Nội dung & Giới Thiệu

Hồ Chí Minh : Một Cuộc Đời

by William J. Duiker

NỘI DUNG

Lời nói đầu … ix
Danh sách các tổ chức đề cập trong Văn bản … xiii
GIỚI THIỆU …
I- TRONG ĐẤT NƯỚC BỊ MẤT … 8
II- CON NGỰA HUNG HĂNG … 46
III- NHÀ CÁCH MẠNG TẬP SỰ … 87
IV- NHỮNG NGƯỜI CON CỦA RỒNG … 105
V- THANH GƯƠM KỲ DIỆU … 146
VI- NGHỆ TỈNH ĐỎ … 168
VII- TRONG VÙNG HOANG DÃ … 201
VIII- HANG ĐỘNG TẠI PÁC BÓ … 229
IX- THỦY TRIỀU ĐANG LÊN … 258
X- NHỮNG NGÀY THÁNG TÁM … 307
XI- TÁI THIẾT và ĐỀ KHÁNG … 346
XII- HỔ và VOI … 399
XIII- MỘT NƠI ĐƯỢC GỌI LÀ ĐIỆN BIÊN PHỦ … 434
XIV- GIỮA HAI CUỘC CHIẾN … 462
XV- TẤT CẢ CHO NHỮNG TUYẾN ĐẦU … 515
Lời kết: TỪ MỘT NGƯỜI ĐẾN HUYỀN THOẠI … 562

============================

LỜI NÓI ĐẦU

Tôi đã bị mê hoặc với Hồ Chí Minh kể từ giữa thập kỷ 1960s, khi, như là một nhân viên trẻ làm việc nước ngoài đóng tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn, tôi đã bối rối bởi sự kiện là du kích Việt Cộng chiến đấu trong những khu rừng dường như được kỷ luật hóa tốt hơn và được thúc đẩy nhiều hơn so với các lực lượng vũ trang của đồng minh chúng tôi, chính phủ miền Nam Việt Nam. Khi cố gắng để hiểu vấn đề, tôi đã bị thuyết phục rằng lời giải thích là vai trò động lực chủ và chiến lược gia, nhà cách mạng lão thành Việt Nam Hồ Chí Minh. Sau khi từ chức làm việc cho chính phủ Mỹ để theo đuổi nghề nghiệp hàn lâm, tôi đã chuyển những suy nghĩ của tôi để viết một cuốn tiểu sử về nhân vật cực kỳ phức tạp đó, nhưng sớm nhận ra rằng không có sẵn nguồn tài liệu thích hợp cho tôi để tạo nên nét miêu tả sinh động có giá trị thuyết phục về cuộc sống và sự nghiệp ông ta. Tôi, vì vậy, đã dẹp dự án cho đến khi gần đây, khi một sự tuôn đổ thông tin từ các quốc gia khác nhau trên khắp thế giới thúc giục tôi rằng chính là bây giờ có thể nhận lãnh công việc.

Trong quá trình hoàn thành cuốn sách này, hiện tại đã được tiến hành trong hơn hai thập kỷ, tôi đã nhận được sự hỗ trợ từ một số nguồn. Quỹ Đại học nghiên cứu tại trường Cao đẳng Nghệ thuật Tự do, cũng như Viện nghiên cứu Nghệ thuật và Nhân văn tại trường Đại học Tiểu bang Pennsylvania, đã hỗ trợ tài chánh trên một số dịp nhằm thực hiện nghiên cứu về chủ đề này tại Pháp và Việt Nam. Thông qua sự hỗ trợ của Mark Sidel thuộc Quỹ Ford, tôi rất vui lòng tháp tùng với Marilyn Young và A. Tom Grunfeld trên một chuyến đi năm 1993 đến Hà Nội để khám phá mối quan hệ của Hồ Chí Minh với Hoa Kỳ. Tôi cũng cảm ơn Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Chương trình Trao đổi Học thuật Đông Dương của hội về việc trao giải thưởng cho tôi bằng một khoản trợ cấp vào năm 1990 để tiến hành nghiên cứu về Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Trong khi tôi ở đó, Viện Lịch sử, Đại học Hà Nội và Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin đã tử tế sắp xếp cho tôi được thảo luận về những chủ đề đồng tâm với các học giả và các nhà nghiên cứu cùng thú vị đối với Hồ Chí Minh và lịch sử của cách mạng Việt Nam. Viện Quan hệ Quốc tế đã tài trợ một chuyến thăm trước đó vào năm 1985, bao gồm một chuyến tham quan đầy hấp dẫn đến nơi sinh của Hồ Chí Minh ở làng Kim Liên. Trong số những cá nhân đã giúp tôi trong việc nghiên cứu tại Hà Nội, tôi cảm ơn Nguyễn Huy Roan thuộc Bảo tàng Hồ Chí Minh, Nguyễn Thanh thuộc Bảo tàng Cách mạng, và Trần Thanh Viện thuộc Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, tất cả những người chấp thuận với những cuộc phỏng vấn kéo dài. Tại Đại học Hà Nội, nhà sử học Phùng Hữu Phú, Lê Mậu Hân, Phạm Xanh, và Phạm Công Tùng đã ân cần cung cấp cho tôi thời gian của họ và những tài liệu nghiên cứu liên quan đến cuộc sống và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kế đến, Hà Huy Giáp thuộc Bảo tàng Hồ Chí Minh và Đặng Xuân Kỳ, sau đó giám đốc của Viện Khoa học Xã hội, đã ân cần trả lời những câu hỏi của tôi chú tâm đến hồi ức cá nhân của họ về Chủ tịch Hồ. Đỗ Quang Hưng, Ngô Phương Ba, Văn Tạo, Trần Hữu Định tại Viện Lịch sử và Lưu Đoàn Huynh của Viện Quan hệ Quốc tế đã rộng rãi với thời gian của họ trong việc giúp đỡ để khám phá những vấn đề trọng tâm trong nghiên cứu của tôi. Tôi đặc biệt cảm ơn Vũ Huy Phúc, với sự kiên nhẫn và hài hước phục vụ như là người hộ tống và nhà nghiên cứu đồng nghiệp trong chuyến thăm của tôi đến Việt Nam 1990. Gần đây hơn, ông Hoàng Công Thủy thuộc Hội hữu nghị Việt-Mỹ đã giúp tôi liên lạc với những cá nhân và các nguồn khác khi tôi lần theo đường mòn Hồ Chí Minh. Dương Trung Quốc thuộc Xưa Nay tạp chí đã cung cấp cho tôi nhiều vấn đề hữu ích của tạp chí ông ta. Nguyễn Quốc Uy thuộc Thông tấn Xã Việt Nam đã tốt bụng cho phép tôi để tái tạo trong cuốn sách này một số hình ảnh dưới VNA bản quyền.

Tôi đã thăm viếng một số thư viện và lưu viện trên toàn thế giới trong việc theo đuổi các dử kiện khó nắm bắt qua những chuyến đi của Hồ Chí Minh. Tại Hoa Kỳ, tôi cảm ơn những nhân viên ở Bộ phận Á Đông trong Thư viện Quốc hội, và Allan Riedy, giám đốc của Bộ phận Sưu tập Echols tại Thư viện Kroch ở Đại học Cornell. Tại Lưu viện Quốc gia Hoa Kỳ thuộc trường Cao Đẳng Park, Maryland, John Taylor và Larry McDonald đã cho tôi sự trợ giúp có giá trị trong việc định vị hồ sơ giao dịch trong quan hệ Mỹ-Việt của Bộ Chiến lược Bí mật OSS và Bộ Ngoại giao trong suốt và ngay sau khi Chiến tranh Thế giới thứ II. Tại Pháp, tôi biết ơn sự giúp đỡ mà tôi nhận được tại các Thư viện Quốc gia và Lưu viện Quốc gia ở Paris, và đặc biệt là tại Trung tâm Lưu trử, Bộ phận Nước ngoài ở Aix-en-Provence (i.e. thành phố gần bờ biển Đông-Nam nước Pháp). Trong chuyến viếng thăm của tôi đến Moscow vào năm 1990, Gennadi Maslov, Yevgeny Kobelev, và Oxana Novakova đã trở nên khá hữu ích trong việc thảo luận về các vấn đề liên quan đến nhữg năm Hồ Chí Minh ở Liên Xô, trong khi Sophie Quinn-Judge và Steve Morris cung cấp cho tôi các tài liệu quan trọng mà họ đã quản lý để xác định vị trí trong kho lưu trữ Quốc tế Cộng sản. Li Xianheng tại Bảo tàng Cách mạng ở Quảng Châu đã cung cấp cho tôi những thành quả nghiên cứu của ông ta về những năm cư trú tại thành phố đó của Hồ Chí Minh và đã cho tôi một chuyến thăm thú vị đến các học viện huấn luyện nơi mà Hồ Chí Minh đã từng dạy hơn bảy mươi năm trước đây. Những lời cảm ơn cũng gởi đến Tao Bingwei và Ye Xin tại Viện Nghiên cứu Quốc tế ở Bắc Kinh đã dành cho một cuộc phỏng vấn kéo dài trong năm 1987 về những quan hệ Trung-Việt. Bob O’Hara đã giúp tôi để có được các tài liệu liên quan từ Văn phòng Hồ Sơ Công Cộng ở London. Trong khi sự nghiên cứu đã trở nên thú vị đôi chút, tôi cảm thấy thoải mái rằng ông đã tìm kiếm mỗi con đường như có thể trong sự thay mặt cho tôi. Tôi cũng cảm ơn Giáo sư Laura Tabili của Đại học Arizona về sự hướng dẫn hữu ích trong việc tìm ra những nguồn tài liệu khác có thể có thông tin về những năm khó nắm bắt của Hồ khi lưu trú tại Vương quốc Anh, cũng như đội ngũ nhân viên của PRO tại chi nhánh Hồng Kông về việc cho phép tôi sử dụng tài liệu lưu trữ liên quan đến thời gian tù ngục của Hồ Chí Minh trong đầu thập niên 1930s. Vị Đại sứ T.N. Kaul thật là hữu ích trong việc thảo luận qua hồi ức của ông về cuộc họp giữa Jawaharlal Nehru và Chu Ân Lai trong mùa hè năm 1954.

Tôi đã từng mang nợ một số học giả đồng nghiệp và các nhà nghiên cứu, những người chia sẻ sự thú vị của tôi về Hồ Chí Minh và lịch sử cách mạng Việt Nam. Trong một vài trường hợp, chỉ một danh sách tên của họ dường như là một đánh dấu chung chưa vửa đủ lòng biết ơn, vì nhiều người trong số họ đã cung cấp cho tôi những tài liệu quan yếu, hoặc cho phép truy cập vào nghiên cứu riêng của họ về những chủ đề liên quan. Tuy nhiên, tôi muốn trích dẫn tên của họ ở đây. Tại Hoa Kỳ, Douglas Pike và Steve Denny thuộc Lưu viện Đông Dương, hiện tại đặt ở Đại hoc Kỷ thuật Texas, đã cho tôi sự trợ giúp hữu ích trong chuyến viếng thăm trước đó đến kho lưu trữ của họ khi nó còn được đặt tại Berkeley. Những người giúp đỡ kế tiếp khác là King C. Chen, Stanley Karnow, Bill Turley, Gary Tarpinian, và Mai Elliott. John McAuliff thuộc Dự án Hòa giải Đông Dương-Hoa Kỳ đã ân cần mời tôi tham dự hội nghị về Việt Minh và Cơ quan OSS của những cựu chiến binh được tổ chức tại Vịnh Hampton, New York, vào năm 1998. Một số những người tham dự hội nghị đó, bao gồm Frank White, Henry Prunier, Carlton Swift, Mac Shinn, Frank Tân, George Wicks, Ray Grelecki, và Charles Fenn, cũng như đoàn đại biểu cựu chiến binh Việt Minh và các học giả, cũng cùng tham dự, chia sẻ những kinh nghiệm tuyệt vời của họ trong thời gian đó với tôi. Vào một dịp trước đó, tôi đã may mắn được thảo luận về Hồ Chí Minh với Archimedes Patti (Al), những sưu tập của ông ta chứa đựng trong cuốn sách Tại sao Việt Nam? Mở đầu cho Cánh chim hải âu khổng lồ của Mỹ [Why Vietnam? Prelude to American’s Albatross] (Berkeley: University of California Press, 1980), là một nguồn thông tin khó thể thay thế về đề tài này. Bob Bledsoe, Chủ tịch của Bộ phận Khoa học Chính trị tại Đại học Central Florida, đã có lòng cho phép tôi kiểm tra kho lưu trữ Patti, lúc đó được cất giữ tại trường Đại học của mình. Tôi cảm ơn góa phụ Al, Margaret, cho phép tái xuất những hình ảnh từ kho lưu trữ đó trong cuốn sách này.

Tại Pháp, một số người đã giúp tôi trong nhiều cách khác nhau, bao gồm Georges Boudarel, Daniel Hemery, Christiane Pasquel Rageau, và Philippe Devillers, cũng như Chris Goscha và Agathe Larcher. Stein Tonnesson là hỗ trợ tuyệt vời trong việc chia sẻ những thành quả nghiên cứu của mình tại Trung tâm Lưu viện, Bộ phận Nước ngoài ở thành phố Aix-en-Provence. Tôi cảm ơn Giáo sư Bernard Dahm của Đại học Passau đã mời tôi tham dự hội nghị về Hồ Chí Minh tại tổ chức của ông vào năm 1990. Liang-wu Yin và Chen Jian có lòng cung cấp cho tôi những tài liệu bằng tiếng Trung Quốc rất quan yếu trong việc tìm hiểu mối quan hệ của Hồ Chí Minh với Trung Quốc. Các học giả Nga Ilya Gaiduk và Anatoly Sokolov đã mất thời gian của họ hoặc gửi cho tôi những tài liệu hữu ích liên quan đến những mối quan hệ Xô-Việt. Giáo sư Furuta Motoo của Đại học Tokyo đã gửi cho tôi một số văn kiện quan trọng mà ở Hoa Kỳ không có sẵn cho tôi. David Marr của Đại học Quốc gia Úc đã nhiều lần cung cấp cho tôi những văn kiện, bài viết, và, trong một trường hợp, một băng ghi âm về bài phát biểu nổi tiếng của Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình vào đầu tháng 9 năm 1945. Tôi cảm ơn Yu Pen-li và Liu Hsiang-wang, người, ngoài những nghĩa vụ của họ như là sinh viên tốt nghiệp của tôi tại Đại học Tiểu bang Penn, đã mất thời gian để cung cấp cho tôi những tài liệu hữu ích liên quan đến những hoạt động của Hồ Chí Minh ở miền nam Trung Quốc.

Tại Hyperion, tôi rất biết ơn đối với David Lott, biên tập viên quản lý liên kết, về việc trông nom cho sự hướng dẫn cuốn sách này thông qua sản xuất; đối với bản thảo viên Trent Duffy, cho sự làm việc cần cù và sự giúp đỡ của mình cho những phần tham khảo tài liệu được tiêu chuẩn hóa; đối với Lisa Stokes và Phil Rose, trong việc chỉ đạo nghệ thuật của họ về những thiết kế đẹp đẻ bên trong và bìa sách, và đối với Paul Pugliese, Dorothy Baker, và Archie Ferguson, tương ứng cho riêng từng người, về những bản đồ thanh lịch, thiết kế bên trong, và bìa sách. Mark Chait thì sẵn sàng và có năng lực trong việc tham dự vào những truy vấn vô số của tôi trong quá trình xuất bản. Tôi đặc biệt cảm ơn biên tập viên của tôi, Will Schwalbe, người đã liên tục khuyến khích trong việc đưa dự án này thành kết quả. Ngay từ đầu, ông đã bày tỏ rõ ràng là mối quan tâm lớn nhất của ông là giúp tôi tạo nên một cuốn sách có chất lượng cao nhất. Sự kiên nhẫn, hài hước, và như góp ý của ông được cảm kích nhiều.

Tôi cảm ơn những con gái của tôi, Laura và Claire, về việc không phàn nàn về những thời giờ (và những năm) mà chúng đã trải qua để lắng nghe sự bày tỏ quan điểm trong cách võ đoán của cha chúng về Việt Nam. Cuối cùng, tôi mãi biết ơn vợ tôi, Yvonne, không chỉ là người đầu tiên đọc bản thảo, nhưng cũng là người bày tỏ sự kiên nhẫn thường xuyên của mình trong sự kiên nhẫn chịu đựng Hồ Chí Minh trong rất nhiều trường hợp khi ông ắt hẵn có vẻ gần giống như một thành viên trong gia đình.

============================

p1

GIỚI THIỆU

Vào sáng ngày 30 Tháng Tư năm 1975, những xe chiến xa Bắc Việt do Liên Xô sản xuất ầm ầm qua các vùng ngoại ô phía bắc của Sài Gòn và hướng về phía dinh tổng thống trong trái tim của thành phố. Ngồi trên xe tăng, những chiến sĩ khoác lên sự mệt mỏi của trận chiến và chiếc nón cói đặc thù chỉ với một ngôi sao vàng, ve vẫy cờ Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

Ngay sau buổi trưa, một hàng xe tăng lăn chậm rải dọc theo đại lộ Thống Nhất, qua tòa Đại sứ quán Mỹ, từ mái nhà nơi mà người lính thủy quân lục chiến Mỹ cuối cùng đã từng được bóc lên bằng trực thăng chỉ hai giờ trước. Chiến xa dẫn đầu do dự một lúc trước cổng rèn sắt ở phía trước của dinh tổng thống và sau đó tông trược tiếp qua cổng và dừng lại trên bãi cỏ trước cầu thang hành lễ mở lối vào dinh thự. Người chỉ huy xe tăng trẻ bước vào tòa nhà và gặp ngắn ngủi với Tổng thống Dương Văn “To con” Minh. Sau đó ông ta leo lên mái dinh thự nơi ông thay thế lá cờ Việt Nam Cộng Hòa trên cột cờ bằng biểu ngữ đỏ và xanh của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

Chiến tranh dài của Việt Nam như thế cuối cùng cũng đã kết thúc. Sau gần một thập kỷ chiến đấu cay đắng và thường đẫm máu đã để lại 50.0000 xác đồng chí của họ, những toán quân chiến đấu Mỹ sau cùng đã rời bỏ bộ máy sàng lọc ký kết về Hiệp định Paris vào tháng 1, 1973. Thỏa thuận bị phá vỡ một cách nhanh chóng, và trong vài tháng tới lực lượng vũ trang của chế độ Sài Gòn đã đụng độ nhiều lần với những chiến sĩ Việt Cộng và Quân đội Bắc Việt (chính thức được biết đến như là Quân đội nhân dân Việt Nam), hơn 100.000 người ngấm ngầm được cho phép ở lại miền Nam như là kết quả của sự thỏa thuận. Trong tháng 12 năm 1974, được khuyến khích bởi sự thành công trên chiến trường và bằng các chứng cứ ngày biểu lộ rằng Hoa Kỳ sẽ không trở lại nhập cuộc xung đột, những lãnh đạo Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam vào thời điểm đó được biết đến như là Đảng Lao động Việt Nam) phê duyệt kế hoạch

p2

được vẽ ra bởi ban tướng lãnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam cho một chiến dịch kéo dài hai năm nhằm lật đổ chế độ Sài Gòn trước mùa xuân 1976. Nhưng, sự thăm dò đầu tiên dọc theo biên giới Cam-pu-chia và ở Tây Nguyên vào đầu năm 1975 đã suy ra một phản ứng yếu ớt từ Sài Gòn, vào cuối tháng Ba Hà Nội chỉ đạo những chỉ huy ở miền Nam tìm kiếm chiến thắng cuối cùng trước khi kết thúc mùa khô vào cuối tháng Tư. Sự phòng thủ ở phần phía bắc Sài Gòn bị sụp đổ như sự đột ngột sét đánh, và vào giữa tháng Tư, quân đội Bắc Việt đã tiến nhanh chóng về phía nam hướng về Sài Gòn. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của Miền Nam Việt Nam từ chức vào ngày 21 tháng 4. Người thay thế ông ta, là chính trị gia Sài Gòn cao tuổi Trần Văn Hương, kéo dài chỉ có bảy ngày và lần lượt được thay thế bởi “To con” Minh trong sự hy vọng khốn khổ rằng tướng lãnh được biết đến ở miền Nam có thể có thể xui khiến Bắc Việt chấp nhận một sự giải quyết thỏa hiệp hòa bình. Những người thăm dò hòa bình của Minh đã bỉ phớt lờ một cách khinh bỉ ở Hà Nội.

Chiến thắng của Cộng sản ở Sài Gòn là một vinh danh đối với sự quyết định và thiên tài của lãnh đạo Đảng Lao Động Việt Nam Lê Duẩn và những cộng sự viên cựu chiến binh của ông ta ở Hà Nội. Cốt yếu tương đương đưa đến thành công là quân Bắc Việt và quân du kích Việt Cộng –đơn giản là bộ đội (tiếng Việt tương đương với chữ G.I., lính Mỹ), những người trong một thế hệ đã từng chiến đấu và chết cho sự nghiệp cách mạng trong những khu rừng rậm và đầm lầy ở miền Nam Việt Nam. Nhưng trên hết, nó là một di sản của tầm nhìn, ý chí, và sự lãnh đạo của một người đàn ông: Hồ Chí Minh, là người sáng lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lãnh đạo của phong trào cách mạng, và là chủ tịch của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) cho đến khi ông ta mất vào năm 1969, sáu năm trước khi chiến tranh kết thúc. Trong sự vinh danh đóng góp của ông, sau sự sụp đổ của Sài Gòn những cộng sự viên của ông sẽ đổi tên nó là Thành phố Hồ Chí Minh.

Là mật vụ của Cộng sản Quốc tế ở Moscow, thành viên của phong trào Cộng sản Quốc tế, kiến trúc sư của chiến thắng ở Việt Nam, Hồ Chí Minh không nghi ngờ gì nữa là một trong những nhân vật chính trị có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20. Tuy nhiên, cùng lúc ông vẫn là một trong những người đàn ông bí mật nhất, một nhân vật trong bóng tối mà những động cơ cho những hành động và hồ sơ đã từ lâu làm dấy lên sự tranh cãi. Trong ba thập kỷ, cuộc tranh luận đã nổ ra trên câu hỏi đơn giản một cách lầm lẫn về những động cơ cơ bản của ông ta cho một đời hoạt động cách mạng. Nguyên thủy ông ta là một nhà quốc gia hay một người Cộng sản? Hình ảnh của ông ta trước công chúng là giản dị và chân thựt lòng vị tha, hoặc chỉ là gian ngoa ? Đối với những người ủng hộ ông ta, ông Hồ là một biểu tượng của chủ nghĩa nhân đạo đổi mới, một hình ảnh thân tộc đã hiến dâng vì phúc lợi của những đồng bào của mình và vì sự giải phóng cho tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Đối với nhiều người gặp ông ta, người Việt Nam và những người nước ngoài đều như nhau, ông là một “anh chàng ngọt ngào”, mặc sự nổi bật của mình như là một nhà lãnh đạo lớn trên thế giới, thực sự là một thanh niên yêu nước, vị tha với nét bình dân và một cam kết suốt đời cho sự nghiệp vì sự tốt đẹp hơn cho cuộc sống của những người Việt Nam của ông.

p3

Nhiều người phê bình, tuy nhiên, chỉ ra sự thái quá của cách mạng được cam kết trong tên của ông ta và cáo buộc ông về nhân cách như con tắc kè bông, một con sói trong áo da cừu.

Câu hỏi về cá tính và những sự thú đẩy bên trong của Hồ Chí Minh nằm ở trung tâm của cuộc tranh luận tại Hoa Kỳ trên vấn đề đạo đức về sự xung đột ở Việt Nam. Đối với nhiều nhà phê bình chính sách của Hoa Kỳ ở trong cuộc tranh luận đó, ông Hồ chỉ là một người yêu nước dẫn đầu cuộc đấu tranh cho sự độc lập của Việt Nam và là một đối thủ kiên cường của chủ nghĩa đế quốc toàn cầu trên khắp thế giới thứ ba. Những người ủng hộ nổ lực chiến tranh của Mỹ đã đưa ra những nghi ngờ về động cơ yêu nước của ông Hồ bằng cách ám chỉ đến hồ sơ lâu dài của ông ta như là một mật vụ của Joseph Stalin và năm thập kỷ phục vụ cho cuộc cách mạng thế giới. Hình ảnh một nhà dân tộc mà ông ta siêng năng nuôi dưỡng như thế, họ cáo buộc, đơn giản chỉ là một mưu mẹo để giành thắng lợi về sự hỗ trợ ở trong nước và ngoài nước cho sự nghiệp cách mạng.

Đối với người Mỹ, cuộc tranh luận về Hồ Chí Minh khuấy động nhiều cảm xúc trong cuộc chiến mà bây giờ đã qua. Đối với người Việt Nam, nó (i.e. cuộc tranh luận) gợi lên những câu hỏi có tầm quan trọng cơ bản hơn, vì nó xác định một trong những vấn đề trung tâm trong cuộc cách mạng Việt Nam –mối quan hệ giữa tự do của con người và bình đẳng về kinh tế đang nổi lên sau cuộc chiến Việt Nam. Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam, những cộng sự viên của Hồ Chí Minh, một số người vẫn còn cầm quyền tại Hà Nội ngày hôm nay, đã từng vẽ ra một cách không mệt mõi trên trí nhớ của mình nhằm thánh hóa mô hình Cộng sản cho sự phát triển quốc gia. Mục tiêu của ông Hồ trong suốt sự nghiệp lâu dài của mình, họ cáo buộc, là nhằm kết thúc hệ thống toàn cầu của sự bóc lột của nhà tư bản và tạo ra một thế giới đổi mới được đặc trưng hóa bởi tầm nhìn không tưởng của Karl Marx. Một vài tiếng nói bất đồng, tuy nhiên, đã lập luận rằng thông điệp chính của sự nghiệp của ông Hồ là quyết tâm để làm dịu mềm quy luật sắt về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác bằng cách ghép chung nó với đạo đức Nho giáo và ba đề cương của cách mạng Pháp về tự do, bình đẳng, và tình huynh đệ. Trong biện minh, họ đưa ra một trong những khẩu hiệu của ông Hồ, được nhìn thấy ở khắp mọi nơi trên những bảng quảng cáo ở Việt Nam hiện nay: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do.”1

Cuộc tranh luận về Hồ Chí Minh, sau đó, là trọng tâm của một số trong những vấn đề chính đã đánh dấu thế kỷ 20, một thời đại của chủ nghĩa dân tộc, cách mạng, chủ nghĩa quân bình, và sự theo đuổi các quyền tự do của con người. Những sự phức tạp về cá tính của ông ta phản ánh sự phức tạp của thời đại. Ông ta vẫn giữa một quyền lực mạnh mẽ sau chiến tranh Việt Nam, được sùng kính bởi hàng triệu người và chắc chắn bị ghê tởm bởi vô số những người khác. Dù tốt hay xấu, Hồ Chí Minh đã xoay sở để phản ảnh trong người ông hai trong số những quyền lực chính trong xã hội hiện đại –khát vọng độc lập quốc gia và tím kiếm công bằng cho xã hội và kinh tế. Mặc dù tất cả những bằng chứng chưa có lồng vào, chính là quá khứ bộc lộ nhân vật nỗi bậc nầy của thế kỷ 20 đối với sự phân tích lịch sử.

p4

Những vấn đề gặp phải bởi bất kỳ người viết tiểu sử nào những người dấn thân vào cuộc tìm kiếm này đang đe dọa. Mặc dù tên của ông Hồ có thể được nhận ra ngay lập tức đối với hàng triệu người trên toàn thế giới, từ lâu đã từng có một sự thiếu hụt đến nãn lòng những nguồn kiểm chứng thông tin về cuộc sống của ông ta. Mặc dù đã từng qua nhiều giai đoạn trưởng thành của mình như là một nhà cách mạng chống lại chế độ thuộc địa Pháp ở Đông Dương, ông Hồ đã trải qua nhiều năm lưu vong và những thời gian khác sống một cuộc sống bí mật trong đất nước của mình. Trong suốt nhiều khoảng thời gian đó, ông ta đã sống và đi lại ẩn ​​danh dưới nhiều bút hiệu. Ước tính rằng trong suốt cuộc đời của ông Hồ đã thông qua hơn năm mươi tên mang danh khác.2 Nhiều tác phẩm của ông ta được sáng tác dưới những cái tên như thế, trong khi đó vô số người khác đã bị mất hoặc bị triệt hạ trong quá trình của một thế hệ của qua sự xung đột.

Hồ Chí Minh đã đóng góp vảo sự mơ hồ bằng cách khoác lấy một bí ẩn trêu người về cuộc sống của mình. Trong nhiều năm, ông ta đã từ chối rằng nhân vật vô danh nổi tiếng người xuất hiện ngay lập tức sau Thế Chiến thứ II như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì thực ra cùng một người là Nguyễn Ái Quốc, người sáng lập của Đảng Cộng sản Đông Dương và là mật vụ nổi bật của Cộng sản Quốc tế trước thời chiến. Ngay cả sau khi danh tính thật sự của mình bị bộc lộ, ông Hồ vẫn cố duy trì bí mật một cách cực kỳ quái lạ về những sự kiện chính yếu trong cuộc sống quá khứ của mình, và một số việc liều lĩnh của ông ta trong lãnh vực viết tự truyện, một trong số sách đó đã được xuất bản bằng nhiều ngôn ngữ bởi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bắc Việt, vào cuối thập niên 1950s, được viết dưới những cái tên mang danh giả. Chỉ trong những năm gần đây những nhà nghiên cứu ở Hà Nội mới có thể khẳng định rằng những tác phẩm nầy quả thực được viết bởi chính Hồ Chí Minh.3

Vấn đề khó khăn về việc biên soạn cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh đã được kết ghép thêm bởi khó thể tiếp cận những nguồn tài liệu hiện có. Bởi vì ông Hồ đi lại và sống ở nhiều nước trong quá trình của cuộc đời mình, thông tin về những hoạt động của ông ta rải rác trên nhiều châu lục. Chính ông Hồ đã nói nhiều ngôn ngữ ngoại quốc và tác phẩm đồ sộ của ông ta (bao gồm những cuốn sách nhỏ, bài báo, báo cáo, và thư từ) được viết bằng nhiều ngôn ngữ khác, bao gồm tiếng Anh, Pháp, Trung Quốc, và Nga, cũng như bằng tiếng Việt Nam thuần túy của mình.

Cho đến gần đây, nhiều thông tin này không có sẵn cho những học giả. Thậm chí ngày nay, những tài liệu lưu trữ được giữ tại Hà Nội thường đóng kín cửa đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài. Thông tin liên quan đến những hoạt động của ông ta ở Trung Quốc và Liên Xô cũng bị giới hạn và hiếm khi được tiết lộ bởi chính quyền Trung Quốc hay Xô Viết. Hầu như khoảng thời gian duy nhất của cuộc đời ông ta đã bắt buộc phải chịu đưa ra khảo sát một cách cẩn thận là một thời gian ngắn mà ông ta đã trải qua ở Pháp sau khi Thế Chiến thứ I. Việc mở cửa lưu viện của thực dân Pháp trong suốt đầu thập niên 1970s, đưa vào những năm cho lần đầu tiên dưới sự xem xét có tính cách công cộng.

p5

Gần đây hơn, bộ sưu tập đồ sộ về tác phẩm của ông ta đã được xuất bản tại Việt Nam, nhưng những sự rắc rối phức tạp như vậy không có nghĩa là hoàn tất, trong khi sự chỉnh sửa chính thức về một số thông qua đặt ra nghi ngờ về độ chính xác của chúng. Lưu viện của Cộng sản Quốc tế ở Moscow đã được hé cửa cho những học giả, nhưng những hồ sơ chi tiết về mối những quan hệ của ông ta với các nhà lãnh đạo Liên Xô vẫn còn bị đóng kín với những người quan sát bên ngoài.4

Tuy nhiên, một câu hỏi khác về Hồ Chí Minh liên quan đến cá tính về vai trò lãnh đạo của ông ta. Mặc dù ông Hồ là người sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương và một nhân vật hàng đầu trong phong trào Cộng sản quốc tế, ông ta không có cá tính khống chế như nhiều nhà lãnh đạo cách mạng hiện đại, như là Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông; ông ta dường như lãnh đạo bằng sự thuyết phục và đồng thuận hơn là bằng cách áp đặt ý muốn của mình qua quyền lực cá nhân. Ông ta cũng không thường xuyên viết về ý tưởng mình hoặc những động cơ thúc đẩy bên trong. Ngược lại với những nhân vật cách mạng nổi bật khác, Hồ Chí Minh ít bày tỏ sự thú vị về tư tưởng hệ hay cuộc tranh luận trí thức và tập trung những suy nghĩ và hoạt động của mình về vấn đề thực tế của giải phóng đất nước và xã hội thuộc địa khác từ chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Vì lý do đó, ông Hồ đã thường bị cho ra rìa bởi những học giả –và đôi khi bởi những người cùng thời của ông ta– chỉ như là một thầy thuốc, hơn như là một lý thuyết gia cách mạng. Sự khác biệt dường như không bao giờ làm phiền ông ta. Để trả lời cho một người phỏng vấn đã từng hỏi tại sao ông ta không bao giờ viết một học thuyết tư tưởng hệ, ông ta đã trả lời một cách tinh nghịch rằng tư tưởng hệ là một cái gì đó ông sẽ để cho Mao Trạch Đông. Trong suốt những năm sau này của ông ta, công trình nghiêm trọng về giáo lý hay sách lược được xuất bản tại Việt Nam thường được sản xuất bởi những cộng sự viên của ông Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Lê Duẩn.

Do tính chất gây tranh cãi về chủ đề và sự khan hiếm những nguồn tài liệu đáng tin cậy, hầu như khó ngạc nhiên rằng không có một cuốn tiểu sử nghiêm chỉnh về Hồ Chí Minh đã được xuất bản bằng tiếng Anh trong vòng hai mươi năm qua. Ở đỉnh cao của Chiến tranh Việt Nam, một số nghiên cứu tiểu sử đã được xuất bản, nhưng hầu hết nhắm vào thị trường công chúng và không cố gắng sử dụng chi tiết của nguồn nguyên liệu hiện có. Tại Bắc Việt Nam những cuốn tiểu sử chính thức hoặc thuộc nửa chính thức đã được xuất bản, nhưng tất cả đều bị hoen ố bởi một nỗ lực trắng trợn rành rành để trình bày chủ đề của họ theo những tỷ lệ huyền thoại, như một vị thánh chứ hơn là một nhân vật chính trị, nhiều bức tranh biếm họa hơn thựt tế.5

Hôm nay, khi những cảm xúc về cuộc Chiến tranh Việt Nam đã bắt đầu lắng xuống và nguồn nguyên liệu bổ sung đã trở thành có sẵn ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới, có những căn cứ khiêm tốn để lạc quan rằng một sự hiểu biết rõ ràng hơn về cuộc đời của ông Hồ đang trở nên có thể. (Bản chất của những nguồn tài liệu được thảo luận ngắn gọn trong phần ghi chú về nguồn ở phần cuối của cuốn sách này.) Trong khi không có nghĩa là tất cả những bí ẩn về cuộc đời của ông ta được giải quyết, người viết tiểu sử chuyên cần bây giờ ở một vị trí để chấp nối lại với nhau một số giả thuyết để giải thích một số nhiều trong những câu hỏi mà đã được đưa ra một cách dai dẳng về cuộc sống và cá tính của ông ta.

p6

Tôi đã cố gắng nói về những câu hỏi nầy, hoặc trong văn bản hoặc, cho những vấn đề nào đó có sự quan tâm mang tính chất hàn lâm hơn, trong các ghi chú cuối trang.

Cùng lúc rõ ràng rằng phần lớn cuộc sống trước đây của ông Hồ –giai đoạn trước khi ông ta đến Paris vào cuối Thế Chiến thứ I– gần như chỉ có nguồn tài liệu sẵn có đến từ những tác phẩm tự truyện được nhắc đến ở trên hoặc từ những nguồn tài liệu lịch sử ở Việt Nam, nơi mà sự cố gắng trình bày ông ta như là một huyền thoại và một thiên tài đối với kỷ nguyên vẫn còn là một ngành công nghiệp tăng trưởng được hỗ trợ bởi chế độ. Một số nhà phê bình đưa ra những nghi ngờ không biết một số thông tin về cuộc sống của ông ta đã được xuất bản bởi những nguồn chính thức tại Việt Nam có thể đáng tin cậy không. Sau khi kiểm tra bằng chứng một cách cẩn thận, tôi đã quyết định rằng những phần quan trọng của tài liệu này thì đáng tin cậy, mặc dù những chi tiết thường vẫn còn nghi ngờ, và một số bài tường thuật chắc chắn là ngụy tạo. Để tránh các cuộc thảo luận bất tận về độ tin cậy của nhiều sự kiện liên quan đến những hoạt động của ông ta, vì vậy tôi đã quyết định trình bày sự đánh giá của riêng tôi về cuộc sống của ông ta bằng hình thức tường thuật, trong khi loại bỏ những cuộc tranh luận về chứng cứ ở những phần ghi chú. Trường hợp có căn cứ hợp lý để nghi ngờ một phiên bản riêng biệt của những sự kiện, vấn đề được giải quyết trong văn bản. Tôi hy vọng rằng điều này cũng sẽ giúp chuyển tải cá tính kịch tính của cuộc đời của ông Hồ và tầm quan trọng của nó trong việc hình thành lịch sử Việt Nam và thế kỷ 20.

Vẫn còn những vấn đề về xu hướng chính trị. Cũng như không thể cho các thế hệ cuối cùng tiếp cận Chiến tranh Việt Nam một cách vô tư, cũng không kém phần khó khăn cho người viết tiểu sử vẽ một bức tranh của người đàn ông đã mang lại chiến thắng cho Cộng Sản mà không lộ thiên hướng chính trị của ông ta. Hơn nhiều thập kỷ kể từ khi tôi đã trở nên quen thuộc với cuộc sống của Hồ Chí Minh, tôi đã càng ngày bộc lộ sự tôn trọng tài năng của ông ta và sự cam kết của ông ta như một nhà cách mạng mà không đình chỉ khả năng của mình nhằm đánh giá ông ta như là một nhà cách mạng, như là một chính trị gia, và như là một người đàn ông. Tôi đã dần dần trở nên thuyết phục rằng, như thường là trường hợp, sự thật thì nhiề phức tạp hơn nhiều so với hình ảnh phổ biến sẽ khiến người ta tin tưởng. Mặc dù luôn luôn hấp dẫn để tìm kiếm một số đầu mối duy nhất (“ẩn nhân trong tấm thảm,” trong cụm từ cổ điển của Leon Edel), tôi thích để cho những sự kiện nói cho mình hơn. Vì vậy tôi đã không cố gắng phát minh ra những suy nghĩ tưởng tượng hoặc những cuộc hội thoại mà có thể có thể phù hợp với giải thích của riêng tôi về cá tính bên trong của ông ta. Giống như rất nhiều nhân vật lớn trong lịch sử, chính thựt Hồ Chí Minh là một người đàn ông phức tạp và tương phản, với một số tài năng và những cá tính độc đáo đã đặt ông ta ra ngoài những cá nhân quan trọng khác trong thời gian của ông ta.

p7

Một số độc giả chắc chắn sẽ phải thất vọng rằng không có một nơi lớn hơn vào những năm cuối của cuộc đời ông ta lúc đỉnh cao của chiến tranh Việt Nam. Thật ra, vai trò của Hồ Chí Minh trong việc tạo ra những điều kiện cho cuộc xung đột đó thì quan trọng bao la nhiều hơn là ảnh hưởng của ông tại Hà Nội trong quá trình của cuộc chính cuộc chiến, khi ông ta thường xuyên bị bệnh hoặc ở Trung Quốc để điều trị. Do đó nhiều độc giả sẽ tìm thấy rằng một phần đáng kể của cuốn sách này đề cập đến những cá nhân và những sự kiện mà họ không quen thuộc. Tôi hy vọng rằng họ sẽ cảm thấy được bù đắp bằng một nhận thức lớn hơn về những nguyên nhân cơ bản của chiến tranh và những hậu quả của nó.

Có một yếu tố bí ẩn trong tất cả những người đàn ông nổi tiếng. Và vài người thích thú sự bí mật hơn chính Hồ Chí Minh. Trong một cuộc phỏng vấn với học giả chuyên về Việt Nam Bernard Fall vào năm 1962, ông Hồ đã trả lời một trong những câu hỏi của Fall: “Một ông già thích có một bầu không khí nhỏ chứa sự bí ẩn về bản thân mình. Tôi muốn giữ lấy những bí mật nhỏ của tôi. Tôi chắc rằng bạn sẽ hiểu rằng”6. Từ chỗ ngồi của ông ta trong đền thờ những anh hùng cách mạng, Hồ Chí Minh sẽ vui thích để biết rằng, ít nhất là trong cuốn tiểu sử này, bầu không khí bí ẩn đã luôn luôn bao quanh ông ta vẫn còn nguyên vẹn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s