Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 18)

a. Độc tài tạm thắng.
Lấy hai nhân vật của dân gian mà nói. Thằng Bụng nó làm tư tưởng lý luận, thằng Dạ là thằng văn hóa thông tin.
Hai đứa bàn với nhau.
Về hai cái “phải” thứ nhất của Thần Linh.
Hai đứa đều biết ta không có chính nghĩa nên nói chuyện không lại với mấy ông kháng chiến cũ đâu (mặc dù ở thế kẻ mạnh nên có quyền nói mình là chính nghĩa).
Mà Lê-nin đã dạy chúng ta : giai cấp công nhân không tiền, thiếu phương tiện thì làm sao hưởng được cái món tự do ngôn luận đuợc.
Ta nắm quyền, cấm không ai cho mượn hội trường, cấm nhà in không được in Truyền Thống Kháng Chiến thì êm chuyện thôi, chưa cần bạo lực.
Lịnh của công dân.
Nguyễn Hộ chấp hành, giao đặc san số 4 cho tôi. Tôi làm nó ở nhà tôi. Sợ làm ở tòa báo 24/1 Trương Định, “xe cây” sẽ đổ bộ.
CLB phân công Tạ bá Tòng (Tám Cần) đặc trách hậu cần. Tôi mời Quốc Phượng lo và sắp xếp in ấn.
Tôi báo với Nguyễn Hộ và khoe :
– “Anh sẽ coi tôi làm báo nha. Số đặc san này sẽ ra 16 trang. Tôi dành cho Lê phúc cho tờ Đối Thoại ở Cửu Long, đã bị cấm nay tái xuất. Để nữa độc giả tờ Truyền Thống sẽ thấy tờ Đối Thoại với cái ma-kết vốn có của nó, như thể đứa em bị gió lạnh nằm co rút trong lòng thằng anh. Tôi nhắn Lê Phúc lên, rồi nó sẽ ăn cơm đằng anh, làm việc và ngủ nghê đằng tôi.”
Bài vở đã xong, ba người Năm Hộ, Tám Cần và tôi đi Hậu Giang. Tổ chức Thành ủy cấp xe hơi cho Năm Hộ không hề nghĩ tới xe ấy chạy đi in báo lậu.
Dọc đường ghé thăm những đại lý của Truyền Thống Kháng Chiến. Người ta khen nức nở số 3 và vui cười với tác giả bài báo “300 chữ.”
Chúng tôi tới nhà khách Tỉnh ủy Hậu Giang. Anh em chủ khách đều biết nhau nên có sự đãi đằng trọng hậu. Anh Thức quản nhà khách có cho mời anh em nhà in đi bảo trợ cho số 3. Tôi có rót ly rược xin phép anh Năm Hộ cho tôi uống với chú Ba Bé Chủ nhiệm nhà in, đã làm nghĩa đối với CLB.
Ba Bé cạn ly rượu, rồi bèn kể, chú được Tỉnh ủy dần lưng hỏi : “Sao tôi in tờ báo cấm.”
Tôi trả lời : “Nó không phạm pháp và nói phải và nói hay nên tôi in.”
– “Nói vậy cũng là nói trây chuyện đã qua. Sắp tới, ở đây hôi ổ rồi không còn có cách in được nữa.”
Sáng hôm sau, Anh Thức đưa chúng tôi đi Rạch Giá và qua Sóc Trăng. Bây giờ những nơi đây tôi đâu còn được như thuở tôi là Bí thư khu 9.
Chúng tôi lộn về Cần Thơ.
Sáng hôm sau nữa lên Long Xuyên, mới hay là người lãnh đạo cao nhất của Đảng đã nói miệng ở Saigon, với từng ông Bí thư tỉnh chớ có in Truyền Thống Kháng Chiến vì nó đang đạp đất kiếm chỗ in.
Thì cũng phải tính cho nát nước.
Long Xuyên về, ghé nhà văn Sáu Nghệ.
Tám Cần nói gì đó với chủ nhà rồi cụng ly.
Chiều chúng tôi về Saigon, bài báo để lại nhà Sáu Nghệ.
Trên xe, tôi hỏi : “Sao, anh Tám.”
Tám Cần cười khặc khặc và nói : “Chưa chịu thua đâu. Thế nào cũng in được báo cho anh thôi.”
Và anh đánh động lòng tin của tôi : “Anh nhớ hôn, tuần trước thấy cái vèo nhà in, khó quá. Tôi đã chạy tiền cho Rum Bảo Việt đứng đơn xin mua của Sở Văn hóa một cái máy in ronéo tối tân. Anh Năm và tôi đã đem gởi nó trong lùm vườn ở Bình Thủy. Anh về mà nghĩ đi. Anh Năm và tôi sẽ quay xuống với thợ. Đem máy in đặt phía sau chuồng heo, trong vườn Sáu Nghệ .”
Nhất định số 4 sẽ ra được.
Mấy ngày sau Năm Hộ và Tám Cần lại đi Hậu Giang. Tôi biết họ đi làm chi rồi. Mấy hôm sau, mới vừa chiều thì thấy họ về.
– “Sao về anh Tám ?” Tôi hỏi.
– “Anh Tư Đen phi Honda đuổi theo báo tin đảo chính người trong Ban thường vụ, trực ở CLB đã theo lịnh ai đó mà thông báo : người lãnh đạo CLB vắng mặt nhiều lần, nhiều ngày mà không có lý do, nên cần phải có người thay.”
Sau buổi hỏi chuyện Tám Cần như vậy, tôi tiếp tục nghe ngóng dàn ngoài, mà có thể cho các bạn biết như vầy : về cái “phải” thứ 3 của thần linh.
Năm Hộ và Tám Cần về Saigon bình tĩnh, làm việc như thường.
Họ thông báo mời toàn Ban Chủ nhiệm họp bàn chuẩn bị đại hội và bầu Ban Chủ nhiệm chính thức.
Trong thời gian ấy, Thành ủy có mời một cuộc họp, nói là để giúp đỡ sự lãnh đạo của CLB…
Năm Hộ và Tám Cần được mời. Chỉ có anh này đi.
Tám Cần dự họp, thấy như sóng bủa thuyền câu. Anh ngồi nín thinh, dò lóng và thấy ra rằng “cấp trên” có mời nói chuyện riêng từng người. Hôm nay lại có mặt văn võ hai trưởng họ Trần, chứng tỏ một sự chuẩn bị ý kiến chu đáo để mần Nguyễn Hộ.

Đến ngày 4-3-1990, Ban Chủ nhiệm CLB họp.
Năm Hộ báo cáo vừa xong thì có người mau miệng đề nghị “góp ý kiến” với Ban thường trực, 10 người và trước tiên là với Năm Hộ và Tám Cần.
Nam Hộ thấy chuyển hướng hội nghị có “âm mưu” nên bỏ ra về.
Tám Cần ngồi rốn, nghe phê bình người vắng mặt, nên đã bỏ lên lầu (nơi đó nhà anh).
Còn ngồi lại 18 người. Họ nói rất ngon miệng, làm cho sớm thấy họ là những con sâu trong nồi canh, là tôi thấy đúng. Tôi không kể tên của họ.
Nghe họ nói đây !
Ông A :
– “Đấu tranh phải có mục tiêu, nếu không có ranh giới thì thành chống lại CM.
Thông tin phải có lãnh đạo. Tổ chức hội thảo của CLB lại trở thành diễn đàn cho các tỉnh nói lên uất ức của họ thì không nên.”
Ông B :
– “Thường trực Ban Chủ nhiệm làm gì như chống Đảng. Ta phải nhận khuyết điểm của ta là cách đấu tranh có khía cạnh đối đầu.”
Ông C :
– “Có thể góp ý kiến trong tổ chức. Nhưng lại là khác đi. Không tổ chức hội thảo lại làm mít-tinh chính trị. Ý đó là biến thành đấu tranh chính trị.”
Ông D :
– “Làm chuyễn biến anh Năm Hộ khó lắm. Anh có khuynh hướng là muốn làm một trung tâm lãnh đạo đối địch cả nước. Anh đang tập dượt dân chủ, ta không thấy ý đồ đó sao !”
(Tôi cho rằng họ nói đúng cả, với tư cách những tên điểm chỉ).
Tới đây hội nghị nghe tiếng nói của “Ông Mặt Trận.” Ông dạy rằng :
– “Hai đồng chí Năm Hộ, Tám Cần rút lui là tốt nhất.”
Khả năng này có thể thực tế không ? Đây là công việc quyền hạn, sinh hoạt dân chủ trong Ban Chủ nhiệm. Phân công lại. Chỉ là việc phân công thôi mà ! Xin hãy bỏ thăm.
Tôi cũng ngồi đó coi người “khui thăm.”
Nguyễn Hộ 1 thăm.
Tạ Bá Tòng 1 thăm.
Tôi nhìn chị Ba Tấn. Chị cười bật mí, lá thăm ấy là của chị bỏ, cho hai người vắng mặt.
Như vậy ý muốn của thần linh : “Loại trừ Nguyễn Hộ và Tạ Bá Tòng” đã được thực hiện.
Và tội ác đối với vụ “chống Đảng sau Nhân văn-Giai phẩm” này còn lớn biết bao nhiêu.
Lớn ! Hiểu với cái nghĩa thành ngữ dân gian. Bẻ nạng chống trời. Cho trời đừng sập.
Chống Đảng a !
Một mảnh bắt đầu rơi xuống đầu của Tạ bá Tòng, một thanh niên sáng lập “Tân Dân Chủ đảng” để tham gia khởi nghĩa ở Saigon, một người làm công tác trí vận từng bị tù đày dưới chế độ Mỹ-Thiệu…
Bây giờ dưới chế độ ta

Anh bị bắt trước mắt tôi :
“…
Số là hai anh em mượn ô-tô của anh Năm Hộ đi tiền Giang thăm Kim Tinh của báo Ấp Bắc và Trạng sư Thảo về việc chạy nhà xuất bản cho biên khảo Trương Vĩnh Ký của tôi.
Việc không thành.
Chúng tôi chiều về tới Saigon. Tám Cần vừa xuống xe thì bị một toán công an đã ngồi trong nhà đưa ra lịnh :
“Lịnh bắt và khám xét khẩn cấp” Tạ bá Tòng và nhà ở, đồ vật và thư từ vì hành vi :
Cung cấp tin tức, tài liệu cho nước ngoài để sử dụng chống nước CHXHCNVN. Tuyên truyền chống chế độ XHCN.
Tám Cần bị bắt giam ngày 21-4-1990. Và ngày 3-11-1990 anh được có giấy tờ : Lịnh cấm đi khỏi nơi cư trú, mà bị can nhận được hồi 8 giờ ngày 3-11-1990 và thấy mình bị buộc tội : “Đã có hành vi cung cấp tin tức, tài liệu nói xấu các lãnh đạo cho phóng viên nước ngoài.”
Tiếp theo là Đỗ Trung Hiếu tự Mười Anh bị bắt ngày 23-4. Và Hồ Hiếu bị bắt ngày 29-4. Mà tôi cho là : dựng lên một âm mưu phản loạn để trấn áp và giữ cho Saigon đang phong phanh có nổi loạn ngày kỷ niệm 30-4.
Mười Anh và Hồ Hiếu là chánh Phó văn phòng Ban Dân vận của Thành ủy.
Mười Anh là cộng tác viên của tở Truyền Thống Kháng Chiến.
Hồ Hiếu “agitateur” người quậy phá của khối cựu sinh viên học sinh, trong CLB người kháng chiến cũ.
Hai anh này cố tình vì lẽ trùng ngày làm ngày Trần Văn Ơn, tại bảo tàng Hồ Chí Minh vào tháng 1-1990. Bên này, tại nhà văn hóa Tao Đàn, CLB tổ chức (ngày chủ nhật ấy) một cuộc mít-tinh, thông báo tình hình sụp đổ CNXH ở Đông Âu.
Hai cuộc mít-tinh làm một lượt chứng tỏ quần chúng của CLB đông lắm cho nên Ban Chủ nhiệm không sợ phân chia làm mỏng lực lượng đi.
Theo tình hình lúc đó, như thằng nhỏ sợ ma. Khi tắt đèn, ngó lên cái áo treo trên vách đã hét lên kêu ma rồi. Đảng lấy ngày Trần Văn Ơn ấy mà làm tội cũng đủ rồi. Cái này muốn cho có muôn hình muôn vẻ bịa ra chuyện câu kết với CIA mà bắt Mười Anh ngày 23-4 tại Đà Nẵng và Hồ Hiếu tại nhà ngày 29-4-1990 (cũng trong quỹ đạo 30-4, bạn có thấy không ?).

b. Lúc đó Đảng có năm cái bản khai trừ.
Khai trừ Năm Hộ, ngày 21-3, sau khi Năm Hộ đã tuyên bố trong cuộc họp thân hữu, mình ly khai Đảng không xin phép ai hết và “đi đâu đó.” Ở nhà có ngưòi đem quyết định khai trừ đến, cháu Yến, con gái anh Năm nói lại : “Khai trừ ba tôi thì trao cho ba tôi chớ !”
Khai trừ tạ Bá Tòng ngày 25-7-92.
Liên tiếp khai trừ hai vợ chồng Mười Anh. Tội chồng lây vợ : chị bác sĩ Đỗ Thị Văn là “ủng hộ chồng”, ngày 26-7-1992.
Và ngày 27-7-1992 khai trừ Hồ Hiếu “cô ky.” Có lẽ tổ chức quên. Chứ tôi biết chị Hồ Hiếu sao không ủng hộ chồng ?

Tổ chức cũng muốn chứng tỏ mình tôn trọng tự do ngôn luận cho nên có làm một buổi trao quyết định khai trừ và cho Hồ Hiếu phát biều ý kiến như vầy :
1- Từ khi tham gia CM 15 tuổi cho đến nay 53 tuổi tôi luôn luôn là người yêu nước và gắn bó trung thành với dân. Mọi hoạt động CM của tôi đều hướng đến nước đến dân. Tôi không có điều gì ân hận.
2- Khi một Đảng hợp lòng dân và đấu tranh tích cực cho nền độc lập dân tộc thì vào Đảng là điều kiện cần thiết. Nhưng khi Đảng đó đã trở nên suy thoái biến chất, đi ngược lại lòng dân thì ra khỏi Đảng cũng là điều cần thiết, tránh những ân hận và ray rứt lương tâm. Quyết định này của Đảng không làm tôi ngạc nhiên.
3- Là một công dân bình thường ngoài Đảng tôi hằng mong :
– Đảng để cho dân được sống yên lành.
– Tổ quốc ta độc lập rồi, làm sao cho dân ta có được dân chủ, tự do, hạnh phúc và nước ta giàu mạnh, không hỗ thẹn với thế giới.

Xin kính chào tạm biệt những người còn tốt ở trong Đảng, tạm biệt những bạn chiến đấu xưa.

Về Mười Anh – Đỗ Trung Hiếu và phu nhân
1- Nghị quyết khai trừ :
Đã phải theo khuôn sáo mà nhận thấy :
“Đồng Chí Đỗ Trung Hiếu đã có quá trình công tác và có những cống hiến nhất định cho CM”. Nhưng gần đây có những sai lầm :
“Lợi dụng chủ trương đổi mới của Đảng, đồng chí Hiếu và một số người đã vận động thành lập một số tổ chức quần chúng một cách trái phép để tập họp lực lượng nằm ngoài Mặt trận Tổ quốc TP là vi phạm nguyên tắc tổ chức của Đảng và pháp luật Nhà nước. Quan hệ với tình báo nước ngoài và giúp đỡ chúng tiến hành hoạt động thu thập tin tức an ninh nội bộ. Đồng chí Hiếu đã tổ chức cho tên tình báo nước ngoài phỏng vấn một số cán bộ tại nhà riêng của mình; việc làm của đồng chí Hiếu đã tiếp tay cho địch để chúng đưa tin tức lên báo, đài nước ngoài xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng, nói xấu XHCN ở VN là vi phạm pháp luật Nhà nước; thái độ kiểm điểm không nghiêm túc “Hồ Trung Hiếu không còn tư cách đảng viên nên Trương Tấn Sang, Chủ tịch UBNDTP, ngày 25-7-1992 ký quyết nghị :
1- …Khai trừ ra khỏi Đảng.
2- …Đề nghị Thủ trưởng cơ quan buộc Hiếu thôi việc.

Phát biểu của Đổ Trung Hiếu ngày 27-7-1992
“Tôi tham gia CM từ năm 1956 với tấm lòng yêu nước và truyền thống yêu nước của gia đình. Ba tôi theo phong trào chống Pháp của cụ Trần Quí Cáp, bốn lần bị tù đày, bịnh nặng phải chết. Anh cả tôi hy sinh tại chiến khu trong chống Pháp, là liệt sĩ. Tôi cũng như đại đa số đồng bào VN mang hoài bão giành lại độc lập cho Tổ quốc, đem lại tự do dân chủ cho nhân dân, để xây dựng nước VN giàu mạnh, đồng bào ấm no, hạnh phúc.
Tôi tham gia ĐCSVN từ hoài bão đó. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng đã được đa số nhân dân trong và ngoài nước tin cậy, nhiều thế lực trên thế giới ủng hộ.
Từ sau ngày giải phóng (1975) đến nay nhiều người trong cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp đã xa dân, kiêu căng suy thoái về tư tưởng, sai phạm về chính trị, tham ô sa đọa về đời sống vật chất. Đó là căn bịnh trầm kha, đã di căn, là nguyên nhân chính ngăn cản bưóc phát triển của đất nước, làm cho đồng bào lầm than khổ sở, tệ nạn xã hội lan tràn đe dọa đến sự toàn vong của nòi giống, cương thường đạo lý đảo lộn không biết mấy thế hệ nữa mới khôi phục lại được.
Sau ĐH VI (1986) của Đảng, tôi hưởng ứng đường lối “đổi mới” viết bản kiến nghị “Đổi mới toàn diện và triệt để” gởi cho Trung ương. Tôi tham gia CLB Những người Kháng chiến cũ do chủ nhiệm Nguyễn Hộ lãnh đạo, tôi viết cho CLB bản kiến nghị gởi BCH Trung ương Đảng và Quốc hội VN, viết báo Truyền Thống Kháng Chiến, nhằm mong Đảng đổi mới. Nhưng kết quả không như ước muốn. Nay Thường vụ Thành ủy TP. HCM ra nghị quyết khai trừ tôi.
Điều này làm tôi không ngạc nhiên.
Là một công dân VN, tôi vẫn mong ước, đồng bào trong và ngoài nước một lòng đoàn kết, hầu :
1- Quét sách bọn thoái hóa tham ô và các thế lực ngoại lai để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc Việt Nam.
2- Xây dựng nền dân chủ tự do để đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc và công bằng xã
hội.
Lịch sử công bằng. Luật nhân quả không dành riêng cho một ai. Kính chúc những đảng viên chân chính trong ĐCSVN luôn luôn giữ tấm lòng nhân ái và sự trong sáng như lời Mác đã nói :
“Chỉ có loài thú mới quay lưng trước sự đau khổ của đồng loại để chăm lo riêng cho bộ lông của mình.”
Kính chào tạm biệt những bạn bè cũ trong và ngoài Đảng.

Đến chị Bác sĩ Đỗ Thị Văn.
Phát biểu khi nhận quyết định khai trừ Đảng và cho thôi việc.

Năm 15 tuổi tôi chủ động tìm Tổ chức xin tham gia CM vì nhiệt tình yêu nước, truyền thống gia đình và ước vọng xây dựng một xã hội công bằng nhân ái, không có người bóc lột người, bốn bể năm châu đều là anh em.
Tôi đã hoạt động CM, đã tham gia và thành lập một số tổ chức quần chúng xã hội và đã xin vào ĐCSVN vì tin tưởng Đảng CSVN đáp ứng được lý tưởng tuổi trẻ của tôi, đem lại hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân và đưa Tổ quốc VN lên sánh vai cùng bạn bè thế giới. Nhưng lý tưởng và thực tế không giống nhau.
Tuy vậy tôi vẫn nghĩ rằng những Đảng viên chân chính của ĐCSVN và nhân dân sẽ đẩy lùi được các chướng ngại trong và ngoài Đảng, thực hiện được sự đổi mới, đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn để tiến lên.
Vì thế tôi đã thẳng thắn góp ý với Đảng về đường lối, chủ trương chính sách, đặc biệt là trong lãnh vực có liên quan đến trí thức.
Hưởng ứng chủ trương của Đảng, tôi đã tham gia CLB những người kháng chiến cũ, Ban liên lạc cựu học sinh, sinh viên phong trào Saigon – Gia định để góp phần cùng các bậc đàn anh và bè bạn thực hiện đổi mới. Tôi đả thành lập Ban vận động Hội Ái hữu Cựu sinh viên Y khoa đễ mong hoạt động tương trợ xã hội, hỗ trợ các đồng nghiệp tương lai.
Nay tôi nhận quyết định khai trử Đảng và cho thôi việc. Tôi không ngạc nhiên và ân hận gì.
Với tư cách là một công dân và là bác sĩ y khoa, tôi xác định luôn luôn phục vụ tổ quốc và đồng bào.
Tôi ước mong rằng :
– Bọn tham ô thoái hóa sẽ bị loại trừ.
– Người trí thức VN giữ được đúng vị trí và vai trò của mình trong xã hội.
– Ngành Y tế và Giáo dục thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của mình rất nặng nề và ảnh hưởng đến nhiều thế hệ tương lai.
Kính chào tạm biệt các đảng viên chân chính trong Đảng và các bạn bè đồng nghiệp.

(ngày 29-7-1992).
Bác sĩ Đỗ Thị Văn.

16. Về Những Người Dám Nói Tiếng Nói của Lương Tri
a. Linh mục Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan.
Trong cơn điên của Thần linh lại còn có người bị nạn.
Nguyễn Ngọc Lan, giáo sư, nhà báo, nhà văn (publiciste) và Linh mục Chân Tín.
Ngày 16-5-1990, vị giáo sư bị quản thúc tại nhà, và linh mục bị đày ra Duyên Hải.
Chúng ta đọc ông Nam Long giới thiệu Nguyễn Ngọc Lan
“Ở miền Nam, trước và sau 1975, Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan cũng là biểu tượng của lương tri và khí phách, ở một dạng và quy mô khác.
Vào đầu những năm 70, Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan là hai linh mục dòng Chúa Cứu Thế hoạt động báo chí và chính trị, xã hội có ảnh hưởng trên một diện rộng. Tạp chí Đối Diện do hai ông chủ trương và Nguyễn Ngọc Lan là cây bút chủ lực có tác dụng rất lớn trong việc thức tỉnh một số bộ phận trí thức chống lại “cách mạng.” Không ít người đã đến với “cách mạng” với CS thông qua tạp chí này. Cái tờ Đối Diện nhỏ nhắn, khi in typo, khi quay ronéo, chuyền tay nhau trong giới trí thức và sinh viên học sinh tiến bộ, bị coi như tài liệu quốc cấm và không ít người đọc, phát hành đã bị phiền hà. Tạp chí đã nhiều lần bị tịch thu, cấm phát hành và đình bản, ra tòa. Linh mục Chân Tín, Chủ nhiệm tạp chí đã bị kêu án 5 năm cấm cố. Các bài chính luận, tác phẩm thơ văn, các bài bút chiến, các tài liệu giá trị của nước ngoài và cả của miền Bắc được đăng tải thật sự có sức mạnh thức tỉnh lương tri, tố cáo tội ác, kêu gọi lòng phản kháng, cổ vũ tinh thần đấu tranh. Không những người đọc Đối Diện được coi là thành phần cấp tiến nhất trong hoàn cảnh lịch sử giai đoạn đó ở miền Nam VN. Những người CS lúc đó lợi dụng tạp chí này để tuyên truyền cho đường lối và cuộc chiến tranh của mình, sau này không thể không thừa nhận những người chủ trương Đối Diện là những người đã “góp phần dọn đường” cho ngày chiến thắng 30-4-1975.
Ủy ban vận động cải thiện chế độ lao tù miền Nam VN do linh mục Chân Tín đứng đầu làm cho chính quyền miền Nam không ít lao đao đối phó với dư luận trong nước và quốc tế về chế độ lao tù tàn bạo. Những người CS có cảm tình với CS bị bắt đã chịu ơn không ít với tổ chức này. Cho đến nay, chế độ mới có thể quên những cá nhân những người ưu tú này, dù có vô ơn đến đâu, rõ ràng không thể quên được.
Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan, hai vị thuộc dòng Chúa Cứu Thế nhưng tâm hồn và hoạt động rộng mở, lao vào các công tác chính trị, xã hội một cách đầy nhiệt huyết. Hai ông thực sự là những chiến sĩ chiến đấu cho tự do và công lý, chấp nhận mọi gian nguy cho cuộc dấn thân đích thực của mình. Đó là những trí thức chân chính và dũng cảm.
Cùng với những trí thức có lòng khác, họ mơ ước về một cuộc CM, về một ngày mai tươi sáng của đất nước.
Như nhiều người nói, sau 75, nếu hai ông muốn “hưởng” chế độ mới nào có khó gì.
Đối Diện là một tạp chí duy nhất được cho phép tục bản do Nguyễn Ngọc Lan làm Tổng biên tập. Linh mục Chân Tín được đưa vào UBMTTQVN và UBMTTQVN TP.HCM. Hai ông có thể làm chức sắc lớn trong giáo hội và bộ máy đoàn thể của Đảng và Nhà nước vì trong đường lối của mình, Đảng và Nhà nước CS rất cần những con người như ông để chứng tỏ chính sách đại đoàn kết, tập họp lực lượng và khống chế Giáo hội ve vãn tín đồ. Thế nhưng con người như hai ông không phải chiến đấu để rồi “tọa hưởng” cho riêng mình, nhắm mắt làm ngơ trước những bất công áp bức mới như nhiều ngưòi ủng hộ CS hay CS thứ thiệt đã làm như thế khi CM thành công. Đối với hai ông, bằng cái nhìn phê phán triệt để, như đã nhìn chính quyền miền Nam trước đây, CM bây giờ lại là phản CM đi ngược lại lý tưởng hai ông đã theo đuổi và CM không ngớt hô hào.
Hai ông lại tiếp tục lên tiếng. Hàng ngàn trang nhật ký của Nguyễn Ngọc Lan, các kiến nghị và bài giảng “sám hối” của Chân Tín khi được công bố là những đòn nặng nề giáng lên chế độ CM của CS. Chế độ đã trả ơn hai ông, những người có công với CM, bằng cái án 3 năm quản thúc và lưu đày. Sự trấn áp thô bạo này không làm cho hai ông im tiếng mà chỉ làm cho tiếng nói của hai ông mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn trong thời gian chịu án. Trên các đài nước ngoài, ngay ngày mãn án, tiếng nói của hai ông vang lên sang sảng tố cáo sự vi phạm nhân quyền của chế độ một cách nghiêm khắc nhất. Với guồng máy trấn áp khổng lồ của mình; chế độ cũng đành bất lực, không sao ngăn cản được.”

a. Mẹ đâu ngờ.
Là bài thơ của Bùi Minh Quốc.
Anh là một trong số các nhà văn, nhà thơ xúc động vì tự do ngôn luận bị trấn áp, nên ở ngoài Bắc vô, ở Đà Lạt xuống thường hay đến thăm chơi với Nguyễn Hộ.
Một là đến đáp thạnh tình.
Hai là ca ngợi những tử nạn của
Tự do ngôn luận.
Tôi chép cho vào đây tài liệu của học giả Nam long và người ta đã truyền tay cho tôi và cũng biểu : đọc đi !

Bùi Minh Quốc quê ở Hà Đông. Vợ là nhà thơ Dương Thị Xuân Quý, quê ở Hải Hưng.
Khi nước ta có giặc, anh chị đã gởi con gái đầu lòng tuổi mới 16 tháng cho bà con rồi vượt Trường Sơn vào Nam đánh giặc, Xuân Quý bị giặc giết (ngực bị đạn như cái rỗ).
Sau 75, Bùi Minh Quốc ở lại miền Nam, công tác ở Quảng Nam – Đà Nẵng làm Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ và Tổng biên tập tạp chí Đất Quảng.
Đến 1987, anh chuyển vào Lâm Đồng, làm Chủ Tịch Hội Văn nghệ tỉnh, Tổng biên tập tạp chí Langbian.
Bùi Minh Quốc là nhà thơ nổi tiếng rất sớm. Ngay từ hồi học trung học, bài thơ “Lên Miền Tây” cổ võ thanh niên đi khai báo, đã được phổ biến rộng rãi và đưa vào chương trình giáo khoa phổ thông (khi tác giả còn ngồi trên ghế nhà trường).
Năm 1989 anh viết bài thơ “Bài thơ về hạnh phúc”. Đây là một bản trường ca bi hùng đầy đau thương, căm thù và khí phách của một thời kỳ lịch sử mà thanh niên, văn nghệ sĩ không hề tiếc thân mình.
Ở Đà Lạt, thành phố hoa Anh đào và thơ mộng, Bùi Minh Quốc tưởng mình có thể yên ổn cho sáng tác dài hơi. Nhưng chính tại nơi đây, anh lại thấy và chịu đựng những ngu đốt độc đoán, sai lầm và phản bội của chế độ mà anh đã hơn nửa đời cống hiến.
Năm 1988 là năm xuất hiện 3 bài thơ chính luận quan trọng mang tính chất phản kháng mới của anh.
Tôi trích mấy câu trong bài “Những ngày thường đã cháy lên.”
Không có ai
Không có ai
Có thể ngẩng nhìn trời
Bình tâm buổi sáng
Khi những thằng đểu còn trong Đảng

Đồng chí – tiếng ấm nồng máu đỏ
Sao có lúc vang lên lạnh rợn thế này ?
“Đồng chí” – dao đã nằm ém nhẹm dưới lòng tay
Mưu mô đã xong và mọi ngã đường đã giăng cạm bẫy.

Tác giả Nam Long viết :
“Đó là nhận thức mới về một khía cạnh của Đảng, của “đồng chí” mà anh đã bao năm gắn bó. Anh buộc phải nhìn nhận lại mọi điều, từ những điều cơ bản nhất :
Bao nhiêu năm ta ngỡ mình tự do
Những giáo điều đã trở thành tín điều từ khi nào vậy ?
Chất độc ngấm ngọt ngào không ai nhìn thấy
Đất sét nhào nên thần tượng để tôn thờ
Không có gì quí hơn độc lập tự do
Chân lý ngỡ thấm rồi ngờ đâu chưa hiểu hết
Sau bao phen đối đầu cùng cái chết
Vẫn chưa tan nỗi sợ trước uy quyền
Bọn đểu cán mặt mày đạo mạo
Chúng nó ác hơn sói hùm và tinh ranh hơn cáo
Lò sát sinh tỏa hương vị thiên đường
(“Không có gì quí hơn độc lập tự do”)

Nam Long nói tiếp :
“Đó là sự nhìn nhận về chế độ, đồng thời cũng là sự sám hối của bản thân. Thực không dễ gì thoát ra khỏi “tín điều” mà mình đã gắn bó bằng tâm huyết máu xương.
Bùi Minh Quốc đã can đảm làm được điều đó.
Ta hôm nay lại ôn đầu đánh vần từng chữ
Việc chi mà xấu hỗ
Khi mỗi giọt máu mình khát độc lập tự do.
(“Không có gì quí hơn độc lập tự do”)
Sự phản tỉnh đã giúp anh nhìn thấy, đau đớn vì một hoàn cảnh mới, với những con người, những mục đích, những mưu toan, những thảm cảnh tiêu biểu cho chế độ mới, hoàn toàn xa lại với những gì anh đã khao khát và cống hiến để xây dựng.
                                 Mẹ Đâu Ngờ
Sau lưng mình là máu đẫm trồi lên
Chiếc ghế
Có thằng con thoát chết vụ khui hầm
Trở về ngồi chễm chệ
Cái mặt nó bây giờ mới đạo mạo làm sao
Nói năng đứng ngồi sang trọng
Thâm tâm chỉ nghiền ngẫm cách nào
Cho mỗi ngày chiếc ghế thêm cao
Cao
Cao
Cao
Đến tận chỗ không còn nghe tiếng cuộc đời oan trái
Không còn thấy trên con đường gập ghềnh
của Tổ quốc đau thương
có người mẹ tóc bạc chân trần oằn lưng
dưới chồng đơn khiếu nại
nặng hơn dãy Trường Sơn
(“Mẹ đâu ngờ”)

Vậy là những lý tuởng, những mỹ từ của những kẻ “giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH” xây dựng đất nước “đàng hoàng to đẹp hơn”, “mọi người đều ấm no hạnh phúc”, rút cục mục tiêu chỉ còn là “chiếc ghế”, là quyền lực để thụ hưởng trên đau khổ của giai cấp, của đồng bào.
Vì thế, kết luận tất yếu phải là sự vùng lên phản kháng.
Họ chẵng phải đảng viên
Nhưng mẹ có tấm thẻ đỏ – trái tim ròng ròng máu ứa.
Chính mẹ chứ không ai – mẹ phải nắm quyền
Hỏi tội những thằng thẻ đỏ tim đen.
(“Những ngày thường đã cháy lên”)

Mẹ ở đây chính là nhân dân, là những người đã từng đùm bọc, ủng hộ, chiến đấu, hy sinh để đưa đảng viên chiến thắng, đến chỗ cầm quyền.
Nam Long nói tới “cuộc biểu tình chạy” mà báo nước ngoài gọi là “đi kiện ông trời.”
Nếu là tay tôi, sẽ viết “đi kiện cũ khoai.” :
“Bùi Minh Quốc không phải chỉ phản kháng trong thơ. Khi tạp chí Langbiang mà anh làm Tổng biên tập bị gặp khó khăn, rút giấy phép vì nội dung cấp tiến, Bùi Minh Quốc đã cùng với Tiêu Dao- Bảo Cự thực hiện một cuộc đấu tranh. Trong chuyến đi dọc đường đất nước qua các tỉnh miền Trung, các anh đã làm một cuộc vận động dân chủ, kêu đòi tự do sáng tác, tự do báo chí, xuất bản, yêu cầu đổi mới thực sự, yêu cầu cách chức những “thằng đểu” cấp cao trong Đảng.
Ra đến Hà nội, gặp Ban Bí thư Trung ương Đảng và các cơ quan Trung ương để đấu tranh.

Cuộc vận động với những kiến nghị của 5 hội văn nghệ, tuyên bố có 118 chữ ký của các văn nghệ sĩ, trí thức ở miền Trung vào cuối năm 1988, đã được Trung ương Đảng báo động khắp toàn quốc, coi như một vụ “biểu tình chạy” của trí thức, hoạt động bè phái, tập dợt dân chủ để chống chế độ.
Kết quả anh nhận được cho hành động phản kháng của mình là kỷ luật khai trừ đảng, cách chức chủ tịch Hội Văn nghệ. Dù vậy cho đến nay, bằng nhiều phương thức, anh vẫn tiếp tục phản kháng những gì anh không chấp nhận, đặc biệt trên lãnh vực văn hóa văn nghệ.
Trong tâm sự với bạn bè, Bùi Minh Quốc cho thấy anh vẫn còn tha thiết với Đảng nhưng đó không phải là ĐCS với chiêu bài xây dựng CNXH đã trở thành thây ma chính trị, mà là đảng sám hối, đảng đổi mới thật sự, đảng của nhân dân như những gì tốt đẹp nhất mà đảng đã làm trong lịch sử của mình. Anh vẫn còn hy vọng vào sự chuyển biến của những thành phần cấp tiến trong đảng như là nhân tố quyết định tạo ra lối thoát cho tình hình VN.”
Cám ơn bạn Nam Long. Ai đó ? Hay là Tiêu Dao-Bảo Cự ? Thưa Anh.

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s