Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 20)

19. Về Khuyến Học, Diễn Thuyết và Viết Báo
Nói về khuyến học (từ khi Tây mới tới).
Vị toàn quyền thứ nhất sang cai trị Đông Dương là Paul Bert đã nói với bạn mình là Petrus Trương Vĩnh Ký rằng :
“Pháp quốc lập Cộng hòa dân chủ, thời đã lấy những chủ nghĩa CM 1789 mà thi hành.
Chính phủ tôi đang thay mặt tại đây mà phần riêng tôi cũng vậy, chúng tôi quyết định noi theo chủ nghĩa ấy.”
Khách quan mà nói, để dễ làm nảy ra cuộc văn minh tiến hóa, chính phủ thực dân đã lấy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ thay vào chỗ chữ nho học hành và thi cử.
Trong một dân tộc ngu hèn bị mất nước thì sự ham học là một điều của luân thường.
Để khuyến khích học Quốc ngữ, chính phủ thuộc địa có tài trợ cho nho sĩ, sớm biết Quốc ngữ dịch truyện Tàu.
Cái “dịch vụ” ấy đã lưu tên các ông : Nguyễn An Khương, Trương Duy Toản, Trần Phong Sắc, Đăng Thúc Liêng, Nguyễn Kim Đính…
Những nhà Tây học uyên bác bắt đầu từ Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký tới Nguyễn Háo Vĩnh, Phạm Công Bình, Hồ Biểu Chánh… đều… mà học giả Lê Thanh nói :
“Muốn nhờ ở sự văn minh của người Pháp mà gây một cuộc phục hưng cho nước mình về mặt tinh thần đang bị tù túng trong xã hội lạc hậu thua người ta, nay phải được như người ta, một xã hội không còn hợp lý nữa về chính trị, tư tưởng và văn hóa.”
Những người học giỏi lớp trước ở Nam kỳ đều theo Trương Vĩnh Ký mà “hết lòng hết sức với đời dạy nhau.”
Trương Vĩnh Ký viết tựa tác phẩn “Lịch sử Annam” bằng một câu rất đáng kính :

CHO HỌC TRÒ
Các trường đất Nam kỳ

Ở các học trò, ta xin hiến sách này cho các trò, vì làm ra nó là làm cho các trò coi.
Tâm chí của những học giả tiền hiền ở Nam kỳ là đặt cho mình nhiệm vụ viết sách cho đàn em.
Coi như bài học truyền miệng ở lớp đồng ấu đã có những câu ân cần khuyến học :
Ngon là mật mỡ tốt vàng son
Vì học mà nên, ở các con
Và học để mà :
Hai chữ công danh đua gắng chí
Tôi ngay con thảo nước nhà còn.
Thì cũng như văn hóa Âu châu, ai cũng bắt đầu văn nghiệp của mình bằng chữ La-tinh.
Học giả Nam kỳ đều bắt đầu viết, dạy luân thường như vậy.
Phải nói, cho các vị văn hóa của ta biết, vào năm 1888 “Đồng Khánh tam niên thập nhị ngoạt, thập ngũ nhựt” (ie. ?) người Annam ta đã lập ra nhà xuất bản, mà được gọi là :

a. Hữu nhân cuộc.
(Hữu là bằng hữu, nhân là nghĩa nhân)
Lập ra ở Quảng Nam. Chánh cuộc viên là Phan Hi Tô.
Nó có chương trình hành động, có tôn chỉ, mục đích.
“Coi sách Trương Sỉ Tải chẳng hệ tốn hao mệt mỏi gia công sắp đặt mướn in ra cho con trẻ học chữ Phang-sa, chữ Quốc ngữ và chữ Nho, thấy xa, cứ mối cang thường, cho còn lại góp nhóp truyện tích cổ kim so sánh thiệt hơn mà giữ phong hóa.
Ấy cũng là một cái viễn đồ chi kế nên ta hiệp nhau mà lập ra Cuộc hữu nhân.
(Dĩ văn hội hữu, dĩ hữu phụ nhân) mà phụ cải chí ấy cho con cháu ta cùng kẻ hậu sanh được nhờ sự đã học về sau.”
“Viễn đồ chi kế” là hứa hẹn về sau.
Ngay trước mắt, chương trình hành động của cuộc có tôn chỉ và mục đích nói là “chánh ý.”
“Chánh ý Cuộc hữu nhân là dang tay nhau ra mà giúp trong việc tổn phí mà in sách vở ra cho người ta học cho tiện, cho mau theo thời nay.”
Vừa nói đó là về sách vở in ấn.
Còn đây là tổ chức.
Khi tôi ra trường thì biết có hành vi “hào hiệp” của ông bà Nguyễn Đức Nhuận chủ báo Phụ nữ Tân Văn đã cổ động và cấp học bổng cho học trò nghèo đi Tây học.

Còn có tổ chức này thiệt là rầm rộ xứng danh.
Hội Nam kỳ khuyến học.
Đó là lập ra bởi :
Michel Văn Vĩ, Đoàn Quang Tấn, Le Thọ Xuân, Ngô Văn Phát, Vương Hồng Sển, Võ Văn Nhung (không biết còn có ai nữa).
Nam kỳ khuyến học bỏ ra sau lưng mình những mối dây cho các vị Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Huỳnh Tấn phát, Bùi Đức Tịnh, Tạ Bá Tòng nắm lấy mà đi “Truyền bá Quốc ngữ.”
(Những người sáng lập Hội truyền bá chữ Quốc ngữ đã làm một khối của CLB những người kháng chiến cũ mà học giả Bằng Giang đã nêu công trạng bằng một tập sách nhỏ, tựa là “Đường dây chưa dứt”)
Chung quanh Saigon- Cholon nhiều chi nhánh khuyến học hội đã được lập. Tiền thì nhờ địa chủ phú nông. Món ăn thì dựa vào thầy giáo. Nói như hội khuyến học Gò Đen.
Đứng đầu là Hội đồng Tồn. Cai tổng Lý. Điều hành mọi mặt là thầy giáo Gấm, thầy giáo Nguyễn Văn Tiếp.
Hội quán mở cửa không có ngày nghỉ, cho người quen thuộc đến ngồi đọc sách, hay mượn về nhà.
Hội khuyến học Gò Đen khai trường bằng một buổi “nói chuyện” của bác Hội đồng Tồn nói về lễ nghi phong tục. Mỗi chủ nhật đều có nói chuyện. Ngày chủ nhật kia, Nguyễn Văn Lộc thị thiềng (ie. ?) cho tôi nói về tính chất tiểu tư sản của quyển tiểu thuyết “Gia đình” của Khái Hưng. Có chủ nhật, thầy giáo Gấm giới thiệu “Quả dưa đỏ” của Hoàng Ngọc Phách.

Bạn đọc, có nghe tôi cười không ?
Ở một chợ (nếu gọi là thị trấn thì lớn quá) nhỏ như Gò Đen, Chợ Đệm mà có đủ, nào là Hội khuyến học, nào là Thơ xã và Nhà xuất bản.
Gò Đen có Thân Dân Thơ Xã.
Chợ Đệm có Tỉnh Dân Thơ Xã.
Đó là những nơi làm đại lý bán báo và sách tiến bộ của ba kỳ. Như Phong Hóa, Thế giới, Nhành lúa, Phổ Thông, Việt Dân. Về sau làm nơi phát hành Le Peuple, Dân Chúng.
Đó là nhà xuất bản Thân Dân Thơ Xã đã xuất bản của Nguyễn Văn Tạo, người con của Gò Đen; tập sách nói về “Mặt trận Bình dân chống Phát-xít”. Và không biế nó mò ở đâu ra mà tái bản “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh và Vân Đình (Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp ?).
Tỉnh Dân Thơ Xã ở Chợ Đệm đã được ông chủ nhà máy xay Võ Lợi giúp cho để in của tôi “Đông Dương đứng trước một cuộc Đại Cải cách” (nhưng anh Hà Huy Tập biểu khoan, hãy lấy nó mà in thành truyền đơn, chực đơn Brevié). Có anh Hứa Khắc Lợi, tục gọi là Bảy Cứ, nhà tu hành trở thành Hòa thượng Thích Thiện Hòa bỏ tiền ra in “Một trăm bài thuốc gia truyền”.
(Dạ thưa Quốc hội, ngày xưa, dưới thời Pháp thuộc việc xuất bản một quyển sách dễ như cơm bữa)
Coi như nói khuyến học như vậy là vừa.
Còn để nói về Diễn thuyết.
Trước hết phải nói đến một cái tên Tây

b. SAMIPIC.
Đó là :
S, Société (hội)
A, d’Amélioration (bồi dưỡng cho khá hơn)
M, Morale (uận lý)
I, Intellectuelle (trí tuệ)
P, et Physique (và thể lực)
I, des indigènes (của người bản xứ)
C, Cochinchine (Nam kỳ).
Chữ Samipic dễ nói nên người ta nói nó chớ không ai dùng chữ “Hội Nam kỳ Đức Trí Thể dục” mà rủ nhau vào nơi ấy nghe “diễn thuyết” chơi !
Buổi nghe lạ tai quá là buổi Phan Văn Hùm nói về Biện chứng pháp mà ông thông báo rằng : “Ông nói dốt về phép Biện chứng của Marx.”
Nhớ buổi hôm ấy Nguyễn Văn Tạo có ý liến là việc phổ thông hóa học thuyết Marx là không nên, thậm chí “nói dốt”, nó là nói sai, là phản lại nó đi. (Sau đó có xuất bản “Biện chứng Phổ thông” của Phan Văn Hùm)
Hôm nọ, tôi có đi gặp Vương Hồng Sển hỏi coi Samipic là ai lập. Hiểu ý bạn, nên Vương Hồng Sển trả lời liền, rất gọn :
– “Ta, chớ không phải Tây.”
Ta là Bác vật Lưu Văn Lang xin phép xổ số hai lần, kiếm được 60.000 đồng mua đất cất nhà.
Tôi có nghe ông Trần Văn An, mặc blouse trắng, đội mũ như Bác sĩ có thêu chữ đỏ Docteur économique, nói về Hợp tác xã tiêu thụ của Charles Gide.
Ông Văn Vĩ nói về kim bản vị và ngân bản vị.
Ông commis Vàng nói về thuế gián tiếp, người tiêu dùng phải chịu…
Đều là những điều nghe bổ ích. Tôi hồi tưởng buổi chiều chủ nhật gian đầu trời nắng từ một giờ trưa coi trận banh Thủ Dầu Một đá với Etoile Gia Định, vào Louvain tắm nhà tắm công cộng hai xu, ra đường làm tô mì, rồi cuốc vào Samipic nghe diễn thuyết thì đầu óc sẽ tươi tắn và sáng suốt.

c. Kỷ niệm nhà cách mạng tiền phong của Việt Nam : Nguyễn An Ninh

Chết trong địa ngục còn non 14-8-1943
NGUYỄN AN NINH
1900-1943

Tôi muốn gộp các hoạt động trí tuệ của Saigon
Khuyến học
Diễn thuyết
Ra báo
để nói cái luân thường của chí sĩ.
(Đến chỗ nào thấy dễ viết tôi sẽ kêu anh.
Vã chăng chữ “anh” là một mức độ quý mến. Người Saigon có gọi “anh Ninh”, “anh Tạo”; còn thì “ông Thâu”, “ông Hùm”.
Lúc gần nhau thì tâm phúc, anh kêu tôi bằng “thằng”, tôi gọi anh “anh Năm”).
Tôi không viết tiểu sử Nguyễn An Ninh (NAN) (vì phải là nơi khác cho có khuôn phép).
Tôi chỉ muốn nói môi sinh chính trị mà Nguyễn Hộ và tôi đã lớn lên và miêu tả thần tượng của thanh niên, người mà tư tưởng yêu nước đã thuyết phục được các tầng lớp nhân dân, đã vạch ra luân thường cho trí thức, sinh viên và học sinh. Cho chúng tôi.

NAN sinh năm 1900.
Từ nhỏ sáng dạ thông minh. Đi học trường Tabert, qua Chasseloup Laubat (nay là Lê Quý Đôn), ra Hà Nội, rồi sang Pháp. NAN có nói về thời ấy của mình : “Đã rời ở trường Đại học luật Hà Nội, ngay khi vừa mới lên năm thứ 2, để sang Pháp tiếp tục học, ra đi bằng loại vé tàu trên boong. Đến Paris phải đi làm để kiếm sống; vừa làm lụng, vừa học trong vòng 3 tháng đã lấy được bằng cử nhân.”
Ông cử nhân 18 tuổi này nán lại Pháp để tự học thêm. Thư viện Paris đủ sách cho người “ham đọc”. Trong thời kỳ đó :
“Tôi rất mê Thích-ca và Jesus.
Vì xã hội không hạp với ý muốn của mình mà Jesus bỏ cả điều tư, giữ trong sách, thoát chốn bùn hôi, đánh đổ bọn hủ lậu một cách khí huyết làm cho máu thanh niên của mình cũng lắm khi sôi nổi, đau thương. Còn Thích-ca mà tôi thích vì Thích-ca chỉ ra rằng :
“Cái thế giới mà mình bất bình đây, không chắc là có; sự đau khổ trong tâm cũng vì mộng tưởng mà ra…” …”
NAN về nước giữa năm 1922.
Những tháng ngày đầu năm này, anh có viết báo Pháp, như là để lại lời trách móc cho người Pháp thiệt, người Pháp ở chính quốc :
“Mi là người Pháp, ta nài nỉ mi đừng làm ô danh và đừng làm cho người ta nguyền rủa một dân tộc mà ta phải để một thời gian rất dài đặng tìm hiểu và yêu thương, sau biết bao nhiêu nhận thức sai lầm và phí công chiến đấu, chỉ vì ta đã gặp trên đường ta đi, những con người giống như mi và cũng tự xưng là người Pháp”
(Cho tôi trích “Những kết quả tương lai của sự thống trị của Anh ở ấn Độ” của Mác, để vào đây cho bạn đọc chúng mình theo dõi tư tưởng của người trai trẻ NAN.
Mác viết : “Tôi không thể rời bỏ đề tài về ấn Độ mà không có một số nhận xét kết thúc.
Sự giả đối thậm tệ về tính dã man vốn có của nền văn minh tư sản sẽ lộ ra trần truồng trước mắt chúng ta, khi chúng ta không quan sát nền văn minh ấy ngay ở chính quốc, là nơi mà nó mang những hình thức đáng kính mà quan sát nó ở các thuộc địa nơi mà nó lộ rõ một cách không che đậy”)
Khi NAN về nước SAMIPIC mời.
Anh nhận lời. Vui lòng vì sẵn ổ cho gà đẻ. Trí thức, công chức và sinh viên hăm hở : “NAN diễn thuyết”.
Anh bắt đầu, nhẹ nhàng với những buổi :
Xã hội Ấn Độ lúc Phật Thích-ca ra đời;
Tấc đất, ngọn rau ơn Chúa.

Lần lần mới đi vào… như ngày 15-10-1923 nói về “Lý tưởng của thanh niên Annam.” (l’iéal de la jeunesse annamite).
NAN có viết lại như vầy :
“Hội SAMIPIC có mời tôi nói chuyện tại trụ sở của hội. Tôi đã đáp lời. Tất cả những công chức đến nghe đều bị khiển trách. Ông Cognacq, Thống đốc Nam kỳ mời tôi lên.
Trong khi trao đổi ý kiến trong phòng làm việc của ông ấy, ông ta cắt ngang tôi và nói :
“Không nên có trí thức trên đất nước này.” (Il ne faut pas d’intellectuels en ce pays.)

NAN sau đó đã đi vào nông thôn nói chuyện với thanh niên. Thực ra đó là thông qua “khẩu thuyết vô bằng” mà nói với bà con nông dân các người trai tráng làm thế nào để giải phóng đất nước.
Và như vừa nói ở trên, NAN bị cấm nói chuyện ở SAMIPIC, đã cợt một câu hay :
“Không cho tôi nói miệng, tôi nói với đồng bào trên một tờ giấy.”
Tờ giấy ấy là tờ báo La Cloche fêlée (Cái Chuông rè)

Thuở đó chưa ai, Annam mà ra được báo quốc ngữ chỉ trừ tờ Nông Cổ Mín Đảm.
Nguyễn Kim đính chủ bút, nép trong cánh của con gà Tây (Coq Gaulois) (ie. Gà Trống, một biểu tượng quốc gia không chính thức của Pháp) tên Paul Canavaggio.
Tiếng của Chuông rè ngân nghe khắp xứ, ngày 10-12-1923.
Cũng phải nói về chữ bảng hiệu “Organe de propagande des idées francaises La Cloche fêlée là “Cơ quan Truyền bá Những Tư tưởng Pháp.”
Tiếp dưới đó có nêu :
“Là người Pháp, chúng tôi chấp nhận tất cả những gì rộng rãi, độ lượng, cao thượng”.
La Cloche fêlée đã phi lộ bằng câu nói của chính toàn quyền thời ấy là Albert Sarraut :
“Un grand pays comme le nôtre, ou qu’il aille, ou qu’il agisse, doit pouvoir dire et redire que partout il reste fidèle à lui-même” (ie. Một đất nước tuyệt vời như của chúng tôi, hoặc anh ra đi, hoặc làm gì, đáng lý ra nên nói và lặp lại điều đó ở khắp mọi nơi rằng anh vẫn trung thành với chính mình)
Chắc là ta không trành tròn với câu thứ nhất : “Nous sommes Francais tout ce qui est large, genéreux, noble est nôtre” (ie. Chúng tôi là người Pháp tất cả những gì là rộng rãi, bao dung, cao thượng là của chúng tôi).
Phận ta là kẻ bại trận cam chịu người thắng trận coi mình là sujests francais de Cochinchine (ie. những đối tượng của Nam Kỳ Pháp)

Và đối với NAN (ảnh hưởng tới tôi cũng vậy), nước Pháp là tổ quốc chủ nghĩa nhân văn.
Còn như nêu câu nói sau của A.Sarraut là cố tình tấn vào chân tướng cái ông thay mặt nước Pháp cai trị nước này. Nói thì, phải nhớ nghen !
“Một nước lớn như nước Pháp chúng ta dầu đi đến đâu hay hành động trong trường hợp nào đi nữa cũng phải nói cho mọi người và cho riêng mình biết là luôn luôn trung thành với mình. Nước Pháp phải nhìn chính sách thuộc địa của mình như con người dám soi thẳng vào gương để vấn lương tâm”.
Tuy nhiên NAN cũng phải viết hai “Lá thư không niêm”, đăng trong số 1 và 3, để thưa lại với đồng bào :
“Trước hết phải nói Cái Chuông rè là cơ quan tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước đối với một dân tộc đang trong vòng nô lệ, khi mà những tên thực dân cáo già đang ra sức tô vẽ một nước Pháp ở Á châu; khi mà có những người theo Pháp đang uốn lưỡi mò dân về một chế độ lập hiến-quân chủ như Phạm Quỳnh hay về một chế độ lập hiến -dân chủ như Bùi Quang Chiêu.
Họ đang thuyết phục dân ta đi theo chủ nghĩa “Pháp Việt đề huề” của họ.

(Cho tôi đặt vào đây một tài liệu để các bạn theo dõi tư tưởng NAN. Đó là lời của Trương Vĩnh Ký nói trong thơ gởi bác sĩ Chavanne : “Tôi thấy rất làm sung sướng khi thấy có nhiều người Pháp cương cường. Điều độc nhất mà tôi tiến đến là làm sao giúp ích, làm sao để thực hành câu “theo họ nhưng không lệ thuộc họ”
Sic vos non vobis (ie. thành ngữ Latin và Hy Lạp : Như vậy bạn làm, không phải cho chính mình). Đó là số phận của tôi, là điều an ủi cho tôi”).

Và sau đây là :
“Cái Chuông rè là cơ quan chuẩn bị cho tương lai của dân tộc.
Những ý kiến mà nước Pháp đem lại cho chúng ta sẽ không dẫn chứng chúng ta ra khỏi nòi giống của mình mà trái lại sẽ đưa chúng ta trở lại, vào lòng của dân tộc.
Phải trên cơ sở dạy cho chúng ta biết yêu thương nòi giống đã ung đúc ra mình thì nước Pháp mới chắc chắn được rằng những tư tưởng của họ sẽ được đơm hoa kết trái và ảnh hưởng tinh thần của họ sẽ được lan rộng ra khắp thế giới.
Và sự nghiệp tuyên truyền của chúng ta, để có hiệu lực chắc chắn thì nó phải có thể tác động để càng đông người càng tốt. Chúng ta phải có trong tay một tờ BÁO quốc ngữ. Chính là qua chữ quốc ngữ mà chúng ta mới giúp đỡ được một số nhiều; nhất đồng bào chúng ta.
Nhưng chúng tôi chỉ có trí thông minh, có ý chí và tấm lòng mà chúng tôi dâng trọn cho đất nước. Nói vậy có nghĩa trong thiếu thốn, chúng tôi vẫn sẵn sàng đem hết nghị lực non trẻ để thực hiện cho bằng được điều mơ ước của mình”.
(Xin cháu Nguyễn Thị Bình nhận nơi đây lời chú cám ơn cháu cho mượn tài liệu mà cháu biên soạn để giỗ Ba).

NAN đang ước mơ.
Cái giọng hòa dịu đôi đàng của mấy số báo đầu đề bị chính phủ thuộc địa cho là lung lăng và “khởi tố” tác giả.
Và NAN đứng trước vành móng ngựa nói ung dung :
“Tôi làm việc để giải phóng giống n i tôi và chuẩn bị cho tương lai của nó. Tôi bày vẽ những cách làm hợp pháp để đạt mục đích đó”.
Thử xem coi, sao mà những bài báo bị buộc tội là lung lăng.
NAN viết :
“Sau 60 năm, nước Pháp đô hộ xứ Annam khi bọn thực dân Pháp đang khoe khoang về sứ mạng khai hóa, mang sang khoa học Âu châu đế cho nhân dân Đông dương thì người Annam đang sống nheo nhóc trong những túp lều tranh lụp xụp; mưa đông gió rét không có được manh áo che thân, phải uống nước ao hồ, phải ăn khoai thay gạo, phải bán vợ đợ con… Một tình trạng suy yếu như vào giờ hấp hối, ngẹt thở và một cái chết không tránh khỏi”.
(Cái hơi văn này thổi luồn vào những tờ truyền đơn hồi Đông dương Đại hội – Mặt trận Bình dân hồi 1936).
NAN viết : “Trong vòng 10 đến 15 năm, khi hạng người không lương tâm sẽ làm cạn nguồn những hạnh phúc cỏn con của dân tộc cày sâu cuốc bẩm này, ta sẽ chỉ còn thấy những người nông nô. Còm lưng trên mảnh ruộng, không phút nghỉ ngơi. Tất nhiên, những thế hệ sẽ nối tiếp chúng ta. Đó là dân tộc người nô lệ khổ sai, mặt như nghệ. Không phải người Annam nữa. Tức là trong họ không còn chảy nữa, cái tinh anh nhất của dòng máu dân tộc đã chinh phục mảnh đất này và thấm đượm nó bằng tâm hồn của mình.”
NAN cũng hỏi : Làm sao đây ?, trong bài “Du rêve à la réalité” (ie. Từ ước mơ đến thực tế) :
“Từ một hiện tại, một thực trạng như thế thì tương lài sẽ phải ra sao ?
Chúng ta chỉ có thể hòa mình vào hiện tại để vùng ra khỏi cảnh bị đày ải về vật chất lẫn tinh thần đang đè nặng và làm nghẹt thở chúng ta. Mọi cải cách xã hội sẽ thất bại nếu như được xây bởi tưởng tượng và lý trí. Chúng ta là những người phải hạ mình vì một chén cơm, phải trả giá chén côm bằng quyền sống và bằng sự kiêu hãnh của tổ tiên để lại. Chúng ta đã vì một chén cơm đã phải gài chúng ta vào con đường lệ thuộc mất nhân phẩm. Những người đang kêu đói, chúng ta có thể dễ dàng tránh xa con người đã đưa cho ta chén cơm và nói : “Làm cái này, làm cái nọ hay là ngươi sẽ không được chén cơm”, hay không ?
Chúng ta phải biết chấp nhận một số thực trạng như đương nhiên, để từ đó đi sâu vào qui luật xã hội rồi tạo ra một trật tự mới để chống lại trật tự cũ, một lực lượng mới để đương đầu với lực lượng cũ”.
Nhưng đối với sự độc lập tức thì của đất nước, NAN xác định : (trong bài “Vers la nation indochinoise” (ie. Hướng tới quốc gia Đông Dương).
“Đối với nước Annam ngày nay, giành lại độc lập là quá sớm. Vì chúng ta chưa đủ sức gìn giữ độc lập đó và sẽ mất nó ngay hôm sau ngày chiến thắng. Chúng ta chưa có đầy đủ ý thức kỷ luật và nhận thức chính trị.
Sau CM Tân Hợi, nước Trung hoa đã rơi vào cảnh hỗn loạn. Họ thiếu kỷ luật và ý thức khoa học cần thiết đã tạo thành sức mạnh cho các dân tộc văn minh, hiện đại. Chúng ta cũng vậy”.
Bài viết đăng báo ngày 21-4-1934, vậy là bởi một thanh niên mới 24 tuổi.

Vậy thì sao ? NAN mới bày vẽ :
“Cho nên trước tiên ta phải có một đội ngũ nhân tài hết lòng vỉ đất nước.
Chúng ta cần những con người vững vàng, tự tin, có ý thức đầy đủ về sứ mạng, về nhiệm vụ của mình, hết lòng tận tụy vì nòi giống. Một niềm vinh hạnh cho đất nước chúng ta, đã có những người con như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… và rất nhiều anh hùng vô danh…
Chúng ta cần có một đội ngũ quan trọng, những con người có tư tưởng phải thấu hiểu tâm hồn của nòi giống, hiểu những nhu cầu thực sự của đất nước. Chúngta phải có một đội ngũ những người xây dựng tương lai để tái thiết ngôi nhà đổ nát của đại gia đình dân tộc.

Chúng ta phải có những con người có khả năng cải tổ quốc gia giáo dục cho phù hợp dấu ấn đặc biệt của tâm hồn dân tộc chúng ta, phải xây dựng những nhà trường để đào tạo những “con người”; chứ không phải những kẻ ngu si, học hão. Phải có nhiều nghệ sĩ, họa sĩ, văn nhân, thi sĩ đủ khả năng làm sống lại tâm hồn dân tộc.”

Với mục tiêu là : dựng nên một dân tộc Annam có năng lực gìn giữ nền tự do và địa vị của mình giữa thế giới văn minh. Dân tộc đó phải sống chứ không chỉ là tồn tại. NAN đã nói vậy và đòng nghĩa chữ “sống” :
“Khi nói rằng dân tộc đó sẽ sống, ta không hề nghĩ chỉ có hòa bình, cơm áo là đủ – đó chỉ là cuộc sống thú vật – mà là văn hóa, mà là sức mạnh, mà là những vốn quý mà dân tộc sẽ để lại cho đời sau một vầng ánh sáng chói lọi.”
Mục tiêu đó không thể dừng lại ở chỗ giành độc lập mà phải làm thế nào đưa đất nước từ chỗ nghèo nàn, lạc hậu, lên ngang tầm với thế giới văn minh để khỏi phải sa trở lại vào vòng nô lệ; trong thế giới này quy luật tiến hóa là cạnh tranh triền miên để sinh tồn.
Trong “viễn đồ chi kế” của đất nước, đang bị cường quyền vùi dập, vấn đề cách mạng cứu nước là sự cưu mang của nghĩa sĩ.

NAN đã viết trong La Cloche fêlée bài “La France en Indochine”(ie. Pháp ở Đông Dương) . Bài dài đăng trên bốn số báo. Trong đó NAN nêu vấn đề : “Une révolution est-elle ô (ie. Một cuộc cách mạng, chính nó có thể không ?)
Cuộc sống là một sự bắt buộc học theo.
Ngay số một của Cái Chuông rè đã có cảm nghĩ :
“Trong điều kiện toàn bộ châu Á đang bị đặt dưới ách đô hộ của bọn thực dân châu Âu, chỉ có thể tiến hành một cuộc cách mạng duy nhất theo mẫu mực của Ấn Độ.”
Và NAN cũng cùng một luồng tư tưởng với những trí thức châu Âu như Romain Rolland, Henri Barbussc, Leon Werth đang ca ngợi thắng lợi của nhân dân ấn Độ đã viết :
“Không gì đáng ngạc nhiên hơn là từ nay, nước Anh đã đổi giọng với người Ấn Độ, kể từ sau khi Gandhi bắt đầu hành động. Ngưòi châu Âu không dám miệt thị người Ấn Độ nữa. Họ cố gắng nói năng lễ độ hơn và mọi người nhất trí phê phán những hành vi bạo ngược mà trước đây đã là phương tiện tối cao, đôi khi còn là phương tiện đầu tiên của nhà đương quyền. Đây là Ấn Độ đã thắng về mặt tinh thần.”
(có một chi tiết về thời gian, nói cho ta biết NAN đã đem hết nghị lực non trẻ để thực hiện ước mơ của mình.
Tờ La Cloche fêlée ra số đầu ngày 10-12-1923, rồi tạm đình bản “vì chủ đi vắng”. Đó là NAN sang Pháp để nói với dân chúng của Paris về đề tài “La France en Indochine”, trong đó có vấn đề về khả năng của cách mạng. Bài nói được in ngay tại Paris, ngoài vòng kiểm duyệt của Tây Saigon.
NAN về nước, tiếp tục ra số 15, ngày 19-5-1924, Tiếng Chuông rè hết ngân).
Với báo số 15, NAN nói với đồng bào trí thức thanh niên về “khả năng của cách mạng” như đã nói và in thành sách ở Paris.
Vấn đề đã được tiếp cận như vậy.

NAN nói :
“Câu trả lời là được hay là không; cách trả lời nào cũng có khía cạnh mỏng manh vì đều chỉ là chuyện nói miệng tài”.
Vậy nên phải coi nên hiểu như thế nào ?
NAN nói :
“Trước khi chấp nhận là chỉ có duy nhất một con đường để thủ tiêu chế độ nô lệ áp đặt cho Đông dương thì thanh niên Annam ngày nay đã hiễu rõ nhiệm vụ mà xã hội giao phó cho mình; hãy thử cố gắng dung hòa quyền lợi của người Pháp và nguyện vọng của người Annam.
Thanh niên ấy nói với Mẫu quốc ở xa cách Đông dương sự thực về những gì đã xảy ra ở thuộc địa này. Và Mẫu quốc tự quyết định xem, họ có lợi gì mà phó mặc Đông dương cho định mạng, hay là phải làm cho nó một số luật ban hành những quyền tự do sơ đẳng.
Những thanh niên sẽ truyền giảng sự đòi hỏi những tự do sơ đẳng bảo vệ phẩm giá con người, sự đòi hỏi những cải cách dung hòa tinh thần dân chủ của người Annam với những tư tưởng của châu Âu… Họ không chiến đấu bí mật nữa, và chỉ đơn thuần vì Tổ quốc họ chiến đấu công khai nhân danh những nguyên tắc của 1789.
Chỉ cần nước CH Pháp đến Đông dương thay đổi bè lũ thực dân, là cả quyền lợi lẫn danh dự của nước Pháp sẽ được cứu vãn.
Phải có sức mạnh dữ lắm mới chịu đựng nổi những điều sĩ nhục mà nòi giống chúng ta đang chịu đựng. Cũng phải có cả một sức mạnh để chia sớt số phận của dân tộc mà đồng một lòng đấu tranh giải phóng giống nòi.
Chỉ có ai là người có sức chịu đựng cái chế độ hiện thời và đầy lòng chia sớt nỗi sống còn với những người nghèo khổ nhất, cho đến người ăn mầy, để làm tròn sứ mạng mà tạo hóa đã giao cho vì lợi ích của giống nòi, thì đó là người mạnh, mà chỉ có mạnh mới giúp ích được cho tổ quốc.
Chỉ có người hiểu rằng, nếu mình có sức óc càng cao thì càng phải biết yêu thương đồng bào, anh em thì mới là người mà người Annam đặt niềm tin để cho họ đứng ra gầy dựng một đội ngũ trí thức đoàn kết thống nhất, đủ sức làm cho kẻ hung dữ kiêu căng lớn lối phải gục đầu.
Phải có một đội ngũ trí thức như hiện nay đang lãnh đạo Ấn Độ.
Sức mạnh tinh thần của ông Tilak hay một Gandhi; trí thông minh của ông Tagore; sự giúp đỡ quí giá của ông Ali…
Đó chính là những gì dụm lại, dựng nổi lên đám đông công chúng yếu hèn đứng dậy chống thế lực bạo tàn, có súng ống của các dân tộc châu Âu.”

NAN mới quay lại vấn đề “có khả năng cho cuộc Cách mạng không ?”
“Mỗi người chúng ta hãy hỏi quần chúng đi, chúng ta sẽ được câu trả lời. Vì quần chúng mới trả lời nổi câu hỏi như vậy. Ví dầu, quần chúng có bị dồn vào thế bất lực, chúng ta sẽ tiếp nhận được từ quần chúng niềm tin về sức mạnh vĩnh cữu của mình, cái câu trả lời rằng cách mạng quần chúng có khả năng làm được.”

Tôi đây xin ghi lời “chung thủy” của NAN La Cloche fêlée sau khi tạm nghỉ đã ra lại từ số 15 đến số 19 rồi hết kêu luôn, sau khi có mấy lời giã biệt.
“Tiếng Chuông rè không ngân vang nữa nhưng đồng bào hãy vững tin rằng tôi sẽ dùng phương tiện khác, có thể còn hữu hiệu hơn, để phục vụ tổ quốc tôi…
Vận mạng đất nước đang trong thời kỳ mà không một ai trong chúng ta có quyền thờ ơ trước sự đau khổ của nòi giống; bất cứ ai muốn xứng danh là người Annam đều phải phấn đấu đến hơi thở cuối cùng, mang hết sức lục mình làm tươi đẹp cho số phận dân tộc Annam.
Nếu tôi không còn sử dụng được nghề làm báo để giải phóng giống nòi tôi, thì lòng tin nơi tương lai dân tộc không vì thế mà suy giảm, hoạt động của tôi không hề bị tê liệt mảy may.”

Và NAN phải dùng “phương tiện” khác thật. Tổ chức “hội kín NAN”.
Cái này, nếu có cớ mà Tây bắt được thì tội nặng lắm. Anh cứ ôm hộp cù là đi bán mà tổ chức người…
Có thằng bạn tôi nói : “Muốn biết một nhà hoạt động chính trị nào đó có xu hướng CS hay không thì hãy coi thái độ của nó đối với nông dân.”
Anh tổ chức các người thuộc các tầng lớp nông dân. Ở xã Tân Nhựt của tôi, có một quan làng Hương hào Doi, có một trí thức, thầy giáo Long, là người vô hội Sang qua Gò Đen thì luột sạp, địa chủ Hội đồng Tôn, Cai tổng Lý, phú nông Hương sư Đê, cố nông Nguyễn Văn Lộc, trí thức giáo Tiếp, giáo Gấm. Đây là tôi mới kể những cây cao đứng giữa đồng.
Hội kín này chưa có “cử đồ đại sự” thì ĐCS ra đời. NAN là người tự do (hiểu theo nécessite bien comprise (ie. nhất thiết phải hiểu rõ) của Engels). Anh đã trao tất cả hội viên của anh cho ĐCS.
Anh ở nhà đọc sách, nghiên cứu và viết. Anh đã viết : Phật giáo, khảo cứu, Hai Bà Trưng, kịch nói. Và anh viết nhựt trình, rồi ở tù vì mấy bài báo La Lutte. Đúng là anh đã “tử nghiệp” vào ngày 15-8 mà tôi viết những dòng này để tưởng niệm anh…

Tôi xin nói luôn mấy chuyện về NAN mà chỉ có riêng tôi và một người nữa là Minh Tranh biết.
Tháng 9-1939, không nhớ ngày nào, Minh Tranh từ đâu đến tìm tôi. Anh có cầm bản thảo một tập sách có tựa “Tự chỉ trích về vụ Tạo-Trí bình” và nói :
– “Ở trong” bảo phải đi với anh mới được.”
– “Đi đâu ? Để làm gì ?” Tôi hỏi.
Minh Tranh nói đây là bản tự chỉ trích về việc hẹp hòi của Lê Hồng Phong không cho Tạo Ninh chung sổ với địa chủ tư sản nên đã thất cử Hhội đồng quản hạt. Anh Tạo viết thơ cự dữ lắm.
Hai đứa tôi đi Mỹ Tho.
Gặp anh Tạo. Cho mời Ninh.
Anh tạo hỏi:
– “Hai đừa bây đi đâu. Làm khách thăm chơi ! Được ! Thay mặt cho Đảng thì…”
Anh Tạo chỉ cửa mà không nói gì hết !
Tôi phải nói thay cho Minh Tranh.
“Tôi làm nhiệm vụ dẫn đường và giới thiệu đây là Minh Tranh. Khi các anh ở tù, ảnh có viết báo Dân Chúng với chúng tôi .”
Minh Tranh nói tiếp theo :
– “Anh Cừ đã kiểm điểm mà viết văn bản “Tự chỉ trích” này và giao cho tôi xuống đây gặp hai anh.”
Anh Ninh nói :
– “Tôi coi như đã “hạ màn” rồi, tôi không nói nữa. Tạo có nói cái gì thì nói mà thôi.”
Tạo :
– “Thất cử và ở chốn lưu đày thì còn nói gì hơn cái chưa nói. Là : có hai thứ CS. Một thứ CS dã man. Một thứ CS văn minh.”
Tôi rất sợ những vị lang bạt đi xây dựng CNCS. Vì vậy cuốn sách này, tự chỉ trích hay tạ tội; cái tội dốt nát hẹp hòi thì cũng vô ích mà thôí !
Cuộc gặp ấy vào buổi tối. Tại trụ sở của tạp chí Đông Phương chủ bút là Nguyễn Văn Tây.
Ăn cơm rồi, Minh Tranh ngồi đó luận bàn về xu hướng của tập san mà “ở trong” không ưa.
Tôi đi theo anh Năm, thăm chị Năm, thăm cái thư viện rất nhiều sách của anh.
Mà cũng làm cái điều mà lâu nay Kỉnh đã biểu tôi :
– “Đâu có chuyện anh Ninh vào Đảng coi mậy.”
Tôi vừa mới rỉ hơi thì anh Năm, đang cười bỗng nghiêm trang :
– “Vô đảng để làm gì ? Hoàn cảnh không cho phép tôi làm một đảng viên, là phải hoạt động trong một cơ sở tổ chức của Đảng được. Tôi trao hết quần chúng của tôi, giao luôn cả chị Năm cho Đảng. Bây giờ tôi muốn để thì giờ nghiên cứu sâu thêm nữa đạo Phật.”
Và tôi làm anh mà nói với em :
– “Cái kết quả tức thì của cuộc vận động giải phóng dân tộc không phải là chủ nghĩa xã hội autrement dit, chưa phải tức thì là “dictature du prolétariat, chuyên chính vô sản.”
(Câu nói ấy tôi nhớ tới bây giờ. Bạn tôi nói, ông Ninh là người đọc sách nhiều, ông nói một lời tiệp với F.Engels)
Tôi lấy sự hoạt động của thị thành Saigon trong đó có NAN để chúng ta coi sự hoạt động của Nguyễn Hộ với tư cách Chủ nhiệm cái CLB Những người Kháng chiến cũ, và coi thái độ chính trị của anh trong sự dẻo đeo cho ra báo – Truyền Thống Kháng Chiến.
Anh sẽ coi sự trấn áp Nguyễn An Ninh và sự trấn áp Nguyễn Hộ.
Tay đao phủ sau, ác hơn tên đao phủ trưóc vì có cái “điều 4” cho nên Quốc hội luật pháp không được coi ra cái thớ gì.
Với nỗi lòng ấy tôi viết lời

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s