I- Trong Đất Nước Bị Mất (Phần 3)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p28

Trên đường đi, ông Sắc kể lại những câu chuyện về Nguyễn Trãi và những nhân vật lịch sử nổi tiếng khác, trong khi Thành hỏi tỉ mỉ anh trai của cậu về tên của tất cả triều đại Việt Nam.11

Thành phố mà họ trở lại đã thay đổi đáng kể từ lúc họ mới sống lần sau cùng ở đó. Cung điện hoàng gia, với những bức tường gánh chịu màu xám của nó và cái tháp cờ to lớn, vẫn chiếm ngự những bờ phía Bắc của sông Hương im lìm, ngoằn ngèo theo dòng của nó xuống từ những ngọn đồi hoa uất hương của dãy núi Trường Sơn về phía tây. Từ những con thuyền tam bản trên sông, những cô gái bán thân uyển chuyển với mái tóc đen chảy dài được nhiều ngưỡng mộ bởi người Việt ở khắp mọi nơi, gọi mời những khách hàng tiềm năng ở trên bờ sông. Nhưng có một số thay đổi có thể nhìn thấy. Một cơn bão lớn, mà tai họa định kỳ của toàn bộ bờ biển trung tâm, đã đập vỡ khu vực hai mùa hè trước đó, phá hủy hoa mầu và để lại chất dư thừa lên rêu dọc theo những bờ sông. Dọc theo bờ phía nam, đối diện dòng sông từ kinh đô, là những cửa hàng khó mô tả trong một khu thương mại cũ của phố đã được nhanh chóng thay thế bởi những tòa nhà theo phong cách Âu châu có vữa trắng để chứa những văn phòng của các cố vấn Pháp.

Khi đến Huế, ông Sắc và hai người con trai đã sống một thời gian ngắn trong ngôi nhà của một người bạn, nhưng cuối cùng đã được hưởng theo quy định một căn buồng nhỏ gần cửa Đông Ba ở bức tường phía đông của kinh đô. Tòa nhà, được xây dựng bằng gỗ với mái ngói, đã từng là một doanh trại bộ binh, nhưng bây giờ đã được chia thành những phần nhỏ để ở cho những quan lại cấp nhỏ tại triều. Căn buồng của ông Sắc thì nhỏ, chỉ đủ lớn cho một chiếc giường và một cái bàn. Không có nhà bếp riêng biệt hoặc nước dùng, vì vậy những người trong gia đình đã phải đi đến giếng địa phương hoặc con kênh gần đó nằm ngay bên ngoài cửa Đông Ba. Họ ăn đơn giản, bữa ăn của họ bao gồm chủ yếu là cá muối, rau, hạt mè rang, và gạo giá rẻ. Chàng thiếu niên Thành làm phần nhiều về nấu nướng. Trong khi hoàn cảnh như thế đã là tốt hơn những gì của hầu hết đồng bào nông thôn của họ; hoàn cảnh đó thì chắc chắn sơ khai nhiều hơn sơ với những tiện nghi được thụ hưởng bởi các quan chức giàu có hơn tại triều.12

Ngay sau khi đến Huế, ông Sắc đã nói chuyện với người đở đầu lâu năm Cao Xuân Đức, một quan chức tại Viện Lịch sử, người đã từng ra tay giúp ông ta trong suốt thời gian đầu cư trú tại kinh đô. Qua sự can thiệp của Đức tại triều, ông Sắc được bổ nhiệm làm việc như thanh tra viên trong Ban Nghi Lễ (Bộ Lễ), với trách nhiệm là giám sát những học sinh tại Quốc Tử Giám. Đó không phải là một vị trí có uy tín một cách đặc biệt đối với một người nào đó có địa vị hàn lâm của mình, vì hầu hết phó bảng trong lớp học của năm 1901 lúc bấy giờ đã tiếp tục thăng tiến trở thành những quan huyện hoặc nắm giữ những vị trí cao cấp trong bộ máy hành chính. Nhưng sự  từ chối dài hạn của Nguyễn Sinh Sắc để chấp nhận sự bổ nhiệm chính thức chắc chắn đã thu hút được sự chú ý tại triều đình và có lẽ gây ra sự nghi ngờ về lòng trung thành của ông ta đối với hoàng gia.13

p29

Đối với ông Sắc, trong bất kỳ trường hợp nào, kinh nghiệm làm việc tại triều rõ ràng là một điều cực kỳ khó chịu. Ông ta đã trở nên ngày càng dễ dãi về nhân cách phục vụ một chế độ quân chủ mà nó chỉ là một con rối trong tay của một người cai trị nước ngoài. Điều gì, ông tự hỏi, là ý nghĩa đương thời của thành ngữ truyền thống “trung thành với vua, tình yêu của đất nước” (trung quân ái quốc)? Ông đã bắt đầu nói chuyện với bạn bè về sự cần thiết cho sự cải cách hệ thống cũ, mà theo quan điểm của ông ta, đã trở nên ngày càng tham nhũng và không thích hợp, và ông ta đã khuyên những học sinh của mình chống lại theo đuổi sự nghiệp quan lại. Quan, theo quan điểm của ông ta, tồn tại chỉ để đàn áp nhân dân.

Sự tuyệt vọng của Nguyễn Sinh Sắc về tình trạng mụt nát của hệ thống truyền thống thì chỉ là quá hợp lý. Mô hình quan liêu Nho giáo luôn luôn phụ thuộc vào hiệu quả của sự thuyết phục có tính đạo đức như là một phương tiện duy trì thẩm quyền và tình trạng nguyên vẹn của những quan chức được lựa chọn qua hệ thống thi cử có tính cách dịch vụ dân sự. Về lý thuyết, những quan lại địa phương, bị nhồi sọ từ khi còn nhỏ trong một hệ thống đạo đức xã hội dựa trên dịch vụ cho cộng đồng, tính chính trực và lòng nhân từ, sẽ làm theo những nguyên tắc như thế trong sự áp dụng quyền hạn của họ đối với những người trong trách nhiệm của họ. Những khuynh hướng quen thuộc về tính kiêu ngạo quan liêu và cách cư xử tự mưu cầu có thể bị giữ lại dưới sự kiểm soát bởi những hành động của người cai trị nhân đạo và nhiệt tâm tại đỉnh của hệ thống. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ 19, sự yếu kém ở triều đình đã dẫn đến một sự phá sản toàn diện về hiệu quả của các tổ chức Nho giáo trong xã hội Việt Nam, và trong uy tín và thẩm quyền của chính hoàng đế. Thiếu một cảm giác hướng dẫn từ Huế, những quan lại thấy quá ư dễ dàng dùng quyền hạn của mình để nhồi nhét túi riêng của họ, hoặc của bạn bè và người thân của họ. Những vùng đất công xã theo truyền thống luôn có sẵn cho những gia đình nghèo bây giờ bị thu giữ bởi tầng lớp giàu có, những người thường có thể giành được sự miễn trừ các loại thuế, được trả tiền hàng năm cho chính phủ bởi mỗi làng.

Ông Sắc thì không có ý là một học giả Nho giáo duy nhất có sự khinh miệt đối với triều đình. Chính là vào thời điểm này, tiếng nói của quan chức triều đình Phan Chu Trinh lần đầu tiên đến với sự chú ý của công chúng. Ông Trinh đã từng nhận được bằng phó bảng trong cùng một năm như Nguyễn Sinh Sắc. Được sinh ra tại tỉnh Quảng Nam vào năm 1872, ông Trinh là người trẻ nhất trong ba người con. Cha ông là một quan chức quân đội, người đã dự kỳ thi hương nhưng đã không thành công để chiếm được bằng cấp. Tin tưởng rằng những cách thức cũ thì vô ích, cha của ông Trinh đã từng gia nhập hàng ngũ Cần Vương, nhưng ông ta cuối cùng đã bị nghi ngờ về tội phản quốc bởi những phiến quân của mình và bị tử tình. Chính ông Trinh đã chấp nhận nhiệm vụ tại Ban Nghi Lễ vào năm 1903, nhưng ông đã bị quấy rầy bởi sự tham nhũng và thiếu năng lực của các quan lại triều đình và những vị quan duy trì được quyền lực chính phủ ở nông thôn.

p30

Ông đã công khai nêu vấn đề cho những học sinh đang chuẩn bị cho những cuộc kiểm khảo của kỳ thi hội vào năm 1904. Ông bắt đầu đọc những tác phẩm của những nhà cải cách Trung Hoa, và năm 1905 ông đã từ chức từ để đi khắp đất nước và tham khảo ​​với những học giả khác về quá trình hoạt động trong tương lai.

Cuối cùng, ông Trinh gặp mặt Phan Bội Châu ở Hồng Kông và theo ông Châu đến Nhật Bản, nơi ông ta nhìn nhận những nỗ lực của ông Châu nhằm đào tạo một thế hệ mới của trí thức Việt Nam để cứu đất nước khỏi sự tuyệt chủng, nhưng không chấp nhận quyết định của bạn mình dựa vào sự hỗ trợ của một thành viên trong gia đình hoàng gia. Trong quan điểm của ông Trinh, có ý nghĩa hơn là hợp tác với Pháp với hy vọng rằng họ sẽ phát động những cải cách để biến đổi xã hội Việt Nam truyền thống. Vào tháng Tám năm 1906, ông đã viết một lá thư ngỏ cho Toàn quyền Đông Dương(pc 01) Paul Beau, chỉ ra những gì ông xem là “tình hình cực kỳ quan trọng” trong nước.

Trong thư này, ông Trinh thừa nhận rằng sự hiện diện của Pháp đã mang lại một số lợi thế cho dân Việt Nam, bao gồm những giai đoạn đầu tiên của một hệ thống vận tải và thông tin hiện đại. Tuy nhiên, bằng cách chịu đựng sự tồn tại tiếp tục của bộ máy quan liêu triều đình ở miền Trung Việt Nam, ông lập luận, chế độ thuộc địa làm tồn tại mãi một hệ thống tham nhũng và đổ nát, và sau đó kết hợp vấn đề qua cách đối xử với dân Việt Nam bằng sự hạ mình và khinh bỉ, do đó kích động sự thù ghét công khai đáng kể. Ông Trinh xin với Toàn quyền Beau để phát động cải cách luật pháp và giáo dục để mang lại sự kết thúc đối với hệ thống cũ và giới thiệu những tổ chức chính trị hiện đại và khái niệm dân chủ của phương Tây. Bằng cách đó, ông sẽ có được lòng biết ơn lâu dài của dân Việt Nam.

Đó là với một trái tim tràn đầy nỗi thống khổ và bởi vì không có ai, với người mà tôi được phép nói chuyện tự do nên tôi đã quyết định vung bút lên để bày tỏ cảm xúc của tôi đến ông một cách rất thẳng thắn. Nếu chính phủ Pháp thực sự quyết định đối đải những người An Nam một cách không thành kiến, không thể không chấp thuận sáng kiến ​​của tôi và làm theo lời khuyên của tôi. Cứ mời tôi trình diện trước những đại diện của chính phủ để giải thích trường hợp của tôi thong thả. Và vào ngày hôm đó, tôi sẽ mở ra cả trái tim của tôi. Tôi sẽ cho thấy những gì chúng tôi chịu đau khổ và những gì chúng tôi thiếu thốn. Và tôi dám hy vọng rằng điều này sẽ đánh dấu sự thức tỉnh, sự phục sinh của quốc gia chúng tôi.14

Lá thư ngỏ Phan Chu Trinh gây ra một chấn động trong giới học thức khắp cả nước, nơi những oán giận chống lại quyền lực thực dân đang tăng trưởng.

p31

Phía sau mặt nạ của “sứ mệnh văn minh hóa”, những nỗ lực của Pháp nhằm khai thác các nguồn kinh tế của Đông Dương và giới thiệu lề lối nước ngoài đã làm dấy lên sự bất mãn trong tất cả tầng lớp xã hội Việt Nam. Giới học thức uyên bác truyền thống bị trêu tức bởi những cuộc tấn công của Pháp vào những tổ chức Nho giáo. Những nông dân nỗi giận vì những thuế mới về rượu, muối, và thuốc phiện, mà chính phủ đã áp đặt như là một phương tiện làm cho Đông Dương trở thành một doanh nghiệp tự hỗ trợ. Thuế rượu thì đặc biệt nặng nề, như người Việt Nam, bị cấm làm rượu gạo đã từng được dùng trong các nghi lễ gia đình trong nhiều thế kỷ, đã buộc phải mua rượu đắt tiền nhập cảng từ Pháp. Đối với những người nông dân rời bỏ quê làng  họ để tìm việc làm ở nơi khác, một môi trường mới thường không tạo nên kết quả trong những trường hoàn cảnh được cải thiện. Những hoàn cảnh trong các đồn điền cao su ở Nam Bộ thì khắc nghiệt và thường xuyên dẫn đến bệnh tật hoặc tử vong cho công nhân. Mặc dù sự tuyển dụng thì dựa trên nguyên tắc tự nguyện, trong thực tế thì thường cưỡng bức và tiến hành bằng bạo lực. Tình hình đối với những công nhân hảng xưỡng hoặc những thợ mỏ than thì tốt hơn chút, bởi vì lương thấp, giờ làm việc thì dài, và hoàn cảnh sống thì tồi tệ.

Tuy nhiên, chính sự hy vọng của Phan Chu Trinh cho rằng người Pháp có thể nhận thức ra trách nhiệm của họ để thực hiện sứ mệnh văn minh hóa ở Đông Dương. Ông đã không đơn độc trong việc tìm kiếm những câu trả lời ở phương Tây cho hoàn cảnh khốn cùng của dân tộc mình. Đầu năm 1907, một nhóm trí thức tiến bộ ở Hà Nội thành lập Trường Miễn phí Hà Nội (Đông kinh Nghĩa thục). Theo kiểu mẫu của một học viện mới được thành lập bởi nhà cải cách Nhật Fukuzawa Yukichi Japan, nhà trường là một tổ chức độc lập nhằm mục đích thúc đẩy những tư tưởng tiến bộ của phương Tây và Trung Hoa cho thế hệ sau của người Việt Nam. Giữa mùa hè, nhà trường đã mở hơn 40 lớp học và ghi danh 1.000 học sinh. Trong khi đó, Phan Bội Châu tiếp tục hoạt động ở Nhật, thu hút giới trẻ Việt Nam vào chương trình đào tạo của mình và viết những bài luận văn ngắn đầy khích động gửi trở lại Đông Dương để khơi dậy tinh thần yêu nước của dân mình. Trong số đó có Việt Nam vong quốc sử (Việt Nam: Lịch sử mất nước). Trớ trêu thay, nó được viết bằng ký tự Trung Hoa.

Trong một vài tháng, những hoạt động của Trường Đông kinh Nghĩa thục được khoan thứ bởi những quan chức Pháp ở Bắc Bộ, nhưng cuối cùng họ bắt đầu nghi ngờ rằng mục tiêu của nó không giới hạn trong giáo dục và trường học đã được lệnh đóng cửa vào tháng Mười Hai. Nhưng người Pháp không có thể làm gì để bịt miệng những cuộc tranh luận ngày càng tăng giữa những người Việt quan tâm về việc làm thế nào để bảo đảm sự sống còn của đất nước họ. Chính Nguyễn Sinh Sắc cũng ngày càng tức giận, phúc khảo trong bài giảng tại Quốc Tử Giám rằng

p32

làm việc trong bộ máy hành chính là loại tồi tệ nhất của chế độ nô lệ –những quan chức không là gì cả nhưng là những nô lệ làm việc theo lệnh của một xã hội nô lệ. Tuy nhiên, ông Sắc thấy khó  để tìm ra một giải pháp. Nhiều năm sau, Hồ Chí Minh nhớ lại rằng cha mình thường hỏi bằng một cách ngữ thuật, nơi nào người Việt Nam có thể chuyển hướng –đến nước Anh, Nhật, hay Hoa Kỳ– để nhở giứp đở.15

* * *

Ngay sau khi trở về Huế, theo lời khuyên của Cao Xuân Đức, ông Sắc ghi danh hai người con trai vào trường tiểu học cấp cao Đông Ba. Nhà trường là một phần của hệ thống giáo dục mới Pháp-Việt và được nằm thuận tiện ngay bên ngoài những bức tường thành ở phía trước cửa Đông Ba. Ban đầu nó là một phần của khu chợ chiếm đóng khu vực này, nhưng khi chợ chuyển đến một vị trí mới vào năm 1899, công trình xây dựng được biến đổi thành trường học. Nó có năm phòng, bốn cái được dùng làm lớp học và cái kia cho văn phòng. Theo đúng nghĩa, thiếu niên Thành không có chứng chỉ học vấn để ghi danh vào trường, vì từ đó đến nay cậu ta chưa nhận được bất kỳ sự đào tạo giáo dục kiểu phương Tây nào; tuy nhiên, vì cậu ta đã học một ít tiếng Pháp từ gia sư mình ở làng Kim Liên và trình bày hay trong buổi phỏng vấn của mình, cậu  đã được nhận như là một học cấp mới vào. Rõ ràng là cậu ta không thành thạo đủ tiếng Pháp để đọc bản hiệu, được gắn vào bức tường ở phía trước trường, với dòng chữ nổi tiếng của cuộc Cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Tình huynh đệ.

Những lớp học tại trường được giảng dạy bằng ba ngôn ngữ: Việt, Pháp, và Hoa. Ở cấp cao hơn, việc sử dụng ngôn ngữ Trung Hoa bị giảm bớt. Một số người bảo thủ đã phản đối vai trò bị hạn chế một cách tương đối được quy định cho tiếng Hoa, nhưng Thành và cha của cậu có lẽ đã hài lòng với quyết định đó. Gia sư tiếng Pháp của Thành ở Kim Liên Thành đã từng khuyên cậu ta: “Nếu anh muốn đánh bại người Pháp, anh phải hiểu họ. Để hiểu được tiếng Pháp, anh phải học tiếng Pháp “16.

Với đôi guốc gỗ, quần tây và áo sơ mi nâu, và mái tóc dài, Thành chắc chắn gọt nên một hình ảnh mộc mạc trong số những bạn học phức tạp hơn của mình –nhiều người trong số họ mặc áo dài truyền thống và quần dài của học giả hoặc mặc đồng phục kiểu Tây phương có bán sẵn trong trường– vì vậy cậu đã sớm quyết định hớt tóc của mình theo kiểu cắt vuông thời trang và ăn mặc như những người khác để tránh bị chế giễu. Cậu ta vứt bỏ cái nón tre hình chớp nhọn mà nông dân hay đội vì ưa thích chiếc nón được đan bằng lá dừa hơn. Một người bạn nhớ lại nhiều năm sau đó rằng Thành học chăm chỉ và ít chơi. Cậu ta xin phép viết những bài tập của mình sau khi tan lớp, tại nhà của thầy giáo và ôn lại những bài học của mình với bạn bè vào buỗi tối. Một trong những người bạn đó nhớ lại rằng cậu ta thường lên tiếng cho bạn bè, người ngày càng chán nản,

p33

“Chỉ có qua khó khăn, chúng ta mới có thể thành công.” Cậu ta làm việc chăm chỉ một cách đặc biệt về ngôn ngữ Pháp, luyện tập giọng nói mình với bạn bè và viết nghĩa tiếng Pháp và Hoa ra chữ Việt trong vở mình. Công việc khó khăn hiễn nhiên đã được đền bù: Cậu ta chỉ cần một năm để hoàn thành khóa học hai năm.

Vào mùa thu năm 1907, Thành và anh trai mình đậu kỳ thi tuyển sinh và được ghi danh vào Quốc Học viện , trường học Pháp-Việt cấp cao nhất ở Huế. Học viện đã được thành lập bởi  sắc lệnh của Hoàng đế Thành Thái vào năm 1896 và đã được đặt dưới thẩm quyền của Cao ủy Cư trú(pc 02)Pháp (tương đương với Thống đốc khu vực) của miền Trung Việt Nam. Nó bao gồm bảy cấp, bốn cấp trong số đó là sơ đẳng, và lên đến đỉnh điểm ở cấp cuối dành cho những học sinh tiên tiến. Bằng cách thiết lập trường học, triều đình hy vọng thay thế Quốc Tử Giám và sản xuất những tuyển sinh có nền giáo dục Tây phương cho guồng máy hành chính triều đình, vì vậy, chương trình giảng dạy được tập trung vào ngôn ngữ và văn hóa Pháp. Những người dân địa phương đặt cho cái tên là “trường trên trời.”

Những điều kiện sống và học tập ở trường, mà nó nằm trên bờ phía nam của dòng sông đối diện cổng chính vào trong cung đình, hầu như không tương xứng với danh tiếng thanh thế của nó. Toà nhà chính, ngày xưa đã từng được dùng như là một doanh trại bộ binh, đã bị đổ nát và có một mái lá tranh, rò rỉ khi trời mưa. Nó chứa nhiều lớp học, một hội trường lớn để giảng bài, và một văn phòng. Vây quanh tòa nhà có nhều túp lều bằng tranh và tre. Lối vào trường mở ra trên đại lộ Jules Ferry, một con đường lớn, chính chạy dọc theo bờ sông vào thành phố, và được đánh dấu bởi một chiếc cỗng gỗ hai tầng theo kiểu Trung Hoa, với tên của trường được khắc bằng ký tự Trung Hoa.

Nhóm học sinh ở trường thì rất đa dạng. Một số, như Thành và anh trai mình, là những học sinh có học bổng, đã phải lội bộ đến trường. Những người khác đến từ những gia đình giàu có và ăn ở tại trường hoặc đến trường mỗi buổi sáng bằng những cỗ xe ngựa. Trong thời lệ cỗ,  học sinh bị đối xử cách khe khắt, thậm chí đôi khi tàn nhẫn. Giám đốc đầu tiên là một doanh nhân với tên Nordemann, người đã kết hôn với phụ nữ Việt và nói tiếng Việt. Người kế nhiệm của ông ta, một Logiou Monsieur, đã từng là một thành viên của đoàn Ngoại giao Pháp.

Mặc dù trong những năm sau đó, Thành phê bình về những điều rất nguy cấp về ngôi trường và cách cư xử hung bạo của một số trong những thầy giáo của trường, cậu ta không ngừng chăm chỉ học và gặt hái thành công qua kinh nghiệm, lấy lớp về lịch sử, địa lý, văn học, và khoa học, trong khi cải thiện kiến thức mình bằng ngôn ngữ Pháp. Những bạn cùng lớp của cậu nhớ lại rằng cậu ta luôn luôn ngồi ở phía sau lớp và thường không chú ý đến những gì đang diễn ra trong lớp học,

p34

nhưng cậu có tiếng về đặt những câu hỏi trong lớp và khá thành thạo những ngôn ngữ nước ngoài, vì vậy, hầu hết các thầy giáo thích cậu ta. Những bạn cùng lớp cũng nhớ lại rằng một số trong những câu hỏi của cậu thì khá khiêu khích, khi cậu ta tìm cách thăm dò ý nghĩa phía sau những tác phẩm cổ điển của những nhà triết học khai sáng Pháp. Một trong số thầy giáo yêu thích của cậu là Lê Văn Miên, mới tốt nghiệp từ trường Mỹ thuật ở Paris. Mặc dù Miên thường xuyên chỉ trích về những chính sách của chế độ thực dân, sự quen thuộc của thầy với văn hóa Pháp đã mang lại cho thầy một danh tiếng được ưa chuộng trong số những người dân Pháp ở kinh đô và bảo vệ thầy từ sự khiển trách của quan lại. Tại Học viện Quốc gia, thầy cho những học sinh của mình biết rằng người dân Pháp cư xử bằng một phong cách lịch sự ở quê nhà hơn so với những đối tác của họ ở Đông Dương, và thầy đã làm thoả thích Nguyễn Tất Thành bằng những lời tường thuật của thầy về những thành phố lớn của Paris với những thư viện, bảo tàng, và sách với những chủ đề khác nhau, có thể được đọc bởi bất cứ ai mà không có những sự hạn chế chính thức. Những lời tường thuật đó đã thúc đẩy chàng thiếu niên vào những thành tựu lớn, đưa đến một trong những thầy giáo đã khen ngợi Thành là “một học sinh thông minh và thật sự xuất sắc.”

Tuy nhiên, thái độ thẳng thắn và phong cách mộc mạc của Thành đã gây ra những vấn đề với một số trong những bạn học phức tạp hơn của mình, người đã trêu chọc cậu ta như là một người quê mùa vì giọng nói nặng nề dân miền của mình. Lúc đầu, Thành không phản ứng, nhưng có một lần cậu ta đã mất bình tĩnh và đánh một trong những người quấy rầy trong sự tức giận. Một thầy giáo đã la mắng cậu ta vì đánh mất sự kiên nhẫn của mình và khuyên cậu ta để biến năng lượng của mình cho những mục đích hữu ích hơn như là việc nghiên cứu về những vấn đề thế giới. Thật vậy, Thành đã ngày càng quan tâm đến chính trị, và sau giờ học, cậu thường đi xuống bờ sông, nơi những đám đông tụ tập để thảo luận tin tức mới nhất về Phan Bội Châu và đọc chung với nhau bài thơ của ông “Á-tế-Á,” mô tả về một tương lai Á châu không có luật lệ người da trắng và kêu gọi đọc giả nhằm huy động cho nền độc lập dân tộc.

Một nguồn chính trong sự kích thích bản năng yêu nước của Thành là thầy giáo dạy tiếng Hoa của mình, Hoàng Thông, có quan điểm chống Pháp đã ngày càng được biết đến rộng rãi ở trường. Thông đã cảnh cáo những học sinh trong lớp mình rằng mất nước thì nghiêm trọng hơn mất gia đình, vì trong trường hợp trước, toàn bộ chủng tộc sẽ biến mất. Thành đến thăm Thông ở nhà và say sưa đọc sách từ thư viện của ông ta, bao gồm cả bộ sưu tập về những tác phẩm cải cách bởi những tác giả của Pháp, Trung Hoa, và Việt Nam. Theo một lời tường thuật, Hoàng Thông đã tham gia vào những hoạt động chính trị bí mật và giao Thành liên lạc với các nhóm kháng chiến địa phương chống lại triều đình và các chế độ thực dân Pháp.

p35

Trong khi mức độ của sự tham gia của Thành trong những hoạt động như thế không thể chứng minh được, rõ ràng là cậu ta ngày càng trở nên cao giọng trong những lời chỉ trích chính quyền. Trong những lần khác, cậu ta nói công khai trước đám đông học sinh trong sân trường, phê phán cách cư xử hèn hạ của triều đình và kêu gọi giảm những thuế nông nghiệp nặng nề mà đã từng bị lạm dụng trên những nông dân địa phương. Khi một học sinh báo cáo hành vi của cậu cho cơ quan thẩm quyền, Thành bị gọi lên văn phòng của tổng giám đốc trường và bị quở trách nặng nề.17

Thật vậy, vào mùa thu năm 1907, tình hình chính trị đã phát triển ngày càng căng thẳng. Hoàng đế Thành Thái, người ban đầu được đặt lên ngai vàng bởi người Pháp vào năm 1889, đã buộc phải thoái vị bị nghi ngờ tham gia vào những hoạt động nổi loạn. Nhưng tin đồn bay khắp thủ đô rằng người kế vị tám tuổi của ngài, vị hoàng đế Duy Tân, thậm chí còn chống Pháp hơn. Như là để báo hiệu một quyết định của tuổi trẻ của mình để mang lại những cải cách cho đất nước, sự lựa chọn của ngài về danh hiệu triều đại là một chữ Việt Nam có nghĩa là “hiện đại hóa,” một hành động mà dường như công bố sự quan hệ giòng tộc trên tinh thần của mình với Hoàng đế Minh Trị ở Nhật.

Đối với nhiều người Việt Nam tiến bộ, tuy nhiên, có lẽ đã quá muộn để liên kết gia đình hoàng gia với những hoạt động yêu nước. Nguyễn Quyên, một học giả ở Trường Đông kinh Nghĩa thục, gần đây đã viết một bài thơ kêu gọi tất cả người Việt cắt tóc họ như một sự từ chối biểu tượng đối với quá khứ phong kiến ​​(tại thời điểm, nhiều người Việt mang mái tóc của họ như một búi, một phong cách truyền thống được ưa chuộng trong nhiều thế kỷ). Thành, bấy giờ đã bắt đầu cắt giảm những lớp học của mình, tham gia với bạn bè luân chuyển giữa những đám đông, đi hớt tóc, không phải lúc nào cũng được yêu cầu, cho người địa phương qua lại. Nhiều năm sau, Hồ Chí Minh vẫn nhớ bài hát đều đều như tụng của họ:

         Lược trong tay trái,
         Kéo ở bên phải,
         Cắt! Cắt!
         Cắt đi sự thiển cận,
         Cùng với sự ngu dốt,
         Cắt! Cắt!18

Hành vi như thế chắc chắn góp phần vào sự lo lắng của những quan chức Pháp và dẫn đến quyết định của chính phủ ở Bắc Bộ ra lệnh cho trường Đông kinh Nghĩa thục đóng cửa.

Cho đến nay, hầu hết những người bất mãn đã được tập trung trong số giới trí thức. Trong những tháng đầu năm 1908, nó bắt đầu lan rộng đến các những khu vực nông thôn, nơi những nông dân ở các tỉnh dọc theo bờ biển trung tâm đã bắt đầu nói lên sự bất mãn vì tăng nhiều thứ thuế, những yêu cầu lao động cưỡng bức, và tham nhũng quan lại.

p36

Trong bức thư gởi cho Beau, Phan Chu Trinh đã cảnh cáo rằng khối lượng dân chúng, bị nghiền bởi những sưu cao thuế nặng của chính quyền địa phương, đã sống trong “nổi đau khổ đen.” Trong một số khu vực gần bờ biển, những yêu cầu lao động cưỡng bức thì nặng nề; thí dụ, những nông dân được lệnh bỏ ra một thời gian có giá trị thực tế làm sạch cát ở những bến cảng sau một cơn bão gần đây. Vào giữa tháng Ba, đám đông khổng lồ tụ tập ở văn phòng của thẩm phán huyện trong tỉnh Quảng Nam và sau đó tuần hành tới một thủ phủ Hội An, một cảng biển phát triển mạnh ngày xưa, cách một vài dặm về hướng nam của Đà Nẵng. Những phong trào phản đối được tích cực hỗ trợ bởi những người trí thức tiến bộ, những người đã bắt đầu mở những trường học và những cơ sở thương mại khắp miền Trung Việt Nam để giáo dục giới trẻ qua những ý tưởng hiện đại và để quyên tiền cho những hoạt động của mình. Bây giờ họ đã bắt đầu khích động những nông dân để giữ lại những phần nộp thuế cho các cơ quan thẩm quyền.

Khi lời kêu gọi của những cuộc biểu tình đầu tiên truyền ra, phong trào nhanh chóng lan ra từ Quảng Nam đến những tỉnh lân cận. Trong một số trường hợp, những cuộc biểu tình trở thành bạo lực, khi những người chống đối chiếm những tòa nhà quan chức hoặc những nơi cư ngụ của quan lại địa phương. Đến lúc, nhà chức trách hoàng gia ra lệnh cho binh lính giải tán nổi loạn, đã dẫn đến nhiều tử vong và hàng trăm người bị bắt giữ. Thỉnh thoảng, những nông dân buộc phải cắt mái tóc của người qua đường, do đó khiến cho những người quan sát Pháp đặt danh hiệu cho phong trào là “cuộc nổi dậy của những người tóc ngắn.”

Vào mùa xuân, làn sóng bất ổn của nông dân đã bắt đầu vỗ vào những chiếc cỗng của kinh đô Huế. Trong tuần đầu tiên của tháng Năm, những nông dân trong ngôi làng ngoại thành Công Lương biểu tình chống những thuế cao. Khi một nhà quan địa phương đến với một đạo quân, những cuộc bạo loạn đã nổ ra và quan lại bị bắt giữ. Ngày hôm sau, một đám đông lớn đã dẫn ông ta trong một cái lồng tre đến thủ đô, nơi họ tụ tập ở phía trước của văn phòng Cao ủy Cư trú(pc 02) Pháp để yêu cầu giảm thuế và lao động khổ sai theo yêu cầu lao động.

Sự kiện này là dịp cho sự tham gia trực tiếp lần đầu tiên của Thành trong hoạt động chính trị, mặc dù cậu ta chắc chắn theo dõi những sự kiện một cách chặt chẽ qua mạng lưới tin đồn địa phương. Khi vào ngày 09 tháng 5, một nhóm học sinh tụ tập trên bờ sông phía trước của Học viện Quốc gia để xem các nhóm lớn của những người nông dân đang tràn vào thành phố từ những vùng ngoại ô, Thành đột nhiên tóm cổ hai người bạn và đề nghị tham gia vào đám đông để phục vụ như là những thông dịch viên cho những nông dân đang phản đối chính quyền Pháp. Trên đường vào thành phố, cậu ta quay chiếc nón lá dừa lộn ngược xuống như một dấu hiệu của sự cần thiết để lật đổ hiện trạng. Vào lúc họ đến tại văn phòng của Levecque, Cao ủy Cư trú(pc 02),

p37

tình hình đã căng thẳng rồi, với những nông dân giận dữ đối đầu với các quan chức địa phương và quân đội bồn chồn. Đột nhiên, nhân viên phụ trách ra lệnh cho đơn vị dân quân của mình xô đẩy đám đông và đẩy lui bằng dùi cui. Thành, người đã di chuyển về phía trước trong một nỗ lực thông dịch lại những yêu sách của nông dân đối với chính quyền, đã bị đánh đập nhiều lần.

Khi đám đông tiếp tục đẩy về phía trước, Levecque đã đồng ý cho phép một đại diện từ trong số những người biểu tình để vào văn phòng của ông điều đình những điều kiện cho sự rút lui của đám đông. Thành được xem là một thông dịch viên. Nhưng, những cuộc đàm phán đã thất bại để giải quyết tranh chấp và người dân bên ngoài từ chối giải tán, ngay cả sau khi Hoàng đế Duy Tân đã cố gắng can thiệp. Cuối cùng quân đội Pháp đến và nổ súng vào những người biểu tình đang chiếm các cây cầu mới trên sông Hương, gây ra nhiều thương vong.19

Đêm đó, Thành đã bỏ trốn tại nhà một người bạn. Ngày hôm sau, những bạn học của cậu tại Học viện Quốc gia, nhiều người trong số họ đã chắc chắn nghe nói về hoạt động của cậu ta từ ngày hôm trước, giả định rằng Thành sẽ vắng mặt, nhưng khi chuông reo hai lần để thông báo bắt đầu lớp học, Thành đột nhiên đến và ngồi vào chỗ mình. Vào lúc 09:00 giờ sáng, một sĩ quan cảnh sát Pháp đến trường với một toán lính và gặng hỏi “một học sinh cao, đen”, người đã từng tham gia trong cuộc biểu tình ngày hôm trước. Khi ông ta trông thấy Thành đang ngồi ở phía sau lớp, ông ta đã nhận ra cậu ta và nói, “Tôi có lệnh yêu cầu rằng kẻ gây rắc rối này bị sa thải khỏi trường.” Đó là ngày cuối cùng của Thành tại học viện.

Trong những tuần lễ sau những biến cố ở Huế, cuộc khủng hoảng chính trị căng thẳng hơn. Vào cuối tháng sáu, những người đồng tâm của Phan Bội Châu đã cố gắng tổ chức một cuộc đảo chính bằng cách ngộ độc những quan chức Pháp đang tham dự bữa tiệc tại Hà Nội. Những người chủ mưu hy vọng rằng lực lượng phiến quân trong khu vực có thể thúc đẩy một cuộc tổng nổi dậy trong suốt cuộc rối loạn tiếp theo và chiếm giữ những cơ sở trọng yếu trong thành phố. Nhưng định lượng quá yếu để đạt được mục đích của nó, và không ai trong số các vị khách người Pháp trong bữa tiệc đã chết, mặc dù một số đã tạm thời bị vô hiệu hoá. Trong khi đó, mưu đồ đã vô tình bị tiết lộ bởi một trong những thủ phạm, khiến cho nhà chức trách Pháp tuyên bố thiết quân luật trên toàn khu vực. Trong sự hỗn loạn xảy ra sau đó, quân đội của ông Châu ở vùng ngoại ô nằm rải rác, trong khi những người khác đã bị bắt giữ bởi lực lượng chính phủ. Mười ba người Việt Nam liên can vào mưu đồ đã bị tử hình, và những người khác nhận án tù dài hạn. Những quan chức hoảng sợ đã vây bắt tất cả những người trí thức uyên bác, những người bị nghi ngờ là có sự đồng cảm với phong trào, và ngay cả Phan Chu Trinh bị bắt tại Hà Nội và được chuyển đến Huế để đưa ra xét xử. Những công tố viên muốn ông ta bị tử hình,

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Toàn quyền Đông Dương : Governor-General of Indochina.
pc 02_ Cao ủy Cư trú : Résident Supérieur.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s