Viết cho Mẹ và Quốc hội (P. 6)

17. Tôi Sắp Ra Bắc
Nói chuyện với anh Thới là vào nửa sau của tháng 7. Tháng sau là Cách mạng tháng Tám rồi.
Tôi đã làm cho má tôi mừng. Mừng này là mừmg lớn lắm, lần thứ 2.
Lần mừng thứ nhất là năm 1931. Tôi đậu diplôme (ie. bằng tốt nghiệp Trung học thời Pháp). Má tôi mừng lắm, cũng phải, vì là trong làng từ thuở nào cho đến bây giờ, con cái nhà giàu đi học Saigon cũng nhiều nhưng chưa có ai vinh qui với bằng cấp.
Lần mừng thứ 2, tôi được cho làm Giám đốc Quốc gia Tự vệ cuộc Nam kỳ, coi ngang sếp bót lính kính của Tây.
Ngày 2-9, tôi đem xe hơi của nhà nước về nhà rước cậu, má tôi đi coi Saigon nay là của mình.
Xe có cắm cờ đỏ sao vàng, niềm văn minh của Tây thuộc địa dạy, công chúng biểu tình mừng Quốc khánh thấy xe hơi có cắm cờ nước là phất nón đưa tầm vông lên chào. Tôi nắm tay đưa lên chào lại và ngó qua ghế nệm phía sau. Má tôi ngồi với cậu tôi. Má tôi lặng lẽ để cho giọt vắn, giọt dài rơi xuống áo xuyến đen, rơi vào tim tôi, đọng lại tới bây giờ theo mũi viết mà nó rịn ra.
Năm 1995 là cái năm chủ nghĩa háo danh nó làm kỷ niệm rập rình, bắt tôi với lòng hết sức, nhưng vì nợ nước mà phải rập theo.
Rập theo khoe khoang không phải vì công khanh mà để cho rõ vài lịch sử bị kể méo.
Người tổ chức cướp chính quyền ngày 25 tháng Tám ở Saigon là chính tôi đây, chớ tôi không có ai trên đầu để tôi làm phó. Sử gia hãy nghe tôi kể lại :
“…
Một buổi chiều, nhớ chắc là ngày 24 chớ không thể ngày khác được, tại nhà số 6 Colombert, tôi thay mặt cho CS, họp với Huỳnh Văn Tiểng mà tôi coi là người lãnh đạo Thanh niên Tiền phong của Tân Dân chủ Đảng, với Trương Văn Giàu, Nguyễn Văn Quang, ông Đội Hưng ở Caserne Lelièvre (gần bên thư viện), Sơn Xuyên và Chín Bội của Brigade mobile Chí Hóa. Mấy vị lính này là bạn của tôi qua công tác binh vận mà tôi phụ trách bương bả.
Hôm đó tôi nói kế hoạch và phân công. Và cũng muốn làm oai chơi nên đề nghị các đoàn thanh niên của anh em Dân chủ chịu trách nhiệm những chỗ quan trọng mà cuộc khởi nghỉa nào của thành phố cũng đều nghĩ tới trước nhất. Những chỗ đó là : nhà đèn, đài phát thanh, khám lớn, nhà thơ dây thép, các trại lính.
Đằng anh em kêu, nhiệm vụ như vậy nặng quá, làm không nổi, cho lãnh những chỗ vừa vừa.
Tôi nói : “Vừa vừa là dinh Thống đốc, là đài phát thanh…?
Có người nào đó nói : “Hai chỗ đó lính Nhựt còn cả tiểu Đội chứ vừa gì ?”
Tôi nói : “Thật ra như mưa me chín, ta rung nó rụng thôi.”

Mà thế lực của ta là : ở cơ quan công sở nào cũng có Thanh niên Tiền Phong 2 màu cờ. Hôm qua cờ vàng hoan hô Khâm sai đại thần. Ngày mai cờ vàng cờ đỏ sánh đôi hoan hô VM vạn tuế.
Và cơ quan công sở nào cũng còn có ít nhiều lính Nhựt. Phạm Ngọc Thạch đã can thiệp với quan quân Nhựt mà neutraliser bọn cảnh binh rồi, mà làm cho cua còn ngoe ngoe nhưng hết kẹp. Tuy vậy ở các cơ quan quan trọng chúng ta lại bố trí một số lính tập của mấy anh đây.

Trên chóp nón là tôi, Chín Bơi và Kiều Tấn Lập. Chín Bơi tuần tra lính tập của ta. Kiền Tấn Lập thì có giọng nói mời lính Nhựt cầm súng đứng, không phải gác mà coi chơi, và ăn món cháo huyết Đại Đông Á.
Thấy hôn ! Tôi không ăn có với kỷ niệm tưng bừng mà “xin cho tôi can”, đừng nói quá lắm về tài giỏi mà như ông bà ta biểu “nói năng thì phải phân phân, cây da nặng thần, thần cậy cây da”.

Cách mạng tháng Tám ở Saigon mà thắng lợi là cũng có nhờ cơ hội, điều kiện thuận tiện giúp cho nó mà thôi.
Coi, tôi là người có tổ chức cuộc cướp chính quyền mà thiệt ra tôi có làm gì nhiều đâu.
Ta thành công cũng nhờ điều kiện đồng minh đánh Nhựt thua. Không có cái đó a ! Ngay nước hùng cường Trung hoa trước đây cũng có nói, họ cố sức chạy cho mau, trái đất tròn. Chạy một hồi họ ở sau lưng địch. Thành ra ta đuổi địch, chớ đâu phải địch rượt ta.
Ở ta, thắng Nhựt tỏ ra nghĩa hiệp. Ngày 14-8, Phát-xít Nhựt tuyên bố đầu hàng. Ngày 15-8, đài phát thanh Nhựt truyền đi sắc lịnh Nhựt hoàng về việc chấp nhận các điều kiện đầu hàng của đồng minh. Ngày 14-8, Nhựt đã đạo diễn cho Trần Trọng Kim làm lễ phục hồi chủ quyền ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng.
Cũng ngày 14-8, Bảo Đại cử Nguyễn Văn Sâm là khâm sai và Hồ Văn Ngà làm phó.
Cũng đều là Chính phó thủ lãnh của VN Quốc gia Độc lập đảng. ngày 19-8, Hồ Văn Ngà nhậm chức quyền Khâm sai từ tay Thống đốc Minoda.
Và ngày 14-8, Mặt trận Quốc gia Thống nhất dựng bàn thờ Tổ quốc ở sân banh vườn Ông Thượng. Khói hương nghi ngút. Diệp Ba đọc diễn văn.
Ngày 20-8, Mặt trận ấy chính thức thành lập.
Chiều 22-8, Nguyễn Văn Sâm ở Huế về Saigon. Họ đã sắp đặt sẵn.
Ngày 23-8, Mặt trận Quốc gia Thống nhất tổ chức biểu tình “tiếp rước Khâm sai”. Hôm ấy, nói về cờ, cờ quẻ Ly, dân gọi là “cờ 3 que” phần phật với ngọn cờ thiên cổ, màu vàng sao đỏ của Thanh niên Tiền phong (trong đám này tôi thấy có người là Mặt trận Công nông muôn năm).
Biểu tình vạn tuế muôn năm, coi cũng rầm rộ, nhưng coi trong cái vỏ ấy có cái gì.
Lịch sử phổ thông, coi ai cũng thấy. Một chính phủ có thành lập trên cơ sở giai cấp vững mạnh thì nó mới đứng vững được. Như người nghề võ có cặp ngựa yếu quá, quần với người ta, người ta quét một cái là nhào.
Cơ sở giai cấp, nền tảng Mặt trận Quốc gia Thống nhất của chính quyền Nguyễn Văn Sâm có đủ và không phải yếu. Ông ta nè, Hội đồng Bền_ chủ hãng xà bông VN nè và Kha Vạn Cân_ chủ lò đúc “Cân et Vang” nè (xin nói chừng ấy với đại biểu trí thức tư sản)
Trần Văn Ân, Đốc phủ Hoài là trí thức, địa chủ và quan lại.
Hồ văn Ngà, Hồ Vĩnh Ký ..vv.. (nhiều lắm tôi không kể hết làm chi).
Vậy mà ít ai dám ngồi lại với Khâm sai. Họ sợ tiếng collabo (ie. hợp tác) với Phát-xít, mà đồng minh sẽ đối xử là tội phạm chiến tranh.
Cho nên một tiếng hét “đả đảo” ngày 25-8 đủ cho ông Sâm nhào. Ghế bỏ trống. Ta leo lên là dựng “Ủy ban Hành chánh Nam bộ” (chớ có đâu Ủy ban Nhân dân vô duyên).
Cái Ủy ban Hành chánh ấy đã phong tôi làm công cụ cai trị, đã hỏi tôi vài vấn đề thuộc chức trách của tôi.
Tôi trả lời : “Không.”
…”
Không cấm một tờ báo nào hết, không hỏi han nhà xuất bản nào hết. Ai làm được cái gì đó trong nghề thì cứ việc làm đi ! Cho đến trường đua ngựa và tài xỉu sòng cờ bạc..
Vậy mới xứng đáng là nước ta đã được dân chủ mà không hề lấy nhân dân làm bảng hiệu.
Làm Giám đốc rồi thăng lên Ủy trưởng Quốc gia Tự vệ cuộc kể cũng là chức lớn.
Tôi đã làm gì ?
Tôi tự tìm mấy người hợp tác :
_ Một là anh Tư Bi làm Phó Giám đốc đặc biệt của miền Đông, theo dõi những tổ chức của Tây và thân Tây.
_ Hai là Kiều Tấn Lập Phó Giám đốc theo dõi những tổ chức thân Nhựt đang tiếc rẻ để vuột một chính quyền về tay VM.
_ Ba là Cao Đăng Chiếm, Phó Giám đốc về nội trị theo tình hình xã hội, kinh tế mà đặt hàn thử biểu vào nách nhân dân, người ăn không ngồi rồi của Saigon coi nhiệt độ của họ có lên xuống gì không…

Sự nghiệp của tôi đã cho phép tôi báo cáo với Ủy ban Hành chánh rằng : “Sự thắng lợi quá dễ dàng và chóng quánh của VM làm cho những đảng phái ngoài vòng cảm tình đã có ý muốn cướp lại nhưng họ đã thôi. Tôi coi cái nguyện vọng ấy của họ như cái trứng chí lép.”
Tôi có nghĩ : “Đồng bào ta đã từng ôm người CS mà chịu chết chùm. Cái cuộc biểu tình 25-8 đã biểu thị tình thương nước qua tình thương người CS.
Thì những người muốn cướp chính quyền lại, họ cũng biết nghĩ, đồng bào quần chúng không để họ làm…”
Cho tới bây giờ (thì phải nói với ngôn ngữ bây giờ) tôi tâm đắc một điều vô cùng quan trọng đó là Ủy ban Hành chánh. Chúng ta có chính quyền, có Nhà nước nên mới có thể tổ chức cuộc kháng chiến trên nguồn cung cấp của dân.
Mà nói tới nhà nước thì phải nói tới người đứng đầu. Dân tin vào người ấy (chỉ với tư cách là người đứng đầu nhà nước) thì dân mới chịu theo lịnh của nhà nước mà đánh giặc.

Tôi tự cho mình làm nhiệm vụ (làm công an) không tròn. Nói ra để xin đồng bào châm chước cho tôi. Chỉ có vốn nhỏ là nghề làm báo, rồi có khiếu nhận định tình hình, đánh giá tình hình. Nhưng dù có siêng năng, cũng không bù yếu kém. Nói một chuyện này mà thôi. Có đêm mấy thằng Tây chỉ có mấy đứa cộng với bọn Tây lai núp sau báng súng quân Anh giải giáp quân Nhựt, mà chiếm các cơ quan đầu não của ta. Tôi làm “sếp công an” làm gì mà tôi hoàn toàn không nắm được tin tức gì hết.
Đợi tới sáng bét, anh Nguyễn tới báo tin, gặp tôi đang ngồi coi anh thợ Ba Son (ie. hãng đống tàu Ba Son) sửa mấy cây súng hư_ võ trang cho thanh niên xung phong các khu vực.
Chiều 23-9, tôi mới bỏ nhà 65 Mac Mahon mà đi. Đến sở xe lửa gặp anh Hai Đốc đang dốc sức anh em thợ xe lửa đốt dépôt (ie. nhà kho nơi giữ hàng hóa) Saigon.
Tôi về Chợ Đệm, đặt Quốc gia Tự vệ cuộc tại đó.
Bây giờ thêm được đồng chí Phạm Hùng mà Nguyễn Văn Kỉnh giới thiệu là phó của tôi. Nhưng… làm gì tôi cũng phải hỏi ảnh.
Vậy là đã có Kiều Tấn Lập lo về xét xử, tra hỏi. Phạm Hùng phụ trách chung và có ý kiến quyết định hoặc tha, hoặc thả những phạm nhân mà anh em thanh niên trong thành bắt trói và giải xuống.
Tôi tổ chức ra Quốc vệ đội Nam bộ và đương nhiên tôi là chỉ huy trên cao. Bên dưới có 3 đại đội. Có đại đội Trần Quốc Toản là tự nó tổ chức ra, gồm anh em thanh niên thợ đúc ở Phú Lâm.
Tôi có cầm súng bắn giặc. Anh Phạm Hùng cho phép mở mặt trận Chợ Đệm đánh với quân Pháp, mới có không được mấy thằng, để cho anh em lục tỉnh chuẩn bị mà đương đầu với giặc Pháp sẽ kéo qua đông.
Cho tôi khoe. Lính của Quốc vệ đội đứa nào cũng gan. Vì tôi luôn có mặt ở chiến hào.
Đêm tôi đi ngủ với họ và nói chính trị không lớp lang gì hết cho họ nghe.
Sự tuần tiểu của quân Pháp ngày càng nhặt nên cái khám tù giao cho anh Hùng, anh đem vào kinh Xáng và đi luôn xuống Cà Mau.
Có một điều nói cho biết chứ không phải hay ho gì mà khoe. Ở Nam bộ mà đánh công kiên, dầu hết là bộ đội Chợ Đệm đánh đồn Pháp đóng dưới dạ cầu Bình Điền. Ta không cướp được trại. Nhưng lòng người Tân An, Phú Tây nức nở khi thấy sáng hôm sau, nhà binh Tây ở Saigon xuống chở nhiều xác lính về.
Nói sự kiện lớn tiếp theo là đầu tháng chạp Tây, chị hai Sóc dẫn xuống gặp tôi một người rất vui vẻ, tự xưng ngay là Cao Hồng Lãnh nói mình đại diện cho Trung ương để truyền đạt chuyện giải tán Đảng, thay bằng hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác.
Tôi không muốn cho bà con lúc ấy tản cư về Chợ Đệm rất đông. Họ nghe, nên tổ chức cuộc họp sâu trong làng Tân Nhựt tại chợ Trình Khánh Ân.
Lấy tư cách là Xứ ủy viên (vừa mới được long trọng bầu) tôi có nói thẳng là tai tôi vừa nghe đại biểu Đảng truyền đạt một điều vô lý…
Anh em kéo nhau ra về và la lên : “Anh em thanh niên đứa nào có vợ thì về ôm vợ mà ngủ chớ còn đánh chác gì, đảng đã giải tán rồi !”
Lại cũng nói…
Tôi là đại biểu Quốc hội thứ nhất, duy nhất. Sau tôi không có ai, của “địa phương Saigon-Cholon”.
Thứ nhất là đại biểu của Quốc hội ta, ngày xưa Nam kỳ coi như hàng tỉnh của Pháp quốc được cử một đại biểu vào Quốc hội Pháp, đó là Tây De Beaumont.
Duy nhất vì còn có hai vị nữa nhưng mà là đại biểu được mời.
Còn sau tôi không có ai vì là Saigon-Cholon đã trở thành Thành phố được mang tên Hồ Chí Minh “vĩ đại”.
Tôi được cha và mẹ bỏ thăm cho tôi và mừng nước mình xứng đáng tự do. Mới vừa nghe đọc thông điệp nhân quyền thì liền có phổ thông bầu phiếu. Lấy ngày 6-1 (6-1-1946) làm ngày tuyển cử tự do, là tôn vinh Đảng.

a. Tôi nói đến việc tôi mất chức.
Một ngày kia cũng ra giêng rồi, có 2 thầy trò người đó đến gặp tôi. Dáng cách là cán bộ đi với bảo vệ. Cán bộ là người xởi lởi, nói cười. Anh đưa giấy giới thiệu của bộ công an Hà Nội vào Nam bộ làm Giám đốc công an.
Tôi ra làm vui vẻ, đưa anh xuống Mỹ Tho để gặp Xứ ủy.
Hỡi ơi ! Khi tôi quay về Chợ Đệm thì quân Pháp vào Mỹ Tho. Trong chuyến này, Trần Văn Hiển, Chủ tịch tỉnh “chạy Tây” mà chết không được làm thằng chổng vì xác trôi ra biển. Anh Tạo được anh em ta_ vì ông (ie. là) Giám đốc công an Nam bộ_ mà đưa anh qua Gò Công. Từ đó anh về miền Bắc không thiết cái chức Giám đốc công an.

Tôi cười với tánh liếng (ie. hay phá như liếng khỉ) trời sanh. Ông cố, ông sơ của tôi, triều đình không bằng lòng bèn tống cổ vô Nam. Nay cái triều đình Hà nội thấy có vị nào đó bất trị thì cứ gởi vào Nam. Khi nào cần “tính sổ” tôi sẽ…

Bây giờ nói thêm cho vui về anh Nguyễn Bình. Ông này cũng cầm giấy chính phủ Trung ương giới thiệu vào. Vậy mà ông ta không biết Lê Đức Thọ. Cho nên ngày kia, có một anh Thọ vốn là người liên lạc, từ Bắc vào Nam. Thọ ấy vừa báo tin là Nguyễn Bình làm cổng chào. Bình với Thọ nói chuyện với nhau tâm đắc và kêu căng lắm. Vụ này nhờ có Lê Duẩn vừa mới từ Hà Nội vào Nam phát hiện ra. Và đã xảy ra một trò hài kịch. Ủy ban Hành chánh Nam bộ tổ chức tiếp đón ông Lê Đức Thọ để nhờ đèn trời soi sáng. Người ta hỏi tới đâu Lê Duẩn “bao mị” (ie. ?) trả lời hết và sáng hôm sau đuổi cái ông Thọ ấy về ngoài.
Ta tổ chức đại biểu quốc hội vừa xong thì cũng là lúc viện binh 2è DB (2è Division Blindée) của tướng Leclerc sang.

b. Mặt trận Chợ Đệm vỡ.
Nhiều bộ đội của ta vốn yếu kém, bị quân Pháp tấn công ào ạt mà Xô xác, phân tán, lẩn tránh, lâm vào tình trạng đáng buồn mà binh thơ du kích gọi là “Du nhi bất kích”.
Tôi vào rạch Ổ Cu, gặp cậu, và má tôi.
Má hỏi : “Sao con ?”
Tôi nói không ngập ngừng : “Nó súng ống nhiều hơn ta nhưng nếu ta không chịu thua, cứ giữ hơi thở mà đánh với nó hoài thì tình hình sẽ sáng sủa ra. (Ai nghe vậy mà không hiểu ra tình hình đang đen tối). Con đã bày tỏ cho ai đã tản cư xuống hãy lộn về thành.
Má cũng nên lịu địu (ie. ?) với cậu mà về ở tạm với cô Bảy, đợi con.”
Má tôi nước mắt dầm dề, trước mặt đông người, kéo tôi vào lòng. Tôi có nghe tiếng tim mẹ đập.
Tôi và Mười Trí, Bảy Viên, mỗi người một đạo quân lội bưng Tầm Lạc tới Tân Phú Trung lên Biên Hòa-Tân Uyên.
Tôi gặp Nguyễn Bình. Lần này coi như chào trả lần anh mới vô có đến Chợ Đệm “chơi cho biết”.

c. Bàn việc lập chiến khu.
Nguyễn Bình nói “bộ máy đã lắp ráp xong” vã đề nghị tôi giữ mặt Long Thành, Mười Trí, Bảy Viễn hoạt động Dĩ An và Thủ Đức.
Mười Trí và Bảy Viễn nghe tôi thuật lại đều cười : “Cái tay Quốc dân Đảng Bắc kỳ này không dám sống với Bình Xuyên lại có thên Quốc gia Tự vệ cục nên khéo tránh xa.”
Quốc vệ đội chia tay với Bình Xuyên tại lò đường Tân Huê, mà kéo về Vĩnh Cữu. Sáng hôm sau đã đánh toán quân Pháp kéo đi Bà rịa. Mấy chiếc camions (ie. xe hàng dùng chở lính) của Pháp bị ta đánh lật ở dốc Bình Đa. Đồng bào ở đó làm bò đãi tiệc thân mật, gặp lại chú Năm làm quan lớn, kéo binh về.
Thì ở đâu, Phạm Ngọc Thạch dẫn Hà Huy Giáp tới trong vui mừng thắng trận này, bày tỏ mục đích :
“Tình hình ở Nam bộ nguy ngập lắm. Phải có người báo cáo cho Trung ương rõ. Bảy Trấn báo cáo là tốt nhất. Nếu không thì có đoàn của Tôn Đức Thắng và chị Hai Sóc, mới lên đường ra Bắc cách đây vài ngày.”
Phạm Ngọc Thạch đề nghị : “Anh Giáp, anh Trấn đuổi theo nói cái gì cần thiết cho 2 người ấy báo cáo lại cho Trung ương.”
Tôi và anh Giáp cùng với 2 tiểu đồng tức tốc “đuổi theo”. Quốc vệ đội giao cho đại ca và anh Thức.
Đuổi tới quốc lộ, tại cây số 37, nghe người ở đó nói đoàn đó đã qua đường mà đi vào rừng đã 2 ngày rồi; đi chẳng kịp đâu !
Thì sao ?
Tôi nói để giữ chân anh Giáp, bằng tiếng Tây : “La question est de rester” (ie. Câu hỏi thì vẫn còn đó).
Bốn thầy trò quay về. Về tới Xuyên Mộc nghe Tây đã chiếm Bà rịa. Tôi cho 2 em bảo vệ làm thường dân, tìm xe về Vĩnh Cữu hay về luôn Chợ Đệm.
Anh Giáp và tôi lắng nghe tiếng sóng biển mà đi ra Khúc Mông, ăn cơm ở nhà người đánh cá, rồi cả ngày vào rừng coi người bắt ốc len.
Buồn quá chịu không nổi, anh Giáp nhất quyết phải về Saigon. Tôi thì không đi lộ liễu như anh được.
Anh Giáp nói : “Để tao về tìm cách đem xe rước mầy về”.
Tôi theo anh Giáp băng rừng về Bờ Đập. Sáng ra anh lên Bà rịa về Saigon.
Tôi theo lời dặn, bám chặt chỗ mà chờ. Tôi tá túc nhà của một bà mẹ ở tại ngã 3 Bờ Đập, trên đường ra Phước Hải.
Sáng sớm ăn cơm rồi vào rừng. Chiều tối mò về.
Bà mẹ ngồi tụng kinh trên bàn ngay đầu nằm của tôi.
Một hôm, đọc kinh rồi mà còn thấy tôi còn nằm thao láo, bà lên tiếng hỏi :
– “Nè con, mẹ chắc con làm ông gì lớn lắm ?”
Tôi lồm cồm ngồi dậy trả lời cho có lễ nghi :
– “Con mà làm ông gì. Chỉ là dân cờ bạc chạy giặc thôi mẹ à.”
Bà già cười, mắt híp tủa nét nhăn như rể tre :
– “Thôi giấu già làm gì. Mẹ thấy con nằm như Phật; quí tướng lắm. Con ở đây, không lo.
Hai đứa em nó gác ngày gác đêm ngoài đường, trong nhà có má thức tụng kinh.”
Nói vậy rồi bà đặt tay lên vai tôi và nói lời của mẹ : “Nằm xuống ngủ đi”.
Ở đó cũng cả tuần.
Sáng hôm nay, ngó lén ra đường thấy có dán cờ ở các thân cây, lại có treo cả banderole (ie. biểu ngữ) nữa.
Té ra trốn chui trốn nhủi mình có biết gì đâu.
Hôm nay mừng 14-9, ngày ký thỏa hiệp ngừng bắn của Hồ Chí minh với Pháp bên Tây.
Anh em trong Nam ta sao biết tin được nhanh nhạy vậy ?
Ngay lúc đó lấp ló ở hàng rào duôi (ie. ?) trước nhà một thanh niên đội fléchet, kéo xuống mí mắt. Thấy anh lấm lét ngó vào nhà và nhớ chừng lời anh Giáp, tôi bèn kêu lớn.
– “Anh kia, có phải anh muốn kiếm chú Bảy ?”
Anh ta : “Dạ phải”, mừng rơn.
Tôi lấy tay trỏ vào ngực mình.
Anh thanh niên dở nón đi vào.
Tôi nói vui vẽ, thấy bộ VM của anh dễ biết quá, bây giờ thì sao ?
Anh ta đáp :
– “Đại ca, anh Thức, có anh Marcel nữa, biểu qua đúng chỗ này rước anh.”
– “Rước đi đâu ?”
– “Về rừng Sác.”
– “Mình đi liền thôi. Để tôi chào từ giã.”

Mẹ à, hôm nay vui như ta thắng trận, anh em người ta rước con đi. Khi đi con xin nói với má, đúng như má nghĩ, con là quan lớn lắm, làm ông tự vệ cuộc… Ông ấy và con không đời nào quên hột cơm mà má cho ông ấy và con ăn.

Anh liên lạc và tôi, tối hôm đó về tới Lý Nhơn rồi cho xuồng chui vào một cái tắt (ie. ?) để gặp Quốc vệ đội, và 3 người anh tôi.

d. Tình nghĩa nói sao cho xiết.
Gặp nhau đây mới biết, anh Giáp về tới Saigon là bị bắt ngay tại bến xe. Đem về bót Catinat, anh được chúng nó cho uống vài thùng nước rồi giam. Không biết làm sao thằng Canac, chủ bút báo Les Lendemains hay được mà lấy tình lý của cái Hiệp định sơ bộ ngày 6-3 can thiệp xin thả anh Giáp ra.
“Và ảnh đã tìm liên lạc với chúng tôi mà nói về chú”, đại ca nói.
Và anh nói thêm : “Hành chánh Nam bộ có lịnh tìm được chú thì cả Quốc vệ đội, chúng tôi và chú cùng về”.
Vậy là anh Thức đi tổ chức cuộc kéo quân ra khỏi rừng Sác, vượt sông Saigon, qua vàm Nước Lên về kinh Xáng Tân Nhựt.
Nơi đây bà con ta đã thức dậy khi gà gáy. Mừng mừng nói nói. Cảnh cũ người xưa.
Dọc trên 2 bờ kinh nhà nào cũng có bộ đội đóng. Chú hương Lư Hanh, nguyên trưởng ban tiếp tế của Quốc vệ đội, chạy đi khắp xóm báo tin và quyên góp cấp tốc cho một cuộc đãi đằng.
Giữa cuộc tiệc, chú đưa ly lên mời và nói : “Ngày mà Tây nó vô xã Tân Nhựt này, nó đánh ta tả tơi, mà phải “hóa chỉnh vi linh” xé áo lành làm giẻ rách, bây giờ có “Hiệp định sơ bộ 6-3” lại có tiếp theo cái “Thỏa hiệp án 14-9”, ta vá vải vụn thành áo nguyên “hỏa linh vi chỉnh” và ngồi uống rượu như vầy.”
Trời sáng ra. Đứng bên này kinh đọc bảng ở phía bên kia kinh hàng chữ : “Ici, campons les Viet Minh” (ie. Đây, trại Việt Minh).
Ai cũng tức cười.
Tôi tưởng viết tường thuật ngắn như vậy đủ cho cả nước nghe mà mủi lòng về công trạng của “6-3” và “14-9” năm 1945.
Mặt trời lần lên, rồi hiện ra Kha Vạn Cân, Nguyễn Phú Hữu, chánh Phó Chủ tịch của “Ủy ban kháng chiến Hành chánh Saigon-Cholon” và Tư Chung, Ủy viên kinh tài. Hỏi ra thì biết thêm 3 nhà giáo dục : ông Chì, ông Chí, ông Các, đang ở trong Rạch Rít. Bà con đều mạnh giỏi.
Quốc vệ đội vì “có giấy đòi” nên tách riêng, đi về Sở.
Tôi đi trạm liên lạc mà xuống trình diện với “Nam bộ” thoi loi (ie. lôi thôi ?), chỉ có Ung Văn Khiêm, Phạm Ngọc Thuân và Trần Bửu Kiếm. Tất nhiên là có bộ phận văn phòng.
Nhìn qua trước mắt con kinh Trà Cú, có một cái chòi tranh. Đứng xa ngó vô thấy âm u.
Đó là cơ quan thường vụ xứ ủy, mà người “giữ chùa” là Thượng Vũ.
Tôi ở nhờ nhà ông thầy pháp.
Sau đó ít lâu, đồng chí Lê Duẩn vô. Thì hôm vừa qua tết, chính tôi Quốc vệ đội đưa ảnh ra. Với tình hình này, anh trở vào.
Vã lại Trung ương cho Nam bộ đang lợi nghỉn (ie. ?) một cán bộ lãnh đạo có kinh nghiệm, năm 36-39, đã từng là một vị cùng khóa Trung ương bí mật với Hà Huy Tập, Nguyễn văn Cừ là phải vì trong lúc này, nhờ thỏa hiệp án mà Nam bộ đã củng cố ủy ban, biên chế bộ đội và thành lập 3 khu có Bộ Tư lịnh. Trước mắt đang mở ra một cuộc kháng chiến có bề thế. Quân ở các địa phương biết làm cho lính Việt gian sợ mà bán súng đạn cho, rồi đào ngũ.
Thượng Vũ là Nguyễn Văn Kỉnh đưa anh Duẩn ra ở chung với tôi, cho có đích thân Ủy trưởng Quốc gia Tự vệ cuộc bảo vệ cho.

Tôi đã nói lợi thế cho anh nghe.
Chúng ta ở đây là gần bên sông Vàm Cỏ Đông. Quân Pháp chạy tàu tuần tiễu, ngồi đây cũng nghe tiếng tàu chạy. Nó vô đây lúc nào cũng được. Nhưng nó không vô. Vì đầu kinh có Tắt Cần Dè. Bộ đội của Mười Trí đóng đó, ở nhà của Hương cả Bộ, ông thân của Huỳnh Phú Sổ, cho nên thầy và đệ tử cũng rất đông.
Tàu Tây chạy qua mỗi ngày. Mười Trí không dám bắn xuống. Nhưng Tây cũng không bắn lên vì Mười Trí và Bảy Viễn là Tây đang nhắm lôi kéo.
Vậy nên ta ở đây gần sông cái, cây cối rậm rạp mát mẻ, dễ mua đồ ăn hàng vàm, mà lại có Bình Xuyên, Hòa Hảo làm bình phong.
Anh Duẩn ở yên với tôi.
Anh viết tập sách mỏng tựa “Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác và cuộc kháng chiến”.
Đúng chư Cao Hồng Lãnh đã truyền đạt (11-1945 ĐCS đã tuyên bố tự giải tán).
Anh có biểu tôi viết vào trong đó về thanh niên và tôi đã viết được ngót 2 trang.
Trong thời kỳ đó, giặc Pháp có cho nhảy dù xuống “Hội đồng Sầm” để giải thoát cho tù nhân mà ta giam ở đó.
Có cái tốt là tù nhân không chạy theo Tây. Ta không tổn thất đáng kể.
Cơ quan Nam bộ lúc trước teo đi, nay được thế nên người trí thức đã về thành, nay lại quay ra.

Ủy ban Kháng chiến Hành chánh đặt ở chỗ Trạng sư Nguyễn Thành Vĩnh, bây giờ họp hành rôm rả với những : Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Trần Bửu Kiếm, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Văn Hưởng, Trần Văn Nguyên, Đặng Minh Trừ, Nguyễn Phú Hữu, Tạ Nhất Tư, Tạ Nhứ Khuê, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Văn Chì, Hoàng Xuân Nhị, Lê Văn Thiêm, Hồ Văn Lái, Trần Hữu Nghiệp, Đặng Ngọc Tốt, Nguyễn Văn Am, Nguyễn Văn Hoa, Hồ Văn Huê,… và Phạm Thiều với tôi.
Ung Văn Khiêm là người “nói tiếng của Đảng”, cũng có Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Kỉnh phụ vô.
Tiếng nói có nghe súng khua là của Nguyễn Bình, Trần Văn Trà_ nhị vị khu trưởng 7, 8_ và của Diệp Ba_ giám đốc công an.
Anh Duẩn và tôi cũng ở chung tại nhà bà Tám Vú Sửa, trên kinh La Grange, ngó qua Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ. Chung quanh và ở lấp ló trong những rặng tràm là những cơ quan Cứu quốc Phụ nữ, Thanh niên, Nông dân, nhửng cơ sở của kỹ thuật, Vê Tê Đê, Bê Xê X, và đài phát thanh. Nơi đây cũng là nơi những cái ổ của những người có học Tây và giỏi như Huỳnh Văn Nhâm ở Binh Công Xưởng khu 8. Như Hồ Thị Minh, người Chủ bút đầu tiên của báo Phụ nữ Cứu quốc Nam bộ, đã được cử đi dự hội Femmes francaises ở Paris.

Nói (mà không đủ) danh sách anh hùng như trong Thủy hử vậy để làm chi ?
Để nói ông Lê Duẩn, ngồi giữa đám đó là ngồi với vui tánh bạn bè với cái nói ngang không cả tin, với cái cãi lại vì không cả nể, với cái tinh thần phê phán sắc bén, với cái logique chặt chịa, mà hoá thành “Lê Duẩn- Anh Ba”.
Anh Duẩn đề nghị phong tôi một chức gì. Phó Chủ tịch Nam bộ Phạm Ngọc Thuần không cần bóp trán nói ngay :
– “Contrôleur de l’Armée” (ie. Thống sứ quân), chức này ngang với tướng Leclerc, lớn lắm. Ta chưa có, thì cứ thử đặt ra coi.

Đột nhiên khu 9 báo tin, khu trưởng Huỳnh Phan Hộ tử trận.
Anh Duẩn đề nghị, Kháng chiến Hành chánh Nam bộ phong tôi làm khu trưởng và tôi được lịnh đi nhậm chức ngay.
Trên bãi đất trống ở chợ Chắc Băng, kèn lính thổi chào mừng khu trưởng kế vị.
Đâu độ một tuần sau, ở trên có giấy và thơ xuống. Giấy của Ủy ban cử Trương văn Giàu đang làm khu phó của ông Trà, làm khu trưởng thay tôi xuống làm khu phó. Còn thơ của anh Duẩn gởi cho khu Ủy khu 9, cắt nghĩa việc làm là công tác mặt trận. Và Trấn an : “Với đồng chí Trấn thì không sợ có vấn đề bất mãn huống chi, là Xứ ủy viên thì trong nhiệm kỳ tới của khu Ủy đồng chí Trấn sẽ là Bí thư”.
Anh em khu Ủy còn thắc mắc dài, thì Xứ ủy điện xuống đòi quan biên ải về trào. Để chi ?
Té ra bởi nạn Nguyễn Bình cùng kiêu binh một vần.
Cái ông gốc Quốc dân đảng này trổ mòi lấn áp Thành ủy, tự chuyên hoạt động trong nội thành, không tôn trọng Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Saigon-Cholon cho đến Mười Cúc phải “xấc bấc xang bang”, 11 ban công tác thành của Sáu Hâm gay cấn mà không còn hoạt động được.
Nguyễn Bình là người Bắc.
Chánh ủy của khu ông cũng là “Bắc Hà”, cũng là Xứ ủy viên.
Bí thư Xứ ủy lúc này là Phạm Hùng.
Lê Duẩn với tư cách Ủy viên Trung ương đặc phái siêu lãnh đạo. Anh nêu ra vấn đề nâng cấp Nguyễn Bình làm Tổng tư lịnh Bộ tư lịnh Nam bộ với Lê Duẩn làm Chính ủy.
Bốc Nguyễn Bình ra khỏi chức vị có thực quyền.
Thay vào Lê Văn Viễn tự Bảy Viễn làm Khu trưởng khu 7.
Nguyễn Văn Trấn làm Chính ủy.
Huỳnh Văn Vàng tự Ba Vàng làm Tham mưu trưởng.
Cuộc họp của xứ (được mở rộng cho Thành ủy, Ủy ban Saigon- Cholon và Ủy ban Nam bộ) để thảo luận vấn đề này mà cái gút là cựu tướng cướp làm Khu trưởng, y lại có kè kè Lại Hữu Tài, một người trí thức Tờ-rốt-kít làm thư ký riêng. Nó có thằng anh Lại Văn Sang dính líu với Tư Thiên, một tên mật thám vào nằm với Bảy Viễn như con sâu nằm trong trái mãng cầu.
Bây giờ Bảy Viễn làm Khu trưởng thì làm sao giải quyết được cái nố (ie. ?) ấy.

Người ta bàn nát nước.
Người ta hỏi tôi : “Sao ?”
Tôi nói : “Tôi với Mười Trí sẽ giải quyết đám Lại Hữu Tài. Được chớ anh Mười ?” Mười Trí được mời dự họp, gật đầu câu hỏi của tôi.
Vậy là sáng hôm sau tôi lấy một tên lính ruột là Bốn trong Quốc vệ đội làm bảo vệ.
Mười Trí có : Ba Xạ_ ngày xưa là một tướng cướp, lấy đũa đóng vài tai tài chủ mà bắt đưa chìa khóa tủ sắt. Bốn đứa lội biền Rạch Đỉa nước ngập hụp đầu mà ra mé sông Saigon nhờ người ta đưa ghe qua Bình Xuyên. Vào hang Bảy Viễn để mời về họp, thì anh Duẩn cũng đã nói như chỉ thị : “Có thằng Trấn và Mười Trí xuống mời họa may Bảy Viễn mới chịu về”.
(Nghĩ cũng thương, anh Duẩn tin tôi tới như vậy. Và đây phải nói, có sử gia nào viết, người đi mời đó không phải là Mười Trí với tôi).
Bảy Viễn vui vẻ nhận lời. Cuộc phó hội của Bảy Viễn được yểm trợ bằng một trung đội có cả “treize deux” (ie. 1302) do Lại Văn Sang chỉ huy.

Từ khi họp bàn đến lúc Bảy Viễn về ngồi bàn họp, thời gian cũng đến cả tuần. Thời gian ấy “đồng minh” với kế quỷ.
Cuộc họp bàn đã đi đến bưóc chót. Huỳnh Văn Tiểng về viết bài, để hừng đông sáng mai ít lắm cũng là dân cà phê hủ tíu Saigon- Cholon người ta được báo tin Bảy Viễn (được cử đàng hoàng) làm Khu trưởng khu 7. Và…
Thì có người của Mười Trí đi xuồng như bay tới báo : “Bình Xuyên bị tảo thanh. Tư Tỵ chi đội 25 và rể là Tư Hoạnh chi đội 7, chống cự không chịu để cho tước vũ khí. Họ đã bị hạ sát.”
Việc xảy ra tiếp theo thì không cần phải đoán là Bảy Viễn và Mười Trí ra về, dường như không chào ai cả. Và có việc người ta không ngờ là khu cho một đại đội lính bao vây và lùa trung đội của Bảy Viễn đi lần từ chỗ Mười Trí tới Kinh Xáng Tân Nhựt. Tới đây Ủy ban địa phương Saigon- Cholon hết lời năn nỉ nhưng Bảy Viễn không nghe và trung đội Bình Xuyên này liên lạc với quân Pháp. Và quân Pháp long trọng tiếp đón Bảy Viễn trên đường Tân Kiên An Lạc.

Vậy là nhờ vị tướng quân Bắc Hà đã thắng Lê Duẩn. Anh này đã than khi đưa tôi trở về khu 9 : “Cái thằng đó nó là Tờ-rốt-kít và từ Côn lôn cho tới bây giờ nó luôn luôn chống đối”. (đó là nói cái anh cũng Xứ ủy viên, Chính ủy khu 7)

==================================

Mục Lục, P. 1, P. 2, P. 3, P. 4, P. 5, P. 6, P. 7, P. 8, P. 9, P. 10, P. 11, P. 12, P. 13, P. 14, P. 15, P. 16, P. 17, P. 18, P. 19, P. 20, P. 21

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s