Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 15)

7. Xin Đọc Lời của Người Vợ và Người Mẹ
a. “Chưa có dân chủ thật sự đâu các con ạ”.
“…
Chồng tôi là Vũ Đình Huỳnh, nguyên thành viên tổ chức VN thanh niên CM Đồng chí hội, nguyên đảng viên ĐCSVN (1930), nguyên Bí thư cho Chủ tịch HCM, nguyên Giám đốc công thương liên khu III-IV, nguyên Vụ trưởng vụ lễ tân Bộ ngoại giao, nguyên Vụ truởng thanh tra chính phủ, huân chương kháng chiến hạng nhất.
Tháng 10-1967 do có những bất đồng quan điểm với nghị quyết IX của ban chấp hành (BCH) Trung ương Đảng, nhà tôi bị bắt giam cùng với hàng chục cán bộ trung, cao cấp khác, bị biệt giam 6 năm, quản thúc 3 năm tới 1975 mới được tha về.
Tôi cũng được nghe đôi điều về những bất đồng với lãnh đạo của ông Huỳnh trong vụ Cải cách ruộng đất, trong Cải tạo công thương nghiệp, trong Nhân văn-Giai phẩm. Tuy nhiên ông Huỳnh cùng gia đình vẫn được sống yên ổn trong suốt thời gian đó. Sau nghị quyế IX của BCH Trung ương Đảng (9-1963), ông Huỳnh và một số cán bộ trung cao cấp khác lại có bất đồng. Tôi nghĩ đó là chuyện bình thường như bàn tay có ngón dài, ngón ngắn.
Rồi phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí, vài tháng sau ngày ông Huỳnh bị biệt giam, cũng chẳng có một tòa án nào xét xử xem nó phạm tội gì. Hai bố con bị biệt giam mỗi người một nơi; Vũ Như Hiên sau đó bị nhốt chung với tù hình sự. Đến 1976, sau 9 năm bị giam giữ không có án, con tôi mới được thả về.
Năm 1972, nhà tôi được tha mà bị quản thúc tại Nam Định. Gian truân nối tiếp gian truân nhưng cũng còn may mắn hơn một số người khác, không đến nỗi phải bỏ xác trong tù như ông Phạm Việt hoặc được tha về để chết tại gia như ông Phạm Kỳ Vân…
Trong những ngày cuối đời mình, ông Lê Đức Thọ có cho người đến đón nhà tôi lên gặp. Nhưng khi đó ông Huỳnh đã rất yếu, điếc nặng, trí nhớ giảm sút. Sau đó ông Thọ mời tôi đến. Trong câu chuyện, ông tỏ ý sẽ giải quyết riêng việc khôi phục danh dự cho nhà tôi trước. Tôi cám ơn nhưng không chấp nhận vì vụ này liên quan đến nhiều người, không thể giải quyết riêng như vậy được. Tôi nói với ông Thọ :
– “Anh giải quyết như vậy thì tôi còn mặt mũi nào nhìn thấy những người bị oan ức khác.”
Ông Lê Đức Thọ đã nhân danh Đảng hành động như một số nhà độc tài vô nhân đạo với ngay những người bạn, những người đồng chí đã cùng nhau chia sẻ gian lao trong nhà tù Đế quốc, những đồng chí đã cưu mang chính bản thân mình trong những năm tháng khó khăn nhất của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc – Chỉ vì họ đã suy nghĩ không giống mình và đã dám nói ra những suy nghĩ ấy. Thật là đau đớn và tôi nghĩ nỗi đau đó se lòng hàng triệu trái tim yêu tự do và công lý.
…”

***

Tôi vốn rất thân với Vũ Đình Huỳnh và Đổ Đình Thiện, người này là “văn phòng”, người kia là “võ phòng” của Chủ tịch HCM.
Tôi đọc lời của bà Phạm Thị Tề, 83 tuổi (năm 1994), đã nghỉ hưu mà thương người chị dâu và người mẹ nên lời chị viết “Tôi làm đơn này…”, tôi ỷ tình mà bỏ đi; tôi cũng biết thâm tâm của chị là viết mộ bản án như Nguyễn Ái Quốc viết “Bản án chế độ thực dân” vậy. Chứ Hiến pháp và Pháp luật bị coi như không có thì thưa với ai mà làm đơn ?

Chúng ta đọc tiếp của chị Tề :
“…
Tôi kêu gọi tình người nơi các ông – từ trái tim rỉ máu bởi nổi đau oan ức của tôi, các con tôi và những nạn hân khác. Tôi hy vọng các ông là những người có trái tim cũng biết đau nỗi đau đồng loại.
Ông Vũ Đình Huỳnh, chồng tôi đã chết. Tôi đã 83 tuổi, cuộc sống đang đếm từng ngày. Tôi làm đơn này không chỉ yêu cầu các cơ quan pháp luật đưa ra công khai vụ “Xét lại chống Đảng”… mà còn hy vọng góp sức lực cuối cùng của mình vào quá trình xây dựng một nhà nước pháp quyền dân chủ thực sự.
Tôi không muốn lá đơn này được trả lời bằng im lặng. Và nếu vậy thì tôi đành nói với các con tôi rằng :
– “Chưa có dân chủ thật sự đâu các con ạ.”
Và các con tôi sẽ lên tiếng. Nếu cả mười đứa con tôi chết đi mà vụ này vẫn chưa được đưa ra công khai thì đời cháu tôi và những thế hệ sau chúng sẽ tiếp tục đòi hỏi những yêu cầu chính đáng này trong sự truyền nối.
…”
Tôi rất khâm phục chị tôi nói “sức một” với Sáu Búa như vậy. Câu đối thoại này, có cái kết thúc coi như hỏi Lê Đức Thọ :
– “Này ông, ông có mẹ không ? Nghe nói trời kia còn có mẹ mà” (A. Dozon).
(mấy ông lớn cũng nên nghe tôi hỏi : “Ông có mẹ không ?”)

Nghe ông Trường Chinh.
Ông này vừa lọt sàng “Tổng bí thư” xuống nia “Bộ Chính trị”, làm Trưởng ban phổ biến nghị quyết 9 tại Hội trường Ba Đình (đầu năm 1964). Ông đã nói trước trên 400 cán bộ trung, cao (một chạn với tôi) được gọi đi học tập nghị quyết rằng :
“Về nghị quyết 9, có điều không thể giấy trắng mực đen được. Nghị quyết 9 về thực chất phải ẩn giấu không thể truyền đạt rộng rãi mà cũng chỉ bằng miệng.”
Thực chất của nó là : “Đường lối đối ngoại và đối nội của đảng và nhà nước ta là thống nhất về cơ bản với đường lối đối ngoại và đối nội của ĐCS Trung Quốc.”
Và Lê Đức Thọ.
Tiếp theo sau đó Lê Đức Thọ, Trưởng ban tổ chức Trung ương tuyên bố với cán bộ rõ rằng :
“Chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, về mặt lý luận ta để cho ĐCS Trung Quốc làm, còn về mặt tổ chức thì tự ta làm lấy.”
Tội ác của Lê Đức Thọ mà nói chung quanh nghị quyết 9 thì thấm thía gì.
Có phải ông vừa mới nói : “Lý luận thì để phần cho Trung Quốc, cái mặt tổ chức thì phần ta, đó không ?”
Ông cũng mê tay tổ chức của Trung Quốc là An Tử Vân lắm.
Cái chủ trương “đảng đoàn” mà An Tử Thọ làm có mục tiêu thâm độc. Đảng đoàn vừa vô hiệu hóa các vị Thủ trưởng (chức của nhà nước) nhất là các vị đó là trí thức “ngoài đảng”. Nó vừa là kế hoạch dự bị lấy người của tổ chức thay “Bộ, Thứ trưởng”… Kế hoạch trăm năm trồng người của Lê Đức Thọ đó, Bác Hồ ơi !

b. Cái ác lớn chính là đây.
“Lê Đức Thọ đã thủ tiêu ĐCS bằng cái chủ trương “của tổ chức” ai có ý kiến bất đồng với khóa Trung ương sắp mãn nhiện kỳ hay có ý kiến bất đồng với điểm quan trọng, điển chiến lược trong dự thảo cương lãnh cho Đại hội sắp tiến hành thì người ấy không được giới thiệu ứng cử vào cấp ủy mới. Chủ trương ấy mặc nhiên được chấp hành khắp các cấp (nịnh bợ).
Dưới sự lãnh đạo của Đảng kết hợp trơ trẽn, mua chuộc, và nhà đạp mà người trí thức thì đâu chịu bị mua chuộc cho nên hàng ngũ trí thức bị hủy hoại “ba xôi nhoài một chõ” – Nhân văn-Giai phẩm, Cải cách ruộng đất, Xét lại – chống Đảng. Đất nước không còn có trí thức chân chính nữa (Dạ xin lỗi, cũng còn có nhưng họ không cho người ta thấy).
Tôi mở ngoặc nói điều này – điều phụ :
(Nếu ai có hỏi, tôi có sợ Lê Đức Thọ không. Thì tôi nói rằng ra miền Bắc, tôi gặp lại Sáu Thọ ở nhà khách của Đảng (biệt thực ngó ra Hồ Thuyền Quang). Ông theo chuyến tập kết sau cùng. Ra Hà Nội nhận cái trưởng ban tổ chức dành sẵn. Hôm đó ông làm cuộc họp thăm dò về chánh sách cán bộ. Tôi có nói : “Trong Đảng ta, đồng chí coi nhau còn hơn anh em ruột nhưng hiện nay cán bộ sợ “anh” lắm, họ kêu anh là “Sáu Búa.”
Hoàng Tùng khi gặp tôi đã nói :
– “Thôi đời anh khó gỡ lắm rồi.”
Tôi nói lãng đi bằng chuyện Lê Duẩn; ngồi chơi đã nói với tôi trên kinh Trà Cú :
“Tôi đang ở Vĩnh Lộc, nghe anh em nhắn có Tây đi ruồng. Tôi thích chuyện này hết sức. Thằng nhỏ đang ăn cơm. Nó bỏ đũa, rút roi cày chạy ra ngoài ngõ mà la : “Tây đâu, tao đây !”, thì rõ. Xin đóng ngoặc).

c. Cái nói thêm mới là điều chính.
Trước hết là phải nhận thấy “người năm bảy đứng, trong cán bộ cũng có năm bảy loài.” Có những người rất trung thực. Họ có thể hiểu lầm, thấy lầm. Họ chân thành vì lợi ích chung mà nghiêm túc sửa. Họ đã đúng thì “dao đâm, lửa đốt” cũng không đổi thay. Có người thông hiểu chủ nghĩa Mác-Lê. Lại có người ít học hay không học. Có người phục tùng tới mức nhường cả quyền suy nghĩ, bàn luận cho tập thể, cho cấp trên.
Có người lại chỉ vì mình, tùy theo chiều gió, lựa thế phất cờ…
Trong đội ngũ đa dạng ấy, lúc thường ta chỉ thấy họ hoạt động gần như giống nhau, nhờ có tổ chức, kỷ luật (của Đảng và nhà nước). Những lúc khó khăn, trắng đen chưa rõ, tổ chức và kỷ luật có phần nào lơi lỏng; cái khác nhau kia mới bung ra, đối chọi nhau, gây ra một tình trạng hỗn loạn, thù địch.

Chính điều đó đã xảy ra vào THẬP KỶ 60.
Trong khi đó, nhân dân ta (miền Bắc) khác xa trước. Báo cáo quan phương (thường hay thổi phồng) cho ta biết 4, 5 ngàn Tiến sĩ và Phó Tiến sĩ, 400 ngàn tốt nghiệp Đại học, 700 ngàn tốt nghiệp trung cấp, hàng mấy triệu tốt nghiệp phổ thông. Nhân dân ta thành một nhân dân trí thức. “Lập trường giai cấp” thì nhiều người chưa có nhưng khả năng nhận xét và phê phán sắc bén. Họ đều đã chứng kiến đội ngũ cán bộ tranh cãi nhau như thế nào hồi những năm 60. Họ còn nhớ các lãnh tụ, các Đảng của giai cấp công nhân các nước đã bị bôi nhọ, xỉ vã như thế nào. Người nói buông miệng là quên nhưng thiếu nhi, thanh niên nghe các chú, các anh chỉ trích, phê phán, lên án… tự nhiên họ thấy ở trên đời này, cái đáng cho họ kính trọng không nhiều phải không chú Phan Văn Khải ?
Phải hôn vào những năm 60 (Phan Đình Diệu, cũng tuổi mới 23) các chú coi đời miền Bắc có ra cái đếch gì ?
Vậy bây giờ chú đã là “BCT” là Phò Thủ tướng hạng nhất, chú có nghĩ gì về điều đáng kính trọng đối với người dân, đối với loại các chú của chú đã già rồi đấy ?

Này chú Khải ơi !
Nếu Đảng và nhà nước nhận lấy từ trong nia trong mẹt những lời đội ơn của nhân dân. Thì chú hãy nhận nơi đây bằng mực tím học trò lời trách móc, chú của chú gởi, trách móc Đảng và nhà nước của chú, đã đối đãi tệ bạc quá với người đã sanh ra mình và dìu dắt giáo dục mình.
Chú hãy đọc :
“Tôi mong rằng Đãng ta sẽ ra sức hoạt động góp phần đắc lực khôi phục lại khối đoàn kết giữa các Đảng anh em, trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lê nin và chũ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.”
Chú nói đó là gì ?
Giỏi lắm là chú nói được đó là một lời di chức của đồng chí HCM.
Chú thấy ra sao nổi rằng Bác Hồ đã ôm chặt câu nói ấy vào lòng, từ 1963 (Hội nghị 9) cho tới 1969, ngót 7 năm sau, khi thấy mình chết, không ai làm gì được mình nên mới dám thở ra trong di chức. Chú Khải ơi, tôi ỷ là chú của chú nên mới dám hỏi :
– “Có đêm nào chú trằn trọc nghĩ mà thương cụ Hồ không ?”

8. Luân Thường
Để cho người này nói, người nọ nói, chúng ta nghe nhà trí thức Nguyễn Thanh Giang nói, trong thư anh gởi Đảng.
“ …Ý chí đấu tranh cho tự do dân chủ, công bằng của nhà CM Nguyễn Ái Quốc mãi mãi được nhân loại biểu dương và được tôn vinh trong lòng tôi. Tuyên ngôn về nhân quyền và công dân quyền của CM Pháp năm 1789 được trích dẫn ngay trong những dòng đầu tuyên ngôn độc lập của nước ta. “Người sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi .
Từ ấy trên đầu mỗi trang giấy, bên dưới dòng chữ “Việt Nam – Dân chủ – Cộng hòa” bao giờ chúng ta cũng viết “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, chúng ta luôn luôn suy tôn tự do trước hạnh phúc bởi vì chúng ta hiểu rằng không thể có hạnh phúc khi thiếu tự do, và có tự do là đã có một phần hạnh phúc rồi.
Khát vọng truyền thống này của nhân dân VN rất phù hợp với tinh thần đề cao quyền chính trị, dân sự và quyền tự do cá nhân trong Tuyên bố nhân quyền Vienne 1993.”
Bạn trên kệ gọi :
– “Lại đây tôi nói cho cái này.”
Tôi coi lại đứa nào kêu. À : “Fondements de la Metaphysique des moeurs” (ie. Nền tảng của siêu hình học của đạo đức)… E.Kant.
Tôi hỏi, nó nói :
– “Anh đang viết về người đã chết đáng tôn vinh thì cũng nên coi người ta đề trên mộ của Kant, chính bằng lời nói của ông ta :
“Hai vật làm tràn ngập tâm hoàn bằng một sự ngưỡng mộ và một sự kính trọng tái hiện hoài : trên đầu tôi, vòm trời sao sáng, trong lòng tôi là luân thường” (au dessus de moi, le ciel étoilé, au dedans de moi la loi morale).
Tôi bồi hồi nhớ lại :
Năm 1941, ngày 8 tháng Hai, ông HCM về tổ quốc ngày 1 tháng Tám, ông cho ra tờ báo VN độc lập, được nêu tắt là Việt Lập. Ông đã viết, mục đích của tờ báo ấy là :
“Cốt làm cho dân ta hết ngu hèn, biết các việc, biết đoàn kết đặng đáng Tây, đánh Nhật, làm cho VN bình đẳng tự do.”

(Lấy trong “VN, Những sự kiện lịch sử”)

Năm 1946, Chủ tịch HCM ký sắc lịnh công bố Hiến pháp đầu tiên của nước VNDCCH, xây dựng trên những nguyên tắc :
– Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo.
– Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
– Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

a. Tự do là thành phần cơ bản của luân lý.
Tôi nghe thằng bạn mà khắc trên nấm mồ của HCM, chôn trong lòng tôi câu : “Người ấy sống có luân thường.”
Tôi để cho bạn ấy nó giải thích :
“…
Triết học cổ Hy Lạp gỗm ba khoa học :
Vật lý (Physique)
Luân Lý (Ethique)
Luận lý (Logique)
Sự phân chia như vậy là tự nhiên lắm.
Mọi nhân thức đều hoặc là vật chất (matérielle). Và vậy nó quan hệ với một vật gì đó hoặc là hình thức (formelle) và nó chỉ chăm sóc đến hình thức của trí nhận xét (entendement) và bản thân của lý trí và những quy luật phổ biến, không có sự phân biệt vật thể. Triết học hình thức có tên là Logique-luận lý. Nhưng triết học vật chất-triết học áp dụng vào vật thể nhất định và quy luật của chúng lại phân ra làm hai. Và những quy luật ấy đều hoặc là quy luật của tự nhiên hoặc của tự do. Khoa học của quy luật kia gọi là Physique-vật lý. Khoa học của quy luật này có tên là Ethique-luận lý. Người ta gọi khoa học của những quy luật của tự nhiên là triết học của tự nhiên, và gọi khoa học của những quy luật tự do là học thuyết về phong tục (Doctrine des moeurs).
Về logique thì không thể có thành phần kinh nghiệm (partie empirique) tức là cái phần mà những quy luật phổ biến và tất yếu của tư duy dựa trên cơ sở của những nguyên tắc rút ra từ kinh nghiệm, nếu vậy thì đâu còn gì là logique, mà chỉ là một thánh thơ (canon) của trí hiểu biết và của lý trí, có giá trị không chừa một tư duy nào và đều có thể chứng minh được. Trái lại triết học của tự nhiên và triết học của luân lý, đều có thể cái nào cũng có cái phần kinh nghiệm. Vì một cái thì quy định những quy luật của nó cho tự nhiên coi như là vật thí nghiệm. Và cái kia thì quy định những quy luật của nó cho ý chí con người coi như nó bị tự nhiên tác động.
Vậy thì một bên là, những quy luật, theo đó mà mọi cái sẽ xảy ra. Còn bên kia là một quy luật mà theo đó mọi cái phải xảy ra, tất nhiên là có quan tâm đến những hoàn cảnh đã lắm khi làm cho cái phải xảy ra lại không xảy ra.
Người ta có thể gọi triết học là kinh nghiệm, triết học nào dựa trên những nguyên tắc của kinh nghiệm và ngược lại, gọi triết học thuần túy, thứ triết học mà những lý thuyết chỉ dựa trên những nguyên tắc a priori, tiên thiên. Khi triết học này chỉ là hình thức thì người ta gọi nó là Logique. Mà khi nó hẹp bó vào những vật thể nào đó của trí nhận xét, người ta gọi nó là Siêu hình học (La Metaphysique).
Vậy nên trong ta, sinh ra ý thức về một siêu hình học song đôi. Siêu hình học về tự nhiên và Siêu hình học về phong tục (Métaphysique de la nature et Métaphysique des Moeurs).
Vật lý như vậy sẽ có một thành phần kinh nghiệm và một thành phần hợp lý. Luân lý cũng vậy. Song cái thành phần kinh nghiệm có thể có tên là Nhân loại học thực tiễn (Anthropologie pratique) và cái phần hợp lý có tên là Luân lý (Morale).
Tất cả các nghệ thuật, các công nghiệp, các nghề đã có lợi trong sự phân công lao động. Vì là một người không làm hết mọi cái. Nhưng mỗi người hạn chế trong một phận sự khác hẵn với những người khác, để mà hoàn thành nó đến mức tuyệt hảo có thể được và với sự thư thái hơn. Ở đâu mà lao động không được phân chia như vậy, ở đâu mà mỗi người là một người làm mọi việc thì nơi đó hãy còn một sự dã man rất lớn.
…”
Ông bạn ta khéo dẫn dắt ta từ luân lý, đi xợt qua nơi không để cho ai được phân công làm với mình là nơi rất dã man, và đi tới ba điều luật đạo đức (đạo đức là đâu mà luân lý là đâu !) mà bạn đã rút ra trong việc quản lý nhà nước.
Ba điều, thứ nhất là :
“Hãy hành động như thể châm ngôn hành động của ta phải được để thành quy luật phổ biến của tự nhiên.” (Agis toujours de telle sorte que tu puisse vouloir en même temps que la maxime de ton action devienne une règle universelle)
Điều này cho ta một tiêu chuẩn luân thường. Nó cho ta phán xét một hành động nào đó là tốt, là xấu, hay là vô quan hệ.
Điều thứ hai là :
“Hãy hành động thế nào mà ta xử thế, trong con người của ta và trong con người của kẻ khác, ta coi nhân loại luôn luôn như một cứu cánh, chứ không bao giờ như một phương tiện.” (Agis de telle sorte que tu traites l’humanité, dans ta personne et dans celle d’autrui, toujours comme un fin, jamais comme un moyen).
Nếu cắt nghĩa trong vài dòng : “Nhân vị đem chất liệu cho bổn phận. Nhân vị là một cứu cánh tự nhiên do đó nó là tôn nghiêm và trong những điều kiện đó; luân lý chính là sự đối đãi với con người coi như một cứu cánh chứ không phải là một phương tiện.”
Điều thứ ba tổng hợp hai điều trên :
“Hãy hành động thế nào mà ta có thể mong rằng ý chí trở thành người lập pháp bao quát trong quốc gia của những cứu cánh, tức là của những ý chí tự do và có lý trí.” (Agis de telle sorte qua tu puisse vouloir que la volonté devienne le législateur universele dans la république des fins, c’est-à-dire des volontés libres et raisonnables).

Bạn ta dẫn dắt ta đi tới luân thường (loi morale) và ý chí của con người có lý trí để có tôn vinh cụ Hồ, thì tôn vinh cho đúng mức, chứ không mưu toan tạo ra một nghệ thuật ca ngợi bông lông cái tài cao lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, tội nghiệp Ông.
Bạn ta muốn nói luân lý với người lập pháp của cộng hòa, của những người có lý trí. Và bạn đã từ ba dụng ngữ (formules) nói trên mà chỉ ra rằng : “Tự do phải được mường tượng như là thuộc tính con người có lý trí và như vậy tự do phải là thành phần cơ bản của luân lý.” Và bạn đã tóm tắt lại như vầy :
“Tôi chỉ bị bắt buộc phải hành động có luân lý nếu tôi (được có) tự do; mà vã chăng tôi thực sự đang bị bắt buộc phải hành động có luân lý vậy tức là tôi (được có) tự do.”
Với kết luận :
“Vậy tự do là thành phần cơ bản của luân lý.”

b. Tự do Ngôn luận !
Và có người (tôi quên tên) nhân cũng đọc E.Kant, mà nó có hình ảnh, cái ý, luân lý là cái định hướng đi cho người trong xã hội, như vầy :
“Luân lý là một cái địa bàn mà kim chỉ nam của nó là những nhân quyền, mà đứng đầu là TỰ DO NGÔN LUẬN !
Tự do ngôn luận là phong vũ biểu của các nhân quyền khác.”

Cho nên này chú Phan Văn Khải ơi !
Chú thuộc lớp người đã lớn khôn vào thập kỷ 60. Lớp người ấy đã nói : “Trên miền Bắc XHCN, không thấy được bao nhiêu điều đáng kính.”
Tới lượt chú lãnh đạo đất nước, chú đã làm được gì cho người ta kính trọng đâu nào ?
Đâu mấy chú làm cho người có lý trí tự cảm thấy bị bắt buộc phải hành động cho có luân lý coi nào !
Bây giờ hãy để cho Hoàng đế nói với Thủ tướng là xứng , Napoléon 1er nói :
“Muốn cho một dân tộc được tự do thì người bị trị phải là người khôn và người cai trị là bực thánh.”
Mà nghĩ coi người bị trị không được nghe nhau nói, còn nghe “thông tin” là nghe lừa phỉnh thì bảo khôn làm sao và người cai trị ngoan cố làm cho dân ngu thì rồi cũng ngu theo chứ làm sao hiển thánh.
Nếu người cai trị ngày nay mà đọc (tôi chép ra cho đó) lời nói mục đích của tờ Việt lập, thì hẵn phải thấy ông HCM đã nói ngắn ngủi và rất trong sáng, rất tinh khiết cái luân thường của bổn phận : “Làm cho dân ta hết ngu hèn, thành người có lý trí, để đấu tranh cho đất nước có bình đẳng và tự do.” Ắt hẵn phải thấy lời nói đó là của người cai trị có tâm hồn cao thuợng. Mà người cai trị bây giờ phải nghe theo đó mà làm. Chứ thuê người viết tư tưởng HCM thì chẳng đi tới đâu, đâu !
Ngòi viết của tôi là của người lấy việc viết làm cách sống già. Tôi đang cố viết vui vẻ nhưng không có thái độ bao dung.
Tội ác của chế độ này từ 40 năm nay, thật nói không hết. Tôi đã nói phần nào rồi. Hứa sẽ còn nói nữa. Giờ thì, bạn nghe nhiều người nói.

Tôi xin giới thiệu linh mục Chân tín.
Bạn đọc đi.
Cho tư duy của bạn tập thể dục một phen.

9. Linh Mục Chân Tín : Giảng Sám Hối
Hôm nay, ta đề cập đến sám hối tập thể Giáo hội dựa trên màu nhiệm và sứ mạng của Giáo hội.

a. Màu nhiệm của giáo hội.
Trong Hiến chế về màu nhiệm của Giáo hội, cộng đồng Vatican nói : “Ánh sáng thế gian tức là Đức Kitô, do đó Giáo hội phải phản chiếu ánh sáng ấy cho muôn dân, khi rao giảng Tin mừng cho mọi người. Giáo hội là bí-tích của Chúa Kitô, vừa là dấu hiệu, vừa là phương tiện để mật thiết kết hợp với Chúa và hợp nhất nhân loại với nhau. Vì thế giáo hữu phải biết rõ đặc tính và sứ mạng Chúa Kitô đã giao phó cho Giáo hội.”
– Ý Chúa Cha là cứu độ mọi người : Thiên Chúa muốn nâng mọi người lên tham dự đời sống Thiên Chúa. Con người sa ngã – Chúa Kitô cứu độ. Thiên Chúa muốn những ai tin Chúa Kitô họp thành Giáo hội – Chúa Kitô lập Giáo hội – Chúa Thánh thần hoàn tất.
– Giáo hội nhiệm thể Chúa Kitô : Chúa Kitô là đầu. Một thân hình, nhiều chi thể. Đòi hỏi sự hợp nhất trong sự khác biệt của các chi thể trong Giáo hội có cố gắng xây dựng hợp nhất và tôn trọng sự khác biệt các chi thể. Để cho Chúa Kitô là đầu lãnh đạo trong Giáo hội qua lời Ngài không bị bóp méo. Tôn trọng Giám mục, không để cho một đoàn thể nào trong Giáo hội dựa vào quyền lực để điều khiển sinh hoạt trong Giáo hội. Tinh thần Đức Kitô hay tinh thần thế gian chạy theo chiều gió chi phối Giáo hội ? Giáo hội là một thân thể có phần vô hình, có phần hữu hình, ta làm gì để phát triển ? Có phấn đấu để có điều kiện phát triển ?

b. Sứ mạng của Giáo hội.
* Chức năng tư tế :
Giáo hội là dân riêng mới của Thiên Chúa, với giao ước mới trong máu Chúa kitô, linh mục thượng phẩm trao quyền cho hàng Giáo phẩm, ngoài chức tư tế cộng đồng của toàn thể tín hữu và của mỗi tín hữu.
Giáo hội VN đã làm gì, đã phấn đấu như thế nào để thực hiện chức năng tư tế của hàng giáo phẩm ?

Để bảo đảm chức năng tư tế, ta cần :
– Đào tạo linh mục : tự do lập chủng viện, chọn giáo sư, chọn chủng sinh, chọn chương trình đào tạo.
– Thuyên chuyển linh mục coi xứ, phong giám mục, linh mục.
– Tổ chức phụng tự, thánh lễ, cầu kinh có được tự do chưa ? Đã phấn đấu như thếnào ?

Phải nói là đến nay, ta chưa phấn đấu đủ – không phải âm thầm năn nỉ ỉ ôi, mà công khai cho dư luận biết.
Không có gì liên quan đến nhân loại mà không có tiếng vang trong cõi lòng tín hữu Chúa Kitô.
* Chức năng ngôn sứ :
Tự do rao giảng Tin Mừng, giáo lý tân tòng, trẻ em ? Sách vở báo chí ? kinh thánh ?
Giáo hội VN có nói thẳng nói thật với chính quyền về những vi phạm tự do tôn giáo ?
Có lên tiếng binh vực nhân quyền, dân quyền ? Hiến chế về Giáo hội trong thế giới ngày nay nói : “Nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những buồn khổ và mối lo âu của con người hôm nay, cách riêng của những người nghèo và của tất cả những ai đang đau khổ, đó cũng là vui mừng và hy vọng đau buồn và lo âu của môn đệ Chúa Kitô : không có gì liên quan đến nhân loại mà không có tiếng vang trong lòng tín hữu Chúa Kitô. Cộng đồng Kitô hữu gồm những con người, đuợc họp lại trong Chúa Kitô, đuợc Chúa Thánh Thần hướng dẫn trên đường về nước Cha, họ mang sứ điệp cứu rỗi phải được gửi đến cho tất cả công đoàn tín hữu cảm thấy thực sự và sâu xa liên đới với con người, lịch sử nhân loại.”

Trong tinh thần phục vụ con người , Giáo hội VN cần xét mình lại xem mình có thực sự và sâu xa liên đới với con người VN hôm nay.
Người VN hôm nay hy vọng và lo âu cái gì ? Họ lo âu trước một tình trạng của một xã hội tan rã trên mọi phương diện : trong đó họ bị tước đoạt những quyền căn bản của con người và người dân. Con người sinh ra được bình đẳng và tự do, có tất cả những quyền căn bản của con người mà Thiên Chúa đã ban cho họ– thêm vào đó ngày 10-12-1948, Liên Hiệp Quốc đã ra Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền – có đoạn nói như sau :
“Xét rằng thừa nhận phẩm giá của cố hữu những quyền bình đẳng và bất khả nhượng của con người trong đại gia đình thế giới là đặt nền tảng cho tự do, công lý và hòa bình thế giới.”

“Xét rằng vì không biết rõ và khinh miệt nhân quyền nên loài người đã có hành động dã man đối với lương tâm và xét rằng sự tiến tới một thế giới trong đó nhân loại sẽ đuợc hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng và tự do sinh sống không phải sợ hãi, thiếu thốn, đã đuợc tuyên bố là nguyện vọng cao cả nhất của con người.”

“Xét rằng điều tối cần là nhân quyền phải được pháp luật che chở, nếu muốn cho loài người không bao giờ phải dồn đến phương tiện nổi loạn, để chống lại sự tàn bạo và áp bức… Đại hội đồng Liên hiệp Quốc công bố bản Tuyên ngôn Quốc tế như là một lý tưởng chung cho các dân tộc và các quốc gia phải tiến tới.”
Tiếp đó bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đưa ra 30 điều về nhân quyền :
– Quyền được hưởng tự do và an ninh cá nhân (3).
– Quyền không bị hành hạ hay ngược đãi, bị đối xử hay trừng phạt một cách vô nhân đạo, làm hại phẩm cách con người (5).
– Quyền được bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ (7).
– Quyền được xét xử bình đẳng trước một tòa án vô tư và độc lập (10).
– Quyền được coi như vô tội khi bị truy tố mà chưa có xét xử với bằng chứng để buộc tội (11).
– Quyền không được xúc phạm trái phép đến đời tư, gia quyến, nhà ở, thư từ (12).
– Quyền được tự do di chuyển và trú ngụ bất cứ nơi nào trong nước họ và quyền tự do rời bỏ bất cứ nơi nào kể cả xứ mình, hay trở về xứ của mình (13).
– Quyền được tự do kén chọn một quốc tịch theo ý muốn (14).
– Quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng (18).
– Quyền tự do bày tỏ ý kiến, tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá những quan niệm và ý tưởng của mình (19).
– Quyền được tự do hội họp và lập hội để theo đuổi những mục tiêu hòa bình và không bị bắt buộc ở trong một hội nào (20).
– Quyền bầu cử tự do (21).
– Quyền hưởng an sinh xã hội (22).
– Quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm của mình, quyền hưởng số lương phải chăng và đủ để đảm bảo cho mình và cho gia đình một đời sống xứng đáng với phẩm giá con người, mọi người có quyền lập và gia nhập nghiệp đoàn để bảo vệ những quyền lợi cho mình (23).
– Quyền hưởng một sức sống đầy đủ cho sức khoẻ và hạnh phúc của mình, của gia đình mình, quyền hưởng tiện nghi giáo dục, y tế (25).
– Quyền cha mẹ lựa chọn giáo dục cho con cái (26)…

Giáo hội VN trong đó có Hội đồng Giám mục VN, các giám mục địa phận, các linh mục, tu sĩ và giáo dân, Giáo hội VN đã làm gì, đã lên tiếng khi thuận khi nghịch, khi âm thầm khi công khai, để người ta trả lại những quyền căn bản của con người cho con người VN hôm nay ?
Giáo hội quá âm thầm chịu đựng và không dám nói thẳng nói thật.
Phải nói là đau lòng khi thấy Giáo hội quá âm thầm chịu đựng và không dám nói thẳng nói thật. Có nó âm thầm không, chắc cũng có, nhưng như đi xin ân huệ, năn nỉ ỉ ôi, trả giá – còn công khai thật là hiếm – còn có ông vổ ngực đại diện giới công giáo đã vung vít tuyên bố một câu nghe xanh rờn như một lời tuyên xưng đức tin vào ĐCSVN tại buổi họp khoáng đại của Quốc hội (7-7-1976) :
“Tôi xin phép nói lên tâm linh của một linh mục công giáo (…), báo cáo chính trị (của Quốc hội) càng làm tôi xác tin thêm hơn nữa rằng con người mới, xã hội mới mà mọi người điều mơ ước, mà mọi người tin vào Chú Kitô mãi mơ ước, con người mới đó, xã hội mới đó không thể có được, nếu không có Đảng Lao động VN (ĐCSVN), đội tiền phong của giai cấp công nhân lãnh đạo và tổ chức.”
Không biết linh mục đó đã ân hận chưa ? Có lẽ đã ân hận vì những gì mắt thấy tai nghe, không thể mù, không thể điếc được thì phải nhức nhói lắm. Nhưng có sám hối chưa ? Chưa thấy. Đã công khai nói như thế, thì sự sám hối phải công khai.
Một vị “yêu nước” khác lại tuyên bố nào là nước Thiên Chúa đã đến với chế độ CSCN, nào là CSVN tạo điều kiện cho ta giữ đạo. Đó là những lời nịnh bợ, vô liêm sỉ khi Giáo hội đang bị bóp chết bằng cách giới hạn đào tạo linh mục, đóng cửa các nhà đào tạo tu sĩ, cấm in sách vở, báo chí công giáo, việc dạy giáo lý bị giới hạn, việc thờ phụng có nơi bị làm khó dễ, linh mục đi lại giảng đạo nơi khác bị cấm đoán, các hội đoàn tông đồ giáo dân, công tác xã hội giáo dục bị loại bỏ.
Còn một vài vị trong hàng lãnh đạo của Giáo hội VN hoặc ngây thơ vô tội, hoặc có tính toán, nên khi người ta “cho phép” cái không cần “xin phép” thì quấn quít coi như ân huệ và khen lấy khen để ông nào đó như câu “Người tốt lắm, người chân thành lắm.”

Trên đất nước này, người ta coi mọi nhân quyền và dân quyền là ân huệ người ta có thể ban cho, có thể giới hạn, có thể mở rộng, có thể rút luôn. Họ coi họ hơn cả Thiên Chúa.

Thiên Chúa ban cho con người tự do không bao giờ rút lại, kể cả khi con người phản bội Ngài, đóng đinh con của Ngài. Giáo hội phải đòi người ta trả những quyền căn bản của con người; chứ không có vấn đề xin xỏ, nặn nỉ, ỉ ôi.
Trên đất nước này, người ta coi mọi nhân quyền và dân quyền là ân huệ người ta có thể ban cho, có thể giới hạn, có thể rút luôn. Họ coi họ hơn cả Thiên Chúa…
* Chức năng vương đế :
Giáo hội VN phải phấn đấu để thực thi quyền phục vụ con người mà Thánh kinh gọi là quyền vương đế. Phục vụ người nghèo, người đau khổ, người bị bức lột, người bị áp bức.
Một mục sư như Martin Luther King đã bị ám sát ở Hoa Kỳ vì bảo vệ quyền lợi người da đen, chống phân biệt chủng tộc. Giám mục Roméro và sáu linh mục dòng Tên đã bị ám sát ở Salvador vì binh vực những người bị áp bức. Một Hồng Y như Wysynski ở Ba lan đã phải gặp nhiều khó khăn vì binh vực Giáo hội, một Hồng Y khác như Tomasek ở Tiệp khắc đã phấn đấu cho Giáo hội như lời ngài tuyên bố trước 200 ngàn người biểu tình tại Praha ngày 21-11-1989 và đã được đọc tại các nhà thờ ngày chủ nhựt 26-11-1989.
Sau khi đề cao Công chúa Anê miền Bôhêmia của Tiệp khắc vừa được Đức Giáo chủ Gioan-Phaolô II phong lên hiển thánh là một người tuy tu trong một đan viện vì lòng mến Chúa yêu người nhưng Ngài không ngừng ở cạnh dân mình trong những giờ phút vinh quang cũng như trong những lúc tủi nhục, Đức Hồng Y Tomasek nói :
“Về phần tôi, tôi không thể nào tỏ ra xa lại với định mệnh quốc gia chúng tôi và toàn thể đồng bào đất nước tôi. Tôi không thể im lặng trong lúc tất cả anh chị em đang hiệp lực với nhau để phản đối những bất công mà anh chị em phải chịu từ 40 năm nay; người ta không thể duy trì lòng tín nhiệm đối với giới lãnh đạo quốc gia không muốn nói sự thật và chối bỏ các quyền lợi và các quyền tự do của nhân dân với truyền thống có từ hàng ngàn năm nay, những quyền này vẫn được coi là những quyền bình thường trong những quốc gia trẻ trung hơn đất nước chúng ta .”
Rồi Ngài kể lại bao nhiêu lần Giáo hội gởi đến Nhà nước những lời khiếu nại nhưng nhà nước đã làm ngơ, Giáo hội tiếp tục lệ thuộc Nhà nước theo những điều hạn chế được áp đặt trên Giáo hội từ thời Staline. Trong việc cai quản giáo phận, các giám mục hoàn toàn lệ thuộc Nhà nước và lời nói quyết định trong vấn đề này dường như vẫn là lời nói của các cơ quan mật vụ, những cuộc hội họp của các giám mục và linh mục đều bị sự cản trở vì sự hiện diện của các đại diện Nhà nước trong các buổi họp, bầu không khí thiếu tự do, các tín hữu trưởng thành cũng như con cái họ và nhất là các bạn trẻ công giáo cảm thấy thực khó thở…
Trong tình trạng đau buồn tương tự như thế cũng xảy ra trong các lãnh vực khác của đời sống, trong lãnh vực văn hóa thông tin.
Rồi Ngài kết luận : “Tôi muốn ngỏ lời với tất cả anh chị em trong giờ phút quyết liệt này của lịch sử của chúng ta. Không ai trong anh chị em được đứng ngoài lề. Hãy lên tiếng hợp với tất cả công dân Tiệp Khắc, cùng với những người thuộc sắc tộc khác, dầu họ là tín hữu hay không có tín ngưỡng. Quyền tự do tín ngưỡng không thể tách rời khỏi những quyền dân chủ khác, tự do là điều không thể phân chia được.”
Những lời tuyên bố trên đây của Đức Hồng Y Tomasek làm cho tôi suy nghĩ. Và tôi cũng để cho anh chị em suy nghĩ, sau khi tôi đã phân tích tình trạng thiếu phấn đấu của Giáo hội VN cho tự do tôn giáo và cho nhân quyền và dân quyền của người dân VN hôm nay. Mong rằng Giáo hội VN sẽ sám hối về những điều thiếu sót đó.
Để kết thúc, tôi đưa ra lời nói cuối cùng của Hồng Y Tomasek trong buổi mít-tinh kể trên. Ngài nói : “Tôi xin chấm dứt nơi đây với những lời đã từng vang dội đã lâu trong lịch sử của chúng ta : Với sự trợ giúp của Thiên Chúa, số phận chúng ta ở trong tay chúng ta.” Amen. (10-4-1990)

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s