Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 2)

7. Tư Bản Luận (Le Capital)
Tôi chia tuần lễ ra hai. Một nửa ở nhà. Một nửa đi ngồi thư viện La Grandière (bây giờ là thư viện KHXH).
Nên cô đầm ở thư viện, có nhiều buổi, mỉm cười mà đặt trước mặt người đọc giả sáng sủa quyển La Marchandise của ông Marx, mà thư viện chỉ cho mượn cuốn sách bộ phận ấy của Le Capital.
Má tôi luôn luôn kêu tôi dậy theo tiếng chuông công phu của chùa Sùng Phước, ở gần.
Tôi viết, viết theo sách nào đó đã dạy. Tập viết thì nên viết nhật ký, văn nó trôi chảy mà đề tài lại nhiều, cũng đáng ghi mà “để lại”.
Và đó cũng là làm theo…
Để tôi nói cho các bạn nghe nha !
Tôi không rời “Sách của bạn tôi”
Trong đó, Anatole có đoạn viết “Ghi khi tảng sáng”. Tôi lấy đó mà cho vào nhật ký, coi như là bài học cũng nghi vào lúc rạng đông.
(Tất nhiên bây giờ, để giới thiệu cho bạn tôi phải nói ra bằng tiếng mẹ đẻ dựa theo văn dịch của Hương Minh)
“Đây là sự thu lượm qua một đêm đông : cái bó kỷ niệm đầu tiên của tôi. Tôi để cho gió cuốn nó đi sao ? Hay là bó nó lại cho vào bồ ? Tôi nghĩ rằng, nó sẽ là một thức ăn bổ dưỡng tinh thần.

Con người ưu tú và thông thái bực nhất đời nay là ông Littré, ổng ước muốn mỗi gia đình đều có những lưu trữ văn thư và quyển sử tinh thần của nó. Ông nói, từ khi mà một nền triết học tốt đẹp đã dạy tôi biết đánh giá cao truyền thống và sự bảo tồn, thì lắm lúc tôi tiếc rằng suốt thời kỳ Trung cổ, có những gia đình khá giả không nghĩ đến việc đóng những quyển sổ nho nhỏ để ghi chép những sự kiện chính trong lịch sử gia tộc, để truyền lại cho nhau. Chừng nào gia đình còn tồn tại. Dẫu sơ sài đến đâu, nếu còn lại cho đến nay, những ghi chép đó là bao nhiêu điều lý thú. Đã mất đi biết bao trí thức và kinh nghiệm mà nếu có một chút cẩn trọng, một chút kiên trì là đã cứu vớt được !”.
Và tôi cũng mượn lời sách nói :
Về phần tôi sẽ thực hiện ý muốn của lão hiền giả, điều này sẽ được gìn giữ và nó sẽ khởi đầu cuốn sổ của gia đình…
Không nên để mất bất cứ cái gì của quá khứ. Vì chỉ bằng quá khứ người ta xây đắp tương lai”
(tiếc thay, nhựt ký của tôi đã bị xét nhà mà lấy hết. Thôi thì lấy lòng kính trọng quá khứ mà đọ quyển sách này!)
Và…

8. Hỡi Anh Em Nông Dân
Lực lượng tranh đấu của quần chúng Pháp đã đưa Mặt trận Bình dân lên nắm chính quyền.
Tuy sự thành công này nó mới chỉ là một thắng lợi của Bình dân nhưng nó rất có ảnh hưởng đến cuộc toàn thắng tương lai của vô sản giai cấp và cấp thời nó dìu dắt và ủng hộ sự tranh đấu của dân chúng lao khổ bị đè nén ở thuộc địa.
Chính phủ mặt trận Bình dân muốn có cuộc cải cách ở thuộc địa, nên sẽ phái Ủy ban Điều tra sang đây để xem xét tình hình xã hội chính trị và cuộc sinh hoạt của dân chúng.

Hỡi các anh lao nông
Hèn lâu ta bị ngộp hơi, nín thở
Quyền lợi của chúng ta bị cướp bức.
Trăm ngàn thứ sưu thuế ép nặng trên lưng

Ta cần phải tranh đấu mới mong đặng cuộc sống tự do hơn, sung sướng hơn.
Ta hãy nhận thức rằng : trong lịch sử giai cấp tranh đấu những quyền lợi thực hiện là cái giá của biết bao nhiêu sự chiến đấu nhọc nhằn khe khắt mà lịch sử có dịp nói đến những cảnh giết hại thây phơi thành núi, máu chảy thành sông.
Mình nằm không, không ai biết mình đòi gì mà cho mình.
Phương chi nay chính phủ Mặt trận Bình dân đưa tới cho mình nắm lấy, mở đường tranh đấu cho mình mà mình lại bỏ qua thời cơ tốt để cho chính phủ biết rằng sự lao khổ của ta đến đây đã quá nước rồi, để đòi chính phủ phải khẩn trương thi hành những nguyện vọng thiết tha của ta để kiếp sống của ta có đôi chút giá trị, để đời ta đặng hưởng phần sinh phước như tất cả nhân loại dưới bóng mặt trời sao?
Thời kỳ khủng bố đã qua! Chúng ta chẳng phải là bọn phiến loạn chủ trương khuynh phúc kẻ đương cuộc xứ này, mà là đám dân lao khổ tranh đấu cho sự sanh tồn.
Chớ trông chờ nơi nhà chánh trị đại gia nào. Anh em nông dân hãy liên hiệp mà trực tiếp lấy Ủy ban Điều Tra (UBĐT). Quyền lợi của nông dân, hoàn cảnh khốc hại của nông dân, không phải nông dân thì ai thấu đáo đặng ? Xứ ta là một xứ nông nghiệp. Đa số dân chúng đều sống trong nghề nông. Vậy còn quyền lợi nào hệ trọng cho bằng quyền lợi của nông dân ?
Anh em nông dân hãy kịp liên hiệp lại hưởng ứng với giới thợ thuyền ở thành phố, tổ chức ở chốn thôn quê, các công điền vô số Ủy ban Hành động để dự thảo bản thỉnh cầu mọi nơi mà lập ra bản thỉnh cầu hiệp nhất để trình cho UBĐT kịp khi họ bước lên đất nước xứ này.
Anh em nông dân ta hãy liên hiệp lại để chấn động phong trào giác ngộ về quyền lợi của giai cấp, để tăng gia lực lượng tranh đấu của quần chúng họa may trong xứ này thứ nhất mới thấy đặng một cuộc đại cải cách thỏa hiệp của dân chúng chăng ?

Ủy ban địa phương Chợ Đệm hiệu triệu
NGUYỄN VĂN TRẤN
LÊ VĂN NGÀ
NGUYỄN VĂN THẾ
LÊ VĂN NHÌ

Hỏi thăm đều chi xin xin do nơi M’ Nguyễn Văn Trấn.
Trời rựng sáng
Sao mai mọc trong đời tôi
Bên Pháp có chánh phủ Mặt trận Bình Dân
Bên ta trí thức và tư sản Saigon làm

9. Đông Dương Đại Hội
Tôi dầm mình trong phong trào. Tôi viết tờ truyền đơn cho Ủy ban Hành động cũ Chợ Đệm. Bạn thấy tờ truyền đơn đó. Tôi như thấy lại tôi cách đây 58 năm.
Các Ủy ban Hành động của tỉnh Cholon (như các tỉnh khác) họp lại làm ra một cái Liên ủy.
Tôi được bà con thương : Thằng con nhà giàu có học không làm việc cho Tây, với bà con cô bác thì nhất nhất “trình thưa giặm dạ”.
Người ta mừng cho tôi được cử làm chánh của ban Thơ ký : Trấn Trân Lộc.

Ba thằng họ Nguyễn :
_ Nguyễn Văn Trân tự là Xôi có đi học bên Nga, về nước còn mang tên Nga là Frigore, tham gia hoạt động cộng sản (CS), bị bắt, tra tấn dữ lắm, chịu đựng anh hùng.
_ Nguyễn Văn Lộc, tướng tá ăn mặc áo vá, cẳng phèn rất là nông dân, nhưng nói năng rất nhiều chữ chỉ có người có chức gì đó trong Đảng CS mới nói được. Anh ta ở Bến lức.
Trân ở Phú lạc. Tôi ở Chợ Đệm.
Tôi cầm chèo lái viết tờ truyền đơn dài nhất trong lịch sử truyền đơn. Người ta gọi nó là “tờ truyền đơn tám trang”. Văn viết mướt lắm, theo Trương Vĩnh Ký biểu: “Lời nói không dùng tiếng cao kỳ, cứ thường thiệt sự mà nói rõ ràng dễ hiểu”.
Tờ truyền đơn này đề tựa và kêu gọi :

Hỡi quần chúng lao khổ ở Đông Dương
HÃY ĐỨNG DẬY

Tờ truyền đơn này, ngày nay không ai còn cất. Đó là bài văn của tôi thi vào Đại Học-Cuộc Đời :
Anh Hà Huy Tập (tôi chưa biết tên, nhưng gọi ngay cho dễ nói) cho gọi tôi lên Bà Điểm, để coi thằng nhỏ ra sao.
Anh Bảy Trân dẫn tôi… ở nhà của chi Hai Sóc, tôi được gặp anh Tập. “Múa tay trong bị”. Tôi coi là một buổi trước ngọn tọa đăng rọi hai mặt thầy và trò, tôi ra mắt Đảng. (trong lý lịch tôi ghi ngày vào Đảng ngày này)
Anh Hà Huy Tập khen tờ truyền đơn có những tiếng nói trẻ con, làm động lòng người Mẹ, làm cho người đã thương thân phận anh nông dân nghèo, quanh năm chân lấm tay bùn, mồ hôi nước mắt chan cơm.
Tới đầu năm 1937, Jules Brévié sang trấn nhậm toàn quyền, Justin Godard sang thanh tra tình hình lao động, anh Tập đã biểu Chợ Đệm lấy tờ truyền đơn, in phát cho dân làm biểu tình đón rước.
Còn ngay bây giờ, anh lấy một mảnh giấy nhỏ viết cho Thanh Sơn giới thiệu người bạn trẻ này đến làm việc với các anh. Ký tên : “Đố biết ai ?”

10. Báo DÂN CHÚNG Đây !
Đảng cho tôi làm nghề VIẾT BÁO.
Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó.
Nhưng bụng cô thiếu nữ cũng nói thầm : thằng đó mình cũng ưng.
Trong bụng tôi thì có tiếng nói của triết gia Joubert
“Heyreux celui qui n’est propre qu’à une seule chose, en la remplissant il remplit sa destinée”
Nghĩa là : “Sung sướng thay cho ai chỉ hữu dụng có một việc gì, cứ làm tròn việc ấy là đã thỏa lòng với kiếp sống”.

Đầu hết là viết báo Le Peuple (ie. Nhân Dân) (mà anh CS Honel thay cho tên L’Avant-garde (ie. Tiền Phong)).
Tôi nhớ tới bây giờ :
Anh Nguyễn An Ninh ra tòa để trả lời lời cuối cùng của chính phủ (l’ultimatum du gouvernement)
– “Sao nhà nước đã ra lịnh cho các anh giải tán các Đại hội Đông dương, mà sao các Ủy ban Hành động hãy còn ?”
Nguyễn An Ninh đáp :
– “Hảy coi Đông dương Đại hội là của tôi đi, thì được lịnh giải tán thì nó giải tán rồi. Còn Ủy ban Hành động là của quần chúng, tôi quyền gì mà giải tán nó.”

Tôi đang làm phóng viên, đứng gặm viết chì nghe, ghi phiên tòa xử. Khi viết tường thuật, nhân cái “lời nói cuối cùng của chính phủ” tôi nghĩ ra “lời nói cuối cùng của Nguyễn An Ninh” mà cho chạy tít : “L’Ultimatum au Gouvernement” có nghĩa là lời cuối cùng (của Nguyễn An Ninh) nói với nhà nước.
Anh Ninh đang ngồi khám.
Chiều thứ bảy, chị Hai Sóc vào thăm. Khi về chị tạt qua tòa báo Le Peuple, chị cười và nói với tôi :
“Mày viết báo thế nào, anh Ninh nói: thằng Trấn viết chữ Tây thế này thì tôi ở tù rục xương”.

Tôi kể công trong sự ra đời của báo DÂN CHÚNG.
Ở Saigon vừa xảy ra :
Ông Tây Cendrieux, chủ một nhà in nhỏ ở đại lộ Bonard (nay là Lê lợi) làm khai, ra báo quốc ngữ lấy tên là Dân Quyền. Người An nam, Giáo sư Võ Thành Cừ đứng tên Gérant.
Báo ra bị hốt. Cendrieux kiện tới bên Tây. Bên Tây cho Cendrieux thắng kiện. Nhưng nhà nước thuộc địa bỏ gì trong tai, trong túi ông, ông nghỉ chơi luôn.
Rồi thì một buổi bửng tưng, trẻ em Saigon rao om lên Cái Chuông ! Báo Cái Chuông đây thầy, nóng hổi vừa thổi vừa đọc đây.
Xe cây bóp kèn “cháy đâu, cháy đâu” chở lính không phải đi chữa lửa mà đi vừa đánh trẻ em, vừa thu báo, của Hoàng Minh Đẩu, được Nguyễn Văn Hảo cho 150 đồng, ra báo Cái Chuông rè và làm cho dân Saigon có chuyện cười chơi.

Rồi đến, có ai đâu lại ! Ta !
Hôm đó có chuyện, tôi đến phòng trạng sư Trịnh Đình Thảo. Ông nói với tôi về quan hệ giữa đạo luật và sắc luật.
Sắc luật không thể thay đổi, thậm chí hủy bỏ một đạo luật. Như về Tự do báo chí. Quốc hội Pháp thông qua Tự do báo chí.
Bên này toàn quyền lại ra sắc luật, ra báo phải xin phép. Như vậy chống hiến pháp rồi.
Ông Trịnh Đình Thảo lấy luật ra mà khuyên…

Tôi về nói với chị Hai Sóc : cho tôi gặp.
Và tôi được gặp người cũ Hà Huy Tập và người mới Nguyễn Văn Cừ.
Và Đảng đã cho ra báo, vượt qua phép của Tây.
Việc này, hồi đó ai cũng khen sức chạy của tôi cho tờ Dân Chúng ra đời thắng lợi, mà “ở trong” đã viết bài “ăn thôi nôi”

“DÂN CHÚNG” của các bạn đã được một tuổi.

“Ngày hôm nay là ngày kỷ niệm đệ nhất chu niên của tên lính tiên phong cho Tự do báo chí xứ này tức là tờ Dân Chúng yêu quí của các bạn.
“Dân Chúng” được một tuổi.
Một năm chiến đấu để nâng cao trình độ tinh thần của quốc dân, chống thế lực phản động.
Một năm dằn vặt với tài chính để cho tờ báo được luôn hầu chuyện cùng quốc dân.
Ba trăm sáu chục ngày sống và làm việc của Dân Chúng cần phải đem ra đây cho các bạn yêu quí của nó được biết.”

Một năm qua !
Nhớ lại những lúc bắt đầu đem in tờ báo Dân Chúng số 1 chúng tôi không sao quên chí cương quyết hy sinh và làm việc của các bạn trong tòa báo.
Chúng tôi bây giờ và ngày nay cũng thế, chỉ nhờ sức ủng hộ của độc giả, đem hết tài lực phụng sự cho quốc dân. Kiếm được 100 đồng bạc và căn cứ vào vụ báo Dân Quyền, chúng tôi quyết định cho ra tờ báo không xin phép, chúng tôi đưa khai báo cho Biện lý cuộc đúng theo luật Tự do báo chí. Biện lý cuộc gởi lại cho chúng tôi lúc bấy giờ biên lai chứng nhận (récépissé), một phần mừng cho chúng tôi.
Chúng tôi liền đi tìm nhà in. Tới đâu đưa récépissé ra là bằng mướn in, nhưng không một ông chủ nào dám nhận in tờ báo chúng tôi. Mãi đến 19-7-1938, Mr. Fauquenot, chủ nhà in S.A.T.I. chịu in với giá rất mắc; chúng tôi cũng vui lòng.
Với số tiền dự bị ít ỏi, với một giá in rất cao, chúng tôi định ra 3 số liên tiếp mặc dù nhà cầm quyền có thể đến tịch thu, nên chúng tôi đành cho ra 4 trương cỡ nhỏ.
Chúng tôi quả quyết hy sinh. Trong lúc làm việc cứ chờ nhà cầm quyền đến và chúng tôi đã sẵn có những câu trả lời. Chúng tôi cũng dự bị hoàn cảnh khiến nên, cho một vài người chúng tôi “nằm khám” để gây ra một dư luận rầm rộ, rộng rãi về Tự do báo chí của một dân tộc mất hết quyền tự do.
Khi ngồi tại nhà in để sửa bài, một tiếng động, một tiếng còi xe hơi đã làm cho chúng tôi hồi hộp tưởng chừng như xe nhà cầm quyền đã đến.
Hết sắp chữ đến lên khuôn và in ra máy số đầu chúng tôi đã sống trong sự hồi hộp và sự vui mừng khoan khối. Máy chạy báo in ra từng số càng chồng chất lên cao, chúng tôi càng vui mừng hơn nữa.
In xong 1.000 tờ báo, trời đã chiều tối, chủ nhà in lại làm khó dễ. Như mọi tờ báo đã xin phép, cứ đem depôt legal 6 tờ là được. Đàng này không. Ông chủ nhà in buộc để đúng giờ làm việc và có chữ của Biện lý cuộc mới được lấy báo.
Đêm ấy 21-7-1938, chúng tôi ở lại nhà in nài nỉ, xin lấy báo ra đặng phát hành nhưng vô hiệu. Mưa tầm tã. Chúng tôi vẫn đi đi lại lại để thăm chừng mấy số báo ông chủ cho người canh gác để coi mấy tờ báo nhỏ nhít ấy ngày mai có được chào quốc dân hay là phải vào kho sở mật thám.
Mặc dầu ông chủ nhà in không cho lấy trước một tờ báo nào, chúng tôi trà trộn một hồi cũng giấu được 10 số và trời mưa xối xả, chúng tôi cứ việc đạp xe máy đem về cất để dành. Nếu có trở ngại, chúng tôi cũng đã có một số báo để làm kỷ niệm.
Sáng ngày 27-7-38, tức là ngày hôm nay năm ngối, sau khi được chữ ký của Biện lý, ông chủ nhà in mới cho lấy báo. Tức thì tờ Dân Chúng số 1 bán 2 xu bay ra khắp thành phố Saigon và các nơi trong xứ.
Ngày ấy Biện lý cuộc cho đòi người quản lý để hỏi cách thức ra báo hàng ngày hay hàng tuần, cỡ lớn hay cỡ nhỏ mà thôi.
Các giới thợ thuyền, nông dân và các phần tử khác trong xứ đều hoan nghinh, vừa ngạc nhiên thấy tờ Dân Chúng được xuất bản không xin phép. Mỗi ngày chúng tôi đọc không biết bao thơ từ, hoan nghinh, khuyến khích, ủng hộ gởi đến.
Liền đó chúng tôi đến viếng những nhà tai mắt các nhà báo xứ này. Người nào cũng công nhận việc làm ấy hy sinh chính đáng.
Báo Dân Chúng liền vọt lên 2.000 và nhờ tiền ủng hộ của các nơi gởi đến khá nhiều nên chúng tôi cho ra 2 lần một tuần và chỉnh đốn bài vở cho đúng đắn.
Chúng tôi can thiệp ngay đến vấn đề chia đất công điền cho dân nghèo mướn và bỏ thuế thân.
Đến số 4 báo lên đến 3.000 rối 3.500. Các nơi anh em gởi bài vở tin tức về rất nhiều nên đến số 9 chúng tôi cho in tới 4.000 và thêm 2 trương.
Càng tiến tới mà không có gì trở ngại, chúng tôi sửa nội dung và hình thức cho xuất sắc hơn nữa.
Tới số 10, chúng tôi cho ra cỡ lớn với giá 3 xu.
Các tờ báo khác cũng dựa theo báo Dân Chúng mà ra mắt độc giả.
Một sự thắng lợi vẻ vang cho sức chiến đấu của dân ta từ mấy mươi năm mà nhất là từ những năm 30-31 và Đông dương Đại hội.
Báo cứ giữ y số 400 mãi đến số 28, kỷ niệm 21 năm cuộc Cách mạng Tháng 10 ở Liên Xô, số báo lên 6.000. Đến khi kỷ niệm 9 năm ngày thành lập Đảng CSĐD, số báo nhảy vọt lên đến 10.000.
Từ đó vua Bảo Đại cấm lưu hành báo Dân Chúng ở Trung kỳ nên báo đành sụt xuống 7.000.
Cứ như thế sau này, vua Cao Mên cũng bắt chước cấm báo Dân Chúng lai vãng đến Kim Thành, số báo còn 6.000.
Mặc dầu những chuyện khó khăn trở ngại, số Dân Chúng Xuân lên đến 15.000. Dân Chúng còn đứng vững trên đàn ngôn luận, nhờ có một con đường chính trị đúng đắn, nhờ sức ủng hộ của quần chúng. Dân Chúng can thiệp vào việc ân xá chính trị phạm, vụ dân đói ở Cà Mau, yêu cầu cải thiện đời sống cho binh lính, đòi bỏ giấy căn cước, chống nạn tăng tiền phố, đòi nới rộng quyền tuyển cử, đòi cho tự cho tổ chức Ái hữu và Nghiệp đoàn, nêu cao khẩu hiệu “Mặt trận Dân chủ Thống nhất Đông dương”, đòi đánh thuế lũy tiến, đòi phòng thủ Đông dương.v.v.

Kịp đến kỳ tuyển cử Hội đồng Quản hạt, Dân Chúng bị khủng bố, tiền bạc sổ sách bị tịch thu, nhân viên trong tòa báo bị bắt và ngày hôm qua đây, các anh Kỉnh, Kiết, Thủ đã bị đưa ra tòa, nhưng còn đình lại 5 ngày mới xử.
Mặc dù chính phủ khủng bố, chúng tôi ráng sức giữ vững thành tích vẻ vang của Dân Chúng và tiếp tục cho xuất bản Dân Chúng để tham gia vào cuộc tuyển cử.
Trong lúc tuyển cử, Dân Chúng nhờ quốc dân ủng hộ nên ra hàng ngày, xuất bản tới 10.000.
Sau tuyển cử, Dân Chúng bị khủng bố một lần nữa, anh Huỳnh Văn Thanh làm quản lý, bị giam và chưa biết ngày nào được ra tòa, không kể 1.000 quan tiền phạt và việc anh bị buộc tội dán áp phích không có con niêm trong kỳ tuyển cử.
Lúc này Dân chúng đành phải tạm mỗi tuần một lần. Để kỷ niệm Đệ nhất Chu niên của Dân Chúng chúng tôi in đến 10.000 số rồi đây, chúng tôi ráng tổ chức và sửa đổi lại làm tờ Dân Chúng, tên lính tiên phong cho tự do báo chí xứ này được xuất sắc hơn, được rộng lớn hơn và có thể đi đến xuất bàn hàng ngày.

“Anh, chị em đồng bào ! Tờ báo của anh chị em sống và chiến đấu được một năm. Nó đã làm được nhiều thành tích vẻ vang, nó nói rõ sự uất ức của dân tộc bị trị, nó khuyến khích sự đoàn kết tranh đấu của chúng ta để cải thiện đời sống cho dân chúng.
Vì thế mà cơ quan ngôn luận của anh em bị khủng bố, bị làm khó dễ.
Nhưng nó vẫn sống và một năm qua đã chứng tỏ sự hy sinh chiến đấu của anh em phụ giúp ủng hộ nó. Một năm chiến đấu của Dân Chúng là như thế. Toàn thể anh chị em hãy gắng sức cùng chúng tôi làm cho tờ báo yêu quí của chúng ta trở nên một tờ báo hàng ngày đủ sức chống chỏi với phản động, để binh vực hòa bình tự do, cơm áo cho đồng bào chúng ta.”

P.C.

Tôi chép bài báo này rồi gởi cho Quốc hội nghiêm xét nỗi lòng của người Cộng sản cũ, những người kháng chiến cũ. So đo chế độ thực dân với chế độ (gì ?) của ta.
Bài kỷ niệm trên đây có nói : khi tờ Dân Chúng số 1 được yên
“Chúng tôi can thiệp ngay đến vấn đề chia công điền cho dân nghèo mướn, can thiệp vụ dân đói Cà Mau”.
Đó là Đảng thầm kín khen tôi, viết bài và phóng sự về tình cảnh nông dân.
Tôi ký hiệu là Uy Đông.
Chỉ có Nguyễn Văn Kỉnh nghe tôi “chiết tự”, nói đó là giọng đọc chữ Tây “Qui donc”

Thời đó sở mật thám hay mời Gérant (ie. người quản lý) tờ báo đến hỏi bài này, bài kia là của “Qui donc ?”
Ai viết, làm cho người làm báo mà hiểu sự đời và can đảm (ít nhất như cho tôi) phải ngổ ngáo trả lời rằng :
– “Pháp luật không cho phép nhà đương cuộc hỏi vậy!”

Luôn tiện xin Quốc hội đọc bài của tôi đăng trong Dân Chúng số ra ngày 22-10-1938.
Cái tựa không, thuở ấy đã làm cho bạn ghê xương cho tác giả.

“Chung quanh dân đói biểu tình ở Hậu giang.
Chính phủ hãy lấy can đảm mà nhận SỰ THẬT, NHIỆM Vụ của mình”

Bài báo này có phần kết thúc.
“Chúng tôi kịch liệt phản đối sự giam cầm người đi biểu tình và kêu gọi chính phủ hãy can đảm mà nhìn nhận sự thật để cho người vô tội không bị tù oan. Hãy có can đảm mà nhận rõ nhiệm vụ của mình để mưu những phương pháp hay hơn lối khủng bố, để cứu vớt đám dân sắp chết.
Một lần nữa, chúng tôi lặp lại mấy khoản đề nghị của chúng tôi và mong chính phủ hãy cần kíp thực hành cho dân nghèo nhờ.
a/ trợ cấp chu toàn cho dân đang đói được tạm no.
b/ mở lạc quyên, cho phép quyên góp.
c/ mở các cuộc kiến trúc để có việc làm cho dân đói.
d/ miễn thuế cho họ.
đ/ thả ngay những người bị bắt vô cớ.
Uy Đông

a. Tôi làm báo.
Tôi thấy lại sắc mặc tươi rói của má tôi khi nói với mấy bà bạn :
– “Con tôi viết nhựt trình.”
Tôi đổi dòng suy nghĩ để nói chuyện cho vui.

Người viết nhựt trình, mà lại là nhựt trình của đảng thì là người đã sống trong lòng dân, để nói cho dân nghe những điều của thời đại mà người dân cần biết. Viết nhựt trình là gây dư luận cho dân nói những điều cần thiết cho sự sống của dân.
May quá tôi đã sớm đọc được trong “lịch sử triết học” mấy câu nói của phái dân chủ cổ Hy Lạp :
“Mọi việc ở đời đều phụ thuộc vào dân, và đến lượt người dân phụ thuộc vào lời nói”.

Và tôi đặt ra cho tôi : viết nhựt trình để có lời cộng hưởng với lời nói của dân.
Phước cho tôi ! Hồi còn học năm thứ 3 Petrus Ký, tôi nhờ cháu Phan Ngọc Tôn (về sau nó là ông bác vật về “cầu cống”, người Đông Dưong thứ sáu đổ đạt trường “Ponts et Chaussèes de Paris”), nó kèm tôi viết Pháp văn, để sang năm thi diplôme. Nó biểu tôi đọc Thánh kinh (La Sainte Bible) mà cố gắng viết dễ hiểu theo như vậy.
Tôi viết sao nổi theo như vậy. Nhưng tôi biết được cái “nguyên tội” mà người thường hay gọi là “tội tổ tông”.
Tôi viết báo, đêm khuya ngồi nặn chữ, chuyện tội tổ tông này cộng hưởng với lời của K.Marx, trong lòng tôi :
“Không sợ hãi những kết luận của chính mình và không lùi bưóc trước sự va chạm với những kẻ cầm quyền”

Tôi ngồi viết báo, tai có nghe tiếng khua của chùm chìa khóa khám lớn, và tiếng chuông của nha thờ Đức Bà, gợi “tội tổ tông”.
(tôi nghĩ đến bạn có nghe, nhưng không rõ ất giáp, nên tôi giở Kinh thánh mà chép ra đây miếng lại miệng ăn chắc thấy ngon).

“Vào ngày Yakweh Dieu (Ya vê Thiên Chúa) làm ra đất và trời thì trên đất chưa có bụi cây, đồng ruộng nào, chưa có cỏ lả đồng ruộng nào vì Ya vê Thiên Chúa không cho mưa xuống trên đất và chưa có người để canh tác đất đai. Một con nước từ đất đẩy lên và cho cả mặt đất uống đã. Ya vê Thiên Chúa đã nắn hình người với bụi lấy từ đất đai và Người đã hà hơi sống vào mũi nó và người đã thành mạng sống.
“Và Ya vê Thiên Chúa đã trồng vườn cây ở Eden về phía Đông và Người trong đó người đã được Người nặn ra. Và Ya vê Thiên Chúa đã cho từ đất mọc lên mọi thứ cây cối sướng mắt và ăn ngon lành và cây sự sống ở giữa vườn cùng cây sự biết tốt xấu.
Một con sông từ Eden chảy đến để cho vườn uống và từ đó, nó chia làm bốn nhánh. Tên nhánh thứ nhất là Phison, nó chảy vòng quanh tất cả đất Hevilath là nơi có vàng. Vàng đất ấy là thứ vàng tốt ở đó cũng có nhũ hương và mã não và tên sông thứ hai là Gehon nó chảy vòng quanh tất cả đất Couseh. Và tên sông thứ ba là Tigre. Nó chảy phía đông Assur và sông thứ tư là Euphrate. Ya vê Thiên Chúa đã đem người đặt trong vườn Eden để nó canh tác và giữ vườn.
Và Ya vê Thiên Chúa đã truyền dạy người rằng : “Mọi cây trong vườn, ngươi đều được ăn. Nhưng cây “sự biết tốt xấu” ngươi không được ăn vì ngày nào người ăn nó, tất người sẽ chết.”
Ya vê Thiên Chúa đã phán : “không tốt, nếu người chỉ có một mình. Ta sẽ làm cho nó có cái gì trợ giúp đương đối với nó” và Ya vê Thiên Chúa đã nặn ra từ đất đai mọi thứ dã thú và mọi giống chim trời và Người dẫn đến cho người để xem nó gọi làm sao. Và mọi mạng sống hễ người gọi sao thì tên là vậy và người đặt tên cho mọi thú vật và chim trời cùng mọi dã thú. Nhưng phần người, người vẫn không gặp được sự trợ giúp nào đương đối.
Và Ya vê Thiên Chúa đã giáng xuống trên người một giấc tê mê và nó ngủ thiếp đi. Và Người đã rút lấy một xương sườn của nó, đoạn lấp thịt vào. Và trên sườn đã rút từ người, Người đã xây thành người đàn bà. Được Người dẫn đến với người. Và nó đã nói :
– “Phen này nàng là xương tự xương tôi, thịt tự thịt tôi.”
– “Nàng sẽ đội danh là “đàn bà” vì đã được rút từ đàn ông.”
Bởi thế mà đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khăng khít với vợ mình và cũng sẽ nên một thân xác.(et ils deviennent une seule chair)
Và cả hai đều trần truồng, người và vợ nó, mà chúng không hỗ ngươi.

SA NGÃ (người bị đuổi ra khỏi lạc viên)
Vã rắn là con vật tinh ranh hơn mọi dã thú, Ya vê Thiên Chúa làm ra. Nó nói với người đàn bà.
“Hẵn Thiên Chúa đã phán : Các ngươi không được ăn cây nào trong vườn ?” Người đàn bà nói với rắn : “Quả cây trong vườn chúng tôi được ăn. Nhưng về quả cây ở giữa vườn thì Thiên Chúa đã phán : “Các ngươi không được ăn, không được rờ đến kẻo phải chết” Và rắn đã nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu!”
“Quả nhiên Thiên Chúa biết : ngày nào các ngươi ăn nó, mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như những Thiên Chúa biết cả tốt xấu.” Và người đàn bà đã nhìn, quả là cây phải ngon. Mà nhìn thì sướng mắt. Nó đáng quí thật, cái cây ấy, để được tinh khôn.

Và bà đã hái lấy quả mà ăn, bà cũng trao cho chồng ở bên bà. Và ông đã ăn và mắt cả hai đứa đã mở ra. Chúng biết là chúng trần truồng. Chúng đã khâu lá giả làm khố của mình.
Chúng nghe tiếng bưóc của Ya vê Thiên Chúa tản trong vườn với gió hiu hiu thổi chiều hôm, và người vợ đi núp mình khuất mặt Thiên Chúa giữa những cây trong vườn. Và Ya vê Thiên Chúa gọi người mà rằng : “Ngươi ở đâu ?” Và người nói “Tôi nghe tiếng bưóc của Người trong vườn và tôi sợ, vì tôi trần truồng nên tôi đã núp mình đi”. Và Người đã phán : “Ai đã mách cho ngươi là ngươi trần truồng ? Họa chăng là ngươi đã ăn cây ta đã cấm ngươi không được ăn ?” Và người thưa : “Người đàn bà mà Người đã đặt bên tôi, chính y thị đã hái nơi cây ấy cho tôi, nên tôi đã ăn”.
Và Ya vê Thiên Chúa đã nói với người đàn bà : “Tại sao ngươi làm thế ?”
Và người đàn bà thưa: “Rắn đã phỉnh tôi nên tôi đã ăn”. Và Ya vê Thiên Chúa phán với con rắn :
“Bởi ngươi đã làm thế thì ngươi hãy là đồ chức dữ giữa mọi thú vật, cùng dã thú hết thảy ! Ngươi hãy lê bụng và ăn đất bụi mọi ngày đời người !”
“Ta sẽ đặt hận thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống nó. Dòng giống nó sẽ đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ táp lại gót chân (et tu la meutriras son talon)”

Với người đàn bà, Người phán : “Ta sẽ gia tăng đau đớn cho ngươi trong việc thai nghén của ngươi ! Trong đau đớn ngươi sẽ sinh con đẻ cái. Với chồng ngươi hăm hở, đôn đả.
Nhưng nó sẽ thống trị ngươi.
Và với người, Người phán : “Vì ngươi theo tiếng nó mà ăn cây. Ta đã truyền cho ngươi rằng ngươi không được ăn thì đất đai này hãy là đồ chức dữ, vì cớ ngươi có đau khổ ngươi mới nhờ được nó mà ăn, mọi ngày đời ngươi.
Những gai cùng gốc, nó sẽ mọc lên cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ lả ngoài đồng nội. Mồ hôi đẫm mặt, ngươi mới có bánh ăn, cho đến lúc ngươi về lại bụi đất vì từ đất ngươi được rút ra.
Bởi ngươi là bụi đất, ngươi sẽ trở về đất bụi.
Người gọi tên vợ mình là Eve vì bà là mẹ các sanh linh hết thảy. Và Ya vê Thiên Chúa đã làm cho người và vợ áo chùng bằng da thú mà mặc cho chúng và Ya vê Thiên Chúa đã phán : “Này người đã nên như một vị trong chúng ta biết được tốt xấu. Bây giờ phải làm sao cho nó đừng giương tay hái cả cây sự sống nữa mà ăn, hầu được sống mãi mãi”. Vậy Ya vê Thiên Chúa đã xua người khỏi vườn Eden. Người đặt trần đồng những Chérubins và gươm hỏa hào chớp chớp để canh giữ lối cây sự sống”.
(Này các bạn già CS mình ở vàm ! Đường đi vào sự sống mà có được chuyện ăn trái cấm này có phải là hay tuyệt hay không.
Chúa phán : “Này người vì ngươi ăn trái cấm mà biết được tốt xấu. Vì ngươi không nghe ta nên hãy làm lấy mà ăn”
Từ ấy con người lấy trí tuệ mà xử sự với cuộc đời mà dẫn dắt con người làm cuộc cách (mạng) nhân văn mà người của nước Pháp 1789 đã nổ lực cho thế giới học theo.
Xin anh em bên đạo, rộng lòng đối với cuộc suy nghĩ tự do, của một người vô thần trẻ đang đi vào nghiệp làm báo).

Chắc bạn cũng thấy tôi làm như đứa trẻ đang chơi sắp gỗ thành hình, tôi cắt dán hình này hình nọ cho bạn nhìn, nghỉ mệt cho con mắt.
Cái kiếp làm báo đảng của tôi chỉ có 3 năm.

3 năm trước nhập thế sự bằng một tờ truyền đơn.
Hôm nay là một bài diễn văn vào buổi mãn kiếp.
Theo sáng kiến của 2 lương hữu báo chí (Tây và Ta) một hội nghị báo chí được tổ chứ ở Saigon. Cuộc họp này phải được nhà báo cao tuổi là cụ Huỳnh Thúc Kháng khai mạc. Nhưng gần tới ngày họp, cụ điện vô cáo bịnh. Bởi vậy tại hội quán AJAC (lương hữu báo chí Nam kỳ), người ta họp chớp nhống lựa người trẻ tuổi nhất.
Thầy kiện J.Loye hất hàm về tôi.
Ông Bút Trà ngồi bên cạnh, kéo tôi đứng dậy.
Ông này “chủ” tờ báo Saigon, còn giới thiệu tôi, người chiến sĩ có công vừa rồi cho Tự Do báo chí.
Tôi không làm khách, thay mặt cho báo Dân Chúng tức là cho Đảng mà nhận lời.
Bài diễn văn của tôi, lời lẽ nó dầu sao…cũng dễ thương.
“…
Thưa các Ngài,
Thưa các bạn,
Đứng trên diễn đàn giờ này để chào các ngài và các bạn, tôi vừa được hân hạnh vừa đặng một sự vui mừng.
Hân hạnh, thay cho nhóm Dân Chúng, một nhóm luôn luôn lấy sự đòi các quyền Tự do dân chủ, cho dân tộc VN làm cái mục đích tranh đấu hàng ngày của mình trong giai đoạn này, trong một cuộc hội hiệp gồm các phần tử, mặc dầu đứng vào địa vị giai cấp khác nhau, thuộc nhiều xu hướng chính trị bất đồng nhưng trong óc vẫn đồng một tinh thần cao thượng là yêu chuộng tự do,
Vui mừng được nhận sứ mạng ấy làm cái bổn phận cao trong một đứa con của dân tộc VN.
Tôi hiểu cái bổn phận ấy là ngoài sự tranh đấu vì giá trị kiếp sống của mình còn phải binh vực sự phát triển của dân tộc, đòi tự do. Quyết phải có tự do mới mong bảo tồn dân tộc được.

Cái đều kiện sinh tồn của cả dân tộc hẵn là phải có tự do đủ thứ kia, chớ có phải chỉ là tự do ngôn luận không đâu ? Nhưng ở đây hầu hết các Ngài, các bạn muốn dành phiên nhóm quí hóa, hiếm hoi này riêng cho sự tự do ngôn luận trước đã, đi coi !
Ở xứ này, tuy lần lượt ty kiểm duyệt đã bỏ, đến ngày 30-8 năm vừa rồi do sức tranh đấu của toàn thể dân chúng, nên báo chí có quyền xuất bản nhưng tự do ngôn luận vẫn còn nằm trong tay chính phủ. Thêm một mớ hình luật ác nghiệt giúp tay, chính phủ luôn đàn áp tư tưởng của dân, đàn áp với một kho dẫy đầy khí giới sắc bén.
Xin hãy dòm quanh chỗ ngồi của mình, quí ngài và nhất là các bạn làm báo sẽ thấy sự vắng mặt của rất thảm đạm tê tái của mấy ông Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Trần Văn Hiển, Trần Văn Quảng, Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Số… Chính đó là những vị tử đạo của tư tưởng tự do, chính đó là những nạn nhân đáng thương hại nhất của các sắc lịnh quá gắt gao đặt ra để kiềm tỏa tự do ngôn luận.
Ả Rập danh ngôn có câu : “Người ta ném đá lên cây có trái vàng” muốn giết cả ý chí của dân, người ta lại nhắm vào những người có trí thức, có can đảm đem ra mà trần tố.
Tù đày những người đó, chưa cho là đủ, chính phủ lại còn dùng một chính sách báo thù sâu sắc gia cho mỗi người 5, 10 năm biệt xứ làm cho sự sống của họ vất vã long đong để giết bao nhiêu tinh thần khí phách.

Muốn tránh cho xã hội văn minh ngày nay một sự điếm nhục, tôi không kéo dài hồ sơ các cuộc đàn áp dư luận quần chúng bằng lối tù đày làm chi.
Trong tòa án, tự do ngôn luận có may mà khỏi thần công lý chận cổ, thì ngoài đường phố, khắp dân gian, nhiều cơ quan khác của chính phủ cũng lập tâm xiết họng.
Cho ra một tờ báo, người ta không vui lòng, anh quản lý ở tù mà những người viết báo, đến anh chạy giấy cũng mang chung số phận.
Người đi bán báo dạo phải xin giấy ôm báo đi bán ngoài đường. Nhưng có kẻ vì sự sống phải chạy ngược chạy xuôi, sao lục khai sinh, chụp ảnh đến xin giấy ấy, người ta lại không cho vì còn phải tấm giấy thông hành.
Người đi phát truyền đơn bị nhốt bốt, thầy thợ cầm truyền đơn vào sở, liền mất chén cơm.
Biểu ngữ dán bên đường dầu đúng luật bách phần lớn cũng bị lột liệng, chà đạp.
Nhiều người viết biểu ngữ, vừa rồi phải chịu phạt vạ trước tòa.
Tuy đã đánh thuế cò thơ (thư) nhưng người ta cũng tìm thế, nhất là mấy lúc sau này, không trao báo cho độc giả. Từ sự đàn áp ngôn luận, người ta lại đi đến sự trở ngưng sự làm việc của tư nhân. Nhà in, nhà báo, sách tuy hàng năm phải chịu thuế cao nhưng bị hăm he không đặng ấn lốt, phát hành báo làm ghê tai, ghê mắt chính phủ.
Còn nào tăng cao thuế giấy, đến 150% để sự xuất bản báo chí truyền rải tư tưởng tự do không dễ bề mà phát triển.
Thêm vào những hành động ấy, chúng ta không thể quên sự cấm sách bình dân, thứ cơm rẻ tiền cho trí óc ấy, thì hỏi còn quyển nào không bị cấm tàng trữ, lưu hành ?
Xứ Nam kỳ là xứ, ở Đông Dương, một mìng đã hưởng tự do báo chí mà quyền ngôn luận còn eo hẹp dường nào thì thử hỏi tình cảnh đồng bào Trung Bắc còn khốn đốn đến mức nào ?

Nếu phải kể một chính phủ nào đàn áp tự do tư tưởng, tự do ngôn luận một cách dã man nhất, khốc liệt nhất là phải nói ngay chính phủ Trung kỳ đã dùng phương sách bóp chết những tờ báo xuất bản trong địa hạt, cấm lưu hành tàng trữ sách báo xuất bản ở ngoài, hăm dọa và làm khó dễ độc giả, ngăn cản bắt bớ cổ động viên.
Đừng nói chi xa xôi, cứ kể từ sau khi Mặt trận Bình Dân lên nắm chính quyền ở Pháp, thì số báo chết ở Trung kỳ cũng trên số chục. Vụ án của hai dân biểu Nguyễn Xuân Các, Nguyễn Đan Quế đã cho ta thấy thái độ tàn bạo hiểm ác của chính phủ Nam triều đến bực nào rồi ! Thế mà nay cùng với thế lực phản động thuộc địa, họ đang vận động sáp nhập Bắc kỳ với Trung kỳ trở lại Hiệp ước 1884.
Quí ngài quí bạn đừng sợ tôi sẽ đem vấn đề này mà nói chính trị dài dòng. Không, tôi vẫn đứng chắc trên miếng đất tự do ngôn luận đấy thôi.
Vận động trở lại Hiệp ước 1884 là người ta ngoài cách cố tâm chia rẽ dân tộc VN, muốn kéo đồng bào đất Bắc đang sống trong tình cảnh ngộp hơi nín thở, trẩy sang một tình cảnh độc đốn hơn, ám chướng, chuyên chế hơn của bọn vua quan.
Chúng ta đã vì sự đòi Tự Do ngôn luận khắp nước mà giờ này đến đây nhóm họp thì bổn phận – đã nó là bổn phận của ta là phản đối sự trở lại 1884. Cùng chung một dân tộc thì cùng một vận mạng như nhau mới phải, ta không để ai riêng rẽ ta, ta không để ai chia xẻ đồng bào ta được.

Đứng trước sự kêu gọi tranh đấu, về sự thống nhất dân tộc VN, tôi tưởng chúng ta cũng nên nghiêng mình chào làng báo ngoài Bắc. Mặc dầu không có một hình thức tổ chức công khai cho anh em báo giới, Hà Thành đã thấy cơ nguy cho toàn thể dân tộc mà kết thành một khối. Chỉ còn trơng chờ sự đoàn kết của làng báo Nam kỳ chúng ta thì khối ấy sẽ thắng được cái thâm tâm chuyên chế của Đế quốc, của vua quan. Thời buổi này, họ đang cùng nhau âm mưu giựt lại các mục tự do nhỏ nhặt của dân mà trước tiên là đàn áp tự do ngôn luận.
Vì từ trước tới giờ ta có thấy chính phủ thuộc địa cùng vua chúa xứ này có nệ một phương pháp khốc hại nào đâu để đàn áp ngôn luận của dân.
Làm như thế tưởng đâu phá dập tắt đặng ngòi dư luận, trái lại người ta chỉ gây thêm sự ốn hận để làm cho dân chúng càng thấy tự do ngôn luận là cần thiết.
Từ trước đến giờ trong các cuộc biểu tình khắp xứ luôn luôn khẩu hiệu ấy càng đặng dân chúng nêu cao. Đà tranh đấu cho ta hưởng sự tự do xuất bản ngày nay là dân chúng đã hiểu rằng cần phải có tự do ngôn luận để tố cáo bao nhiêu nỗi vô đạo bất công của chính sách cai trị, để bày tỏ những nổi đau đớn khổ sở trong đời sống của mình.
Nói đến đây, tôi lại bắt nhớ ngay đến lời khí tiết của cụ Phan Chu Trinh, người mà tuổi trẻ của tôi không cho tôi hiểu rõ, để càng mến phục bằng quí ngài và quí bạn đã mến phục ông.

Tình cảnh dân ta thật là một đứa con bán, bị đẩy làm con mầy đứa ở nếu ta không biết mở miệng ra nói với nước Pháp rằng ta muốn thế này, ta xin thế khác, không được thế thì ta đói lòng, không được thế thì ta rét xác… Trăm sự ở sức mình, muốn sao mình phải nói, một người nói không công hiệu thì hai người nói rồi đến bốn, năm, sáu, bảy… mười người nói, một trăm, một ngàn rồi đến mấy muôn, mấy ức người, người nói, nói mãi cũng phải đến được, nếu ta không bằng lòng mà cùng nhau biểu tình thì chính phủ thi hành với ai ?
Ấy thế, quyền tự do ăn nói là then chốt các đặc quyền khác của dân tộc.
Thì các nhiệm vụ của chúng ta, các nhà làm báo, những kẻ viết văn phải đòi lấy tự do ngôn luận cho người ta không thể bẻ cán viết trong tay chúng ta, để ta làm đội tiên phong soi đường rọi nẻo cho dân tộc mình thốt khỏi phận con mày đứa ở”.

Thưa quí ngài,
Thưa quí bạn,
Trước mắt chúng ta kia là những viễn cảnh tối tăm u ám, khói lửa giặc giã mịt mờ.
Đứng trên tấm lòng yêu mến quê hương xứ sở, ta hãy xem, thiếu tất cả tự do, liệu dân tộc ta có thể tự tồn, tự vệ trong cuộc Xô xát sắn đến, nay mai không ?
Cái nguyên tố sinh tồn của dân tộc ta là tự do mọi điều tự do dân chủ.
Vì một dân tộc VN thống nhất cường thịnh, tự do, tôi khẩn thiết kêu gọi lòng yêu mến dân tộc của các ngài, các bạn để ngàn người như một đứng lên đòi : ngôn luận tự do.
Trên đường tranh đấu, bên cạnh quí ngài, quí bạn luôn vẫn có chúng tôi.
Trước khi rời diễn đàn này tôi xin đưa ra đề nghị :
Thành lập sau buổi nhóm họp này một Ủy ban tổ chức để đi tới sự thành lập báo giới cho Nam Trung Bắc kỳ, cho toàn thể Đông Dương để cần kíp tranh đấu chống sự trở lại Hiệp ước 1884.
Để tiến bưóc trên hình thức một mặt trận quốc gia dân chủ VN đòi thống nhất dân tộc, đòi thực hiện một Hiến pháp dân chủ cho xứ sở.
(Đăng lại trên Dân Chúng số ra ngày 30 Aout 1938)
…”
Cái bài này của thằng em nhỏ thật là siêu văn chương, thì còn nói ! Nó lại là siêu thời gian và siêu không gian.

Nếu ai có muốn đọc nó trong Quốc hội hay trong Mặt trận thì lấy đọc; sửa vài chỗ thôi nó vẫn cập nhựt mà lại thỏa lòng.
Ngày này chắc các bạn đọc nó mà cười.

Ngày trước Trung ương Đảng (tôi dùng mật mã là “ở trong”) buông tay cho đám công khai viết, có thấy gì sai thì sẽ nhắc bảo lại sau.

Cái bài diễn văn khá quan trọng này, tôi cứ một mình “như tôi” mà viết.

Thức suốt đêm. Viết rồi. Qua nhà báo đọc cho anh em nghe. Đám Xích Điểu, Minh Tranh, Lưu Quí Kỳ, Lê Văn Kiệt, Dương Trí Phú đều là người viết được, ngồi chung quanh Nguyễn Văn Kỉnh.
Nghe đọc rồi, Xích Điểu mau miệng nói bằng tiếng Tây : “C’est déclamatoire” (ie. khoa trương). Cũng là réo rắc.
Không ai nói gì nữa hết, nhường cho Nguyễn Văn Kỉnh nói “lời cuối cùng”. Ý ta nói :
“Con út của Phan Châu Trinh xỏ quần áo, thắt cà vạt cho ngon rồi đi. Sắp tới giờ rồi. Cứ vậy mà đọc. Cái văn nhuộm biền ngẫu, phùng mang trợn dọc. Nhưng déclamer, tập diễn thuyết. Người Saigon học giỏi. Ai đi chê cười lời chủ nhà mời vụng, mà quên mâm giỗ… có món ngon”.

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s