Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 4)

c. Cuộc phá khám không xảy ra được.
Đêm 22-11 tây, tôi dẫn trên trăm nông dân theo đường Tân Khai, Phú Lâm, Mả ông Thống chế, Gò Cát, An Lạc về Mỹ Phú (Tân Kiên).
Đêm ấy ở dưới đồng, cuộc khởi nghĩa đã khuấy nhiễu Bến Lức, giết tên Hương hào Phước. Ta làm chủ Thanh Hà, cho cờ đỏ sao vàng phơ phất lạnh lùng trên nóc nhà “công sở”.
Qua được 7 ngày, Tây nó ra quân.
Nó bắt đầu dùng máy bay yểm trợ cho bộ binh đốt nhà, giết người ở Năm Căn (An Thạnh).

Ngày sau chúng cho bao vậy cả vùng Bến Lức, Thanh Hà, Mỹ Yên, Tân Bửu. Trên trời là máy bay làm cái mũ cho chữ O dưới đất, xe thiết giáp cũng giăng trên lộ, tàu nhạy dưới sông. Bộ binh của nó từ Gò Đen càn vô và đốt trụi nhà ở Phước Tỉnh.
Kể như Nam kỳ Khởi nghĩa (NKKN) của Long Hưng Hạ đã thua. Thua thì chạy.
Nghĩa quân vốn là nông dân làm mướn. Họ sắm sửa xuồng ghe, tốp 5, tốp 7, bơi xuống Vĩnh Long, Trà Vinh, nơi ấy đang thiếu công gặt.
Có một số thuộc cấp chỉ huy chạy lên Hội đồng Sầm nói là sẽ vẽ lại cho “thành cọp”.
Còn sót lại Nguyễn Văn Nhâm và tôi.
Nó lên nhà cha, đang làm ruộng ở Võng Đế. (ở đó ít lâu, nó bị bắt và bị xử tử ở Côn Lôn)
Tôi quần lột cổ, lội về Láng Le.

d. Lặng lẽ Mẹ tiễn con.
Tháng mười chưa cười đã tối.
Bạn coi chưn của Achille bám chặt mẹ như vầy.
Từ Gò Vua đi vào Tân Bửu, không qua cầu được, phải lội rạch Thanh Hà. Đi xuống Tân Châu, trước mặt có cầu, lại đi ra sát mé sông, lội ra rừng tràm Bà Vụ. Đi xuống Rạch Rít. Lại lội qua rạch. Men theo bờ rạch nơi ông Phán già, lại lội qua Kinh Xáng. Mở cái nuộc cột áo quần trên cổ xuống, mặc vào rồi lần vô chòi làm ruộng của Tư Biên.
Nói thì mau như vậy chứ sao Mai đã mọc.
Tôi đánh tiếng mà vô nhà.Trong chòi không cửa, sáng trưng.
Chị tư :
– “Cậu đi đâu đây, rồi đi đâu nữa ?”
– “Xin ở chòi chị mấy bữa được hôn ?”
– “Tôi bỏ chòi cho cậu tôi có sợ gì ?”
– “Vậy thì sáng rồi, về đi. Nhắn dùm tối nay má tôi ghé.”
– “Được, bây giờ thì… Đây là gạo, nước mắm, dầu đèn, khạp nước. Khạp rộng mấy con cá cạn. Công tử thì làm gì biết nấu cơm rơm ! Để cho tôi đánh mấy con cúi. Đây nghen, vo gạo bắc lên, đốt rơm cho nó sôi, rồi nhóm con cúi vào hong cho cơm chín. Chín rồi cậu biết sao hôn ?”
– “Dễ quá sao không biết chị ?”
– “Sao đâu dễ nói nghe coi !”
– “Dạ thưa, cơm chín rồi ta xới nó tưa ra. Ở đây gần sông, ta bưng ra sông mà đổ !”
– “Bác Tám gái cưng cậu biết chừng nào, cũng phải. Thôi tôi đi. Ra bờ Kinh tôi mua vài đòn bánh tét chuối, bơi trở vô liệng cho cậu.”
– “Tội nghiệp chị Tư tôi quá !”
Tối thằng Sen chèo chiếc ghe lườn mỏng cho má tôi vô.
Tôi đưa hai tay đỡ mẹ lên bờ. Má tôi ôm hun tôi trong nước mắt nước mũi và hỏi :
– “Bây giờ thì sao con ?”
Tôi đáp, nắm tay má tôi đi vào chòi :
– “Bây giờ phải trốn kỹ hơn trước. Má đẻ con năm Giáp Dần. Cọp mà về rừng ! Như vầy nghe má. Má biểu anh Năm đi xuống chợ Tham Nhiên… Nói má nhớ không hết. Con viết ra giấy… Má ngồi đây chơi, nghe vạc ăn đêm.”

Má tôi vô. Đem cho tôi duyên do, mà nay 55 năm qua rồi, nhớ lại mà mạnh dạn sống già.
Má tôi nói liền. Thằng anh Tư hẹn 2 bữa lên, để nó sửa soạn. Nó lên má sẽ vô nữa, mà con coi đi.
Bây giờ thì… má tôi mở cái gói ra…
– “Đây là giấy thuế thân mượn… cho xã Sáu viết cho con, nhận người tên này có xin phép làng, đi Gò Dầu Hạ đặt cọc dưa hấu Tết. Cậu cho con 100, đi đường gặp khó thì lo. Má cho con mấy đồng bỏ túi. Còn đây là thịt kho khô ăn đỡ vài ngày.”
Đêm nay bỏ, chờ tối mốt.
Má tôi vô, có cho theo chiếc ghe mui ống, ghe đi mua bao của chị Ba Tiếc. Chú Năm Dóc chèo lái, thằng Dân chèo mũi.
Ôi tình mẹ thương con, má tôi chu đáo, không ngờ.
– “Nè chú Năm, nè Dân, đi dọc đường phải kêu là thầy Năm, chớ không được kêu chú Bảy, anh Bảy nghe hôn ! Đâu thằng Dân kêu coi.”
– “Thầy Năm ơi !”
Chú Năm Dóc :
– “Thầy Năm ơi, có thuốc hôn cho tôi một điều hút chơi, thầy.”
Má tôi :
– “Má cho con thằng Tư đó. Con có đồ đạc gì không ? Xuống ghe đi. Đang nước lớn. Chèo tới gần Tất Gừa đậu ghe gần bót lính. Thiên hạ, ghe đi chợ đông len ta chèo qua luôn. Thôi con đi, má về !”
Hai cái sáng ghe tôi mới tới Gò Dầu cũng đúng như đã định.
Hai người chèo, đi ăn hủ tíu.
Tôi, hới tóc và “lên táng” bằng đôi guốc vông. Ai nhìn tôi mà nghĩ tôi là gì nè ?
Một lúc, xe nhà của tôi lên. Anh rể tôi lái, Marcel Tươi ngồi đàng trước. Súng kẹp đầu gối, lòng chỉa ra ngoài. Coi đâu cũng ông gì.
Năm Dóc và thằng Dân được cho ít tiền, họ đã xuống ghe. Tôi lên xe, ngồi phía sau thuật chuyến đi đường : “Tôi đi tới nhà máy đường Hiệp Hòa bị chận lại bằng sợi đỏ giăng ngang sông. Khuya gà gáy, nhờ có giấy đi mua dưa mà qua được.”
Ngồi nhai bánh mì thịt nguội.
Xe chạy không vào Tây Ninh mà quẹo mặt, tới cầu Bưng Bàng. Vô nhà ông Xã Thái.
Tủ ghế, nhà chính, nhà chái, chuồng bò, thổ lộ nhà dư ăn.
Coi ra chừng thân nhau đã lâu, vừa vào để ba-lô, súng đạn trên bộ ván gõ, bên cạnh bộ salon cẩn Lái Thiêu, anh Tư chỉ tôi và nói với ông Xã :
– “Kỳ này nó, em tôi, lên phụ với tôi, nó thứ 5, tôi Marcel, nó Grégoire Bonier.”
Thấy 2 trai tơ Tà-mun, người ăn kẻ ở của ông Xã ra chào mình, cái anh Marcel lanh lợi chỉ vào ngực tôi và hỏi hai chú đen kia :
– “Đây là thầy Năm. Tiếng Tà-mun gọi là gì ?”
2 đứa nói :
– “Ta pram, ta pram.”
Anh tươi cười nói :
– “Ta pram, có cây 16 tuổi mới mua, chưa bắn. Tụi bây mượn thẩy đi. Trời nắng. Thổi mển chạy lắm. Ra kiếm bậy 1 con về cúng cây súng mới. Ráng nghen !”
Chúng nó nhìn tôi. Tôi đấm, làm quen mỗi đứa một cái trên ngực, rồi cầm cây Saint-Etiennne, bẻ lòng coi lắp đạn, đóng chốt an toàn, đưa súng cho một thằng và nói :
– “Mình bắn giỏi thì cần gì nhiều bi hả ?”
Thằng đứng không nói :
– “Ta pram cho phần tôi 2 bi, nếu không được mển, thì tôi bắn gà rừng.”
Ngồi uống nước, 4 người. Một lát nghe súng nổ, chủ nhà reo : “Thôi có ăn rồi.” Tôi hỏi : “Sao chắc ?”
– “Tiếng súng bắn trúng, bắn trật nghe đã quen.”
Tôi đang nghĩ, đó là nói cầu may. Ai nấy đều có lòng chờ.
Độ nửa giờ sau, 2 đứa nó xỏ đòn quảy về một con “bận áo vàng”. Anh Tư nói như nói với anh Năm tôi :
– “Con mển là con đó. Chắc chắn 90% là mển cái.”
Tôi nghĩ đây cũng là nói “ông ửng” nữa.
Như đốn được sự ngờ, anh Tư và tất cả chúng tôi đứng dậy ra nhà sau “khám” con mển.
Vừa thấy con mển, anh Tư ra nhà sau lấy ra con poignard, rồi lật ngửa con mển ra và rọc cái buồng vú. Vừa làm có chú ý nhẹ tay, anh vừa nói :
– “Con mển mẹ, có con còn bú. Trời nắng lên nó chui vô bụi mà nằm, ngó dáo dác không thấy con chạy nơi đâu. Vùng nghe tiếng thổi tưởng con lạc mẹ mà kêu, liền nhảy ra chạy về hướng có tiếng như tiếng con kêu, mà bị người ta bắn bi vào ngực.”
Tôi nhìn xác mển mẹ nằm… mà phải nhớ, mới vừa mấy ngày… cũng may ! Lúc ấy anh Tư nói :
– “Để tôi ‘ra’ cặp đùi, gởi anh Năm đem về nhà. Mấy khi ăn được thịt rừng ? Mà còn là thịt mển nữa.”
Sáng hôm sau, anh rể tôi chạy xe về.
Ông Xã Thái lịch sự, cho đánh chiếc tà-rẹc_ loại xe bò nhẹ dùng để đi ăn giổ, cưới, đi bắn, đi chơi_ đưa hai anh em tôi, qua cầu Bưng Bàng thuộc địa phận Thủ Dầu Một, đi vào Sóc Mới.
Nghĩ cũng hay. Khi nộp dấu búa, xin phép làm người khai thác rừng, dấu búa đó là 2 chữ BF (Bonier frères) (ie. Anh em liên hệ). Nay chữ F ấy là tôi, Bonier em. Thì còn sợ gì làng lính !
Từ đó tôi đã “chiết tự”… 2 chữ sanh thành lấy một chữ “thành” để ghi lòng, ơn của anh Tươi.
Anh đã “thành” cho tôi cái tên “thầy Năm dân Tây” và “ta pram” để vào rừng sống với những người “phá sơn lâm”, làm bạn với người thiểu số mà cho qua được những ngày xa mẹ của tôi.
Chúng tôi vào thum của ông Tổng… Ông chết đã lâu để vợ lại, người ta kêu là bà Tổng Sốc Mới.
Anh Tư nhờ bà, cho anh Tà-mun trong sóc đi sâu và rừng. Qua bên kia sông Đồn Đường cất trên cồn thổ dân gọi là cồn Đồn Đương, cất trên Cồn. Một cái nhà, khác với người ta là không phải nhà sàn, mà là nhà trệt.
Nó nằm vào địa thế rất tốt cho tôi. Ai muốn đến nhà thì phải qua sông. Với tôi, phía bên kia sông mà rột rạc, thì phía bên này tôi đã phi rồi !
Bà Tổng sắm giúp, nồi niêu, chén chảo và mùng mền, chiếu gối.
Nhà không có cửa, phía sau tranh mọc lên thềm.
Anh Tư một tháng ở đó 10 ngày, vì anh phải về Tủ, về Saigon, Cholon để bán cây và mượn tiền cây.

Lần nào anh lên, ở bên kia sông đánh tiếng là chúng nó la : “Thầy Tư ta, mình có “thuốc nào” (ie. thuốc lào) rồi !”
Hai đứa này ở lỳ một chỗ. Đâu dám về Dầu Tiếng. Phần tôi, để tránh rét rừng, vài tháng về Dầu Tiếng một lần và được 3 người oai thế chở che. Một là Ba Phu, tay anh chị. Hai là Thầy Sáu Nhàn, lương thầy lớn lắm nên cho tôi ở nhà ăn cơm.
Ba là : ông Một Cẩm (cha của bác sĩ Trịnh Kim Ảnh), sếp bót Dầu Tiếng. Lúc nào cũng có cò Bến Cát liên tục xét các làng, tôi đi vô bót, vào phòng ông đánh cờ.
Tôi nói không quá rằng 3 thầy trò tôi, làm rừng phải “đạp cội” mà ruồng nát rừng Đồn Dương, Bàu Lùn, Sốc Con Trăng.
Đi tới đâu người ta cũng thích thầy Năm có 2 cây súng. Hai đồ đệ, thằng Chạn_ người Thanh Hóa nó hay dở áo lên, vổ bụng mà í a hát chèo. Thằng Bảy răng đen, gốc là tướng cướp đòi dọc ở Thái Bình. Người ta hay mượn thằng Bảy đi bắt dùm chó. Nó bỏ cơm, kêu chó lại. Nó nắm gáy, con chó hết la. Đi đâu có thằng Bảy theo thì thế nào cũng được ăn thịt chó. Thịt rừng, người rừng đã chán.
Đêm nằm 2 đứa thủ thỉ : “Mình bắn bán thịt để tiền, thầy cho tụi con về Bắc !” Chúng nó nhớ nhà hơn tôi, làm cho tôi bì mà khuây khỏa.
Ở đó có 2 cái Tết. Cái Tết thứ hai (1942), tôi dẫn 2 thằng “lưu li” về Dầu Tiếng chơi, và cho mỗi đứa mấy đồng sóc dĩa.
Rủi quá, thấy mặt người quen trong phong trào Ái Hữu. Người ta đồn anh này đã bán “40”.
Tôi đứng nép mà hỏi : “Được biết anh nói đi mua cây lồng mức để làm trại guốc !”
Anh Tư ngược đời lại lên rừng ăn Tết.
Tôi kể lại, anh đồng ý: “cẩn tắc vô ưu”, liệu trước cho khỏi phiền.
Ăn kẹo bánh mứt Tết, uống trà với chúng tôi, rồi sửa soạn ra sông, anh nói :
– “Tôi về vài bữa tôi lên. Chú biểu thằng Chạm, thằng Bảy, vác súng đi tìm Tư Lơn (một đầu đảng ăn cướp, nay tu bỉ đi ‘treo cây’ làm bè cho lái).”
– “Nói với Tư nằm đây chơi, chờ tôi.”
Đã làm cây đóng thuế ở trạm Bưng Bàng, thì ai mà không biết Tư Lơn. Cũng phải nhắc anh ít nhất một lần, để trọn tình giang hồ tri kỷ.
Thằng Chạm đã tìm được, mà nói thì Tư Lơn nghe.
Ba bữa anh Tư lên, làm mèo tha con.
– “Anh Tư nè, tôi với thằng Năm về Saigon, để trại này cho anh.” Anh Tư nói với Tư Lơn_ suy nghĩ mà không hỏi lại

e. Đại ca.
Sáng hôm sau, mượn tà-rẹc của bà Tổng, đưa 4 đứa lên Bàu Lùng, nhà ông chủ Thông, một danh gia của Minh Thạnh, tay có tiền và võ giỏi.
Hai anh em lại đi xe nhà của chú chủ nhà mà về Minh Thạnh.
Khi sắp lên xe, anh Tư nói cười với thiếm chủ :
– “Cho gởi thằng Chạm, thằng Bảy, chúng nó bình sa (ie. ?) cho thiếm nghe.”
Hai anh em tiếp tục hành trình tới Bến Cát đến nhà Nguyễn Thiện Hành, một người nổi tiếng mà khắp Thủ Dầu Một người ta gọi kính mến là thầy Sáu Trạng.
Anh với tôi đều mới biết. Tôi nghe tiếng anh.
Anh có vợ đầm, được 4 đứa con.
Chị là cháu gọi Paul Doumer là cậu, em của mẹ.

Anh Tư nói với anh chị cái gì đó.
Sáng hôm sau, anh Tư dẫn tôi đi, nói là :
– “Nhà của Hai Thức, chắc chú biết, anh ta hồi nhỏ học trường Phú Lâm với chú. Chú có nghe nói về anh ấy không ?”
– “Chính tôi biết chứ đợi nghe ai.”
– “Chú biết sao đâu ?”
– “Đồng nghiệp nên tôi biết bác đang viết La Tribune (ie. Diển Đàn) của đảng Lập hiến, giận Bùi Quang
Chiêu phản mà tách ra làm tờ Le Phare Indochinois (ie. Đông Dương Hải Đăng). Bác chết như Mác, ngoẻo đầu trên bàn viết, trên bài báo viết nửa chừng. Chúng ta đến nhà anh Thức. Cái nhà đó hả ?”
– “Nhà ấy không còn. Bác chết trong cảnh sa sút để lại cho Thức một cái nghèo, cái áo rách nhưng có khuê bài (ie. ?) : Người cha !”
Tụi mình xuống xe. Đây người ta gọi là “tiệm hủ tíu của thằng chệt cây dầu”. Chúng ta vào lò gạch của người ngang tàng được người Biên Hòa kêu là “cậu Hai Đen con ông nhựt trình”.

Người viết báo phải có tiếng tăm về học thức lại có một tiểu sử nói ra không mắc cỡ.
Hai điều đó thiên hạ có biết hay không ? Không cần. Chỉ mình đã là “nhà”- nhà báo thì phải có tên.
Vừa nghe vừa nói tới đứa học trò cũ ở Phú Lâm, anh Thức đã cười, cười gần gũi. Khi nghe nói tay viết báo Dân Chúng, anh “à” dài một lời khen.
Marcle lại liền bỏ nhỏ :
– “Và đã làm Tiết Cương phá Thiết khư phần.”
Không được mà chạy trốn, nói không xấu hỗ.
Anh Thứ đánh vào vai tôi nói : “Ở đây !”
Marcel nói thêm : “Vài bữa”.
Vài bữa thật. Ba anh em đang đứng ngó mong bỗng thấy một xe hơi chạy đến tiệm hủ tíu thằng chệt cây dầu, trở đầu, đậu lại.
Ba anh em đi ra.
Đã được nghe nói trước rồi nên anh Thức đưa tay và ngỏ lời chào : “Đại ca! Như đã quen lâu.”
Anh Sáu xin cho đi liền khi trời còn mát.
Anh Sáu và anh Thức vào Cây Dầu uống cà phê chờ anh Tư và tôi dẫn thằng Chạm, thằng Bảy vô nhà xách 2 cái vali và 2 cây súng. Chị Hai và mấy đứa nhỏ chạy theo đưa tới ngoài đường để được biết mặt bà đầm chị và cháu dâu.

f. Đỉnh núi mây giăng.
Đây coi cảnh chiếc xe.
Tôi chưa từng thấy ai như anh chị và thương tôi như cái gia đình mới này. Anh Sáu đứng đầu với thân phận đại ca. Kế đó là Tươi và Thức “toi, toi, moi, moi” (ie. m ầy, mầy, tao, tao) không ai chịu ai là anh.
Em út là tôi, thằng Năm. Chị Francoise cũng rành tiếng và vế bên chồng mà gọi tôi “chú Nam” nghe rất dễ thương.
Anh Sáu ngồi sau tay lái. Còn Bạch Liên thì dựa vào cha. Chị Sáu ngồi bên cạnh ôm thằng Coquinot trong lòng.
Phía sau Chạm và Bảy co ro dưới gầm xe.
Trên đệm Michel, thằng con lớn ngồi với chú Tư. Thằng Daniel đã rất thân với chú Năm.

Không ai dám nói ra chật chội, trong xe như vậy, với số người như vậy, với đồ đạc của một cuộc dọn nhà mà đông như vậy.
Anh đại ca nói : “Đồ lề (ie. ?) trong xe, có ăn thua gì. Ở trong thùng xe chị Sáu còn đem theo một khạp me vắt. Chị nói sẽ nấu chua thịt rừng. Còn thằng Chạm và thằng Bảy sẽ ngồi tạm đó thôi. Lát nữa không thấy lính, lên đường Đà Lạt cho tụi bây ra ngồi 2 bên vè, xe nằn nì thì nhảy xuống đẩy. Tới tối thò đầu xuống đầu xe đập thỏ.”
Đường lên Đà lạt.
Xe không lớn, vừa nhỏ như vậy, vừa bò, vừa gầm được ba, năm, bốn cây số thì một trong 4 bánh xe có bánh nổ ầm.
Hành khách xuống xe, trải bố nằm dọc trên lề đường. Đó là nói đàn bà con nít. Đàn ông đội xe lên, tháo bánh cho Xô-cua (ie. bánh xe dùng tạm) vào, nạy vổ, vá ruột cái bánh nổ, bôm cứng cho nó làm Xô-cua.
Vậy nên từ Vỉnh Cửu tám giờ, tới Djiring sáu giờ sáng. Bao nhiêu cực khổ một ngày, một đêm với vá ruột xe.
Đến Djiring, anh chị Sáu lên ông Công sứ để thưa, cả gia đình mình lên ở La Ba : “Nghe nói có nhiều vườn cà phê khai thác đã hái rồi một hai mưa bổng gặp khủng hoảng kinh tế mà phải bỏ hoang. Nay xin thừa hưởng vườn trại ấy”.
Ông công sứ gật đầu. Chúng tôi đứng dưới chưn (ie. chân) đồi thấy vậy cúi đầu chào. Coi như gặp quan Tây như vậy cũng là chuyên không khó gì.
Đoàn người lại lúc nhúc lên xe.
Vỏ xe vẫn còn tiếp tục nổ.
Còn 10 cây số nữa sẽ tới Đà lạt. Xe quẹo trái trên đường đồi đất đỏ. Chạy một độ qua cầu trên suối Liên Khang. Ngước nhìn đường lên dốc. Khói chiều như tóc vờn trên đầu ngọn núi La Ba. Vào chưn núi bên cạnh cái nhà cao cẳng lợp ngói có mấy cái nhà lá “buồng không để đó”.

Chủ nhà cao cẳng ấy ông Xã Tám, người Bình Định vô khai hoang lập ấp. Anh Marcel và chị Francoise vô đó gặp ông.
Chị đầm nói : “Mới vừa gặp Công sứ xin phép vào ở đây. Ông sứ nói có nhà của ông huyện Lộc chúng tôi hãy đặt chưn tạm, tiếp tục khai khẩn cái vườn cà phê 5 mẩu của ổng và chịu đóng thuế cho ổng.”
Ông Xã dẫn đi coi nhà. Chúng tôi vay ổ rơm nhường cái giường độc chiếc cho chị Sáu và bé Coquinot.
Anh Sáu là bậc trí thức, thích làm lụng không chịu khoanh tay rể. Anh ngon ngọt với ông Tám. Ông cho mướn ngựa, mướn cho một cần đo (dẫn đường). Anh mang đèn, súng, lên ngựa theo thằng Chạm và một ra-đê.
Sáng ra, bốn ra- đê khác, đi trước anh Sáu, gánh một con nai.
Marcel rất khéo, ra thịt, đem biếu ông Xã và mời ông dự lễ cúng ra mắt sơn thần. Thật ra như đi qua đình, ngã nón chào “ông cửu và ông trợ” trong Xã.
Có thể cuộc sống của “gia đình” thật sung sướng phủ phê. Anh Sáu đi bắn bán nuôi cả bọn. Lâu lâu anh mang về Saigon còn có lộc nhung, mật gấu, anh Sáu gởi cho má tôi.
Tôi dạy cho Daniel học. Nó đã biết làm 4 phép tính. Ông Xã cho thằng Nghiệp, con ông học cùng. Về sau năm ba nhà nữa cũng gởi con. Một tháng tôi được lãnh tiền họ hùn lại 90 đồng.
Chúng tôi ăn Tết 1943 ở La Ba.
Có lúc anh Sáu, anh Tư dụm đầu lại sửa cái gì đó. Tôi ngồi xa xa ngắm hai anh.
Tại sao trời lại cho tôi hai người anh tốt đến dường nào ? Nói như anh Sáu, vừa biết tôi qua anh Tư mà đã dời nhà rất đầy đủ giàu sang mà lên rừng đùm bọc cho tôi ?
Tôi đã sống rất lâu với hai anh mà lúc nào cũng được nói tới “thằng Năm” một cách bằng lòng.
Làm cho khi già rồi, sống trong cô độc, nhớ hai anh, quyết không để ai chê trách “cái thằng không ra gì”, tôi viết tập sách này đền ơn hai anh, có phỉ lòng tôi đâu. Nhưng trong này là sự hấp hối của tôi,
Trời ơi, ăn chưa hết Tết, được tin vui rất lớn. Liên Xô thắng trận Stalingrad. Không cho tôi kêu trời cho sướng hay sao ?
Tôi đã thỏ thẻ, nói tôi sống với hai anh như Quan Công sống với Tào Tháo, thì không phải, nhưng hai anh hãy giúp cho tôi đi, khi tôi nghe tin Đảng ở đâu (như khi Quan Công nghe tin Lưu Bị ở đâu). Tôi chắc rằng nói vậy cũng trúng ý hai anh.

12. Nắm Được Một Mối Dây
Tôi bất ngờ có khách.
Chị Tư Đầy, người cách mạng 30, có ở tù. Ra tù ở tòa báo Dân Chúng.
Chị đi camion (ie. xe hàng to)lên tận nơi này, làm cái nghề mà ngày nay nói thì phải xin lỗi, nghề “buôn miên bán mọi”. Chở đồ sứ, đồ đồng, quần áo, vòng vàng giả, hột cườm,… và rượu đổi lấy cà phê, đậu, mè, lộc nhung, da thú, mật gấu.
Xe của chị bò từ cầu Liên Khang lên được một đoạn dốc đã mệt, ngừng lại thở va còn để bọc lòi-tói vào bánh xe, để leo lên cho tới Ban Mê Thuộc, trên đường đất đỏ mùa mưa.
Chị hỏi tôi có mạnh giỏi không nhưng giữ nguyên tắc là không hỏi ở đâu.
Nói chuyện Saigon thanh niên ca hát, có đua xe máy, có Lý Huê Đường qua đá banh.
Chị nói đầu đuôi lộn xộn để mà hỏi tôi.
Chị hỏi nhỏ vì chị dùng chữ mà chị thèm quá và cũng vì tính chất quan trọng của thông tin.
– “Mày, có nghe cái gì hôn ?”
– “Dạ thưa Von Paulus gục đầu ở Stalingrad.”
– “Ai cũng biết rồi.”
– “Chớ còn ?”
– “Tụi Bà Rá, Tài Lài vượt ngục em không nghe ?”
– “Vậy sao ? Về Saigon muốn gặp thì làm sao ?”
– “Em mà về Saigon hả. Và gặp tao để làm gì ?”
– “Chị giới thiệu… ”
Vừa nghe vậy chị đã vùng vằng.
– “Thôi đi mày. Tao đau khổ lắm. Tao rất thương thằng Văn, thằng Kỉnh và mầy. Tao nói
chuyện với mầy đây, thằng Văn nó đang nghe ! Mày biết hôn, thằng Văn vượt ngục Bá Rá. Trong tốp của nó có Nguyễn Công Trung. Thằng Trung đi thẳng về Cà Mau. Thằng Văn ở lại Saigon, tìm bắt liên lạc qua tao.”
– “Ôi sao chị khóc ?”
– “Tao giới thiệu nó. Đâu được ít ngày… nó… bị bắt và bót Catinat đánh nó chết. Trong khi này, mắt tao thấy có đứa cũng vượt ngục mà nó đi ngờ ngờ. Mầy liệu hồn mầy. Thằng Tây từ năm 1941 đã ký giấy cam kết chạy lương thực cho Nhựt. Liên Xô oanh liệt như vậy. Nhưng bọn Tây bên này ‘Maréchal, nous voilà’ chúng nó không thương CS đâu.
Xin em đừng gặp chị. Lương tân tao đang khổ với thằng Văn. Nhưng có cần gì quá mà phải gặp, thì ngày 9 và 15 tây, sáng sớm xe tao chạy qua ngã 3 Tam Hiệp. Và phải nói em biết. Đất Biên Hòa, Dầu Dây, Long Khánh, Hố Nai nhám nhúa lắm. Bọn Pháp đang nới lỏng chế độ tù Bà Rá… Nó cho ra ngoài ở, làm “colon” (ie. ruột già, ám chỉ kẻ thừa sai), cai quản tù sản xuất.
Mấy tên colon cầm roi ấy là, hoặc Tờ-rốt-kít như Lê Văn Thử hoặc như “ông nhà” tao, bây giờ cũng nặng mùi “cách mạng thường trực”. Thôi tụi nó bóp kèn, tao đi nha. Tao thấy cặp mắt mầy còn … sáng.”

13. Đảng và Mặt Trận
Tôi xác định ba anh : Đại ca, anh Tươi, anh Thức mến lo cho tôi vì một cái lẽ sống để làm gì.
Tôi thuật lại với hai anh… thì liền có kế hoạch.
Đại ca biểu gần Tết hãy về. Bây giờ thì lo thu lượm cà phê bán lấy tiền cho có mà xài.
Một í,t lúc có xe của một bà “đồng môn” của chị Tư Đầy, từ Ban Mê Thuộc về Saigon, ghé đó nghỉ xe và giao dịch. Đại ca tỏ vè nói chuyện với chauffeur (ie. người lái xe) coi xe máy tốt, thắng “ăn”, rồi “o” (ie. lấy lòng) bà chủ mà gởi hai đứa chúng tôi.
Về nhà anh Thức, tiếp tục hưởng ân huệ : “Ở đây !”
Anh Marcel về Tân An thăm nhà. Và lần nào như vậy cũng ghé qua Chợ Đệm.
Anh ngồi với anh Thức và tôi mà hăm hở nói :
– “Moi (ie tôi), ghé Chợ Đệm tình cờ gặp cái anh gì đó, lúc trước có làm tài phú cho tiệm cầm đồ ở đường Minh Mạng. Đà Lạt… của Chung Văn Năm ?”
Tôi nói giúp :
– “Anh Bảy Trân… ”
– “Ảnh đi nhà gạo, có hỏi thăm chú và nói nhỏ bên tai tôi : ‘về nói nó Sáu Nhỏ ở nhà tôi’ ”.
Tôi nhìn anh Thức. Anh nói :
– “Tính sao tùy chú.”
Tôi nói:
– “Ngày mai này Lê Thành Các đổ đèo Prenn rồi kèm Võ Văn Thâu mà vào Saigon. Ba đứa mình ra đứng trước nhà thương điên Biên Hòa, coi chơi rồi sẽ tính sau.”
Coi cuộc đua xe đạp xuyên Đông Dương lần ba này, hai ngày sau (vì cũng phải để cho anh Thức chạy mượn thêm một chiếc xe đạp) ba đứa lên đường đi Phú Lạc.
Tới tiệm cám của anh Tư Chí. Đứng ngoài đường, tôi chỉ vô :”Nhà đó ! Hai anh biết cũng cần. Thôi hai anh về. Chắc là tôi liều mạng về nhà ăn Tết. Tôi đợi anh Tư, sẽ đi trở lên anh Hai”.
Gởi xe ở tiệm cám, băng đồng khô vào nhà… Rơm rả ba điều bốn chuyện với chị Bảy rồi ra sau vườn ngồi gốc cây me với “anh Sáu”.
Ngày trước tôi chỉ gặp anh có một lần, lần vào thăm khám nhờ viết bài. Nay đã 7 năm.
Tôi không quên bài báo của anh làm cho Honel cự chúng tôi. Nhưng cứ ăn cơm mới.
Anh đưa ra tập sách nhỏ “Chương trình Mặt trận Việt Minh (VM)”.
Tôi cầm lấy mắt đọc, tai nghe.
Anh nói :
– “Tài liệu này mang vô đây vào đầu 42. Sứ thần bắt liên lạc với anh em Gia Định và Mỹ Tho. Có người chuyền cho tôi và nói, nghe thật là không hiểu nổi. Anh đó nói : ‘Nay không còn đảng nữa, chỉ còn VM. Lấy VM thay đảng’. Ý chú thế nào ?”
Tôi đáp :
– “Tôi cũng không hiểu nổi. Đảng là mặt trời. Mặt đất không thể thiếu mặt trời được !”
Bụng tôi nghĩ. Mặt trận thì tôi rành lắm.
Tôi biết “Mặt trận Thống nhất chống Phát-xít”. Tôi biết Mặt trận Bình dân.
Đều là do sáng kiến của Đảng.
Tôi là người nói sau cùng với đồng bào Saigon về Mặt trận Quốc gia Dân chủ. Thay mặt Đảng, tôi kêu gọi các tầng lớp nhân dân, nhân sĩ, trí thức. Không hề nói dứ (ie. rõ) lắm về ai lãnh đạo ai.
Chỉ mạnh dạn nói với anh em trí thức rằng anh em CS chúng tôi hứa là sẽ làm gương thi hành chương trình của mặt trận mà “các ngài cùng với chúng tôi” nhất trí. Chúng tôi lo, không để thua các ngài về tình yêu thương đất nước.
Tôi không nói ra. Vì cái câu “entre la peste et le choléra” (ie. giữa bệnh dịch hạch và dịch tả) cứ làm tôi ngờ ngợ.
Thì anh nói :
– “Nay tôi được chú làm tay mặt tay trái với tôi. Ta hoạt động coi như “một số đảng viên tản lạc gặp lại nhau hoạt động để bắt liên lạc với Đảng”. Bây giờ ta phân công chú mấy tỉnh miền Đông. Tôi mất tỉnh miền Tây. Như chia xoài chín. Còn lại cái hột, mạnh đứa nào nấy gặm. Tôi có trí thức thanh niên sinh viên. Chú có ái hữu, công đoàn của chú, ở trong ruột Saigon. Hè vừa qua học sinh ở Hà Nội về bãi trường; họ hoạt động sôi nổi lắm, ăn thua với phong trào thể thao thể dục của Tây. Khởi đồ đại sự luôn luôn là khởi tại châu thành. Ở mấy tỉnh, ta làm ra cái gì đó, rồi để đó cho họ làm. Ta phải ra sức hoạt động ngay trong ruột Saigon-Cholon. Ta lấy chỗ này để gặp. Một hay hai tuần ta gặp một lần, được hôn ?”
– “Làm ăn với nhau là phải cho nhau biết. Còn như gặp mặt thì nên tình cờ thì tốt hơn. À, mà này, anh nói anh em Gia Định và Mỹ Tho là ai vậy ?”
– “Anh Hai Trầu Bà Điểm với Dân Tôn Tử, chị Thập Mỹ Tho.”
Tôi được đãi cơm trưa, ngủ một giấc. Thức dậy xin cái tài liệu VM, bìa màu huyết gạch cầm “đi”.
Đã theo bóng ngã của hành me trên đường qua đó, Rạch Cát, tôi đạp xe về nhà.
Dọc đường nhớ lại Dân Tôn Tử, đã ở tù cùng một khám 6 với tôi, đã thề “không đội trời chung” với “mày thằng Sáu”. Như vậy làm sao họ bắt tay nhau ?
Thôi thì em lo phận của em : “Ta cứ lấy tài liệu VM mà hoạt động”. Đảng ở nơi tăm tối, nhưng có mặt khắp nơi, sẽ rõ lòng tôi.
Cha, mẹ, vợ, con tôi mừng lắm.
Ngày mùng 1 Giáp Thân (1944), anh Tươi, đứa con mà trời cho má tôi, đến ăn Tết vài ngày. Mùng 3 xuất hành, hai anh em đạp xe về anh Hai Biên Hòa.

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s