Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 14)

5. Nhân Tình Hà Nội ‘60
Anh chị nào trạc tuổi tôi, có sống ở miền Bắc, nếu có quên đi thì nghe tôi tôi nhắc nhân tình ngoài ấy và trong Đảng vào thập niên 60.
Xin vạch đường ranh. Đầu nọ 1953, Staline chết, đầu này là nghị quyết IX vang dội của Trung ương Đảng họp ngày 11 tháng 12-1963.
Tôi nói đây cũng để tiếp tục suy tư về đạo đức, luân lý coi nó còn ra cái gì dưới “sự lãnh đạo của Đảng ta”.
Tôi lớn lên và bắt đầu biết suy nghĩ trong khi phong trào CS thế giới như dây rau lang đang bò vòi và bò lên đất ta.
Tôi yêu nước mà yêu nó, theo nó, ngắt ngọn nó mà giăm ra. Trong hoạt động cho nó, ngày xưa trong ĐCS tôi không gặp sự khác nhau về quan điểm. Chỉ trừ với những người có quan niệm CM trong Đảng khác : như những anh Tờ-rốt-kít.
Quan niệm CM của họ đây nha :
“CM vô sản không thể làm nay ở nước này, mai nước nọ. Mà làm từng phần, thắng lợi từng phần, có sống được một lúc, rồi chủ nghĩa tư bản quốc tế cũng bóp chết nó mà thôi. Vậy nên CM vô sản phải thường trực và một lượt. CM có thắng lợi đều khắp thì thắng lợi này mới được duy trì.”
Tôi cũng bắt đầu đọc Lénine, còn lõm bõm nhưng cũng nghĩ rằng : chờ đợi tới lúc bao giờ mới có một révolution simultanée, cuộc CM một lượt ? Trong khi trước mắt của con người CM là có tình hình : đế quốc với đế quốc đánh nhau ắt có tử thương, mỏi mệt suy yếu.
Ta thừa thế làm CM nội chiến. Như trái banh đang tưng ta chụp ngay. Chờ cho CM có đủ điều kiện để nổ một lượt là điều vô lý.
Còn ta là kẻ không bỏ “thiên tải nhất thì”, có dịp may là chụp. Chụp được là thắng lợi rồi. Nhưng số của CM có trường thọ hay chết yểu ? Cái đó là tùy ở anh ! Anh phải coi đó mới là thắng lợi từng phần chớ chưa phải là victoire definitive, thắng lợi chung cuộc.
Theo Lénine : “Ta có thể từ thắng lợi tạm thời này biến nó thành thắng lợi chung cuộc được không ?”
Lénine trả lời là : “Được ! Miễn là CM động viên được quần chúng sản xuất theo kịp chủ nghĩa tư bản và qua mặt nó.”
Tôi tiếp thu tư tưởng đó mà cũng là âu lo lớn nhất đó của Lénine. Đến nay vào thập kỷ 60, Liên Xô đã sống được hơn 40 năm mà vẫn còn cơ sụp đổ. Có hai nhà trí thức lỗi lạc Nga, nhà văn A.L.Xôn-ghe-nhit-xun và viện sĩ A.D.Xa-kha-rốp. Hai người đều được tặng giải thưởng Nobel. Quan điểm của nhà văn là : “Nước Nga phải phát triển theo con đường riêng của mình – con đường nhân đạo chủ nghĩa.”
Quan điểm của viện sĩ là : “Tiến bộ kinh tế-kỹ thuật chỉ có được trong điều kiện dân chủ hóa xã hội Liên Xô, không thể phát triển được trong sự biệt lập về kinh tế và khoa học kỹ thuật, trong sự tách rời với tiến bộ công nghệ thế giới.”
Vậy mà trên đất nước miền Bắc, tình hình mà chúng ta đang nói đây, thật là không giống với ai hết. Cà lăm cà lặp tự xưng CNXH mà không có điểm chung với chủ nghĩa nhân đạo, với dân chủ.
Tôi lại cũng được học thêm của Marx rằng : “Chế độ CS chỉ có thể xây dựng trên cơ sở phát triển đầy đủ của chế độ tư bản.”
Vào thập kỷ 60, trong dịp được gặp Lê Duẩn ở tư dinh, tôi có giác đát (ie. ?) về cách nói “CMVN ta đi thẳng lên CNXH không qua giai đoạn phát triển tư bản.”
Cái “không qua” này là nhờ sự giúp đỡ của CNXH (apport du socialisme) mà chính những nước XHCN cũng đang phát triển theo chủ nghĩa tư bản để làm cơ sở cho CNXH, cho cái “thắng lợi chung cuộc” của họ kia mà. Nên phải nghỉ cho kỷ : “Ta lúc nào đó, nhờ điều kiện nào đó mà bất đắc dĩ không qua, chứ không thể khỏi qua giai đoạn phát triển TBCN mà “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ” tiến lên CNXH được.”
Tiếc thay, lúc ấy Lê Duẩn đang cho mình là trội lên trên lãnh tụ CS thế giới. Cái được của anh là làm cho đảng viên chung quanh phát bịnh nặng “kiêu ngạo CSCN” (Lénine).
Sau thế chiến thứ hai, người đảng viên và người có cảm tình với đảng hết sức phấn khởi hệ thống CNXH nối liền một dãi từ Đông Nam Á đến Trung Âu, và đặt tiền đồn sát nách “chúa sơn lâm” Mỹ. Hệ thống thuộc địa cũ đổ sụp. Rất nhiều nước khôi phục được độc lập chính trị. Phong trào CS thế giới lên cao. Địa bàn chính trị của CNTB như miếng da lừa của Balzac teo lại (ie. tác phẩm La Peau de chagrin (Miếng Da Lừa) hay The Magic Skin (Miếng Da Mầu Nhiệm) của nhà văn Pháp, Honore de Balzac). Cũng tưởng rằng con đường thắng lợi của CM thế giới đã làm cho Liên Xô không còn trơ trọi một mình và êm ả đi đến cái victoire définitive.
CNTB bị chiến tranh mà trầy vi tróc vảy. Tôi có đọc “Tư bản giẩy chết.” Nhưng tôi coi thời gian lịch sử là thời gian dài hơn trăm năm trong cõi người ta. Hiện thời nó cũng là mạnh. Ta quốc tế. TBCN cũng có tính chất quốc tế. Nó biết hợp sức lại với hy vọng trừ bỏ CNCS. Liền sau đại chiến thế giới thứ II, Thủ tướng Anh, Churchill, đọc một tuyên ngôn chống cộng ở Fultow. Mỹ đã thành thủ lỉnh trong cuộc thập tự chinh chống cộng.
Chúng muốn dùng thép và lửa tiêu diệt CNCS; trước hết là tiêu diệt quân chủ lực của phong trào CS là Liên Xô. Chúng chuẩn bị về quân sự và liên tục tấn công bằng báo chí, sách, đài phát thanh, truyền hình… và bằng mọi đòn kinh tế.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, lần lượt các nước thuộc địa giành được độc lập về chính trị. Lập tức CNTB lợi dụng tình trạng nghèo nàn lạc hậu về kinh tế, thực hiện một chính sách thực dân kiểu mới. Ở các nước ấy, dư luận ngày càng lên án sự lũng đoạn của các nước tư bản, nhưng chưa dám làm gì nó.
Đối đầu với CNTB là hệ thống các nước XHCN và phong trào CS quốc tế. Trước đây, phong trào quốc tế CS có một cơ quan chỉ đạo chung về chiến lược. Chúng ta có tiếng gọi Đệ tam quốc tế. Sau chiến tranh Đệ tam quốc tế tự giải tán.
Vì tình hình lúc đó về phía CM là :
“Hàng chục Đảng CS, lao động và công nhân đã thành Đảng cầm quyền. Nhiều Đảng đã có hàng mấy trăm ngàn, hàng triệu đảng viên, lãnh đạo hàng mấy triệu quần chúng có tổ chức. Như vậy chủ trương gì từ ngoài áp đặt vào thì “coi bộ không nên”, rất dễ tạo ra những tình huống phúc tạp.
Và rõ ràng là quy mô và tính chất phức tạp của công việc ở từng nước đòi hỏi ĐCS các nước ấy trực tiếp đảm đương mới mong kịp thời và chính xác.
Không thể có ai đó, đứng ngoài Đảng, đứng trên các Đảng đưa ra chủ trương bắt nước nào đó phải theo.
Nhưng tôi có biết Lénine đã lưu ý :
“Ở các nước giai cấp vô sản đã nắm chính quyền cần cảnh giác đối với tư tưởng dân tộc hẹp hòi. Nhưng trước một kẻ thù giai cấp họp thành liên minh chống cộng (ta) có một chiến lược phối hợp, đối với phong trào CS, có một đối sách và một tổ chức thống nhất lại cũng là một yêu cầu quan trọng và bức thiết.”
Nhìn lại phong trào CS hơn một thế kỷ và thái độ chống cộng của giai cấp tư bản, ta thấy rõ phong trào đã tiến mạnh là chừng nào, và kẻ thù giai cấp kiên trì và nhất quán chống cộng thế nào.
Ta lại nhìn các nước có ĐCS cầm quyền không thể không buồn mà thấy rằng cái mối liên quan giữa dân tộc và quốc tế giải quyết không trên tinh thần quốc tế vô sản nên đã xảy ra bất hòa, đi tới “đấm đá.”
Nghiêm trọng hơn cả, rõ ràng hơn cả là :

6. Sự Đối Lập Chiến Lược Giữa Liên Xô và Trung Quốc
Trong việc vạch ra chiến lược của nó, giai cấp tư bản quốc tế đã xuất phát từ thái độ thù địch giai cấp trước sau không thay đổi và một quan điểm duy tâm về thế giới :
“XHTB là tốt đẹp, sẽ tồn tại vĩnh viễn ; CNXH là một lầm lạc về tư tuởng, xã hội XHCN ở Liên Xô và các nước trong hệ thống là một hiện tượng lịch sử trái với quy luật cần phải diệt trừ.
Chiến luợc của CNTB là chiến lược chống cộng, chống các nước XHCN, trước hết là chống Liên Xô, thành trì của CMVS, nước XHCN vững vàng, có kinh nghiệm và tiềm lực.
Chiến lược ấy có mặt trận văn hóa tư tuởng, có mặt trận kinh tế… đều dồi dào chủ trương và phương tiện chống ta.”
Nếu nói về mặt trận chính trị, nó cố gắng cô lập Liên Xô và các nước XHCN khác, tách các nước mới giải phóng khỏi ảnh huởng của các nước XHCN, tìm cách chia rẽ làm cho các nước XHCN nghi kỵ lẫn nhau. Mục tiêu chủ yếu của chúng là nhắm vào Liên Xô nhưng chúng tấn công vào bất cứ nơi nào mà có thể gây tổn thất lực lượng của CNXH.

Ngày còn đứng trên bục ở miền Bắc, tôi ngon miệng :
“Chiến lược của giai cấp tư bản nhằm làm ngược lại với quy luật phát triển nhân loại, ngược với quyền lợi lớn nhất, chính đáng nhất của loài người là NHÂN QUYỀN. Nó nhằm duy trì vĩnh viễn tệ bóc lột, áp bức và gây chiến.
Chiến lược của giai cấp vô sản nhằm làm cho quy luật phát triển nhân loại diễn ra một cách thuận lợi nhất, nhằm giải phóng loài người khỏi bị bóc lột, bị áp bức, khỏi nạn chiến tranh. Trung tâm của chiến lược này là Bảo vệ hòa bình.
Có hòa bình thì các bộ phận của giai cấp vô sản mới có điều kiện cải thiện đời sống nhân dân bằng cách sử dụng khoa học kỹ thuạt làm cho sản xuất tăng không ngừng.
Có hòa bình sự “thắng lợi chung cuộc” mới đảm bảo.
Vã lại, hai quả bom nguyên tử liệng xuống đất Nhựt cũng đã nói với lịch sử, đừng có dại mà để xảy ra thế giới chiến tranh thứ 3.”

***

Trên cơ sở nhận thức chung về thế giói và về chiến lược của các giai cấp đối lập nói trên; ta thử xem lại chiến lược của “anh cả” và “anh hai.”

a. Chiến lược của Liên Xô.
Chiến lược của Liên Xô nhằm thực hiện CM vô sản trên khắp địa cầu. Trước hết nhằm xây dựng CNCS ở Liên Xô và đến các nước XHCN anh em; đồng thời ủng hộ phong trào CS thế giới và tích cực giúp đỡ các nước đang phát triển giành được độc lập.
Việc Liên Xô phấn đấu cùng các nước anh em, áp dụng rộng rãi các thành tựu mới nhất của khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, để tạo ra một sức sản xuất mới; việc ấy quan trọng biết chừng nào !
Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nhanh chóng và liên tục.
Cũng cố nền quốc phòng của hệ thống; thắng hẵn CNTB về năng suất lao động tạo ra một khối lượng hàng hóa nhiều hơn và tốt hơn hệ thống tư bản, từ đó ủng hộ, động viên giai cấp công nhân ở các nước tư bản trong cuộc đấu tranh xã hội, từ đó giúp đỡ nhiều hơn cho các nước đang phát triển.
Khâu chính của chiến lược ấy là đấu tranh bảo vệ hòa bình.
Tôi đồng ý lắm vì từ thuở tôi còn lõm bõm đọc Lénine và nặng lòng với cái thắng lợi chung cuộc của ta.

b. Còn chiến lược của người lãnh đạo Bắc Kinh ?
Điểm mấu chốt của chiến lược này cũng là hòa bình và chiến tranh. “Có chiến tranh, CM càng mau thắng lợi” – họ đã nói vậy.
Theo quan điểm chiến lược ấy, “Còn Đế quốc là còn chiến tranh”, hy vọng duy trì hòa bình là ảo tưởng. Trong xã hội ngày nay có một mâu thuẩn lớn :
Vô sản và tư bản.
Đế quốc và dân các thuộc địa.
Hệ thống TBCN và hệ thống XHCN.
Đã là mâu thuẩn mà muốn làm dịu đi – Sính xáng nói, là sai rồi.
Có mâu thuẩn thì giải quyết. Đế quốc muốn chiến tranh, gây xung đột chưa hết ở nơi này đã đến nơi khác. Vậy ta có sợ chiến tranh cũng không được.
Có chiến tranh là có tổn thất. Chiến tranh càng lớn, tổn thất càng nhiều. Nhưng nếu một cuộc chiến tranh thế giới mới có nổ ra thì sau chiến tranh đế quốc không còn tồn tại. Ta xây dựng CNXH càng thuận lợi.
Ngày nay một cuộc chiến tranh thế giới do đế quốc gây ra và đem các nước TB đối đầu nhau (như hai đại chiến thế giới trước) là ít có khả năng xảy ra. Đối với các nước TB, thì Mỹ đã quá mạnh, không nước tư bản nào dám đánh nó. Còn “rủi” mà Pháp, Đức đánh nhau nữa thì chiến tranh này cũng không làm cho CNTB tiêu vong.
CNTB chỉ có thể bị diệt vong khi nào đó là một cuộc chiến tranh giữa hai hệ thống.
Chúng ta xem đây luận điểm của Mao Trạch Đông về chiến tranh với Mỹ.
Ông cho rằng : “Chiến tranh tất sẽ xảy ra. Mỹ hung hăng gây rối khắp nơi, cần phải kiên quyết chận tay nó lại. Dĩ độc trị độc. Có chiến tranh ta cũng không sợ. Nhưng chưa chắc đã là chiến tranh nguyên tử. Mà có chiến tranh nguyên tử, ta cũng không sợ, loài người không vì thế mà bị tiêu diệt.” Nói cho cùng mà nghe (thế giới đều nghe và ai cũng rùng mình) nếu Trung Quốc có thiết hại năm ba triệu người, đến khi CNTB bị tiêu diệt, hòa bình trở lại ta sẽ xây dựng CNXH càng thuận lợi và con cái đẻ ra, dân số sẽ tăng lên như thường.
Trung Quốc lên án Liên Xô là sợ Mỹ, sợ chiến tranh, sợ bom nguyên tử. Một thời gian sau, lời kết án còn nặng hơn : “Liên Xô muốn thương lượng với Mỹ để hai siêu cường thỏa thuận chia nhau khu vực ảnh huởng Liên Xô và đế quốc XHCN.”

Bạn còn nhớ những điều tôi vừa nhắc đó chớ ?
Và như vậy, trung thành với nguyên tắc léninit là giữa những người anh em với nhau thì phải thông tin cho nhau một cách đầy đủ, rồi thảo luận với nhau một cách kỹ càng : Liên Xô “đăng cai” một cuộc họp. Bấy giờ trên thế giới có 86 nước có ĐCS, thì 81 đảng đã dự “Hội nghị Matx-cơ-va” (11-1960).
Đồng chí HCM dẫn đầu đoàn đảng, còn có Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh và vài vị nào đó nữa mà tôi nhớ có Trần Quang Huy_ một cây con lý luận, theo dòng Trường Chinh, thân Trung Quốc (phải giới thiêu riêng lẻ ông này để có chuyện nói về sau).
Trong hội nghị Mátx-cơ-va ấy, HCM, tội nghiệp đã bảo vệ Liên Xô. Nhưng ngay trong đoàn cũng không nhất trí. Vì là “Bác nói thì thôi !” nên làm thinh. Về nhà hãy hay.
Cái đồng thuận của ông Hồ thật không đồng với ba luồng tư tưởng của cán bộ chùa.

c. Cán bộ ta lúc ấy phân làm ba xu hướng.
Những suy nghĩ của cán bộ ta lúc ấy phân làm ba xu hướng.
Xu hướng được đa số tuyệt đối chấp thuận là quan điểm chiến lược của Trung Quốc :
“Đế quốc Mỹ hung hăng xâm lược, Liên Xô vì mất tinh thần CM nên muốn thương lượng với Mỹ vì sợ chiến tranh, sợ bom nguyên tử, sợ Mỹ, Liên Xô đã hóa ra xét lại và phản bội CM.”
Tôi cho rằng miền Nam đang cực nhọc đánh Mỹ, nghe vậy chắn tin theo. Cho nên ai về miền Nam; ngay với Võ Văn Kiệt, tôi cũng ân cần nhắc nhở : “ Về trỏng mà để có xu hướng chống Liên Xô là tự vận đó nghe chưa ?”
Xu hướng thứ hai tán thành quan điểm của Liên Xô cho rằng : “Giữ gìn hòa bình, tranh thủ thời gian phát triển nền kinh tế quốc dân để cải thiện dân sinh, cũng cố quốc phòng, đuổi kịp rồi vượt qua các nước tư bản tiên tiến về số lượng, chất lượng sản phẩm, về khoa học kỹ thuật, giúp đỡ các phong trào vô sản và các nước đang phát triển, giành lại độc lập kinh tế” là rất đúng. “Chủ trương chạy đua vũ trang, cứng rắn đối đầu với Mỹ, dùng chiến tranh để chận tay Mỹ” là sai.
Xu hướng thứ ba, đáng lẽ Trung ương Đảng phải có rõ ràng vì ta là lãnh đạo mà.

Ôi mà lúc đó trong Hội nghị này nọ của Trung ương, cán bộ lớn thì gọi là “cái nước lớn, cái thằng trọc” một cách thoải mái, cán bộ tầm tầm thì thường dùng câu chữ “chống Liên Xô.” Họ nghĩ có nói vậy mới vừa ý thích của Trung ương Đảng ta.
Vậy nên chơi với là xu hướng thứ 3 theo Lê Duẩn :
“Liên Xô và Trung Quốc là hai cột trụ của hệ thống XHCN. Mà họ đang xung đột nhau. Họ có đánh nhau sứt đầu mẻ trán cũng không sao ta cả. Chứ mà ta xen vào, tất nhiên là không thể “ba phải”, nhất định là ngã theo một bên – “nhất biên đảo” như Mao Trạch Đông nói – thì ta sẽ được cái mất nước. Tôi thấy người CS nào cũng nghĩ trước hết dân tộc mình” (Lénine đã từng cảnh báo cái tai nạn nói theo Ba Duẩn, là phải lắm). “Còn về các sự kiện xảy ra trên thế giới, ta phải có ý kiến riêng của ta. Coi như ! Ta lên tiếng ủng hộ việc Liên Xô kéo quân vào Tiệp Khắc, trong khi đó Trung Quốc hết lời thóa mạ. Hoặc ! Trung Quốc thử bom nguyên tử, ta lên tiếng hoan hô thì Liên Xô lại chỉ trích. Ta không nhất thiết giống với ai, anh cả hay anh hai. Ta chỉ giống với ta thôi” (Điểm này anh Duẩn giống với ông Hồ). “Ta khen tất chứ không chê ai hết. Nước ta còn phải đánh Mỹ, chỉ phải thêm bạn bớt thù; ta lại xía vào sự cải vã của hai người lớn, ta sẽ “bớt” đi một người bạn lớn thì có phải là ta chuốc lấy cái mất nước hay không ?”
Tôi lại nói : “Cái lô-gích luật “không có cái thứ ba”. Liên Xô, Trung Quốc đang chống đối nhau. Anh không chịu bên này thì khách quan mà nói anh đã gần với bên kia.”
Tôi có nhớ mang máng J.Jaurès nói :
“Càng nhiều chủ nghĩa quốc tế thì càng về gần với dân tộc mình. Càng bo bo với chủ nghĩa dân tộc thì càng xa rời chủ nghĩa quốc tế.”
Ông Lê Duẩn nói câu, người CS ai cũng nghĩ trước hết dân tộc mình, là bỏ ngỏ trận địa tư tưởng quốc tế lúc bấy giờ. Tư tưởng bị bỏ ngỏ thì nó sẽ tự phát. Quên nói rằng 81 Đảng dự Hội nghị Matx-cơ-va (hay cũng gọi là Hội nghị 81 Đảng) thì 70 Đảng cùng đứng với Liên Xô một lập trường và những Đảng còn lại ấm ớ ngã về phía Trung Quốc, coi liên Xô là thù. Có Đảng ta trong số này không ?
Hoàn cảnh nước ta trong khi phỏng mặt cháy đầu đánh với Mỹ làm cho tư tuởng của nhiều anh em ta tự phát đi về với lập luận của Trung Quốc.
“Ta” cũng thấy như Trung Quốc : “Liên Xô sợ chiến tranh, sợ bom nguyên tử, sợ Mỹ…”, nhưng riêng về ta, ta thấy do sợ đó mà Liên Xô giúp ta cũng đắn đo, vũ khí không cung cấp ta thao ý ta muốn (!). Quân Mỹ đang giầy xéo nước ta, dân ta đang đầu rơi máu chảy. Núi rừng của ta bị Mỹ rải chất độc để phá trụi, cửa biển bị phong tỏa, thành phố bị bắn phá. Từ cái tình cảm yêu nước và hoàn cảnh chiến tranh khốc kiệt, anh em ta nhìn cái viện trợ có mức độ kia là một thủ đoạn, không phải là vì tình nghĩa anh em đồng chí, không phải vì tinh thần quốc tế vô sản mà lại xuất phát từ đầu óc đầu cơ chính trị.
Trong hàng ngũ cán bộ, có người cho rằng : “Anh em trên đây vì nóng ruột việc nhà mà quan niệm không đúng. Từ hoàn cảnh khác nhau, Liên Xô và ta cùng chống Mỹ, nhưng chống khác nhau. Sự giúp đỡ là một biểu hiện tinh thần quốc tế vô sản. Giúp được chừng nào ta cũng cám ơn. Còn như chính sách hòa bình của Liên Xô là tiếng nói đầu tiên mà Lénine nói cho thế giới nghe. Và với thời gian, chánh sách ấy lại thành chỗ dựa cho phong trào hòa bình rộng lớn nhằm bảo vệ nền văn minh của loài người, bảo vệ cuộc sống của gống người.”
Khi nãy tôi có nói ở “Hội nghị Đảng”, sau bảy mươi đảng đứng về Liên Xô, còn dư ra là ngã theo Trung Quốc. Và tôi có hỏi Đảng Lao động VN theo ai.
Ông Hồ chung thủy với Liên Xô mà đồng thuận với chiến lược hòa bình. Nhưng không đồng thuận được với Đảng (đảng mà ông tổ chức và giáo dục). Nó đem ông ra mà làm tình làm tội. Cái đó, ít ai biết. Tôi biết và sẽ nói đây.
Tôi biết từ cái quan sát (của một nhà báo) Bắc Kinh đang tạo thế bành trướng, lấy cái mồi viện trợ mà nhử Đảng ta.

“Nhất biên đảo” Mao Chủ tịch đã dạy vậy.
– “Ngã về bên nào ? Hãy khẵng định sớm đi.”
– “Dạ, vâng ạ.”

d. Phạm tội xét lại và chống Đảng.
Đảng viên nào ngã theo Liên Xô là phạm tội xét lại và chống Đảng. Đảng ta đã “ăn thề” với Trung Quốc như vậy. Ở đây chỉ có một vấn đề “Đảng ta” là ai.
Tôi sẽ nói sau.

Bây giờ tôi nói chuyện Tàu. Họ thời xưa, tướng võ ra quân phải chém một người vô duyên nào đó để tế thần.
Hoàng Sào không nỡ chém người nên cầm gươm phạt một thân cây có bọng. Ai dè sư phụ Hoàng Sào đang ngôì trong bọng cây ấy, phải rụng đầu.
Minh Tranh là người bất hạnh, trước giờ phút Trung ương Đảng ra quân chinh phạt “xét lại chống đảng.”
Việc làm tội Minh Tranh là một việc bất cần dân chủ. Ai cũng biết một tổ chức như ĐCS, đảng viên đứng trước một tình hình thế giới vào thập 60, một đảng viên không suy nghĩ gì là một đảng viên ụ ợ, không phẩm hạnh. Ý kiến khác nhau là thường. Vấn đề là cho thảo luận dân chủ, rồi phổ biến sâu rộng nghị quyết của đảng và ai nấy làm theo nghị quyết bất kể ý kiến riêng của ai đó như thế nào.
Trong buổi kiểm thảo Minh Tranh, chị Hà Quế thay mặt Trung ương đến dự. Khi tổng kết, chị tuyên bố Minh Tranh không có lỗi gì cả. Anh có một số ý kiến khác với Trung ương, anh có quyền bảo lưu. Vậy mà Minh Tranh bị cởi cái chức Giám đốc nhà xuất bản Sự Thật và về Nam Định sống bị bắt “ở không” suốt 12 năm, rồi lại được về Hà Nội “về hưu.”
Việc xử lý ấy là vô nhân đạo.

e. Đến cuối 1963, Bộ Chính trị triệu tập.
Hội nghị ban chấp hành Trung ương khóa IV của ĐCSVN họp lần thứ IX.
Nói là Bộ Chính trị triệu tập là nói cho đúng grammaire (ie. văn phạm) của Phạm Ngọc Thạch mà chơi.
Chứ Bộ Chính trị là ai nào ?
– “Đoàn đại biểu tột đỉnh của Đảng ở hội nghị 81 đảng là HCM, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Trường Chinh là người của Đảng ta cử tham gia trù bị hội nghị ấy.”
– “Vỏ Nguyên Giáp đang bị nghi là sovietique (ie. có khuynh hướng Liên Xô). Hoàng Văn Hoan coi như là “phần dậu” đứt đuôi.”
A ha ! Còn lại Một ông : Lê Đức thọ.
Chuyện họp lần thứ 9 này làm sao tôi biết được vài điều muốn khóc ?
Ôi ! Người rất thân với tôi là Bùi Công Trừng và Ung Văn Khiêm (chưa nói tới Lê Liêm và Xuân Thủy nhà ở cách bứt khó gặp).
Với cái giọng “mẹ đời”, Bùi Công Trừng nói với tôi :
“Cái thằng Lê Đức Thọ trước giờ họp, nó đi đi, lại lại trong phòng như thể Đội trưởng một tổ pháo đi kiểm tra đốc thúc pháo binh chuẩn bị…
Nó không hút thuốc. Nhưng hôm nay nó cầm lon thuốc Đại Tiền Môn ở tay này, tay kia nó cầm bật lửa thứ như chày giã gạo. Nó đi lựa mặt mà chìa lon. Nguyễn Khánh Toàn, tay ăn hút thuốc lá Trung Quốc như lân thấy pháo. Nó mở hộp lấy một điều, ngậm rồi chìa mồm ra. Thằng Thọ đánh bật lửa một cái “beng.” Đứng xa thấy thằng Toàn gật đầu. Thọ đi đến chỗ thằng Huy. Ce petit – thằng nhỏ này bợ hộp thuốc. Lê Đức Thọ cũng đánh bật lửa một cái beng. Thằng Huy khoát mồi lửa; chưa đốt thuốc có lẽ nó đang còn tìm lời văn “Mao nhiều.”
Ở một góc phòng, thằng Hà Huy Giáp đứng, Lê Đức Thọ tới nói cái gì, thằng Giáp nghiêm sắc mặt gật gật đầu.
Ba vị ấy được Lê Đức Thọ coi là ba tay có lý luận và mời – biểu lên tiếng.
Mà trời ơi, dưới triều đại HCM ai được Lê Đức Thọ để ý có cảm tình là “má thằng đó đẻ nó đêm rằm tháng Bảy.” …”

– “Tao nói cho mầy nghe nha,” Bùi Công Trừng nói tiếp, “về chuyện lão HCM. Tao nghe thằng Thọ mưu lật đổ ông già và lấy Nguyễn Chí Thanh thay. Ông lão chỉ là người chuyên nghiên cứu lý luận Mác-Lê Nin. Chuyện nước giao cho Nguyễn Chí Thanh. Việc đảng – statuquo (ie. hiện trạng) – Lê Duẩn. Cái thằng tự nhiên lại muốn làm Khổng Tử này, khó lật đổ nó lắm. Vì nó có công trạng ở Nam bộ, và mấy má ôm nó chum chủn trong lòng. Mày coi, coi có tội nghiệp không. Đồng chí HCM muôn vàn kính mến của chúng ta bận bộ đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị mà quay mặt ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá, quay vô, đưa tay để nói, thì thằng Thọ lể phép Bắc Hà : “Bác hãy để anh em người ta nói đã mà.”
Tao đến lão Hồ, đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông cũng cho Hội nghị nghe, ông nói ca dao bằng tiếng khóc :
Khi thương thương trái ấu cũng tròn
Khi ghét bòn hòn cũng méo.
Và ông nói xụi lơ : “Thấy lợi người ta cho tên lửa vô; thấy bất lợi người ta rút ra. Có chi mà !”
…”
Bùi Công Trừng nói với tôi như vậy.
Còn Ung Văn Khiêm :
– “Trước khi vào hội nghị tao có tranh thủ nói riêng với ông Cụ, là tao sẽ không đưa ra cái nháp bản tuyên bố chung của tao và Novotny, cho ông cụ yên tâm. Vì trong bản thảo ấy, ông Cụ có thêm mấy chỗ, còn mang tuồng chữ của monsieur HCM rành rành.
Tao nghĩ bản thảo ấy đưa ra không phân bua gì cho tao mà chỉ làm thớt cho Sáu Thọ băm ông Cụ.
Và mầy coi thằng Thủ trưởng Khoa giáo của mầy. Khi tao đứng tại chỗ phát biểu ý kiến, thằng Huy đi ngang qua, nó phun nước miếng vào đoạn tao nói chủ trương hòa bình là trung thành với Lénine. Tao mỉm cười bụng nói : “A ! Thằng nhỏ này dám đái đầu ông Xá.”
Hội nghị 9 này thông qua “cái nghị quyết 9” và mấy anh nói là cũng có trên 10 Ủy viên Trung ương không bỏ thăm.
…”
Anh Khiêm lộ bí mật :
– “Tao có hỏi mí ông Cụ, có bỏ thăm không. Ông Cụ làm thinh.”

“Nghị quyết 9” tạo một cao trào trấn áp, khủng bố đảng viên. Nó cho lập ra Ban xét tội và kết án trực thuộc Bộ Chính trị của Trung ương Đảng. Ban này có mấy ban viên, tôi không nói. Chỉ nói người đứng thớt là Lê Đức Thọ; người làm heo là Trần Quốc Hoàn (tôi nói giọng thịt luộc Chợ Đệm).
Hai Vị này toàn quyền qui kết tội : “Xét lại chống Đảng, âm mưu lật đổ, phản CM, tay sai Đế quốc.”
Nếu đứng về mặt Đảng mà anh ra nghị quyết khai trừ bốn tên : Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Vinh, Bùi Công Trừng, và Lê Liêm, thì quyền của anh trong nội bộ Đảng anh.
Đàng này Hiến pháp, Luật pháp, anh coi như giẻ rách. Ôi ! Nói làm chi đến nhân quyền xa xôi.

Lê Đức Thọ đã hạ lịnh bắt rất nhiều người.
Hoàng Minh Chính trong đơn kiện Lê Đức thọ, có nói rõ là anh bị bắt vào ngày – trớ trêu và ngạo mạn – 27-7-1967 (ngày kỷ niệm 20 năm, ngày thương binh liệt sĩ 27-7-1947). Sau đó có nhiều đợt bắt bớ tiếp theo mà Hoàng Minh Chính đã kể coi như ví dụ, nghĩa là có bớt vì quên đi.
Tôi đã trải chiếu cỗ. Mời cái anh “Nhân văn-Giai phẩm” ngồi một bên. Bên này xin mời cho phải đạo những anh mà Hoàng Minh Chính; kể coi như “thí dụ điển hình” những người trong vụ “Xét lại chống Đảng” bị đàn áp như :
Ung Văn Khiêm, Bộ trưởng Ngoại giao, Ủy viên Trung ương Đảng.
Nguyễn Văn Vinh, Thứ trưởng Bộ quốc phòng, Ủy viên Trung ương Đảng.
Bùi Công Trừng , Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước, đang Ủy viên Trung ương dự khuyết.
Lê Liêm, Thứ trưỏng Bộ văn hóa, Ủy viên Trung ương dự khuyết.
Đại tá Lê Trọng Nghĩa, Cục trưởng cục 5 Bộ quốc phòng.
Thiếu tướng Đặng Kim Giang.
Vũ Đình Huỳnh, nhà CM lão thành, trợ lý Chủ tịch nước
và con trai Vũ như Hiên nhà văn, ngoài Đảng.
Phạm Kỳ Vân, Phó Tổng biên tập tạp chí Lý Luận Trung ương đảng.
Phạm Việt, Phó Tổng biên tập báo Hà Nội Mới,
và vợ, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Giảng viên Anh ngữ, không đảng.
Trần Minh Việt, Phó Tiến sĩ, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội.
Nguyễn Kiến Giang, nhà Nghiên cứu Khoa học Xã hội, kiêm dịch giả.
Phạm Thế Vân, Bác sĩ giảng viên Đại học y (không đảng).
Lưu Động, nhà báo lão thành (báo Nhân Dân).
Trần Châu, nhà báo kiêm nhà văn.
Trần Đĩnh (báo Quân Đội Nhân Dân).
Hoàng Thế Dũng, Thượng tá quyền Tổng biên tập báo QĐND.
Mai Hiến, Thiếu tá, Đặng Đình Cần, Mai Luân… các nhà báo QĐND.
Nguyễn Gia Lộc, Phùng Văn Mỹ, những nhà Nghiên cứu Viện triết học
Vũ Huy Cương, nhà điện ảnh.

Danh sách này còn dài…
Bây giờ thì…

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s