I- Trong Đất Nước Bị Mất (Phần 2)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p18

Trong khi Nguyễn Sinh Sắc lo học để chuẩn bị những cuộc kiểm khảo của kỳ thi hương, người vợ của mình, Loan, như là một phong tục, chăm sóc những đồng lúa và nuôi dưỡng con. Theo hồi ức của những người đương thời của bà, bà ta thì siêng năng và có khuynh hướng gia đình, cả hai đạo đức Nho giáo truyền thống, nhưng bà ta cũng có năng khiếu và hiếu kỳ tri thức. Bà ta ít nhiều quen thuộc với văn học Việt Nam và thường ru ngủ con mình bằng những bài hát dân gian truyền thống hoặc ngâm nga những đoạn trong bài thơ nổi tiếng Nguyễn Du vể Truyện Kiều cổ điển, một câu chuyện cảm động của đôi tình nhân bị bắt trong mạng nhện của đạo đức truyền thống.

Vào năm 1891, Nguyễn Sinh Sắc đến thủ phủ tỉnh Vinh ngồi trong hàng thí sinh cho bằng tú tài, nhưng ông ta đã bị rớt. Thành tích của ông ta đáng được khuyến khích, tuy nhiên, đối với ông ta để tiếp tục việc học của mình sau khi trở về, nên đã mở lớp dạy trẻ con địa phương trong nhà mình để giúp đỡ phụ giúp tài chánh gia đình. Khi người cha vợ của ông ta, Thạc sĩ Dương, qua đời vào năm 1893, thêm vào những gánh nặng tài chính của gia đình, ông Sắc đã buộc phải trì hoãn việc chuẩn bị để đi thi lại. Trong lúc chị lớn giúp đỡ việc nhà lặc vặt, bé Nguyễn Sinh Cung thích chí chơi đùa ở những cánh đồng hoặc lang thang vòng quanh trường học của cha mình. Vào ban đêm, trước khi được đặt trong cái võng của mình, bà ngoại của bé, đọc những câu chuyện địa phương mang nghĩa khí anh hùng. Cung thì thông minh và tò mò, nhanh chóng hấp thụ kiến ​​thức.

Vào tháng 5 năm 1894, ông Sắc đi tham dự những cuộc kiểm khảo ở Vinh lần thứ hai và nhận được bằng cử nhân, hoặc  “người được tiến cử,” một mức cao hơn tú tài và tương đương với bằng Thạc sỉ nghệ thuật học. Một thành tựu bất bình thường cho một học giả địa phương, và khi trở lại làng Hoàng Trù, ông được cấp một mảnh đất nhỏ như một phần thưởng truyền thống được ban cho bởi cộng đồng đối với những thí sinh đỗ đạt trong những cuộc kiểm khảo của kỳ thi hương. Kể từ khi ông chỉ có ba mẫu đất trồng lúa như là một phần hồi môn của vợ, ông Sắc nhận lấy, nhưng ông ta đã từ chối đề nghị tổ chức một bữa tiệc tốn kém để vinh danh ông, muốn là thay vì phân phối thịt trâu nước cho dân làng nghèo.

Điều tầm thường đối với những người có bằng cử nhân thanh thế nhằm tìm kiếm một vị trí chính thức trong bộ máy quan liêu triều đình, do đó “tôn vinh bản thân và làm giàu thêm gia đình” (vinh thanh phì gia), nhưng Nguyễn Sinh Sắc chỉ mong muốn tiếp tục việc học của mình trong khi có được thu nhập khiêm tốn như là một thầy đồ. Trong truyền thống Khổng giáo thiêng liêng về sự hy sinh của người vợ –trong thành ngữ Việt Nam, võng anh đi trước, võng nàng theo sau, hoặc “phương tiện vận chuyển của chồng đi trước, của vợ của mình sau” –Hoàng Thị Loan tiếp tục làm việc trong đồng lúa gia đình trong khi nuôi nấng con cái.

p19

Vào mùa xuân năm 1895, Nguyễn Sinh Sắc đến Huế để tham gia những cuộc kiểm khảo của kỳ thi cung đình (thi hội), mức cao nhất của thành tích học tập trong hệ thống giáo dục Nho giáo. Ông đã không qua nổi nhưng quyết định ở lại thành phố để vào Học viện Hoàng gia (Quốc Tử Giám) để chuẩn bị cho một nỗ lực thứ hai. Học viện, nguồn gốc của nó được tính ngược từ những năm đầu của nền độc lập quốc gia tại Hà Nội, phục vụ như là một nơi đào tạo được tài trợ bởi triều đình cho những thí sinh ham muốn chức vụ quan liêu uy quyền. ông Sắc không có tiền để trả học phí mình hoặc phòng và nơi ăn, nhưng may mắn trường được cấp một số học bổng khiêm tốn để giúp trang trải những chi phí sinh hoạt và nhở sự hỗ trợ của một người bạn, ông đã có thể nhận được một học bổng. Ông Sắc trở về Nghệ An vội vã để mang Loan và hai đứa con trai của họ trở lại Huế, như thế vợ ông ta có thể tìm việc làm để giúp gia đình đáp ứng chi phí.

Trong những ngày đó, các chuyến đi từ Nghệ An thủ phủ của tỉnh Vinh đến Huế thì khó khăn và cả nguy hiểm. Cuộc hành trình kéo dài khoảng một tháng, và con đường ngoằn ngèo xuyên rừng rậm, qua những ngọn núi trên lan đầy băng cướp. Nhanh hơn và thoải mái hơn đi bằng đường biển, nhưng đối với những dân làng nghèo như Nguyễn Sinh Sắc, chi phí chuyến đi  bằng tàu thì quá cao. Vì vậy Gia đình quyết định thực hiện chuyến đi bằng chân, đi được nhiều nhất là khoảng ba mươi cây số một ngày và đi theo những nhóm có nhiều du khách khác để bảo vệ chống lại những kẻ cướp và thú hoang. Với đôi chân ngắn của mình, bé Cung năm tuổi thấy  khó khăn làm sao để theo kịp bước, do đó cha của cậu bé đôi khi cõng bé theo, giải khoây cho cậu bé bằng những câu chuyện về những sinh vật thần thoại và những nhân vật anh hùng của quá khứ Việt Nam.

Huế, ban đầu được biết đến là Phú Xuân, đã từng một thuở là trụ sở của các chúa Nguyễn những người đã cai trị nửa phía nam của đất nước trong suốt hai thế kỷ nội chiến tranh. Sau khi thành lập của triều đại nhà Nguyễn vào năm 1802, Vua Gia Long đã quyết định dời đô ở đó, từ vị trí lâu đời của nó ở thung lũng sông Hồng như là cách thể hiện quyết tâm thống nhất cả đất nước dưới quyền họ Nguyễn. Một thị trấn buôn bán, nhỏ nép mình bên nhửng bờ sông Hương vào khoảng nửa đường giữa hai vùng đồng bằng sông lớn, nó đã trở thành một trung tâm hành chính sau khi trở thành chỗ ngồi của triều đình, nhưng vẫn nhỏ hơn nhiều qua kích thước so với truyền thống thủ đô của Hà Nội (sau đó được gọi là Thăng Long), và có thể chứa được một dân số ít hơn 10.000 dân cư.

p20

Sau khi đến, chắc chắn bị mệt lã, ở Huế, Nguyễn Sinh Sắc có thể thu xếp chỗ ở tạm thời tại nhà một người bạn. Cuối cùng, tuy nhiên, gia đình chuyển vào một căn buồng nhỏ nằm trên đường Mai Thúc Loan, không xa bức tường phía đông của kinh đô, trên bờ phía bắc của sông Hương. Viện hàn lâm được đặt trên bờ phía nam, khoảng bảy cây số về phía tây của thành phố. Nhưng ông Sắc ít khi đi học, dành phần lớn thời gian học tập ở nhà. Trong thời gian rảnh rỗi, ông ta dạy kinh điển cho các con trai ông và trẻ nhỏ của các quan chức địa phương. Phản ảnh sự tôn trọng mạnh mẽ đối với nền giáo dục đó là đặc trưng của xã hội Nho giáo, ông đã đặt thêm áp lực trên những đứa con mình, nhắc nhở chúng học tập chăm chỉ và chú ý nghiêm ngặt thư pháp của chúng. Theo những lời tường thuật của những người láng giềng, bé Cung đã bắt đầu để bày tỏ sự thích thú sống động về thế giới xung quanh, tham gia cùng với người anh mình ngắm nhìn quân đội triều đình biểu diễn cuộc tập trận của họ và cố gắng lẻn vào kinh đô để được nhìn gần hơn bên trong. Quan sát một cuộc diễn hành của hoàng gia khi rời khỏi cung điện trong một dịp nghi lễ, cậu bé trở về nhà hỏi mẹ xem hoàng đế có bị thương ở chân không. Khi được hỏi lý do tại sao cậu bé đặt ra câu hỏi, Cung trả lời rằng cậu vừa mới nhìn thấy vị vua  đang được mang đi bởi những người khiêng trong chiếc kiệu.

Năm 1898, ông Sắc không thành công trong nỗ lực thứ hai của mình để vượt qua kỳ thi ở kinh đô (i.e. thi hội) và quyết định chấp nhận việc làm tạm thời như là một thầy đồ tại một trường học lân cận trong thôn Dương Nô, ngay phía đông thành phố. Vợ ông ta, Loan, vẫn ở trong căn buồng ở Huế để bổ sung thu nhập ít ỏi của gia đình bằng cách dệt vải và giặt giũ. Trường học ở Dương No đã được thành lập bởi một người nông dân địa phương thành thạo, người đã cho phép cho hai con trai của ông Sắc tham dự các lớp học. Hiển nhiên tại thời điểm những thanh thiếu niên được tiếp xúc lần đầu tiên với các kinh điển Nho giáo bằng ngôn ngữ Trung Hoa.

Vào tháng 8 năm 1900, ông Sắc được bổ nhiệm bởi triều đình để phục vụ như là một thư ký cho những cuộc kiểm khảo của kỳ thi tỉnh ở Thanh Hóa, một thủ phủ gần 500 km về phía bắc của kinh đô. Nhiệm vụ đó được coi là một vinh dự, vì cử nhân thường không được phép phục vụ như những giám thị. Đứa con trai lớn của ông Sắc, Khiêm, đi với ông ta, bé Cung ở lại với mẹ ở Huế. Trên đường trở lại từ Thanh Hóa đến Huế, ông Sắc dừng lại một thời gian ngắn ở làng Kim Liên để xây mộ cho cha mẹ ông ta.

Quyết định này rất tốn kém. Trở lại Huế, vợ ông đã sinh đứa con thứ tư của bà, một bé trai được đặt tên là Nguyễn Sinh Xin (chữ xin, có nghĩa đen là “ăn xin”). Tuy nhiên, sự thử thách đã làm suy yếu thể chất vốn đã mong manh của bà, và bất chấp sự giúp đỡ của bác sĩ địa phương, bà đã lâm bệnh và qua đời vào ngày 10 tháng 2, 1901. Những người láng giềng sau đó nhớ lại rằng trong suốt những ngày lễ Tết (một phiên bản địa phương về năm mới theo âm lịch),

p21

bé Cung vừa chạy vừa khóc từ nhà này sang nhà để xin cho sữa cho em, và như thế trong nhiều tuần lễ tính tình nồng cháy thường khi của mình đổi qua ủ rũ.4

Khi nghe tin tức về cái chết của vợ ông, ông Sắc trở lại Huế ngay lập tức để đón con mình và đưa chúng trở về làng Hoàng Trù, nơi ông tiếp tục công việc giảng dạy của mình. Sau đó ít lâu, bé Cung tiếp tục học với cha mình, nhưng cuối cùng ông Sắc đã gửi cậu bé cho một người có họ hàng xa bên phía mẹ, một học giả tên là Vương Thúc Đỗ. Từ đó về sau, bé Cung đã bắt đầu tiến bộ đáng kể trong việc học của mình. Cậu bé đã có thể nhận ra một vài ký tự Trung Hoa –một phương tiện cần thiết cho một nền giáo dục Nho giáo và vẫn được sử dụng để viết chữ Việt qua phiên âm tiếng Hoa– và thích thú thực tập chúng. Rõ ràng là cậu bé thì nhanh trí và tò mò, nhưng cha của cậu e rằng đôi khi cậu bé bỏ quên việc học và tìm kiếm những thú vui khác. Ông thầy mới của Cung có thể giúp đỡ ít nhiều trong vấn đề đó. Vương Thúc Đỗ thực sự yêu thương học sinh của mình và theo lời đồn, không bao giờ đánh chúng –dường như khá bất thường trong thời của ông– và ông đã làm sáng chói sự bảo vệ của mình bằng những câu chuyện về những anh hùng chân chính thời xa xưa, một người trong số đó chính là anh mình, người đã từng chiến đấu chống Pháp trong phong trào Cần Vương của Phan Đình Phùng.

Sau một vài tháng ở Hoàng Trù, ông Sắc đã trở lại Huế; mẹ vợ của ông ta, Nguyễn Thị Kép, giữ con dùm. Đứa con gái của ông Sắc, Nguyễn Thị Thanh, ở lại trong làng với bà ngoại mình trong những người còn lại trong gia đình chuyển đến Huế, bấy giờ đã trưởng thành nhưng không kết hôn, vì vậy cô ta vẫn ở nhà để giảm gánh nặng cho gia đình. Cung phụ giúp trong nhà và ngoài vườn, nhưng vẫn có thời gian để chơi. Vào mùa hè, cậu bé tham gia cùng bạn bè câu cá trong những ao làng, thả diều (nhiều năm sau đó, những cư dân địa phương nhớ lại rằng khi vào những ngày không có gió, nhiều người trong số bạn của cậu nhanh chóng nản lòng, Cung vẫn cố gắng giữ diều của mình trên không), và leo những ngọn đồi trong vùng lân cận. Đáng nhớ nhất là núi Chung, trên đỉnh có ngồi đền thờ của Nguyễn Đức Du, một vị tướng của thế kỷ mười ba, người đã chiến đấu chống lại quân đội Mông Cổ xâm lược. Chính nơi đây, cũng là nơi học giả yêu nước Vương Thúc Mẫu, tại thềm cửa của người mà ông Sắc đã lần đầu tiên phát hiện ra sự ham học của mình trong những năm trước, đã hình thành một nhóm phiến quân vào năm 1885 để chiến đấu dưới ngọn cờ của phong trào Cần Vương. Từ độ cao của núi Chung, những người leo núi có một quang cảnh ngoạn mục của những cánh đồng lúa, những thẳng đứng của cây tre và cây cọ, và đường viền xám xanh dài của những ngọn núi phía tây. Chỉ có một khoảng buồn trong đó, một giai đoạn hạnh phúc nhất trong thời thơ ấu của bé Cung. Đứa em trai nhỏ của cậu, Xin, vẫn ốm yếu, và mất lúc chỉ có một tuổi.

p22

Trở lại Huế, Nguyễn Sinh Sắc đã nộp đơn xin được dự lại những cuộc kiểm khảo của kỳ thi hội và lần nầy ông đã kiếm được bằng tiến sĩ, cấp hai (được biết qua tiếng Việt như là phó bảng). Tin tức tạo ra một xúc cảm ở làng Hoàng Trù, cũng như ở làng quê Kim Liên của ông Sắc. Kể từ giữa thế kỷ 17, những làng trong vùng họ đã báo cáo sản xuất gần 200 người có bằng cử nhân và thạc sĩ, nhưng ông là người đầu tiên để kiếm được phó bảng. Lúc còn trên đường trở về của ông ta, những dân cư của làng Hoàng Trù đã lên kế hoạch nghi lễ nhập làng, nhưng ông Sắc, người không thích sự phô trương và hoàn cảnh bấy giờ đã trở thành rõ rệt, một lần nữa đã từ chối vinh dự đó. Bất chấp những lời phản đối của ông, làng đã sắp xếp một bữa tiệc để ăn mừng dịp nầy. Theo yêu cầu của ông ta, tuy nhiên, một số trong những thức ăn được phân phối cho người nghèo.

Theo truyền thống, niềm danh dự về sự xác nhận một thí sinh đỗ đạt đã đến quê hương của người cha thí sinh. Trong trường hợp của ông Sắc, tất nhiên, điều này có nghĩa rằng ngôi làng bây giờ đã có thể tự mang nhãn hiệu “một điểm văn minh, một vị trí văn học” (đất văn vật, chốn thi tụ) là nơi sinh của cha mình thuộc làng Kim Liên, chứ không phải là làng Hoàng Trụ, nơi ông bấy giờ cư ngụ. Để thưởng cho con trai bản xứ của họ, chính quyền địa phương của làng Kim Liên đã sử dụng công quỹ để xây dựng một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ và tranh trên đất công để lôi kéo anh ta sống ở đó. ông Sắc chiều theo, dùng nó như một ngôi nhà mới cho chính mình và ba đứa con còn sống sót. Hơi lớn hơn ngôi nhà của ông ta ở làng Hoàng Trù, bao gồm ba phòng sinh hoạt, với một phòng được dành cho con trâu của gia đình và một phòng nhỏ có chứa bàn thờ cho Hoàng Thị Loan. Một vài mẫu ruộng được bao gồm với ngôi nhà, cũng như một khu vườn nhỏ, nơi ông Sắc trồng khoai lang.

Giải thưởng của một phó bảng là niềm vinh dự đáng kể trong xã hội Việt Nam theo truyền thống và thường mang cho người nhận cả danh vọng và tài sản, thường là bằng hình thức của sự nghiệp quan lại. Nguyễn Sinh Sắc, tuy nhiên, không có ham muốn theo đuổi sự nghiệp trong bộ máy quan liêu, đặc biệt là trong thời gian của sự sỉ nhục quốc gia. Từ chối sự đề nghị bổ nhiệm chính thức ở triều đình dựa trên căn cứ là ông vẫn còn để tang cho vợ, ông Sắc đã quyết định ở lại làng Kim Liên, nơi ông mở một trường học nhỏ để dạy kinh điển. Những khoản tiền thưởng cho công việc như thế nầy thì ít ỏi, và ông Sắc đã góp phần cho những khó khăn về tài chính của mình bằng cách ban cho một cách rộng rãi những người dân nghèo trong làng. ông Sắc đã chấp nhận một nhân nhượng đối với tình trạng mới của mình, tuy nhiên, nhận một cái tên mới là Nguyễn Sinh Huy, hay “được sinh ra để tôn vinh.”5

* * *

Đối với cậu bé Cung, sự quyết định của ông Sắc đã đến vào một thời điểm quan trọng trong đời mình; ở tuổi mười một, cậu bé đã sắp bước vào tuổi vị thành niên. Như truyền thống trong xã hội Việt Nam, để đánh dấu dịp cha mình đặt cho cậu bé tên mới là Nguyễn Tất Thành, hoặc “người sẽ thành công,” trên sổ đăng ký làng.

p23

Lúc đầu, cậu bé tiếp tục học những kinh điển với cha mình, nhưng cuối cùng cậu đã được gửi đến một trường địa phương được giảng dạy bời bạn của cha mình Vương Thúc Qui, con của học giả Vương Thúc Mậu, người đã tự kết liễu bằng cách ném mình xuống ao để tránh bị bắt bởi người Pháp. Mặc dù là một người có bằng như ông Sắc, Qui cũng đã từ chối sự bổ nhiệm như một quan chức và giảng dạy trong làng quê của mình, nơi ông đã bí mật tham gia vào những hoạt động lật đổ chống lại chính phủ bù nhìn ở Huế. Trong cách giảng dạy những học sinh của mình, ông đã bác bỏ phương pháp mô phạm hạn hẹp truyền thống về việc buộc học sinh mình thuộc lòng những bài học, nhưng chăm sóc cẩn thận để hướng dẫn họ về cốt lõi bên trong có tính nhân đạo của những tác phẩm Nho giáo cổ điển trong khi đồng thời thấm nhuần trong tâm trí của họ một tinh thần yêu nước mãnh liệt cho sự sống còn của một Việt Nam độc lập. Để khắc ghi thông điệp của mình vào những linh hồn của họ, trước khi bắt đầu mỗi bài giảng mỗi ngày, ông đã thắp sáng ngọn đèn ở bàn thờ của cha ông đặt dọc theo bức tường lớp học của mình.

Nguyễn Tất Thành phát triển mạnh theo gia sư mới của mình, viết những tiểu luận yêu nước dưới sự hướng dẫn của Qui và phụ giúp phục vụ những khách khứa, những người thường xuyên đến thuyết trình về các chủ đề khác nhau. Thật không may, sự trãi nghiệm là một đoạn ngắn, vì Qui sớm đóng cửa trường học và rời khỏi ngôi làng để tham gia vào những hoạt động nổi loạn. Thành thời gian ngắn sau đó đã học với một thầy khác ở ngôi làng kế cận, nhưng những phương pháp giảng dạy gia sư mới của mình là quá cỗ truyền đối với sở thích của cậu bé, và cậu ta sớm trở lại học với cha mình, là người có thái độ về việc học thì khoan dung nhiều hơn. Giống như người bạn của ông ta, Vương Thúc Quí, ông Sắc thì hay phê phán về kỹ thuật của học thuộc lòng như vẹt và một lần nào đó đã nhận xét rằng học “cành và lá” bài vở là một hoạt động vô giá trị rời xa thực tế của cuộc sống. Đừng theo con đường dẫn đến sự nghiệp quan lại, ông khuyên bảo những học sinh mình, nhưng cố gắng hiểu phần chứa đựng bên trong của những kinh điển Nho giáo nhằm tìm cách nào giúp đở đồng loại mình. Với một người bạn ông Sắc đã từng đưa ra nhận xét, “Tại sao tôi phải bắt buộc học sinh tôi thuộc lòng những kinh điển chỉ để đi thi? Tôi sẽ không dạy cho những đứa trẻ của tôi theo cách đó “6.

Cậu bé Thành chắc chắn rất khoái trí với thái độ của cha mình, vì cậu thích đọc nhiều  hơn những mục yêu thích phổ biến của Trung Hoa như Tam Quốc Chí, một câu chuyện truyền thuyết về tính anh hùng trong suốt thời kỳ hỗn loạn theo sau sự sụp đổ triều đại nhà Hán, và Tây Du Ký (đôi khi được dịch sang tiếng Anh dưới tên sách Khỉ), là sự tường thuật về chuyến đi của Huyền Trang tu sĩ Phật giáo xuyên qua Trung Á đến Ấn Độ tìm kiếm những sách Phật cổ điển. (Trong lúc Thành đi học ở làng Dương No, một học sinh cũ, người được lịnh canh chừng cậu bé Thành, thấy cần thiết để buộc một chuỗi tội trạng của Thành vì vậy cậu bé dễ bị phát hiện khi lẻn ra ngoài chơi.

p24

Qua hầu hết những trường hợp, hóa ra rằng Thành đã nhập tâm được những bài học của mình.7)

Vốn học của Nguyễn Tất Thành thì không bị giới hạn trong lớp học. Nhà của cha cậu bé ở gần nơi làm việc của một thợ rèn địa phương tên là Điền, người đã dạy cậu bé cách sử dụng lò luyện kim và thường xuyên đưa cậu ta đi săn chim. Sự yêu thích kể những câu chuyện của Điền biến lò rèn của mình thành một trong những điểm tụ tập phổ biến nhất trong vùng lân cận, và vào buổi chiều Thành thường tham gia với các thanh niên làng khác để ngồi ở chân Điền trong lúc Điền kể lại tỉ mỉ những nỗ lực anh hùng nhưng cuối cùng vô hiệu quả của những nhóm Cần Vương địa phương nhằm đuổi những kẻ man rợ ra khỏi quê hương của họ. Với những người khác trong khán giả, Thành nghe nói về những thành tựu vẻ vang của chiến binh đã mất từ lâu như Lê Lợi, và Mai Thúc Loan, những người đã chiến đấu để bảo vệ quê hương của họ chống lại những kẻ xâm lược. Cậu bé lắng nghe với nỗi buồn về câu chuyện tự tử của Vương Thúc Mậu, và làm thế nào lãnh đạo Phan Đình Phùng của Cần Vương, lực lượng đang suy giảm của ông bị thúc đẩy sâu vào vùng núi dọc theo biên giới Lào, đã cuối cùng đã tử vong vì bệnh lỵ vào năm 1896, do đó mang lại một kết thúc bi thảm cho phong trào. Tuy nhiên, cậu bé rung động khi nghe rằng nhiều thành viên trong gia đình của cha mình đã từng phục vụ và qua đời vì đấu tranh cho sự nghiệp.

Bấy giờ, Thành đã bắt đầu hấp thụ một cảm giác mãnh liệt về lòng yêu nước. Trong khi sống chung với cha mẹ của mình ở Huế, cậu bé đã từng tham dự những dịch vụ tưởng niệm tại một ngôi chùa gần đó cho các vị tử đạo, người đã bị giết trong suốt cuộc chiến chống Pháp, và cậu tham gia với những người khác khóc cay đắng cho sự hy sinh của họ. Sau khi trở về làng mình vào năm 1901, cậu bé cảm thấy khó chịu khi phát hiện ra rằng hầu hết những sách vở cổ điển có sẵn ở địa phương đều có quan hệ với lịch sử Trung Hoa hơn là của Việt Nam, và cậu bé đã lội bộ đến thủ phủ của Vinh để mua những cuốn sách về lịch sử của đất nước của chính cậu. Khi cậu ta phát hiện ra rằng chúng quá mắc để mua, cậu bé đã cố gắng ghi nhớ những đoạn quan trọng để cậu có thể trích dẫn chúng cho bạn bè ở Kim Liên.

Cho đến nay, sự quen biết của cậu bé với người Pháp bị hạn chế trong quan sát họ như một đứa trẻ trên đường phố Huế; những người đương thời sau này nhớ lại sự tò mò của cậu tại thời điểm đó như là tại sao ngay cả người uy tín nhất trong số những quan chức Việt Nam đã phải khúm núm trước tất cả người Âu châu. Đôi khi, cậu bé và anh trai mình ngắm nhìn một cách say mê khi những công nhân xây dựng người Pháp xây dựng một cây cầu thép trên sông Hương ngay phía đông của kinh đô. Thình thoảng, những công nhân giễu cợt với những cậu bé và cho chúng kẹo, khiến cho Thành hỏi mẹ mình tại sao một số người nước ngoài thì thân thiện nhiều hơn những người khác. Khi trở về làng quê mình, tuy nhiên, sự thù ghét người nước ngoài của Thành tăng lên khi cậu nghe những câu chuyện về sự ngược đãi của những người lao động được tuyển dụng bởi người Pháp để làm việc trên một đường cao tốc mới còn đang xây mà nó ngoằn ngèo về phía tây qua những dãy núi vào trong Lào.

p25

Mặc dù Thành và anh trai mình, là con của một thành viên thuộc tầng lớp học thức, được miễn từ chế độ cưỡng bách quân sự (i.e. nghĩa vụ quân sự) cho những dự án lao động công ích, nhiều người dân làng khác không may mắn như vậy. Những người có số hên trở về nhà bị suy nhược về thể xát và tinh thần. Nhiều người khác, sức khỏe của họ bị tàn phá bởi bệnh sốt rét, suy dinh dưỡng, hoặc làm việc quá sức, không trở lại người nào. Mặc dù lao động việc nặng nhọc có truyền thống đòi hỏi những nông dân trong thời trước thực dân, dự án như thế thường khiêm tốn hơn trong phạm vi và thời gian của dịch vụ yêu cầu. Con đường sang Lào –“con đường của thần chết”, như nó đã trở nên được biết đối với người Việt– đã trở thành một nguồn chính của sự đối kháng phổ biến chế độ thực dân mới.

Một trong những người quen gần gũi của Nguyễn Sinh Sắc là học giả nổi tiếng và yêu nước Phan Bội Châu, người quê quán ở một ngôi làng chỉ một vài cây số từ làng Kim Liên. Cha của ông Châu đã là một tú tài, và ông Châu đã nhận được sự đào tạo qua tác phẩm kinh điển khi còn là một thanh niên. Nhưng, đối với chàng trai trẻ Châu, hoàn cảnh đất nước của mình thì quan trọng nhiều hơn lời hứa cho một sự nghiệp quan lại. Trong khi vẫn còn là một vị thành niên, ông đã từng tổ chức thanh niên làng mình thành một lực lượng dân quân nhỏ để noi theo tấm gương người lớn tấn công Pháp xâm lược. Chàng thanh niên sau đó đã nhận ra sự sỉ nhục của mình khi quân Pháp vào làng để đàn áp phong trào và buộc chàng ta phải chạy trốn vào rừng vây quanh ở cùng một đám người tị nạn.

Cuối cùng, ông Châu tiếp tục việc học kinh điển của mình và vào năm 1900, ông đã vượt qua những kỳ thi khu vực (i.e. kỳ thi hương) “với danh dự” (giai nguyen). Tuy nhiên, như Nguyễn Sinh Sắc, Phan Bội Châu không có hứng thú cho sự nghiệp quan lại và chẳng bao lâu đã bắt đầu đi khắp các tỉnh miền Trung đất nước để tổ chức những học giả đồng môn thành một phong trào thống nhất để chống lại triều đình phong kiến ​​và người bảo vệ của nó, chế độ thực dân Pháp. Lúc bấy giờ, ông đã bắt đầu đọc những tác phẩm của người theo cải cách của phe cấp tiến Trung Hoa như Khang Hữu Vi (Kang Youwei), Lương Khải Siêu (Liang Qichao), và càng tin tưởng rằng Việt Nam phải học hỏi từ phương Tây để tồn tại.

Trong suốt những cuộc hành trình của mình, Phan Bội Châu thường xuyên dừng lại ở làng Kim Liên láng giềng để thăm Nguyễn Sinh Sắc và bà Vương Thúc Qui và thảo luận về nhưng vấn đề hôm nay. Ăn nói lưu loát và niềm nở, ông là người biện hộ có tài thuyết phục cho nguyên nhân yêu nước, và ông chắc chắn đã tạo một ấn tượng đối với chàng thiếu nhiên Thành, người thường phục vụ cha mình và những người khách của ông khi họ ngồi trên những chiếu mây trong phòng sinh hoạt nhà ông Sắc với một bình rượu gạo hay ấm trà. Chàng thanh niên có ấn tượng đã quen rồi với một số tác phẩm yêu nước của ông Châu và được gây cảm hứng từ tinh thần nổi loạn của ông ta và sự khinh bỉ của ông đối với những truyền thống phong kiến ​​và chế độ quân chủ già yếu ở Huế.8

p26

Khi những tác phẩm của ông tại vùng sương muối bày tỏ một cách sinh động, Phan Bội Châu đã từng kết luận rằng người Việt Nam cuối cùng phải từ bỏ hệ thống truyền thống đã phát triển hơn một ngàn năm và ứng dụng những tổ chức hiện đại và công nghệ từ nước ngoài. Nhưng ông cũng tin rằng chỉ có tầng lớp học thức uyên bác của đất nước mới có thể dẫn dắt nhân dân chấp nhận và thực hiện những thay đổi như vậy và rằng, để có được sự hỗ trợ của nhân dân, phong trào của ông phải vay mượn một số trong những biểu hiện đặc thù mang tính thiêng liêng của những thế kỷ qua. Kết quả là, khi vào đầu năm 1904, ông thành lập một tổ chức mới gọi là Xã hội Hiện đại Hóa (Duy Tân Hội) nhằm cung cấp một sự tập trung cho những nỗ lực của mình để thu hút sự ủng hộ từ các học giả yêu nước trên khắp đất nước, ông đã chọn một thành viên bất đồng chính kiến ​​của triều Nguyễn, Hoàng tử Cường Để, phục vụ như là người đứng đầu trên danh nghĩa của tổ chức, mục tiêu được tuyên bố trong đó là đuổi người Pháp và thiết lập một chế độ quân chủ lập hiến.

Giống như nhiều người đồng thời có quan điểm tiến bộ của mình ở Trung Hoa, Phan Bội Châu đã tìm thấy một mô hình cho chương trình của mình ở Nhật Bản, nơi mà những phần tử cải cách từ trong số tầng lớp quý tộc tập hợp xung quanh Hoàng đế Minh Trị để thúc đẩy việc hiện đại hóa xã hội Nhật truyền thống. Giống như nhiều người Việt Nam, ông đã có ấn tượng về sự thành công của lực lượng vũ trang Nhật trong cuộc chiến tranh gần đây chống lại Sa hoàng Nga, xem nó như là bằng chứng rằng những dân tộc Á châu sở hữu năng lực để đánh bại những kẻ xâm lược phương Tây. Ông Châu tin tưởng chắc chắn rằng Việt Nam sẽ cần sự đòi hòi sự trợ giúp từ nước ngoài để đưa kế hoạch mình đến kết quả. Vào cuối năm 1904, ông đến  Nhật Bản và đã bước để thiết lập một trường học ở thành phố Yokohama để đào tạo những người Việt Nam yêu nước trẻ tuổi cho cuộc đấu tranh đang đến vì nền độc lập quốc gia. Mùa hè sau, ông trở lại Huế và bắt đầu đi tìm kiếm trên đất nước những thành viên được tuyển cho tương lai.9

Lúc nào đó ngay sau khi trở lại Việt Nam, Phan Bội Châu đã đến thăm làng Kim Liên và hỏi Nguyễn Tất Thành và anh trai của Thành tham gia phong trào của ông, bấy giờ được biết một cách phổ biến như là Hành trình Đến hướng Đông (Đông Du). Thành, tuy nhiên, đã từ chối lời đề nghị. Theo một số lời tường thuật, quyết định của cậu bé dựa trên những căn cứ rằng sự tin cậy vào Nhật để đuổi Pháp thì tương đương với “đuổi cọp ra khỏi cửa trước trong khi đón sói vào qua cửa sau.” Những nguồn tài liệu khác cho rằng đó chính là cha cậu bé, người đã quyết định. Trong tường thuật tự truyện của chính mình, được viết dưới một bút hiệu, Hồ Chí Minh sau đó giải thích rằng ông thích đi Pháp để xem bí quyết của sự thành công ở phương Tây tại nguồn gốc của nó.10

Quyết định của Thành từ chối lời đề nghị của Phan Bội Châu có thể đã được thúc đẩy bởi một trong những nhận xét của riêng ông Châu. Khi Thành hỏi làm thế nào Nhật đã thực hiện được những thành tựu kỷ thuật của chính nó, ông Châu đã trả lời rằng Nhật đã học từ phương Tây.

p27

Ngay sau đó, Thành đã nói với cha mình rằng cậu ta muốn học ngôn ngữ Pháp. Ông Sắc miễn cưỡng, vì vào thời điểm đó chỉ có những người cộng sự Việt Nam lo phiền để học ngôn ngữ của người nước ngoài. Nhưng, chính ông Sắc đã bắt đầu làm quen một cách hời hợt với văn hóa phương Tây khi ông gia nhập một câu lạc bộ sách để đọc những bài viết của những nhà trí thức cải cách người Hoa đang tìm cách thuyết phục triều đình nhà Thanh để thay đổi hướng đi của nó, vì vậy cuối cùng ông đã bị thuyết phục bởi lập luận của con trai mình.

Lúc đầu, những cơ hội cho Thành để theo đuổi mục tiêu mới của mình đã bị hạn chế. Trong suốt mùa hè năm 1905, cậu ta đã bắt đầu học ngôn ngữ và văn hóa Pháp với sự giúp đỡ của một trong số những người bạn học giả của cha mình ở làng Kim Liên. Sau đó, vào tháng Chín, ông Sắc ghi tên cả hai người con trai vào một trường dự bị Pháp-Việt ở Vinh. Theo những sự hướng dẫn của Tướng Paul Doumer, chính quyền Pháp đã quyết định thành lập những trường dự bị cấp tiểu học để giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Pháp trong tất cả các tỉnh miền Trung Việt Nam. Mục tiêu của Doumer là thu hút học sinh từ những trường Nho học trong vùng và cung cấp một hạt nhân gồm những thành viên được tuyển có tiềm năng cho chính quyền thực dân mới; những quỹ tài chánh luôn sẵn sàng để cấp học bổng cho học sinh nghèo. Mặc dù Nguyễn Sinh Sắc đã cống hiến sự nghiệp của mình cho nền giáo dục truyền thống, lúc bấy giờ ông càng tin chắc rằng thế hệ trẻ phải thích ứng với thực tế mới và học hỏi từ những bậc thầy mới của đất nước. Ông thường xuyên trích dẫn từ thế kỷ 15, học giả Nho giáo Nguyễn Trãi, người đã từng chỉ ra rằng đó chính là sự cần thiết để hiểu kẻ thù nhằm đánh bại hắn. Trong suốt năm học tiếp theo, Thành và anh trai mình lần đầu tiên nghiêm chỉnh tập làm quen với ngôn ngữ và văn hóa Pháp. Họ cũng bắt đầu học quốc ngữ, phiên âm của tiếng Việt vào bảng chữ cái La Mã, mà nó đã được giới thiệu lần đầu tiên bởi nhà truyền giáo Dòng Tên vào thế kỷ 17 và hiện nay đang được phổ biến rộng rãi bởi các học giả tiến bộ như là một thay thế cho những ký tự cồng kềnh của Trung Hoa đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ.

Kể từ khi nhận được bằng phó bảng của ông vào năm 1901, Nguyễn Sinh Sắc đã từ chối một cách kiên định sự đề cử chính thức của triều đình với lý do bệnh tật hoặc trách nhiệm gia đình nhưng, đã bị triệu tập một lần nữa tháng Năm 1906, ông ta đã quyết định rằng ông sẽ không có thể từ chối lâu hơn nữa và chấp nhận sự đề nghị. Để lại con gái của mình chăm nôm nhà ở làng Kim Liên, ông Sắc trở lại thủ đô với hai con trai của ông, đến vào tháng Sáu. Một lần nữa, họ đi bộ, nhưng dễ dàng nhiều hơn dịp trước, vì hai đứa con trai bây giờ đã được những thanh thiếu niên.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s