Viết về Hồi Ký “Viết cho Mẹ và Quốc Hội”

Viết về Hồi Ký “Viết cho Mẹ và Quốc Hội”

Đây là một cuốn sách từng bị cấm lưu hành và bị thu mua vào tháng 10/1995 bởi nhà cầm quyền csvn sau lần phát hành 10.000 bản đầu tiên trong tháng 9/1995 đến đọc giả, bạn bè của tác giả và cả những người trong Quốc hội, đảng viên Trung ương cao cấp. Giá thu mua còn cao hơn giá bán chính thức 30 Mỹ kim vào tháng 8/2009 ở Hoa Kỳ sau khi một bản in được đem ra nước ngoài tái ấn bản với sự đồng ý của tác giả. Đó là khoảng thời điểm mà nhà cầm quyền csvn hô hào “đổi mới” nhưng thực chất là nhằm xoa dịu những tâm tư uất ức, chán nản –trước chế độ mới– của một số người từng phục vụ cả đời cho Đảng; nhất là những đảng viên kỳ cựu trở lại miền Nam và những lão thành –là đảng viên hay ngoài Đảng– trong Mặt trận Giải phóng. “Viết cho Mẹ và Quốc hội” là một phản ảnh của sự “đổi mới” đó !

1- Sơ Lược về Tác Giả và Giai Đoạn Lịch Sử:

(Sở dĩ phải viết thêm giai đoạn lịch sử trong phần nầy vì muốn làm sáng tỏ hơn một khía cạnh có liên quan đến tác giả, và cũng nhằm giúp người đọc hồi ký nầy cảm nhận được bề mặt sự thật của câu chuyện; cũng như hiểu được thêm những lý do biến chuyển tư tưởng mãnh liệt của tác giả khi trở lại miền Nam sau 21 năm tập kết ra Bắc.)

Nguyễn Văn Trấn, sinh ngày 21/03/1914, chợ Đệm, huyện Bình Chánh, tỉnh Long An (theo wikipedia)_ là một thanh niên hăng say hoạt động báo chí nhằm chống lại thực dân Pháp trong thời gian còn là học sinh trường Pétrus Ký, Sài Gòn. Cậu ấm tử Bảy Trấn là con út trong đại gia tộc giàu sang ở miền quê với những mảnh ruộng cho thuê, kẻ ăn người ở, và dòng họ có quan chức Pháp. Tuy không được cho đi du học Pháp như hai người anh vì gia đình lo ngại bị ảnh hưởng bởi phong trào đấu tranh của nhà đại cách mạng Phan Chu Trinh (hay Phan Châu Trinh), hay những phong trào xã hội Pháp –mà một trong hai người anh phải bị hai năm tù sau khi trở lại miền Nam– cậu Grégoire Bonier, tên tiếng Pháp, cũng có thể lấy được bằng Tú Tài Pháp-Việt phần nhất (?)

(Xin nói thêm một ít về văn bằng trong thời Pháp thuộc để minh định sự sáng tỏ cho lịch sử. Theo như wikipedia, “Nguyễn Văn Trấn”, cho rằng Nguyễn Văn Trấn lấy bằng Tú Tài phần một vào năm 1930, và bắt đầu nhập học trường Pétrus Ký từ năm 1927; như vậy cậu ấm lên Sài Gòn lúc 13 tuổi để theo bậc Trung học (Enseignement Secondaire) ?
Nếu tính từ 5 tuổi_ là độ tuổi rất sớm hơn người thường mà đáng lý ra là 7 tuổi_ đã bắt đầu vào lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin), phải mất 6 năm lấy bằng Tiểu Học Yếu Lược hay Sơ Đẳng Tiểu học (Certificat d’Études Primaire Franco-Indigène, viết tắt là CEPFI), và sau đó học thêm 4 năm bậc Cao Đẳng Tiểu Học (Primaire) để thi lấy bằng Cao Đẳng Tiểu Học (Diplôme d’Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène) còn được gọi là bằng Thành Chung, mới được dự thi lên bậc Trung học, thì khi vào Pétrus Ký, Sài Gòn, cũng ít nhất là 15 tuổi.
Và sau khi thi đậu vào bậc Trung học, học sinh phải vào Sài Gòn vì chỉ nơi đây mới có trường Trung học Pháp-Việt ở Nam phần hoặc ra Huế học trường Khải Định hay Hà Nội với trường Bưởi. Theo chương trình trường Pétrus Ký trong giai đoạn đó là sau 2 năm, học sinh thi lấy bằng Tú Tài phần một (Baccalauréat, 1ère partie), sau đó thêm 1 năm học nữa lấy bằng Tú Tài Toàn Phần (Certificat de Fin d’Études Secondaire Franco-Indigènes) mà không cần qua dự thi.
Tuy nhiên trong hồi ký của Nguyễn Văn Trấn, ở phần “Tôi làm báo“, tác giả viết là “… Hồi còn học năm thứ 3 Pétrus Ký…” và đang chuẩn bị học thi lấy bằng Diplôme. Chữ “diplôme” ở đây, có lẽ tác giả dùng sai vì nó được dùng cho bằng Cao Đẳng Tiểu Học (Diplôme d’Étude Primaire Supérieurs Franco-Indigène). Và nếu tác giả là học sinh Trung học Pétrus Ký thì phải biết chữ “Baccalauréat” –là bằng “được xem như” tốt nghiệp bậc Trung học theo chương trình Pháp-Việt mà Quốc trưởng Bảo Đại đã chấm dứt áp dụng vào năm 1949 sau khi Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương. Tuy vậy, cho năm 1975 trước “giải phóng”, người ta vẫn dùng chữ “Baccalauréat” để chỉ bằng tốt nghiệp Trung học; không phải là chữ “Diplôme”)

Trong thời gian ở Sài Gòn, cậu ấm, cũng như những thanh niên khác, hăng sai tham gia phong trào chống Pháp, với bầu nhiệt huyết yêu nước, yêu dân tộc nên sau đó bỏ học và gia nhập Đảng Cộng sản Đệ tam Quốc tế trong miền Nam. Vì đó là đảng phái hoạt động mạnh nhất lúc bấy giờ, với số đảng viên đông đảo ở Sài Gòn sau khi phong trào “Duy Tân” của Tây Hồ-Phan Chu Trinh gần như bị tê liệt sau khi cụ mất vào đêm 24/03/1926. Mặc dù hai đồ đệ trẻ, đầy học thức là Nguyễn An Ninh và Tạ Thu Thâu thừa kế công cuộc cách mạng nhưng sau đó chuyển biến đường lối đấu tranh ôn hòa từ phong trào “Đông Kinh Nghĩa thục” (nhằm vận động đưa thanh niên du học ở Nhật) –bị đàn áp giải tán sau 8 tháng hoạt động hợp pháp vào năm 1907 dù được phát triển rất mạnh và mau chóng lan rộng– sang học hỏi về Cộng sản Đệ tứ Quốc tế (được thành lập vào năm 1938 tại Pháp qua chủ thuyết Trotsky –Trotskyism– của Leon Trotsky, người Nga, nhằm chống lại Cộng sản Đệ tam Quốc tế với chủ thuyết Stalin –Stalinist– của Joseph Stalin) mưu cầu giải pháp đấu tranh cách mạng sôi động khác.
Cũng vì đảng phái của Cộng sản Đệ tứ (1938) ra đời sau 19 năm so với Cộng sản Đệ tam (1919) nên số đảng viên chưa nhiều, và nhất là đảng phái Cộng sản Đệ tứ cũng chỉ mới du nhập vào Sài Gòn trong khi Hà Nội đã theo Cộng sản Đệ tam từ lâu nên ra sức tuyên truyền và thành lập hệ thống Cộng sản Đệ tam khắp ba miền dưới danh nghĩa quốc gia, dân tộc mà đa số thanh niên; ngay cả đảng viên cộng sản lúc bấy giờ hoàn toàn không hiểu rõ Cộng sản Đệ tam là gì hay những gì Stalin đang hành xữ ở nước Nga vì họ thiếu tài liệu, thông tin; ngoại trừ những bài diễn thuyết, tài liệu tuyên truyền từ Hà Nội lén lút gởi vào Sài Gòn. Và vì họ nhận thấy tất cả những phong trào cách mạng chống thực dân Pháp trong nước từ trước đến nay đều bị giải tán một cách mau chóng –vì thiếu hậu thuẫn quốc tế mà quốc tế cường mạnh thì làm ngơ vì quyền lợi của họ– nên con đường cứu nước chỉ có thể tìm thấy từ Đảng Cộng sản Bolshevik Liên Xô, tức Cộng sản Đệ tam Quốc tế, đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới; ngay cả Pháp cũng có Mặt trận Bình Dân (1935–1938) là do hai đảng xã hội và cộng sản kết hợp, cũng đang thắng thế ở Pháp.

Sau khi Nguyễn An Ninh trở lại Sài Gòn cùng Phan Chu Trinh vào ngày 26/06/1925, gần 1 năm rưỡi sau nhà đại cách mạng họ Phan tạ thế. Sau đó là giai đoạn Mặt trận Bình Dân ảnh hưởng lớn ở Sài Gòn, mà qua đó Hà Nội càng đẩy mạnh tuyên truyền cho Đảng cộng sản Pháp, cũng như Đảng cộng sản Đông Dương, nên thu hút số đông thanh niên miền Nam tham gia. Và chính tác giả, Nguyễn Văn Trấn, cũng là đảng viên sau khi thi lấy bằng Tú Tài phần nhất Pháp-Việt với tờ truyền đơn đầu tay (1937) được Hà Huy Tập –Tổng Bí thư (1936) Đảng Cộng sản Đông Dương– khen ngợi. Kế tiếp là tờ báo Le Peuple (Dân Chúng) ra đời vào năm 1938, mà tác giả cùng vài người bạn tham gia dưới sự điều động của Hà Huy Tập.
Cũng chính tác giả là người dẫn đầu cuộc Cách mạng Mùa Thu (25/08/1945) ở Sài Gòn mà tác giả có nói đến trong hồi ký : đó chỉ là cuộc vận động chiếm lấy thành phố mà không cần vũ khí giới vì tất cả quân đội Nhật rút hết vào trại đóng kín cổng của họ để chờ Pháp đổ bộ trở lại Sài Gòn đến giải giới.
Trong khi đó tại Hà Nội, Mặt trận Việt Minh do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo cho cán bộ trong thành phố trà trộn trong những cuộc biểu tình được phát động bởi thành viên của những đảng phái quốc gia từ ngày 15/08/1945 đến 19/08/1945, nhằm lôi cuốn, giành lấy hậu thuẫn các tầng lớp quần chúng. Mặt khác, Việt Minh cử người đến điều đình với thành viên trong chính phủ Trần Trọng Kim –mới thành lập nội các vào ngày 17/04/1945, chưa có quân đội và tài chánh, chỉ 4 tháng trước khi Nhật đầu hàng Đồng minh, 13/08/1945– Trong bài viết “Bắc Bộ phủ trong ánh sáng mùa thu Cách mạng”, 30/08/2011, Anninhthudo, có nói đến như sau :
“… Tiếp đó, ngày 13 rồi ngày 16-8-1945, đại diện của Việt Minh, các đồng chí Lê Trọng Nghĩa, Nguyễn Khang, Thường vụ Xứ ủy, đồng chí Trần Đình Long đã đến phủ Khâm sai gặp ông Phan Kế Toại đề nghị “ông Khâm sai nên trao chính quyền cho Việt Minh”

Phan Kế Toại lúc bấy giờ là Thống đốc Thái Bình qua sự bổ nhiệm của Pháp, cũng là thành viên trong Chính phủ Trần Trọng Kim, nhưng từng giúp đở, che dấu những cán bộ, thanh niên hoạt động cho Việt Minh. Sau ngày Cách mạng Mùa Thu, Phan Kế Toại giữ chức Bộ trưởng Bộ nội vụ và sau nầy là Phó Thủ tướng (1955–1973) của nhà cầm quyền Hà Nội

Đồng thời mặt khác, cán bộ Việt Minh điều động nhóm Thanh niên Cứu quốc thủ tiêu hay đe dọa bất kỳ nhân vật người Việt nào thuộc đảng phái khác hay chỉ có ý định chống lại công cuộc chuẩn bị nắm lấy chính quyền năm 1945 mà Giáo sư Phạm Cao Dương, trong bài viết “Một vài ghi chú về một nhân vật lịch sử sắp vĩnh viễn ra đi”, có nhắc đến như sau :
“Mục tiêu thứ ba đã được nhiêu người coi là chính vì chuyện dọa dẫm, ám sát, bắt cóc, thủ tiêu… đã xảy ra rất nhiều và đã được Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, người được coi là đã thay thế Khâm Sai Phan Kế Toại ngày Việt Minh cướp chính quyền ở Hà Nội, nói tới như là một trong những nguyên nhân của sự thành công của Việt Minh trong biến cố 19 tháng 8 năm 1945. Nó cũng được Nguyễn Tường Bách kể lại trong hồi ký của ông này qua lời của đe dọa mà Dương Đức Hiền thuộc Đảng Đân Chủ nói với ông Bách và nhà văn Khái Hưng. Điều này phù hợp với những gì Tướng Giáp viết trong hồi ký của ông, trong đó ông nói tới “những cuộn dây thừng” mà mỗi đội viên tự vệ bắt buộc phải có để “bắt Việt gian”.”

Thực chất lực lượng Việt Minh lúc bấy giờ chỉ là nhóm nhỏ dưới hai người với vài khẩu súng dài và ngắn mà họ mua lậu từ lính Pháp, nên khi hành sự phải dùng phương pháp cổ điển bằng dao, dây thừng, hay bằng tay và nhờ vào nhóm Thanh niên Cứu quốc hoạt động nội thành trợ giúp. Cũng như trong miền Nam, cuộc Cách mạng Mùa Thu ngoài miền Bắc hoàn toàn không có tiếng súng; ngoài vài tiếng súng thị uy khi cán bộ cộng sản nhảy lên diển đàn cướp sân khấu trước Nhà Hát lớn, trương cờ sao vàng và hô hào quần chúng kéo nhau đi trong khi đại diện chính phủ Trần Trọng Kim nói chuyện trước quốc dân, chờ đợi Trần Trọng Kim đăng đàn. Cuối cùng chính phủ Trần Trọng Kim phải giải tán vào ngày 25/08/1945, cũng là ngày Cách mạng Mùa Thu xảy ra trong Nam phần do chính tác giả, Nguyễn Văn Trấn, cầm đầu huy động tầng lớp công nhân dù theo Lịch sử Đảng, tác giả không được nhắc đến trong vai trò nầy mà thành quả được ghi nhận cho Trần Văn Giàu, Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Nam bộ, cấp trên trực tiếp của tác giả; cũng chính là nhân vật hoạt động “nổi” có tiếng sau khi bị Pháp trục xuất về Việt Nam cùng lúc với Tạ Thu Thâu (người mà Trần Văn Giàu –sau nầy được xem là Giáo sư sử gia ở Hà Nội– xem như bậc đàn anh đáng nễ và nhờ cậy nhiều).

Cũng nên nói thêm, trong giai đoạn tháng 8 lịch sử đó ở miền Nam, nhà cách mạng trí thức bị Pháp trục xuất về nước vào tháng 4/1930, Tạ Thu Thâu –người theo Cộng sản Đệ tứ Quốc tế, ra báo La Lutte (Tranh Đấu) trong sự hợp tác với người thuộc Cộng sản Đệ tam Quốc tế, bị bắt vào ngày 18/08/1945– trong giai đoạn khủng bố ở miền Bắc_ sau đó bị thủ tiêu ở cánh đồng Dương, bờ biển Mỹ Khê, Quảng Ngãi trước khi Hoàng Quốc Việt, đại biểu Trung ương và Cao Hồng Lãnh, đại biểu Tổng bộ Việt Minh được cử vào Nam.

Trong 9 năm ở miền Nam, tác giả Nguyễn Văn Trấn giữ chức Chính Ủy bộ Tư lệnh quân khu 9 với hỗn danh “Hung thần chợ Đệm” mà Bs. Trần Ngươn Phiêu có nhắc đến trong bài “Những Nhân Chứng Cuối Cùng” khi đối đầu với những thành phần khác chính kiến. Sau đó, tác giả tập kết ra Bắc vào năm 1954, với chức vụ giảng viên trường Nguyễn Ái Quốc, rồi Phó ban Tuyên huấn Trung ương –mà phần lớn được nhắc đến trong hồi ký. Tác giả trở lại miền Nam sau ngày 30/04/1975 và xin về hưu 1 năm sau đó.
Thời gian còn lại, tác giả thành lập nhóm Câu lạc bộ Những người Kháng chiến Cũ nhằm trao đổi nhận định, hội thảo tình hình chính trị trong và ngoài nước, cũng như những vấn đề xã hội và ra báo “chui” Truyền thống Kháng chiến để chuyên chở những hoạt động của câu lạc bộ đến đọc giả đảng viên ở xa và quần chúng dù rất giới hạn về số lượng phát hành vì bị nhà cầm quyền đương thời nghiêm cấm và tìm mọi cách ngăn cản.

Đồng thời, tác giả cũng viết một số sách và hồi ký khác từ năm 1977 đến 1995, với hồi ký cuối cùng làm chấn động trong và ngoài nước là “Viết cho Mẹ và Quốc hội” mà tác giả là một trong số 45 nhà văn khác, được Tổ chức theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) quốc tế trao giải Hellman/Hammett vào năm 1997. Một năm sau, Nguyễn Văn Trấn qua đời vào ngày 1/05/1998.

2- Sơ Lược về Hồi Ký:

(Trước hết, xin lỗi tác giả vì đã phân chia bố cục hồi ký : thêm vài mục nhỏ và đánh số, mẫu tự cho dễ theo dõi. Tuy nhiên, trong tinh thần tôn trọng người viết, nên vẫn giữ nguyên trong 3 chương riêng biệt)

Bằng một giọng văn rất Nam bộ, tác giả sử dụng nhiều danh từ rất chân chất của người miền quê dù đã sống 21 năm ngoài Bắc. Chính điều nầy khiến cho đọc giả cảm thấy gần gủi hơn trong cảm giác của người khao khát trở lại miền Nam sau bao năm xa quê nhà. Tuy câu văn luôn bị cắt khúc, xuống hàng, mà đôi khi không cần thiết, chuyên chở nhiều câu chuyện, chi tiết bên ngoài lịch sử mà Đảng xem như sự nói xấu nguy hiểm cho chế độ, vì chúng phơi bày nhiều sự thật đến “kinh hoàng” và “không ngờ” đối với đa số đảng viên và đọc giả. Ngoài ra, tác giả chứng tỏ là một người có kiến thức, đọc khá nhiều tác phẩm bằng tiếng Pháp, cũng như theo sát tình hình chính trị trên thế giới và biến động trong xã hội Việt Nam.
Mặc dù tác giả phân chia bố cục không theo một hệ thống rõ ràng mà đôi khi, dường như viết theo cảm thức tuôn chảy lan tràn từ quá khứ khiến người đọc có cảm giác bị ngộp vì khó phân biệt được đâu là câu chuyện được kể lại từ người hay từ tác giả qua cách hành văn đối thoại lồng trong người kể và liên tục.

Tác giả bỏ ra gần nửa phần hồi ký để kể về những hoạt động, hoàn cảnh của mình trước khi ra Bắc tập kết trong phần (I). Tiếp theo là phần (II), tác giả đưa ra nhận xét sơ qua về hoàn cảnh kinh tế giữa hai miền Nam, Bắc trong ý tưởng chống lại việc thống nhất đất nước không phải hoàn toàn vì mục đích giải phóng tạo nên lợi ích cho nền kinh tế chung của Việt Nam. Và trong phần (III), tác giả kể về những câu chuyện bí mật thâm cung của lịch sử Đảng qua lời nói của những người bạn không cần quan niệm hai chữ đồng chí như theo ý Đảng, từ Cải cách Ruộng đất, Chỉnh huấn, Xét lại, đến Nhân văn-Giai phẩm. Đồng thời, tác giả đưa ra nhiều nhận định về tư tưởng, chế độ qua dẫn chứng thơ văn và rãi rác nhiều câu nói của Marx, Lenin, Napoleon đệ nhất mà tác giả sử dụng như sự bày tỏ tư tưởng của chính mình. Cũng như những câu chuyện mà tác giả mượn để kể lại, nhằm nói lên tiếng của chính mình và tiếng cười khô khan âm ỉ trong lòng.
Tác giả cũng không quên chứng tỏ mình là người mộ đạo mà đó là một trong những nghịch lý đối với chủ thuyết cộng sản của nhà cầm quyền đương thời. Thêm vào đó là những quyền cơ bản của con người mà tác giả mong muốn có; nhất là hai chữ “Dân chủ” và quyền tự do báo chí mà tác giả vốn là người ham thích việc viết báo.

Mặc dù tác giả luôn chủ quan trong nhận định hướng đi theo Cộng sản Đệ tam Quốc tế và tỏ ra chống đối kịch liệt, chế giểu, nhạo báng nhóm Cộng sản Đệ tứ trong phần (I), nhưng trong phần (III) qua sự nhìn nhận thất bại của khối Cộng sản Đệ tam, tác giả cũng không một lời bày tỏ sự hối tiếc cho nhóm Cộng sản Đệ tứ bị tiêu diệt; ngoài nỗi niềm ân hận vì sự cống hiến cả đời cho Đảng nhưng không đạt được lý tưởng cho dân tộc, đất nước mà tác giả luôn đeo đuổi và tin tưởng bấy lâu. Cũng như tác giả bày tỏ ra một niềm thương yêu Hồ chủ tịch, Lenin trong ý thức của một người cộng sản chân chính, sáng sủa không màng đến những vấn đề xảy ra chung quanh những nhân vật lý tưởng đó mà theo tác giả đó là do lỗi lầm của vài đảng viên chuyên quyền lấn lướt. Và lỗi lầm đó càng lúc càng nhiều hơn đối với những người lãnh đạo sau nầy nhưng niềm tin vào lý tưởng cộng sản, cũng như vào Đảng dường như không hề suy giảm.

MNYN

Tài liệu tham khảo :
“Thảo luận:Nguyễn Văn Trấn”, vi.wikipedia
“Nguyễn Văn Trấn”, vi.wikipedia
“Nội các Trần Trọng Kim (tháng 4, 1945)”, vi.wikipedia
“Phan Kế Toại”, vi.wikipedia
“Những Nhân Chứng Cuối Cùng”, Bs. Trần Ngươn Phiêu
“Bắc Bộ phủ trong ánh sáng mùa thu Cách mạng”, Phạm Kim Thanh
“Một vài ghi chú về một nhân vật lịch sử sắp vĩnh viễn ra đi”, Gs. Phạm Cao Dương
“Thi Cử và Nền Giáo Dục Việt Nam dưới Thới Pháp Thuộc”, Trần Bích San
• Việt Sử Toàn Thư, tr. 489–491, Phạm Văn Sơn

Một số hình ảnh :

(Nguyển Văn Trấn)

(Trần Văn Giàu)

(Dân chúng chiếm dụng toà Khâm sứ)

1                     2

3                     4

5                       6
(Vài hình ảnh liên kết của Cách mạng Mùa Thu, tháng 8, trên youtube của đài VTCO)

Hình ảnh 1, 2 màu sắc mới, có độ ánh sáng giống nhau; chứng tỏ cùng thời gian nhưng hình ảnh thứ 3 lại nhạt màu, không thấy cờ sao; chứng tỏ khác thời điểm với hai hình trước đó. Trong hai bức hình 4, và 5 lại mờ nhạt xưa hơn, có dòng chữ “tư liệu”, cho thấy dân chúng đang hôi của nhà kho nào đó; chứng tỏ thời gian hoàn toàn khác xa với những bức hình còn lại. Và sau cùng là những hình ảnh lại có độ ánh sáng khác. Những điều nầy cho thấy rằng, đoạn clip của VTCO là sự gán ghép liên kết từ phim ảnh đến tài liệu thật sự và trở lại đoạn phim ảnh khác. Có nghĩa Cách mạng Mùa Thu không như được tuyên truyền trong sách vở và đài truyền hình trung ương vời cờ sao hàng hàng. Mà chỉ là đoàn dân chúng tiến chiếm nhà kho lấy của hay lấn chiếm dinh thự Khâm sứ  –được Phan Kế Toại ra lệnh không được nổ súng trước đó– trong tay không súng ống, cờ sao vì lúc bấy giờ chẳng ai biết Đảng cộng sản là gì, ngoại trừ một số người hoạt động cho Đảng; ngay cả nhiều thành viên trong nhóm Thanh niên Cứu quốc cũng chưa từng biết đến hai chữ cộng sản. Họ chỉ đơn giản nghĩ Việt Minh là một đảng phái quốc gia khác !)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s