và khuyết điểm của nó, rất tai hại. Cấp lãnh đạo cần đề cao cảnh giác với các con số thống kê, các động cơ bất chính của cán bộ muốn thi đua thành tích, vừa mị, vừa lừa trên, do đó đưa ra một hình ảnh quá bịp của thực tế. Ta phải tiến tới giải pháp nhận định rằng người nào hữu ý xuyên tạc sự thật vì động cơ bất chính, có thể bị truy tố về tội giả mạo được.

2- Một chế độ cho các đoàn thể nhân dân được quyền mạnh dạn nói lên ý kiến của quần chúng mà họ tập hợp. Từ trước tới nay, ta có thể vì ĐLĐ như một cây rất to, là rườm rà che hết ánh sáng của mặt trời khiến ngay một ngọn cỏ cũng không thể mọc dưới chân nó được. Vì vậy Quốc hội cũng như Mặt trận không thể đóng được vai trò của mình. Ở đây tôi chỉ xin phép nói về mặt trận của ta thôi. Các vị đã thấy, từ khi thành lập mặt trận Liên Việt cho đến mặt trận Tổ Quốc, chúng ta chỉ có nhiệm vụ động viên quần chúng thi hành chính sách mà thôi. Đó là nhiệm vụ. Nhưng dù sao chỉ có một chiều. Ta là dây liên lạc giữa các cấp lãnh đạo và quần chúng. Nếu ngược lại ta có quyền liên lạc giữa quần chúng và cấp lãnh đạo, nghĩa là phản ánh lên Đảng và Chính phủ ý kiến thắc mắc nguyện vọng của quần chúng, cộng tác của ta thế nào cũng tốt đẹp hơn, hoàn hảo hơn; ta gắn liền lãnh đạo và quần chúng, do đó lãnh đạo sát hợp với thực tế hơn. Tôi xin phép đặt mỗi vị ủy viên trước trách nhiệm của mình. Chúng ta ủng hộ chính phủ nhưng chúng ta cũng là đại biểu của nhân dân. Công tác chúng ta có hai mặt, chúng ta không thể chỉ lệch một bên được. Quần chúng không cho phép chúng ta làm như vậy, muốn theo dõi công việc ta làm vì chúng ta làm đại biểu của quần chúng, được quần chúng tín nhiệm. Quần chúng giao quyền cho chúng ta, chúng ta phải xứng đáng với sự ủy quyền ấy. Ta sử dụng quyền ấy thế nào; quần chúng đòi kiểm soát ta.
Để đạt mục đích này tôi xin phép đề nghị : một là mỗi ủy viên phải có nhiệm vụ phản ánh lên mặt trận ý kiến của quần chúng. Mặt trận có nhiệm vụ đề đạt lên cấp lãnh đạo những phản ánh của các vị ủy viên và báo cho các vị ấy thái độ của cấp lãnh đạo giải quyết vấn đề ra sao, sử dụng các phản ánh ấy như thế nào. Khi mặt trận họp Hội nghị, phải cho phép quần chúng đến bàng thính; để quần chúng kiểm soát công việc của mặt trận làm và thái độ của các ủy viên. Dĩ nhiên, các người bàng thính ấy không có quyền tham gia thảo luận, chỉ được nhập hội trường cho đến khi hết số ghế dành cho quần chúng và phải tôn trọng kỷ luật của Hội nghị. Ngoài ra, báo chí đặc biệt của Mặt trận như tờ Cứu Quốc phải phản ánh trung thành nội dung của các cuộc thảo luận và đăng các tham luận của các ủy viên.

3- Một chế độ tự do ngôn luận, xuất bản báo chí. Ta phải đề phòng trường hợp các cán bộ không báo cáo, các ủy viên Mặt trận không phản ánh ý kiến của quần chúng. Do đó ta thấy cần thiết phải cho phép quần chúng nói lên tiếng nói của mình qua các báo chí.
Có người lo ngại rằng tự do ngôn luận này mà ai cũng thấy cần thiết, có thể bị xử dụng một cách bừa bãi. Về điều này, ta phải suy nghĩ. Mối lo ngại nói trên đây xuất phát từ động cơ nào ? Nếu là động cơ tốt – nghĩa là do một nhiệt tình đối với CM gây ra – ta hoan nghênh. Nhưng ta cũng sẽ trả lời rằng trong một chính thể dân chủ muốn sử dụng tự do nào, dĩ nhiên phải nêu trách nhiệm của người sử dụng tự do ấy, trước pháp lật.
Nếu sử dụng với tinh thần trách nhiệm hợp pháp, ta không còn quyền kêu ca gì, trái lại ta hoan nghênh. Nếu sử dụng một cách vô trách nhiệm, ta đã có tòa án để nghiêm trị.
Vậy ta không lo ngại. Nhưng nếu mối lo ngại xuất phát từ một động cơ bất chánh, nhằm mục đích thủ tiêu các tự do dân chủ, thì ta cần khuyên nhủ người lo ngại như vậy nên đọc lại lịch sử các phong trào CM trong hơn một thế kỷ nay. Họ sẽ nhận thấy rằng chưa bao giờ, chưa ai có thể ngăn cản được một phong trào quần chúng tranh đấu đòi các tự do dân chủ.
Không những ta công nhận các tự do dân chủ, ta lại còn cung cấp phương tiện để thực hiện các tự do ấy. Thí dụ tự do ngôn luận, ta có các báo của Chính phủ, của Đảng, của Mặt trận. Ta lại có các báo của tư nhân, ta giúp đỡ cho các báo ấy giấy và mực in đầy đủ, ta lại còn quảng cáo cho các báo ấy đằng khác nữa. Các cơ quan tuyên truyền báo chí của ta không bao giờ tìm (ie. làm ?) khó dễ cho các báo ấy và khi nào các báo đó được hàng vạn độc giả hoan nghênh, ta rất lấy làm sung sướng vì trong thâm tâm ta, ta là người dân chủ. Các biện pháp tôi đề nghị trên đây, đều nhằm mục đích cống hiến cho các cấp lãnh đạo một nhận thức đúng và sát thực tế mà cấp lãnh đạo không có điều kiện biết đến một cách trực tiếp sát với thực tế quần chúng; cấp lãnh đạo thông cảm với quần chúng, đi đúng đường lối của quần chúng, được quần chúng tín nhiệm, ủng hộ mềm yếu (ie. mến yêu ?).

Thưa các quý vị, tôi đã nói quá lâu nhưng tôi tin các vị cũng tha thứ cho vì biết rằng tôi là một người thiết tha đến các sự nghiệp của CM và tiền đồ của dân tộc. Các ý kiến của tôi dù sai hay đúng, tôi cứ xin thành khẩn đề đạt lên các vị; gọi là để góp phần vào Hội nghị một phần nhỏ mọn thôi nhưng chan chứa một niềm hy vọng và tin tưởng vô biên ở tương lai đất nước.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường
Hà Nội ngày 30-10-1956.

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s