Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 19)

c. Năm Hộ.
“…
-Ngày bỏ thành phố ra đi : 21/3/90
-Ngày bị bắt tại bờ sông Saigon (thuộc tỉnh Sông Bé) : 7/9/90
-Bị bắt lần thứ 2 : 7/3/94
Nguyễn Hộ – người Nam Bộ và truyền thống dân chủ.
Tôi đến thăm 26-6-94 anh “về nhà”, người không được giỏi. Nghe tôi hỏi. Tay anh rung, lấy đại một mảnh giấy, viết mấy dòng cho tôi kỷ niệm tuồng chữ cuả Anh (xem ở trên). Và nói cho tập sách này :
Tôi tên Nguyễn Hộ
Sanh ngày 1 tháng 5- 1918
Tại xã Hanh Thông (tức phường 10) quận Gò Vấp.
Lúc còn nhỏ tôi chỉ học hết sơ học yếu lược.
Gia đình nghèo, tôi thôi học, đi học nghề, làm thợ tại xưởng đóng tàu Ba Son (1935) vào lúc 19 tuổi. Tại đây
Từ năm 1936, 20 tuổi, tôi bắt đầu tham gia CM, tham gia phong trào đấu tranh dân sinh, dân chủ và được kết nạp vào ĐCS Đông Dương, năm 1937.
Sau gần 5 năm hoạt động, tôi bị bắt vào tháng 4-1940, trên đường đi vào nhà máy và bị tù đày 5 năm ở Côn Đảo. Đến cuối năm 1945, được CM tháng 8 giải phóng về và tiếp tục hoạt động cho đến sau này.
Tôi đã kinh qua các trách nhiệm như sau :
a/1936-1940 thời kỳ đấu tranh dân sinh dân chủ. Chi ủy cho bộ Ba Son.
1940-1945 đi tù đày ra Côn Đảo.
b/Kháng chiến chống Pháp 1946-1954
– Phó thư ký kiêm Bí thư chi bộ Đảng đoàn liên hiệp công đoàn Nam Bộ, phụ trách công đoàn Saigon-Cholon.
– Ủy ban Kháng chiến Hành chánh đặc khu Saigon-Cholon, phụ trách trưởng ban dân quân, thành Đội trưởng dân quân.
– Phụ trách thành đảng bộ Saigon-Cholon (cuối 1948 đến cuối 1950) kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Saigon-Cholon.
– Ủy viên thường vụ đặc khu Saigon-Cholon phụ trách Ban Cán sự 2 đặc khu, Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Saigon-Cholon, kiêm chỉ huy Phó Ban Chỉ huy Quân sự đặc khu –Chủ tịch Saigon-Cholon (cuối 1950-cuối 1954).
c/Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (lúc đất nước chia cắt hai miền Nam-Bắc)
– Ra Bắc, đau nặng, nằm bịnh viện (1955-1956).
– Ủy viên BCH Ban thường vụ Tổng Liên đoàn Lao Động VN (57-60).
– Ủy viên ban thư ký, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng Công đoàn VN; đảng đoàn tổng công đoàn VN (1961-1963).
d/Về miền Nam công tác (1964-1975)
– Ủy viên thưởng vụ khu ủy Saigon-Gia định (T4) phụ trách dân vận, công vận, hoa vận.
e/Thời kỳ sau 30-4-1975 trở đi (1975-1987)
– Ủy viên Thường vụ Thành ủy Tp.HCM, phụ trách dân vận.
– Chủ tịch Liên hiệp Công đoàn TP.HCM, kiêm Phó Chủ tịch Tổng công đoàn VN.
– Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) VN Tp.HCM kiêm Ủy viên đoàn chủ tịch UB Trung ương MTTQVN.
– Chủ tịch Hội Việt-Xô hữu nghị TP.HCM kiêm Phó Chủ tịch BCH Trung ương Hội Việt-Xô hữu nghị.
– Chủ tịch ủy ban đoàn kết và hữu nghị với nhân dân thế giới, Tp.HCM.
– Chủ tịch ủy ban thiến niên nhi đồng Tp.HCM.
– Trưởng ban vận động đồng bào Tp.HCM ủng hộ công trình xây dựng thủy điện Trị An, xây dựng con đường Nhà Bè-Duyên Hải và xây dựng Kinh Đông-Cũ Chi.

Giữa năm 1987, được cơ quan cho nghỉ hưu, lúc tôi 71 tuổi.
Liền sau đó CLB Kháng chiến Tp. ra đời. Tôi tham gia hoạt động với tư cách Chủ nhiệm CLB. Kể ra ngày từ đầu anh em kháng chiến thiết tha lập Hội thì bị Thành ủy và UBNDTP từ chối và chỉ cho phép thành lập CLB những người kháng chiến cũ, mặc dù điều 67 của Hiến pháp có ghi rành các quyền tự do của công dân, tự do hội họp, tự do lập hội… Tất nhiên tổ chức hội và tổ chức CLB có sự khác nhau về nội dung. Tuy vậy dựa vào nội dung quyết định của UBND Tp. về nhiệm vụ, quyền hạn của CLB kháng chiến :
• Tập hợp những người kháng chiến trong hai thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhằm phát huy truyền thống yêu nước trong nhân dân ta.
• Đóng góp vào công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc VN XHCN.
• Đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống.
Những người tham gia CLB kháng chiến đã tiến hành hoạt động bằng hình thức hội thảo, mít-tinh, kiến nghị, viết báo, ra báo nhằm các mục tiêu cụ thể chống tiêu cực, quan liêu cửa quyền, ức hiếp, trù dập quần chúng, tham những, bè phái, bao che lẫn nhau vì đặc quyền đặc lợi trong hàng ngũ cán bộ Đảng và Nhà nước, ngoài việc xây dựng, tổ chức, phát triển hội viên, thực hiện đoàn kết tương trợ, thăm hỏi chăm sóc gia đình kháng chiến, liệt sĩ.
Với tinh thần đấu tranh chống trì trệ, tiêu cực nói trên, CLB kháng chiến Tp. đã kiến nghị :
• Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng cần có sự kiểm điểm, phê tự phê định kỳ về sự lãnh đạo của mình trước BCH Trung ương để qua đó điều chỉnh kiện toàn cơ quan lãnh đạo : ai có đủ đức, tài thì tiếp tục phát huy, còn ai không đủ đức tài thì cần rút lui để đưa người có đức có tài thay thế, chớ không thể cứ “sống lâu lên lão làng.”
• Không nên độc diễn khi Quốc hội (QH) bầu Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (1988) nên có một số người ra ứng cử chức vụ nói trên với chương trình hành động cụ thể của mình. QH sẽ chọn một Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng trong số các ứng cử viên ấy bằng lá phiếu kín của mình.
• Quốc hội cần cách chức một số bộ, thứ trưởng có liên quan không làm tròn trách nhiệm, dẫn đến hậu quả là có trên mười triệu người từ miền Bắc bị đói năm 1987 và nhân dân cả nước cơ cực kéo dài.

Thế nhưng đối với lãnh đạo (Đảng và Nhà nước) các cuộc đấu tranh bằng các hình thức nói trên của CLB kháng chiến Tp. là một sự đe dọa. Do đó lãnh đạo đã tìm mọi cách hạn chế, ngăn chặn các hoạt động của CLB như :
Tịch thu ấn bản để CLB không ra báo được (trước khó khăn đó, với tinh thần bám chặt các quyền tự do dân chủ của công dân đã ghi rõ trong Hiến pháp như : tự do ngôn luận, tụ do báo chí… anh em CLB phải cấp tốc đem bài vở xuống Mỹ Tho – Tiền Giang để nhờ giúp đỡ. Tại đây anh em địa phương rất nhiệt tình, hì hục suốt ngày đêm làm xong ấn bản lần thứ 2 thì lại được lịnh của Ban Tuyên truyền Tỉnh ủy là không được in báo cho CLB Truyền thống kháng chiến Tp. Thế là anh em CLB phải chạy tiếp xuống Cần Thơ –Hậu Giang cầu cứu với ấn bản có sẵn. Nhờ sự thông cảm và tận tình của anh em địa phương, chỉ trong vài ngày, 20 ngàn tờ báo Truyền Thống Kháng Chiến đã được in xong. Sở Văn hóa-Thông tin ra lịnh tịch thu tờ báo số 3 này đang được phát hành và sau cùng cơ quan chính quyền đóng cửa vĩnh viễn báo Truyền Thống Kháng Chiến – tờ báo đuợc nhiều cảm tình của đông đảo bạn đọc luôn luôn chờ đón nó.

“Ngay lúc ấy, Trung ương ĐCSVN đứng đầu là Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Bí thư Thành ủy Võ Trần Chí cùng nhiều cán bộ khác kể cà Trần Văn Trà (thượng tướng), Trần Bạch Đằng (nhà văn, nhà báo) đã họp bàn kế hoạch tỉ mỉ nhằm đàn áp CLB Kháng chiến Tp. và nhiều nơi khác. Ý kiến phát biểu, lên án buộc tội CLBKCTP, của Trần Văn Trà, Trần Bạch Đằng là trong cuộc họp nói lên được in ra và phát hành khắp cả nước. Thế là liền sau đó, CLBKCTP bị cấm hoạt động.

Một CLBKC mới với Ban Chủ nhiệm mới – như một thứ kiểng trang trí- hình thành nhằm vô hiệu hóa, tê liệt hóa phong trào đấu tranh chống tiêu cực, suy thoái trong hàng ngũ Đảng và Nhà nước vừa mới dâng lên và cũng nhằm cũng cố chế độ độc tài, phản dân chủ.

Trong không khí ngột ngạt ấy, tôi đã quyết định rời bỏ thành phố, về sống ở nông thôn để tiếp tục cuộc đấu tranh vì dân chủ tự do, vì ấm no hạnh phúc của nhân dân đến hơi thở cuối cùng. Ngày 21-3-1990, tôi rờ Saigon cũng là ngày tôi ly khai ĐCSVN, đảng mà sau 54 năm đeo đuổi làm CM (với tư cách đảng viên) của tôi, nay đã trở thành vô nghĩa. Sau cái ngày đáng ghi nhớ ấy khoảng hơn một tháng, một số anh em CLB kháng chiến Tp. gồm :
Tạ Bá Tòng (Tám Cần)
Hồ Văn Hiếu (Hồ Hiếu)
Đỗ Trung Hiếu (Mười Anh)
Bị bắt cả
Lê Đình Mạnh – người ủng hộ tích cực CLBKCTP cũng bị bắt sau đó.

Vào cuối tháng 8-1990, Phó Chủ tịch HĐBT Võ Văn Kiệt đi gặp tôi ở vùng Phú Giáo miền Đông Nam Bộ, cách Saigon khoảng 60km, tại cái chòi sản xuất của nông dân.
Ông Kiệt hỏi tôi : “Thế này là sao ?” Tôi trả lời : “Thành phố ngột ngạt quá, tôi về nông thôn ở cho khoẻ.” Ông Kiệt nói :
– “Anh cứ về ở giữa thành phố, ai làm gì anh.”
Tôi đáp :
– “Rất tiếc, phải chi anh gặp tôi sớm hơn độ 2 tháng thì tốt quá; tôi trở về thành phố ngay.

Còn bây giờ thì đã muộn rồi bởi vì dưới sự lãnh đạo của Trung ương ĐCSVN lúc bây giờ đứng đầu là tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cùng các ông Mai Chí Thọ, Võ Trần Chí, Trần Trọng Tân, Trần Văn Trà, Trần Bạch Đằng… cả nước được chỉ đạo, phổ biến rằng tôi, Nguyễn Hộ là tên phản động, gián điệp, móc nối CIA, nối giáo cho giặc, tiếp tay báo chí nước ngoài tuyên truyền tổ chức chống đảng, chống Nhà nước, lập tổ chức quần chúng (CLBKCTP) chống Đảng, lật đổ chính quyền “ăn tiền của Mỹ” ; chủ trương Đa nguyên, Đa đảng nhằm lật đổ ĐCSVN.

Tất cả quy chụp ấy nói lên rằng ĐCSVN đã đạp tôi xuống tận bùn đen chôn vùi cả cuộc đời CM của tôi trong nhơ nhuốc để tôi không làm sao ngóc đầu dậy được, tình hình như vậy thì tôi trở về thành phố để làm gì trừ phi đất nước VN có dân chủ tự do thật sự. Do đó tôi quyết sống ở thôn quê đến ngày cuối cùng của đời tôi.
Cuộc gặp gỡ giữa tôi và ông Kiệt diễn ra từ 7 giờ 30 phút sáng đến 11 giờ trưa thì kết thúc và chia tay. Được biết từ sau lần gặp gỡ đó, ông Kiệt tỏ ra phấn khởi và có nhắn muốn gặp tôi lần thứ hai ở một địa điểm nào đó gần Saigon hơn để tiện việc đi lại. Khi được tin này, tôi có viết thư trả lời cho ông Kiệt rằng cuộc gặp gỡ lần thứ hai không cần thiết…
Sau đó khoảng nửa tháng thì tôi bị bắt (7-9-1990) trên sông Saigon vào lúc 7 giờ sáng khi tôi bơi xuồng vừa cặp vào bờ, định bưóc lên đi vào đám ruộng cạnh đó để hái rau má rau đắng về ăn.
Đúng vào thời điểm ấy, một chiếcghe lớn đang chạy trên sông lại cặp sát xuồng tôi, trong đó có 6, 7 thanh niên khoẻ mạnh. Bỗng có tiếng hỏi to : “Bác ơi, bác có thấy một chiếc ghe nhỏ chạy ngang qua đây không ?” “Không !” tôi trả lời. Liền có tiếng hét to : “Đúng nó rồi.” Lúc bấy giờ, tôi mới biết đó là ghe của công an và nghe tiếng súng lên có rốp rốp. Tức khắc có hai công an cường tráng, tay cầm súng đã nạp đạn nhảy xuống mũi xuồng nơi tôi đang đứng.
Tôi bình tĩnh hỏi : “Mấy chú muốn gì ?”
– “Muốn gì thì về Sở mà biết – tiếng trả lời xấc xược của một công an.”
Hai công an đồng loạt nắm hai tay tôi, kéo mạnh ra phía sau rồi còng ngay. Họ điều động tôi đến sát chiếc ghe lớn có tấm ván dài bắc từ mũi ghe xuống đáy. Họ xô mạnh tôi chúi mũi và tuột xuống đáy ghe. Ghe nổ máy chạy dọc con sông lên hướng tây bắc Độ 15 phút thì rẽ vào rạch nhỏ, đi sâu đến bến. Tại đây có chiếc xe hơi nhỏ đậu sẵn.
Tôi được điều lên xe hơi và đổi còng từ phía sau ra phía trước với bộ y phục : quần xà lỏn đen và cái áo đen ngắn tay đã xuống màu, hai bên có hai công an ngồi sát và một công an khác ngồi phía trước.
Sau nữa giờ xe chạy thì đến nơi.
Người ta đưa tôi vào một nhà lá trồng trải không có cửa. Tôi được ngồi nghỉ trên cái giường gỗ nhỏ có trải chiếc chiếu cũ. Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra rằng chính lực lương công an huyện Cũ Chi đã săn bắt tôi (tất nhiên theo lịnh của sở Công an Tp. và Bộ Nội vụ).
1) Cũ Chi.
Cái tên quen thuộc và thân thiết – đã gợi lên trong đầu óc tôi biết bao cảm nghĩ. Cũ Chi địa đạo, bom đìa, pháo bầy, Cũ Chi tan nát, anh dũng, chịu đựng gian khổ, hy sinh, nước mắt đau thương xen lẫn với nụ cười chiến thắng mà bản thân tôi trong một số năm được chia sẽ đắng cay ngọt bùi cùng đồng bào Cũ Chi trong cuộc đấu tranh không cân xứng, vô cùng ác liệt giữa Mỹ và VN; hoặc nó gợi cho tôi nhớ bao nhiêu kỷ niệm tốt đẹp trong những năm hòa bình (1975-1987), đi thăm và ủy lạo anh em thanh niên xung phong đang lao động xây dựng công trình thủy lợi kinh Đông Cũ Chi đã đưa nước từ Hồ Dầu Tiếng về tưới cho hàng ngàn héc-ta ruộng lâu nay thiếu nước của huyện; đi thăm và ủy lạo các gia đình có công với CM, gia đình thương binh liệt sĩ trong những ngày kỷ niệm lịch sử; hoặc đi thăm và tặng quà cho các thiếu nhi học sinh nghèo của huyện; đi dự các lễ trao tặng nhà tình nghĩa của ban, ngành, đoàn thể, cơ sở; kinh doanh sản xuất cho gia đình đối tượng chính sách trong huyện. Ôi ! Ý nghĩ sao miên man.
2) Bất hạnh và sĩ nhục – Anh ở đâu rồi ?
Đúng bốn giờ rưởi chiều hôm đó, tôi được đưa lên ô tô để về Saigon. Trước và sau xe tôi còn có mấy chiếc xe khác đầy nhân viên công an. Khi đèn đường thành phố rực sáng thì xe tôi đến cơ quan Bộ Nội vụ (tổng nha cảnh sát cũ trước đây). Tôi ngồi ở cơ quan Bộ Nội vụ hơn một giờ thì được đưa thẳng lên Xuân Lộc (Đồng Nai) có nhiều xe công an hộ tống. Hơn 10 giờ đêm thì tới Xuân Lộc, tôi được đưa đến căn nhà trống (nhà tròn) của K4 với một bán đội công an võ trang đầy đủ. Được một tuần, người ta lại đưa tôi trở về thành phố, quản thúc tại Bình Triệu, ở một địa điểm đối diện cư xá Thanh Đa.
Sau hơn 4 tháng sống biệt lập, luôn luôn có một tiều đội công an võ trang canh giữ, tôi được đưa về quản thúc tại gia vào đúng ngày 30 tết Nguyên đán (đầu năm 1991) từ đó về sau này. Khi đến gặp tôi tại 3 địa điểm nói trên, các ông Võ Văn Kiệt (Phó Chủ tịch HĐBT), Mai Chí Thọ(Bộ trưởng Bộ Nội vụ), Võ Trần Chí (Bí thư Thành ủy), Võ Viết Thanh (thứ trưởng Bộ Nội vụ), Nguyễn Văn Danh (Phó Bí thư Thành ủy), Trần Văn Danh (Thành ủy viên)… đều bảo tôi phải kiểm điểm (để qua đó lãnh đạo sẽ xem xét và giải quyết nhanh vấn đề của tôi theo cách giải quyết nội bộ). Nhưng tôi nghĩ : tôi không có tội lỗi gì trong hành động của mình, hoạt động CLBKC, không lẽ đấu tranh chống tiêu cực (theo chủ trương, nghị quyết của ĐCSVN), chống tham nhũng, chống quan liêu, cửa quyền, uy hiếp, trù dập, hãm hại quần chúng; chống tư tưởng bè phái, bao che cho nhau; những người đã gây biết bao tác hại cho nhân dân, đất nước, không đức không tài mà cứ ngồi lỳ ở cương vị lãnh đạo; đấu tranh chống tiêu cực, suy thoái như vậy là hành động phảm CM, phản động, nối giáo cho giặc sao ? Do đó tôi không làm kiểm điểm mà chỉ phát biểu quan điểm của mình về tình hình chung trong nước và sự lãnh đạo của ĐCSVN.
Kiểm điểm là công việc mang tính chất nội bộ. Còn ở đây sự việc lại hoàn toàn khác hẵn : người ta chỉa súng vào tôi, bắt còng tôi, đem giam và quản thúc. Như vậy vấn đề đã đi quá xa, còn đâu là nội bộ nữa, vì tôi đã bị coi là kẻ thù của ĐCSVN rồi kia mà.
Cho nên điều chủ yếu của tôi là chờ đuợc đưa ra tòa xét xử xem tôi đã phạm tội gì, nặng cỡ nào với chứng cớ chính xác của nó. Khi tôi bị bắt không hề có lịnh của tòa án hay viện kiểm soát. Hơn nữa, đã trên hai năm bị quản thúc, vấn đề của tôi chưa đuợc phơi bày trước ánh sáng công lý. Điều đó cho thấy ở VN hiến pháp, luật pháp đã bị chà đạp đến cỡ nào.
CLBKC Tp. bị đàn áp, tôi bị bắt cũng như một số anh em khác, trước đó. Chúng tôi được nếm mùi còng sắt của ĐCSVN – cũng giống còng sắt của đế quốc ngày xưa – rồi bị giam, bị quản thúc trở thành con người hoàn toàn mất tự do, cách ly với thế giới bên ngoài. Đó là điều Bất Hạnh.
Tuy nhiên vì tôi đã ly khai ĐCSVN, lúc tôi rời thành phố và sống ở nông thôn (21-3-1990) nên hơn lúc nào hết, về tinh thần và tư tưởng, tôi thấy mình lại hoàn toàn tự do, hoàn toàn được giải phóng. Bây giờ trên đầu tôi không còn bị kẹp chặt bởi cái “ kiềm sắt “ của chủ nghĩa Mác Lê-nin, của ĐCS nữa. Do đó nó cho phép tôi dám nhìn thẳng vào sự thật và dám chỉ ra sự thật, đặc biệt trong tình hình sụp đổ của Đông Âu và sự tan rã của Liên Xô. Khác với trước đây, khi còn là đảng viên của ĐCSVN, một thứ tù binh của Đảng, tôi chỉ biết nói và suy nghĩ theo những gì mà cấp trên nói và suy nghĩ; còn hiện nay tôi suy nghĩ rất thoải mái không bị một sự hạn chế nào khi tư tưởng của tôi đã thực sự giải phóng – tư tưởng đã bay bổng. Bởi vậy tôi tự phát hiện cho mình nhiều điều lý thú.
Tôi đã làm CM trên 65 năm, gia đình tôi có hai liệt sĩ.
– Nguyễn Văn Bảo (anh ruột), đại tá quân đội nhân dân VN, hy sinh ngày 9-1-1966 trong trận ném bom tấn công đầu tiên của quân xâm lượt Mỹ vào VN (vào Cũ Chi).
– Trần Thị Thiệt (vợ tôi) cán bộ phụ nữ Saigon – bị bắt và bị đánh chết tại Tổng nha cảnh sát hồi tết Mậu Thân (1968).

Nhưng phải thú nhận rằng chúng tôi đã chọn sai lý tưởng CSCN : bởi vì suốt 60 năm trên con đường CM CS ấy, nhân dân VN đã chịu đựng hy sinh quá lớn lao nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sĩ nhục.
…”
(Tôi trích “Quan điểm và cuộc sống” của anh Năm Hộ, và đặt tựa nhỏ cho dễ đọc).

Cái tiểu sử tự thuật đó gợi lại truyền thống dân chủ ở Nam Bộ thuở xưa kia.
Tôi biết anh Nguyễn Hộ cũng có gần 60 năm : từ phong trào các Mặt Trận : Bình Dân, Quốc gia dân chủ.
Lúc ấy ĐCS hoạt động trong cảnh tranh sáng tranh tối. Thân mình xẻ làm đôi. Một nửa công khai, nửa kia bí mật.
Anh Hộ đã là đảng viên. Tôi là chiến sĩ công khai. Hai bên biết “chào nhau” qua công tác công khai của Đảng. Tôi biết anh Hộ là, cùng còm-mi (commis) (ie. phụ tá) Tống văn Hên –đầu não của Ái hữu Ba Son.
Ái hữu Ba Son này là cùng Ái hữu FACI, Ái hữu SIMAC, Ái hữu Dépôt xe lửa (gồm Saigon, Gò Vấp, Dĩ An) làm nên thanh thế của CS Đệ tam. Vì những xưởng máy đó là hiện đại. Khi nói đến giai cấp công nhân, là phải nói cốt chánh đến thợ thầy làm việc ở xí nghiệp cơ khí hiện đại.
Phải coi đó là thế mạnh của “Đệ tam” ở Saigon. Trong khi những giáo sư trí thức Tờ-rốt-kít đang gây ảnh hưởng trong học sinh, sinh viên và trí thức.
Hãy biết anh Năm Hộ là công nhân như vậy đi.
Nay anh đứng ra làm Chủ nhiệm CLB những người kháng chiến cũ. Mà tôi còn ngại. Vì nhờ triết gia Fuerbach nói, “người ở lâu đài không nói cùng “một thứ tiếng” với người ở nhà tranh.” Những hội viên sáng lập ra CLB ấy phần lớn là “nhà cao cửa rộng.”

Tôi để ý dò xét.
Việc làm của CLB bắt tôi nhớ Saigon cũ.
Nơi đây bị cai trị bởi chủ nghĩa thực dân mà mẹ nó là nước Pháp dân chủ đã tiếp tục cuộc CM nhân văn thế giới mà mở ra thời đại dân chủ bằng bản Tuyên ngôn Nhân quyền.
Chế độ cai trị thuộc địa mở mang đầu óc cho dân tộc sống quá lâu dưới chế độ phong kiến lạc hậu. Và người Saigon cũ, người dân Nam kỳ, sống với chế độ thực dân, đã có sự giác ngộ chính trị đạt được trình độ chín mùi rất sớm.
(Ta tách hẵn cái gọi là “văn hóa ngu dân của thực dân Pháp” ra khỏi tư tưởng dân chủ của nền văn hóa khai sáng Pháp, là làm một việc vô nghĩa.
Ông HCM chẳng không đưa tư tưởng CM Pháp vào lời nói mở đầu Tuyên ngôn Độc lập đó sao ?)
Đây tôi muốn bày tỏ một điều đáng tiếc là người ta genre (ie. dòng giống, loại) Bắc Hà như Trường Chinh, Lê Đức Thọ, không thấy những giá trị dân chủ mà nước Pháp sớm đem cho “thần dân Pháp” ở Nam kỳ và người ta lấy cái không dân chủ vô luân thường mà đè đầu người đã tập nhiễm dân chủ CM lâu đời rồi thì đè nén như ở các xứ lạnh, tuyết phủ, mặt trời lên, cổ lại ngóc đầu.
Sự giác ngộ chính trị của người Saigon đạt được độ chín mùi rất sớm cũng là nhờ sự hoạt động của một thành phố văn minh; nó bắt người thị dân sống hàng ngày trong sự thức tỉnh về trí tuệ (eveil intellectuel).
Thì vừa rồi anh Hộ nói : “Những người tham gia CLB KC đã tiến hành hoạt động bằng các hình thức : hội thảo, mít-tinh, kiến nghị, viết báo… ”
Tôi thấy đó là những điều ngày xưa, anh nói với tôi đều biết và đã cùng làm.
Sự thức tỉnh trí tuệ của người thành phố cốt yếu là hàng ngày qua những điều này đây :
1- Vận động bầu cử ứng cử và họp hội đồng.
2- Tổ chức mít-tinh.
3- Khuyến học – diễn thuyết – làm báo.
Phải CLB cũng làm như vậy hay không ?
Cho tôi nhắc lại… để rồi tôi làm việc với anh Năm Hộ.

17. Về Bầu Cử
Sai gon ngày xưa phải là đã có “phổ thông đầu phiếu”. Bị hạn chế, lại làm cho người ta nói là bầu bán. Nhưng trong vòng hạn chế, người ứng cử và người đi bầu đều được tương đối tự do (tương đối = hơn ta bây giờ).
Ngày xưa Đảng biểu tôi ra hội đồng quản hạt. Dễ thôi ! Chỉ o bế ba cái tiếng Tây học đường, cho nó có mùi ông Hội đồng.
Ngày xưa có cuộc bỏ thăm. Tôi không thèm đi bỏ thì thôi; không bị mời, thiếu điều đem xe đến chở. Và ngay cái chức được bầu có giá lắm. Chế độ bầu cử của ta ! Người ta coi Đại biểu quốc hội nó làm sao ấy !
Ngày xưa việc bầu cử có tác dụng thức tỉnh rất lớn đối với dân cư. Mỗi người ra Hội đồng đều được một suất tự do ăn nói. Ta thử nghe Nguyễn An Ninh nói trong cuộc tranh cử Hội đồng quản hạt (30-4-1939) đây nha !
“…
Trong khi Đế quốc Pháp và Đế quốc Nhựt chọi nhau, ta không thể đứng ngoài cuộc một cách dễ dàng như hai đám tôi tớ đứng khoanh tay coi hai ông chủ của chúng nó đánh nhau. Huống chi chủ nghĩa Phát-xít ngày nay đã rõ rệt là cái họa to lớn cho nhân loại.
Muốn lãnh nỗi nhiệm vụ lớn lao ngày nay là sự thống nhất quốc gia trở lại và lập một quốc gia dân chủ; tất nhiên phải kêu gọi lòng nhiệt huyết, tánh hy sinh của toàn cả mọi người… Những ai là người có lòng thương dân, thương nước, mặc dầu ít nhiều, những đồng bào bấy lâu nay khao khát, mong đợi thời cuộc đưa đến sự may mắn cho dân ta; những kẻ tâm chí sẵn lòng ra giúp đỡ cho dân tộc VN có một tương lai rực rỡ. Vô số người lao khổ ao ước và sẵn lòng hy sinh đễ cải thiện cái đời khốn khổ của mình và được đòi quyền tham gia vào sự lo lắng cho vận mạng cả nước. Toàn cả quốc dân ngày nay phải chú ý đến cái việc lớn lao có thể làm được.
Ngày nay là một dịp may cho dân ta trong lịch sử, nó lại có thể đưa ta vào chỗ đau khổ như ở Tàu, ở Y-pha-nho, ở Abyssinie. Lắm kẻ nói dân ta không kém ai về khôn ngoan, về hy sinh, về tánh dõng. Song sự đau khổ của ta có thể là vô ích cho ta không ? Điều ấy tôi xin toàn cả dân VN suy xét.
Trước kia mỗi lần tuyển cử Hội đồng quản hạt là một dịp cho số đông người cử tri, với năm ba đồng bạc của kẻ mua thăm, ăn chơi vui vẻ trong một vài ngày.
Rồi trong khóa Hội đồng, kẻ đắc cử chỉ làm việc tư lợi bán đứng quyền lợi dân tộc 20 triệu người mà xưa kia đã có một lịch sử vẻ vang; điều ấy sau cuộc vui chơi, cử tri không thèm nghĩ đến. Đó là đoạn đường lịch sử rất xấu hỗ của cả dân tộc ta.
Gần đây từ Nam chí Bác, trong nhiều cuộc tuyển cử thứ nhất là trong những cuộc mà một phần dân chúng có quyền dự vào như ở châu thành lớn thì trong đám cử tri lại biểu lộ cái tinh thần mới mẻ là tinh thần phản đối. Trình độ chính trị của quốc dân đã nâng lên một nấc cao.

Ngày nay người làm phận sự cử tri không nên chỉ có thái độ phản đối. Phải hiểu rõ sự quan trọng của thời cuộc, phải biết đường chánh đáng mà đi, phải biết phận sự và nhiệm vụ của mình là một người dân trong nước. Với thời buổi này, giá trị của một lá thăm rất trọng hệ.

Cái quyền lực chọn của cử tri, khi chính phủ đã đưa người nào thì người ấy trọn quyền tự do chọn lực những người hành động vừa theo ý của mình.
Mặc dầu chính phủ hết sức trở ngại, người cử tri rốt cuộc cũng trọn quyền muốn bầu cử ai thì bầu cử.
Lấy lá thăm để lộ ý muốn của mình, để cương quyết nhìn nhận những tư tưởng, những hành động, hạp với quyền lợi của mình, với vận mạng của nước, đó là cái phận sự lớn lao của người cử tri ngày nay, biết nhớ đến mấy ngàn năm lịch sử của ta, biết ao ước một tương lai nhẹ nhàng và vẻ vang cho dân tộc ta.
Không nên vì tình cảm cá nhân mà bỏ nhiệm vụ xã hội của mình; không chú ý ở sự chính phủ nhìn nhận hay không những kẻ ra ứng cử; không hoan nghinh những thái độ phản đối trống lỏng vì nó không có hiệu quả gì cả. Chỉ nhìn nhận một đường lối chính trị thiết thực để lợi dụng cơ hội mà thống nhất quốc gia và lập thành một quốc gia dân chủ cho dân tộc ta, đó là thái độ chính đáng ngày nay của người cử tri đã thức thời vụ.
Trong lúc khăn mà cần cả lực lượng của các hạng dân chúng, tất nhiên ta không thể quên những chiến sĩ vì nước nhà mà nay hoặc còn ở trong tù hoặc được ở ngoài song bị luật pháp trói buộc. Ta nên đòi toàn ân xá cho chính trị phạm, và hủy bỏ những án quản thúc và biệt xứ.
Đưa ra một vài ý kiến trọng hệ của tôi đối với thời cuộc, tôi đã làm được một phần phận sự của tôi. Ước mong sau, một số đông trong đồng bào ngày chủ nhật 30 Avril sẽ biết làm phận sự của mình để cho toàn cả quốc dân không hỗ thẹn với những dân tộc đã dũng cảm hy sinh vì dân, vì dân chủ chủ nghĩa.
Với những cử tri ngày nay đã tỉnh ngộ, tôi xin hô cao khẩu hiệu :
1-Hãy liên hiệp lực lượng dân chủ.
2-Đòi hòa bình, cơm áo, tự do.
3-Lập một quốc gia dân chủ.
4-Mở ngục cho chính trị phạm.
Hởi các đồng bào cử tri, đối với nước nhà, dầu khổ sở đến bực nào, tôi cũng không một phút dám quên phận sự của tôi. Xin đồng bào hãy rán làm một việc nhỏ nhen là bỏ thăm đồng tình với chính sách thiết thực để cho dân ta hết khổ nhục với cái kiếp dân đã mất tự do.
…”
Coi đó ! Người dân mất nước được nghe chừng “một vài ý kiến trọng hệ của tôi đối với thời cuộc” cũng đủ cho lòng xốn xang nghĩ đến phần mình đối với vận mạng của nước nhà.
Trình độ chính trị của anh thị dân, qua từng đợt từng đợt tuyên truyền ứng cứ của người có tâm huyết mà được nâng cao.
Tiếp theo chiến dịch bỏ thăm là các cuộc họp Hội đồng. Đây mới là quan trọng. Nếu được phép nói bầu cử là như bửa tiệc. Nó cho ngon miệng trong một buổi. Thì cuộc họp hội đồng là bữa ăn hàng ngày, nó cung cấp dinh dưỡng cho cuộc sống về dài.
Chế độ cai trị xưa kia ở trên nước ta, nó để cho Hội i đồng họp công khai, mà còn sắp xếp họp vào giờ – tám giờ tối – cho người thị dân kéo nhau đi nghe được, vì đã ăn cơm xong !
Đối với tôi như các bạn trẻ “học sinh trường lớn” hồi đó, những cuộc họp Hội đồng quản hạt, Hội đồng thành phố, Đại hội đồng kinh tế lý tài, là những buổi học hậu học đường bổ sung và mở rộng cái văn hóa phổ thông mà lớp trung học đã vun quén cho chúng tôi.

Nghe Nguyễn Phan Long, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn tạo, Phan Thanh, nghe họ nói tiếng Tây với Tây mình cũng thấy tự hào về người của mình, mà chủ nghĩa thực dân gọi là indigènes (ie. bản địa) , thổ dân, annamites (ie. dân bản địa An Nam, thổ dân An Nam).
Nhưng cái quan trọng là đối với thanh niên, nghe đồng bào, vào bực đàn anh của mình nói về việc nước, nói về kiếp sống của bình dân, bắt phải thèm thuồng – nếu không vậy thì không phải là thanh niên trí thức – thèm thuồng cái quyền được tham gia lo lắng việc dân, việc nước, với người ta.
Đó là, sự nảy sinh trong lòng người thanh niên có học, sự quý trọng ,sự đòi hỏi sống chết những quyền đáng phải có của con người công dân; là quyền bỏ thăm để mình được lựa chọn ông Hội đồng vừa ý mình hoặc mình cũng được ứng cử, làm ông Hội đồng và làm người có ích.

18. Về Mít-Tinh
Những người ở đầu thế kỷ XX này, như anh Hộ và tôi, được sự giáo dục của nền văn minh Pháp, khi chen vai với đám đông người để nghe các ông Hội đồng thành phố, Hội đồng quản hạt và Đại hội đồng kinh tế lý tài họp, thì làm sao cũng mơ màng thấy nước Pháp với cái Viên Quốc ước “mà chưa hề có cái gì xuất hiện với tầm cao hơn thế, trên đường chân trời của loài người.” (V.Hugo).
Và thấy cái tầm cao vĩ đại của CM Pháp.
(Không biết cháu Phan Ngọc Tôn của tôi nó còn có hậu ý gì khi kèm tôi viết Pháp Văn; nó biểu tôi đọc La Sainte Bible, Quatrevingt treize ? Đến ngày nay tôi vừa lấy “Tội tổ tông” trong Kinh thánh. Và cũng lấy làm lý thú mà trích “93” của Victor Hugo để cho tư tưởng về Quốc Hội thâm nhập vào người công dân có lý trí và luân thường chúng ta).
“Đồng thời phát sinh ra cuộc CM, nghị hội này nảy sinh ra nền văn minh… Lò lửa, nhưng là lò rèn. Trong cái thùng ấy, khủng bố đang sôi sục thì tiến bộ đang lên men. Từ cảnh hỗn độn của bóng tối và mây đen đã vút lên những tia sáng mênh mông song song với các định luật vĩnh cửu. Những tia sáng ấy vẫn còn mãi ở chân trời và mãi mãi còn thấy rõ trên bầu trời các dân tộc, đó là công lý, là khoan dung, là nhân từ, là lẽ phải, là chân lý, là tình yêu. Viện Quốc ước đưa ra câu định lý vĩ đại này :
“Tự do của người công dân này chấm dứt ở chỗ tự do của người công dân khác bắt đầu.” Câu ấy đả tóm tắt lại trong hai dòng chữ tất cả ý thức xã hội nhân quyền. Viện Quốc ước tuyên bố nghèo khổ là thiêng liêng; mù, câm, điếc là thiêng liêng và những người tàn tật ấy là con nuôi của nhà nước; sinh con hoang là thiêng liêng và người mẹ được chính phủ an ủi và nâng đỡ; trẻ mồ côi là thiêng liêng và chúng được tổ quốc nuôi dưỡng; người bị cáo trắng án là trong sạch và thiêng liêng và phải được bồi thường.
Viện Quốc ước lên án việc buôn người da đen, tuyên bố hủy bỏ chế độ nô lệ, ban hành đạo luật liên đới trong quan hệ xã hội, chính sách giáo dục không mất tiền, tổ chức nền giáo dục quốc gia với trường Sư phạm ở Paris, trường trung học ở quận lỵ và trường sơ cấp ở thôn xã, lập ra các trường chuyên nghiệp và các viện bảo tàng, ra sắc lịnh thống nhất luật pháp, thống nhất đo lường, thống nhất tính toán theo hệ số thập phân, lập nền tài chính của nước Pháp và thay thế nạn phá sản ngân sách thường xuyên của chế độ quân chủ bằng tín dụng công cộng.
Viện Quốc ước đem lại cho ngành giao thông hệ thống điện tín, cho tuổi già những viện dưỡng lão có trợ cấp, ngành y tế những bịnh viện đã tẩy uế, ngành giáo dục trường bách khoa, cho khoa học phòng kinh tuyến và cho trí tuệ con người. Viện Quốc ước vừa có tính chất quốc gia vừa mang tính chất quốc tế. Viện Quốc ước đã ban hành 11210 sắc luật thì một phần ba có mục đích chính trị, hai phần ba có mục đích nhân đạo. Viện Quốc ước tuyên bố đạo đức phổ biến là nền tảng xã hội, là lương tâm phổ biến, là nền tảng của pháp luật. Với tất cả những cái đó, ách nô lệ bị xóa bỏ, lòng bác ái được đề cao, lòng nhân đạo được bảo vệ, lương tâm con người được tu chỉnh, luật lao động trở thành pháp quyền, tài sản quốc gia được vững chắc, tuổi trẻ được học hành và nâng đỡ, văn học và khoa học được truyền bá rộng khắp, ánh sáng tỏa trên các đỉnh cao, những cảnh cùng khổ được giúp đỡ, các nguyên tắc được công bố. Tất cả những cái đó, Viện Quốc ước đã làm, mặc dù nó còn mang trong lòng con quái vật là loạn Văng-đê và trên vai một bầy hùm beo là bọn vua chúa.
Tội nghiệp cho người dân thuộc địa chúng mình, nghe biết tới Viện Quốc ước, sản phẩm vĩ đại của CM Pháp mà càng chết thèm độc lập tự do.
A ! Ở nơi Hội nghị đó, Victor Hugo tường thuật “tất cả hạng người nhân đạo, vô nhân đạo và siêu nhân đều có mặt.”
Và : “Sự nói năng vô độ là quyền của mọi người.”
Cái Viện Quốc ước đã gây ảnh hưởng rất lớn của CM Pháp đối với dân ta.
Trước CM, người Pháp không có quyền tự do nào hết. Không có tự do tôn giáo. Không có tự do ngôn luận trên “giấy in.” Không có tự do “thân phận”, nhà nước muốn bắt giữ ai và bao lâu cũng được. Như vậy là không có tự do chính trị (tự do hội họp, tự do lập hội…).
Viện Quốc ước ấy đã chính thức ban bố trong 11200 sắc luật các quyền được coi là quyền tự nhiên của con người.
Lịch sử CM Pháp đã dạy người dân mất nước chúng ta rằng những thể chế dân chủ mà “lời qua tiếng lại” trong Viện Quốc ước đã “vật chất hóa” là kết quả của nhân dân quần chúng đấu tranh.
Và lịch sử CM Pháp đã dạy ta cách làm.
Trưóc hết (ie. khi ?) CM nổ ra thì dân chúng Paris đã thành lập diễn đàn (để nói theo một ông đã chỉ vạch Năm Hộ là “đang tập dợt dân chủ”) rất nhiều ban đầu ở các tiệm cà phê. Và một diễn đàn đã trở thành một CLB, một Hội.
Cái mình mới học thì mới là ở trong tư tưởng mà thôi. Để thực hiện cái mình muốn là phải làm.

Và ai làm ? Quần chúng.
Vã chăng, kẻ đi xâm chiếm nước người thì lòng dạ đâu thể lãng xao việc người ta sẽ nổi dậy mà đòi nước lại. Cho nên nó cố giữ ổn định bằng việc cái thì cắt xén, cái thì thủ tiêu những quyền tự do dân chủ (giữ ổn định chính trị bằng phương pháp như vậy mà có được cũng tạm thời thôi).
Về phía người làm CM – hay nói cho thích hợp là người đấu tranh đổi mới – là ra sức tập họp quần chúng, nói cho họ nghe quan điểm về thời cuộc. Để cho tư tưởng CM trở thành sức mạnh vật chất.
Trong sự sống của mình, dưới chế độ cai trị đàn áp của thực dân, người CS không lùi bưóc trước khủng bố, luôn luôn rải truyền đơn. Gõ mõ họp mít-tinh trong bưng láng, đêm khuya. Những cuộc mít-tinh ấy là những cuộc hóa thân của quần chúng vào khẩu hiệu đấu tranh CM.

Ở vào thời điểm nào đó mà sự tuyên truyền giáo dục cho quần chúng trở thành cấp bách, thì người CS đã làm mít-tinh trước mũi nhà cầm quyền. Trong cuộc mít-tinh đó, Lý Tự Trọng đã bắn chết một thằng cò Tây, để bảo vệ cho người đồng chí diễn thuyết.
Trước đó, cuộc mít-tinh mà chí sĩ Nguyễn An Ninh với mấy người nữa diễn thuyết ở đường Lanzarote cũng là được ghi trong lịch sử CM ở Nam kỳ (1926).
Lần theo tình hình mà phong trào đấu tranh của quần chúng trong nước kết hợp với phong trào thế giới đấu tranh cho dân chủ làm cho thực dân nới lỏng sợi dây nó tròng cổ dân ta thì đã có xảy ra nhiều cuộc mít-tinh ở rạp hát Thành Xương.

Tôi nói mít-tinh trên đây là đi về nguồn nước mà anh Năm Hộ đã tắm.
Tôi nói luôn một sự trùng hợp thú vị.
Hồi CM Pháp, trong rất nhiều những diễn đàn quần chúng nổi rõ lên Câu lạc bộ của những Jacobins, mà tên gọi chính thức của nó là Société des Amis de la Constitution –Hội những người bạn của Hiến pháp. Hội này đã tập hợp những người CM kiên cường.
Họ đã đẩy mạnh CM và giữ cho nó tánh chất triệt để không lừng khừng thỏa hiệp, và khi chuyên chính của CM được thiết lập thì những nhánh nhóc của CLB này trở thành những “bánh xe” của chính phủ..
Sự trùng hợp ở đây là :
Cũng có tên mới đẻ ra là “hội” nhưng “lục bộ” đã đặt cho là “CLB” thì có sao đâu cái chuyện khác tên miễn là nó giữ cho được, cho đúng đắn tính chất của một tổ chức chính trị.
CLB những người kháng chiến cũ qui tụ những những người CM bất khuất thuở xưa đều là bánh xe và định ốc của Đảng và Nhà nước.
CLB… liên tiếp và vào thời điểm thích hợp, mở ra những cuộc mít-tinh, nói về thể chế dân chủ, nói về phân chia khu vực kinh tế, nói về tình hình các nước Đông Âu và nghĩ tới ta.
CLB này theo “phép nước” thì chỉ là của Tp.HCM, nhưng vì các tỉnh đều nghe tiếng nói của nó nên đi dự mít-tinh rất đông. Người các tỉnh Nam kỳ cũng coi theo. Cho đến tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng cũng chuẩn bị làm theo… Nguyễn Hộ.

Những cuộc mít-tinh này không biết sao mà làm cho Đảng và Nhà nước ta ra lịnh cấm.
Và luật rừng nên cấm báo, bằng sự thổi vào tai các Chủ nhiệm nhà in. Cấm mít-tinh cũng vậy. CLB đã từng mược phòng của Nhà hữu nghị Việt-Xô, của CLB Lao động, mượn hội trường của quận 3; nay không ai cho mược nữa.
Tôi nhớ ngày xưa, tôi được cái duyên chạy mướn phòng mít-tinh diễn thuyết thì cũng bởi tại vì Nhà nước thực dân là khác và Nhà nước XHCN là khác.
Nếu để chậm, không bắt Nguyễn Hộ và Tạ Bá Tòng thì người ta sẽ đua nhau làm “CLB” mà coi.
Tôi hiểu anh em CM già mà thích CLB mít-tinh là nói nỗi lòng mình về thể chế dân chủ. Và họ cũng có biết lời mở đầu nghiêm trang đượm đau buồn của Tuyên ngôn Nhân quyền.

“Các đại biểu của nhân dân Pháp, họp thành Viện Quốc ước cho rằng, sự không chăm sóc, sự bỏ quên hay sự coi thường các quyền của con người là những nguyên nhân duy nhất gây ra những đau khổ chung và sự hư hỏng của những kẻ cầm quyền; vì thế đã quyết định trình bày các quyền tự nhiên thiêng liêng và không thể tước bỏ được của con người trong một bản tuyên ngôn trọng thể.”
(Và cũng vì thế mà họp mít-tinh để gởi cho Đảng, cho Quốc hội những kiến nghị trang trọng).

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s