I- Trong Đất Nước Bị Mất (Phần 4-Hết)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p37

tình hình đã căng thẳng rồi, với những nông dân giận dữ đối đầu với các quan chức địa phương và quân đội bồn chồn. Đột nhiên, nhân viên phụ trách ra lệnh cho đơn vị dân quân của mình xô đẩy đám đông và đẩy lui bằng dùi cui. Thành, người đã di chuyển về phía trước trong một nỗ lực thông dịch lại những yêu sách của nông dân đối với chính quyền, đã bị đánh đập nhiều lần.

Khi đám đông tiếp tục đẩy về phía trước, Levecque đã đồng ý cho phép một đại diện từ trong số những người biểu tình để vào văn phòng của ông điều đình những điều kiện cho sự rút lui của đám đông. Thành được xem là một thông dịch viên. Nhưng, những cuộc đàm phán đã thất bại để giải quyết tranh chấp và người dân bên ngoài từ chối giải tán, ngay cả sau khi Hoàng đế Duy Tân đã cố gắng can thiệp. Cuối cùng quân đội Pháp đến và nổ súng vào những người biểu tình đang chiếm các cây cầu mới trên sông Hương, gây ra nhiều thương vong.19

Đêm đó, Thành đã bỏ trốn tại nhà một người bạn. Ngày hôm sau, những bạn học của cậu tại Học viện Quốc gia, nhiều người trong số họ đã chắc chắn nghe nói về hoạt động của cậu ta từ ngày hôm trước, giả định rằng Thành sẽ vắng mặt, nhưng khi chuông reo hai lần để thông báo bắt đầu lớp học, Thành đột nhiên đến và ngồi vào chỗ mình. Vào lúc 09:00 giờ sáng, một sĩ quan cảnh sát Pháp đến trường với một toán lính và gặng hỏi “một học sinh cao, đen”, người đã từng tham gia trong cuộc biểu tình ngày hôm trước. Khi ông ta trông thấy Thành đang ngồi ở phía sau lớp, ông ta đã nhận ra cậu ta và nói, “Tôi có lệnh yêu cầu rằng kẻ gây rắc rối này bị sa thải khỏi trường.” Đó là ngày cuối cùng của Thành tại học viện.

Trong những tuần lễ sau những biến cố ở Huế, cuộc khủng hoảng chính trị căng thẳng hơn. Vào cuối tháng sáu, những người đồng tâm của Phan Bội Châu đã cố gắng tổ chức một cuộc đảo chính bằng cách ngộ độc những quan chức Pháp đang tham dự bữa tiệc tại Hà Nội. Những người chủ mưu hy vọng rằng lực lượng phiến quân trong khu vực có thể thúc đẩy một cuộc tổng nổi dậy trong suốt cuộc rối loạn tiếp theo và chiếm giữ những cơ sở trọng yếu trong thành phố. Nhưng định lượng quá yếu để đạt được mục đích của nó, và không ai trong số các vị khách người Pháp trong bữa tiệc đã chết, mặc dù một số đã tạm thời bị vô hiệu hoá. Trong khi đó, mưu đồ đã vô tình bị tiết lộ bởi một trong những thủ phạm, khiến cho nhà chức trách Pháp tuyên bố thiết quân luật trên toàn khu vực. Trong sự hỗn loạn xảy ra sau đó, quân đội của ông Châu ở vùng ngoại ô nằm rải rác, trong khi những người khác đã bị bắt giữ bởi lực lượng chính phủ. Mười ba người Việt Nam liên can vào mưu đồ đã bị tử hình, và những người khác nhận án tù dài hạn. Những quan chức hoảng sợ đã vây bắt tất cả những người trí thức uyên bác, những người bị nghi ngờ là có sự đồng cảm với phong trào, và ngay cả Phan Chu Trinh bị bắt tại Hà Nội và được chuyển đến Huế để đưa ra xét xử. Những công tố viên muốn ông ta bị tử hình,

p38

nhưng Cao ủy Cư trú(pc 02)đã can thiệp; ông lãnh bản án chung thân và bị giam cầm trên đảo Côn Sơn, ngoài khơi bờ biển Nam Bộ. Vào đầu năm 1911, ông được thả ra và được phép sống lưu vong ở Pháp.

Sau khi những cuộc bạo loạn, Nguyễn Sinh Sắc bị khiển trách vì “hành vi của hai đứa con trai ông tại trường Quốc Học.” Như một phó bảng trong cùng tầng lớp như Phan Chu Trinh,  ông Sắc đã bị theo dõi chặt chẽ bởi triều đình, nhưng các nhà chức trách không tìm thấy gì cụ thể để liên kết ông ta với những rối loạn. Như là một mưu kế để loại bỏ ông ta khỏi Huế, vào mùa hè năm 1909, ông được bổ nhiệm làm thẩm phán huyện ở quận Bình Khê, tỉnh Bình Định khoảng 200 dặm về phía nam của thủ đô. Mặc dù một khu vực tương đối thịnh vượng, một lần nào đó nó đã từng là nơi của một cuộc nổi loạn lớn chống lại hoàng gia nhà Nguyễn và bây giờ được sử dụng để giam giữ tay giang hồ và những người không ưa khác. Anh của Thành, Khiêm, cũng được đặt dưới sự giám sát, và vào năm 1914 anh ta bị kết tội vì những hoạt động phản nghịch và trải qua nhiều năm trong tù. Ngay cả người chị của Thành, vẫn còn sống ở Kim Liên, đã bị thẩm vấn vì nghi ngờ rằng cô ta đã nuôi dưỡng những cá nhân bị nghi là đồng lõa trong những  cuộc bạo loạn.

Sau khi bị sa thải từ trường, Thành biến mất trong một vài tháng. Có những báo cáo rằng một người bạn đã cố gắng tìm cho cậu ta một công việc tại một nhà máy đá vôi nhưng không thể làm như vậy vì tên của cậu ta thì trong một danh sách đen của cảnh sát. Có lẽ cậu ta đã tìm được một số việc nào đó hoặc sống với bạn bè, nhưng cậu ta đã không quay trở lại làng quê của mình bởi vì bấy giờ nó đã bị theo dõi bởi nhà chức trách.

Cuối cùng, Thành quyết định rời khỏi An Nam và đi về hướng Nam đến thuộc địa Pháp ở Nam Bộ, nơi cậu ta có thể hy vọng trốn tránh những con mắt theo dõi của chính quyền triều đình. Có thể là cậu ta đã quyết định ra nước ngoài để tìm bí quyết của sự thành công của Tây phương tại nguồn gốc của nó, trong trường hợp mà bến cảng an toàn nhất cho sự khởi hành sẽ là bến cảng đang phát triển mạnh về thương mại của Sài Gòn, nằm dưới sự kiểm soát của Pháp hơn là chính phủ triều đình. Tháng 7 năm 1909, Thành dừng lại trên đường tại Bình Khê, nơi mà cha của cậu vừa mới nhận nhiệm vụ như là thẩm phán huyện. Để tránh bị bắt, Thành đã lội bộ cả đoạn đường từ Huế, làm những công việc lặt vặt để có thức ăn. Theo một lời tường thuật, tuy nhiên, cuộc gặp gỡ với cha của cậu rõ ràng không tốt đẹp lắm, vì ông Sắc đã trở nên ngày càng buồn rầu và uống rượu. Ông Sắc rầy la con trai mình vì những hành động gần đây và đã đập cậu ta bằng gậy.20

Sau một lúc dừng chân ngắn ngủi ở Bình Khê, Thành đã tiếp tục đi đến thành phố biển gần đó của Qui Nhơn, nơi cậu ta ở lại tại nhà của Phạm Ngọc Thơ, một người bạn cũ của cha mình gần đó. Thành đã học một thời gian ngắn tại một trường địa phương ở đó và sau đó, theo đề nghị của chủ nhà, dự thi để kiếm một vị trí như là thầy giáo của một trường địa phương, dùng tên gọi trong nhà của mình, Nguyễn Sinh Cung, để tránh tiết lộ danh tính mình.

p39

Chủ tịch của hội đồng thi cử đã từng dạy học Thành trong khi ông ta ở trường Đông Ba tại Huế và chắc chắn là có cảm tình với cậu ta, nhưng thống đốc tỉnh bằng cách nào đó đã phát hiện ra thủ đoạn và loại bỏ tên cậu ta từ danh sách thí sinh cho những vị trí đó.21

Thất vọng trong việc tìm kiếm việc làm ở Qui Nhơn, Thành tiếp tục về phía nam đến thành phố cảng của Phan Rang. Ở đó, cậu ta đã tìm kiếm học giả Trương Gia Mô, người đã từng làm việc tại triều cùng với Nguyễn Sinh Sắc lúc còn ở Huế và cũng là một người bạn của Phan Chu Trinh. Thành dường như nóng lòng muốn rời khỏi đất nước càng sớm càng tốt, nhưng chủ nhà đã thuyết phục cậu chấp nhận một công việc như giảng viên tại trường Dục Thanh ở Phan Thiết, khoảng bảy mươi dặm xa hơn cuối bờ biển và ngay hướng bắc của biên giới giữa An Nam và Nam Bộ. Bởi vì Thành đã hết tiền đi lại, cậu ta đã đồng ý. Trước khi rời Phan Thiết, tuy nhiên, cậu đã có một kinh nghiệm đầy cảm xúc. Khi một cơn bão khác đập cảng Phan Rang, những quan chức Pháp đã ra lệnh những công nhân bến cảng người Việt lặn xuống nước để cứu vớt những con tàu. Theo lời tường thuật sau này của Hồ Chí Minh, nhiều người Việt bị chết trong diễn tiến này, đối với vẻ vui thích tỏ rõ của người Âu châu đang theo dõi từ trong bờ.

Trường Dục Thanh được thành lập vào năm 1907 bởi những học giả yêu nước của địa phương hy vọng bắt chước theo sự thành công của trường Đông kinh Nghĩa thục. Nhà trường nằm trên bờ phía nam của sông Phan Thiết, khoảng ba dặm từ Biển Đông. Công trình xây dựng chính là một ngôi nhà gạch trên là tài sản của một nhà thơ đã qua đời gần đây. Trường lúc bấy giờ được điều hành bởi hai con trai của ông, và một hiệu sách được thành lập gần đó để hỗ trợ  trường học và bán những tác phẩm khuyến khích những ý tưởng cải cách mới. Trên mặt tiền cửa hàng là khẩu hiệu: “Loại bỏ cái cũ, giới thiệu mới và hiện đại” Những lớp học tại trường được giảng dạy bằng quốc ngữ, nhưng có những khóa học về Pháp và Hoa ngữ, cũng như về xã hội và khoa học tự nhiên, nghệ thuật, và giáo dục thể chất.22

Vẫn còn trốn chạy từ lực lượng an ninh hoàng gia, Thành đến Phan Thiết trước khi ngày nghỉ năm mới theo âm lịch (Tết) vào đầu năm 1910 (i.e. Thành được 20 tuổi) và bắt đầu làm việc như một giảng viên về Hoa ngữ và quốc ngữ. Như là một thành viên trẻ nhất trong số những giảng viên trường Dục Thanh, anh ta cũng được giao những nhiệm vụ khác, bao gồm là hướng dẫn viên võ thuật. Theo hồi ức của những học sinh từ trường đó, Thành là một giáo viên rất có tiếng, xử xự những chi phí của mình bằng sự lưu tâm và góp ý cho những giảng viên đồng nghiệp không để đánh bại hoặc sợ hãi người Pháp. Mặc bộ đồ ngủ màu trắng và đôi guốc gỗ phổ biến trong thời điểm đó, anh ta đã dùng phương pháp giảng dạy của Socrates (i.e. hỏi đáp và lập luận pháp của nhà triết học Hy Lạp) để khuyến khích những học sinh suy nghĩ và bày tỏ những ý tưởng của mình. Anh ta giới thiệu học sinh của mình những ý tưởng của Voltaire, Montesquieu, Rousseau, những tác phẩm của người mà anh đã hấp thụ trong quá trình học của mình tại Học viện Quốc gia ở Huế.

p40

Bên ngoài lớp học, anh ta rất dễ tiếp cận, ăn với học sinh và giáo viên trong một ngôi chùa nằm trên sân trường. Anh ta cư ngụ trong trường học và sống như một học sinh. Anh ta thường xuyên đưa học sinh của mình đi dạo có tích lịch sử và thiên nhiên trong khu rừng và dọc theo bờ biển ở vùng lân cận. Đó là một môi trường thôn quê, nhưng những người cùng thời nhắc lại rằng mùi độc hại phát ra từ nhà máy sản xuất nước mắm địa phương thì đôi khi khá mạnh mẽ, tạo nên một phân tâm riêng biệt cho quá trình học tập.

Chương trình giảng dạy tại trường có một chương trình nghị sự dân tộc. Mỗi sáng, mỗi lớp chọn một học sinh để hát bài ca yêu nước, sau đó bản nhạc được thảo luận bởi tất cả người có mặt. Thành giới thiệu những chủ đề kết nối với lịch sử Việt Nam trong những bài giảng của mình và ngâm nga những câu thơ từ các tác phẩm nổi tiếng như “bài hát hớt tóc” và bài thơ của Phan Bội Châu “Á-tế-á.”(pc 03) Để mở đầu lớp học mình, anh ta kêu gọi học sinh ngâm nga những bài thơ trong tuyển tập của Trường Đông kinh Nghĩa thục:

Ôi, Trời ơi! Anh không có thể nhìn thấy sự đau khổ của chúng tôi sao?
Quốc gia trong xiềng xích, hao mòn trong đau buồn,
Người nước ngoài đã đày đọa đất nước chịu đói,
Họ đã bị cướp đất nước của tất cả mọi thứ nó có.23

Như trong một đất nước rộng lớn, tuy nhiên, nó không phải là mục tiêu độc lập dân tộc, nhưng biện pháp để kết thúc là chủ đề gây tranh cãi nhất trong cuộc tranh luận. Ban giảng dạy của trường bi phân chia giữa những người ủng hộ về cách tiếp cận cải cách của Phan Chu Trinh và số khác về chương trình đối kháng bạo lực của Phan Bội Châu. Nguyễn Tất Thành là một trong số ít những người đã không chọn bên nào thích hơn, sau này ông đã viết, đi du lịch ra nước ngoài để hiểu được tình hình trước. Theo một trong số nguồn tài liệu ở Việt Nam, anh ta tôn trọng cả hai Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng có điều kiện hạn chế cả hai phương pháp tiếp cận, bác bỏ sự tin tưởng của Phan Chu Trinh vào thiện chí người Pháp như là sự ngây thơ và sự phụ thuộc của Phan Bội Châu vào người Nhật và những thành viên của hoàng gia như bị dẫn dắt sai lầm.24

Đầu năm 1911, trước khi kết thúc khóa học, Nguyễn Tất Thành đã biến mất. Những lý do chính xác về sự ra đi bất ngờ của anh ta thì chưa rõ, mặc dù nó có thể được kết nối với tin tức về chuyến đi được dự trù của cha anh ta đến Nam Bộ. Vào thời gian nào đó trong đầu năm 1910, ông Sắc đã bị gọi lại từ nhiệm sở của mình ở Bình Khê. Sau khi nhận nhiệm vụ mình ở đó, vào mùa hè trước, ông đã bước đầu có tiếng trong dân địa phương như là, giải thoát những tù nhân bị bắt giữ vì tham gia trong những cuộc biểu tình, bảo vệ những nông dân từ nhu cầu đòi hỏi bởi các chủ đất tham lam, và trừng phạt những kẻ hay bắt nạt ở địa phương. Ông ta khoan dung trong cách cư xử của mình về những tội phạm nhỏ nhặt bị cáo buộc,

p41

phê bình rằng thật là vô lý để dành nhiều thời gian về những vấn đề như vậy khi toàn bộ đất nước đã bị mất. Nhưng ông nghiêm khắc trong những phán đoán của mình về giới giàu có và quyền lực. Trong một lần vào tháng Giêng năm 1910, ông kết án một nhân vật địa phương có ảnh hưởng, 100 đòn bằng gậy. Khi người đàn ông qua đời vài ngày sau, thân nhân người đó than phiền với bạn bè ở triều, và ông Sắc đã bị triệu đến Huế để xét xử. Vào ngày 19 tháng 5, Hội đồng nhiếp chính buộc tội ông ta lạm dụng chức vụ và kết án ông ta chịu đòn và giáng chức bốn bậc trong triều cấp. Vào tháng Tám bản án được thay đổi thành giáng cấp và sa thải chính thức từ chức vụ. Để hỗ trợ cho mình, ông Sắc dạy học một thời gian ngắn ở Huế. Đối với bạn bè, ông ta không có vẻ gì là cay đắng cho việc bị sa thải của mình; ông đưa ra nhận xét với một người quen, “Khi đất nước bị mất, làm thế nào anh có thể có một ngôi nhà ?” Trong tháng Giêng năm 1911, ông ta đã gửi cho chính quyền Pháp lời yêu cầu đi đến Nam Bộ, có thể hy vọng gặp lại con mình. Sự yêu cầu đó, tuy nhiên, đã bị từ chối bởi chính quyền, có lẽ vì một sự nghi ngờ dai dẳng rằng ông đã bị lôi cuốn vào những hoạt động nổi loạn. Theo một báo cáo của cảnh sát Pháp được viết vào thời điểm đó:

Nguyễn Sinh (Sắc)… bị mạnh mẽ nghi ngờ về sự đồng lõa với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và những người khác. Con trai ông ta, người mà hai năm trước đây là một học sinh tại Đông Ba, đã đột nhiên biến mất. Cậu ta được cho là đang ở Nam Bộ. Nguyễn Sinh (Sắc) có thể có ý định kết hợp lại cậu ta và hội ý với Phan Chu Trinh.25

Ông Sắc bỏ qua việc từ chối, và vào ngày 26 Tháng Hai 1911, ông ta đã đi đến Tourane (tên mới của Pháp cho Đà Nẵng) và bắt tay vào một con tàu Sài Gòn, nơi ông tìm được việc làm bằng cách dạy các bài học tiếng Hoa và bán thuốc Bắc.26

Nguyễn Tất Thành có biết gì về quyết định của cha mình để đi đến Nam Bộ, do đó thúc đẩy anh ta rời Phan Thiết đến Sài Gòn với hy vọng tìm ông Sắc ở đó không? Một trong số đồng nghiệp của anh ta tại trường sau này nhớ lại rằng Thành đã nói rằng anh ta sẽ ăn mừng những ngày nghỉ Tết với cha mình. Hoặc anh đã lo sợ rằng danh tính thực sự của anh ta đã được phát hiện bởi chính quyền địa phương, những người đã đặt những trường học dưới sự giám sát? Có hay không, họ ngày càng nhận biết rằng Nguyễn Tất Thành đã giảng dạy ở trường, là điều không biết chắc chắn, nhưng ngay sau khi sự biến mất của Thành, một quan chức Pháp đã đến trường để hỏi về nơi ở của anh ta. Thành, tuy nhiên, đã không có gợi ý nào về sự khởi hành của mình cho học sinh, chỉ để lại một lưu ý ngắn yêu cầu những cuốn sách của anh được trao cho một giáo viên đồng nghiệp. Bạn bè tại trường sau đó suy đoán rằng anh ta có thể đã rời Phan Thiết trên một chiếc tàu chở nước mắm lên Sài Gòn. Một thời gian ngắn sau đó, nhà trường đã tạm thời bị buộc phải đóng cửa bởi chính quyền.27

p42

* * *

Một vài ngày sau khi rời Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành đã đến Sài Gòn. Thành phố chắc chắn là một kinh nghiệm mở mắt cho người chàng thanh niên từ tỉnh mộc mạc Nghệ An. Ngày xưa kia là một tụ điểm trao đổi nhỏ trên sông Sài Gòn, sau cuộc chinh phục của người Pháp, nó được đặt tên là thủ đô của thuộc địa mới của Nam Bộ. Khi thuộc địa phát triển ổn định theo dân số –vào năm 1910 Nam Bộ chứa khoảng một phần tư tổng dân số của 12 triệu người được định cư trên khắp ba miền Việt Nam– thành phố Sài Gòn đã tăng trưởng với nó, và đến năm 1900 nó đã xuất hiện sau Hà Nội, trở thành một thành phố lớn nhất ở Đông Dương thuộc Pháp. Chẳng bao lâu nó đã sẽ vượt qua thủ đô cổ kính về kích thước, với dân số của 100.000 người.

Sự phát triển của thành phố được dựa trên tất cả những lợi thế kinh tế gần đó. Trong những năm kể từ khi cuộc chinh phục của Pháp, Nam Bộ đã trở thành một nguồn gốc của sự giàu có cho một tầng lớp kinh doanh mới bao gồm người Âu châu và Việt Nam, cũng như người Trung Hoa có đạo đức, mà những tổ tiên của họ đã định cư tại các khu vực trong những thế kỷ trước. Phần lớn lợi nhuận đến từ việc mở những đồn điền cao su dọc theo biên giới Cam-pu-chia (cây giống của cây cao su đã từng được đưa vào Đông Dương từ Ba Tây trong suốt phần tư cuối của thế kỷ 19), và từ việc mở rộng canh tác lúa như một hệ quả của những nỗ lực của Pháp để tháo nước từ những vùng đầm lầy ở đồng bằng sông Cửu Long. Được mua bởi những địa chủ ẩn mặt, giàu có, những vùng đất hoang sơ sau đó đã được cho những lĩnh canh thuê (nhiều trong số chính những người di cư nầy là từ các tỉnh đông dân cư ở phía bắc) với giá thuê cắt cổ. Gạo được trả bởi những người thuê cho chủ sau đó đã được chế biến trong những nhà máy gạo của chủ người Hoa và vận chuyển bằng tàu đến các tỉnh phía Bắc hoặc xuất cảng. Vào quý đầu tiên của thế kỷ 20, Nam Bộ là nơi xuất cảng gạo lớn thứ ba trên toàn thế giới.

Bị thu hút bởi lợi nhuận từ thương mại ngày càng tăng trong cao su, gạo, hàng ngàn người châu Âu định cư ở Sài Gòn với hy vọng tạo ra vận may của chính mình. Ở đó, họ cạnh tranh với những thương gia người Hoa và một giai cấp tư sản Việt giàu có, mới trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho dân số ngày càng tăng. Với những nhà máy dệt, nhà máy xi măng, nhà máy chế biến thực phẩm, Sài Gòn đã nhanh chóng trở thành cơ sở công nghiệp và thương mại chính của cả Việt Nam. Trong khu vực trung tâm thành phố, những tòa nhà nguy nga được dựng lên theo phong cách Pháp chứa những văn phòng của các quan chức thuộc địa. Những đại lộ rộng, được bày biện theo thời trang mạng lưới, được xếp thành hàng với cây tiêu huyền (i.e. cây sung dâu) để cung cấp sự bảo vệ từ ánh nắng của mặt trời nhiệt đới nóng bỏng.

p43

Phía sau những bức tường cao bằng vữa là những căn nhà tráng lệ của người châu Âu và một số ít người Việt mà họ đã xoay sở để lợi dụng sự hiện diện của những đế quốc nước ngoài. Phần còn lại của dân số –những công nhân hảng xưởng, những công nhân bốc dỡ, những người kéo xe, những nông dân tứ xứ xung quanh vùng nông thôn– túm tụm vào nhau trong những khu bẩn thỉu dọc theo kênh Bến Nghé hoặc dọc theo các cạnh của thành phố.

Về đến Sài Gòn, Thành đã lên chỗ ở trong một kho thóc cũ. Chủ nhân, Lê Văn Đạt, là một nhà sản xuất chiếu dệt và có liên kết với những thành viên của trường Đục Thanh ở Phan Thiết. Ở đó, Thành dường tìm được vị trí của cha mình, người đang tạm thời sống tại nhà kho cho đến khi ông tìm thấy chỗ ở lâu dài hơn. Cuối cùng, qua những tiếp xúc khác từ nhà trường, Thành đã chuyển đến một khu nhà trên đường Châu Văn Liêm, gần cầu cảng Sài Gòn, của một ổ chuột của túp lều gỗ với mái thiếc nằm kẹp giữa một con kênh và sông Sài Gòn. Với sự khuyến khích của cha mình, Thành bấy giờ bắt đầu lập kế hoạch ra nước ngoài. Vào tháng Ba, anh ta nghe nói về một trường học được thành lập bởi Pháp vào năm 1904 nhằm cung cấp đào tạo nghề mộc và kim loại. Có lẽ với hy vọng để dành đủ tiền chu cấp cho một chuyến đi ra nước ngoài, Thành đã mau chóng đến trường. Tuy nhiên, khi anh ta phát hiện ra rằng anh ta sẽ cần phải hoàn tất chương trình ba năm để có được thẩm quyền, anh đã từ bỏ lớp học của mình và lấy công việc bán báo với người cùng làng Kim Liên tên Hoàng.

Làng của những người lao động nơi mà Thành đang sống thì không xa từ cầu cảng Nhà Rồng của Sài Gòn, nơi những con tàu hàng có hành khách, to lớn cập cảng trên đường đến châu Âu và những cảng khác trong khu vực Á châu. Anh ta quyết định tìm một công việc trên một trong những con tàu như là tấm vé của mình để đi ra nước ngoài. Hồ Chí Minh đã mô tả điều đó nhiều năm sau nầy trong cuốn tự truyện của mình, bị cáo buộc được viết bởi Trần Dân Tiên ảo tưởng:

         Trong khi tôi [một người bạn bị cáo buộc Thành, trích dẫn của tác giả] đã hoàn tất việc học của mình ở trường Chasseloup-Laubat ở Sài Gòn,… Tôi đã gặp một người đàn ông trẻ đến từ miền Trung Việt Nam. Tôi đã gặp anh ta tại nhà một người bạn. Có cùng độ tuổi, chúng tôi nhanh chóng trở thành bạn bè. Tôi đã đưa anh ta vào phía trước của quán cà phê thường được lui tới bởi người Pháp, nơi mà chúng tôi ngồi ngắm đèn điện. Chúng tôi đã đi xem phim. Chúng tôi đã chỉ cho anh những đài phun nước công cộng. Có quá nhiều thứ mà anh bạn trẻ Quốc [Nguyễn Tất Thành] chưa bao giờ nhìn thấy. Một ngày nọ, tôi mua cho anh ta kem lạnh. Anh ta rất ngạc nhiên vì đây là lần đầu tiên anh ta đã từng ăn nó.

         Một vài ngày sau đó, anh đột nhiên hỏi tôi một câu hỏi:

“Hey, Lê, bạn yêu đất nước của bạn không?”

         Ngạc nhiên, tôi trả lời, “Vâng, tất nhiên!”

p44

“”Bạn có thể giữ một bí mật?”
“Có.”
“Tôi muốn đi ra nước ngoài, đến thăm Pháp và các nước khác. Khi tôi đã thấy những gì họ đã làm, tôi sẽ trở về giúp đồng bào của tôi. Nhưng nếu tôi đi về một mình, sẽ có nhiều nguy cơ, thí dụ, nếu tôi bị bệnh.. Bạn có muốn đi với tôi không?”

“Nhưng chúng ta sẽ kiếm tiền cho chuyến đi ở đâu?”

“Đây là tiền của chúng ta,” anh ta đưa ra cho tôi hai bàn tay mình. “Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết để sống và đi đây đó. Bạn sẽ tham gia với tôi không?”

         Bị lôi cuốn đi bởi lòng nhiệt tình, tôi đã chấp nhận. Nhưng sau khi suy nghĩ kỷ lại về những điều gì mà cuộc phiêu lưu của chúng tôi sẽ đưa đến, tôi không có can đảm để giữ lời hứa.

         Tôi đã không thấy anh ta kể từ đó. Tôi đã luôn nghĩ rằng anh đã đi ra nước ngoài, nhưng bằng cách tôi không thể nói cho bạn biết. Mãi về sau, tôi biết được rằng người yêu nước trẻ trung đầy nhiệt huyết thì không ai khác hơn là Nguyễn Ái Quốc [Hồ Chí Minh], chủ tịch tương lai của chúng ta.28

Trong suốt vài tháng tiếp theo, Thành thường xuyên đi đến bến cảng xem những con tàu ​​vào, ra. Có hai công ty tàu hơi nước hoạt động ở ngoài Sài Gòn –Messageries Maritimes và Chargeurs Réunis. Loại thứ hai mướn người Việt để phục vụ như là những bồi bàn và người giúp việc nhà bếp trên tàu của nó, và quảng cáo nói rằng hành trình bao gồm những thành phố lãng mạn như Singapore, Colombo, Djibouti, Port Said, Marseilles, và Bordeaux. Qua một người bạn từ Hải Phòng đã làm việc với công ty, Thành đã có thể có được cuộc phỏng vấn với thuyền trưởng của con tàu hàng Amiral Latouche-Tréville thuộc công ty Chargeurs Réunis, mà nó vừa mới đến cầu cảng Nhà Rồng từ Tourane. Anh ta đã đóng gói hai bộ quần áo thủy thủ trong một cái va li nhỏ, được tặng cho anh ta bởi một người bạn ở Phan Thiết.

Ngày 02 tháng 6, một người đàn ông trẻ tự gọi mình đơn giản là “Ba” đã có mặt tại bến tàu. Thuyền trưởng Louis Eduard Maisen đã hoài nghi về người nộp đơn, người trông thông minh nhưng yếu đuối trong tầm vóc. Khi Ba nhấn mạnh rằng anh có thể “làm bất cứ điều gì”, Maisen đồng ý thuê anh ta như là một đầu bếp phụ tá. Ngày hôm sau Ba báo cáo để nhận việc và ngay lập tức được chỉ định một công việc toàn thời gian, rửa bát đĩa và chảo, làm sạch sàn nhà bếp, chuẩn bị rau, và xúc than. Vào ngày thứ năm, Amirai Latouche-Tréville đi qua những bờ đầm lầy của sông Sài Gòn, tiến ra biển Biển Đông trên đường đến điểm hẹn kế tiếp của nó, hải quân Anh, cảng Singapore.29

Tại sao Nguyễn Tất Thành đã quyết định bỏ đi trên cuộc hành trình dài của mình ra nước ngoài? Trong tuyên bố trước nhà báo Liên Xô Ossip Mandelstam nhiều năm sau đó, Thành (sau đó hoạt động dưới tên Nguyễn Ái Quốc) đã nhận xét: “Khi tôi khoảng mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi nghe những chữ bằng tiếng Pháp “tự do”, ”bình đẳng”, và “tình huynh đệ”. Vào thời điểm đó, tôi nghĩ rằng tất cả người da trắng là Pháp. Kể từ khi một người Pháp đã viết những lời đó, tôi muốn làm quen hơn với nền văn minh Pháp để xem những ý nghĩa gì nằm trong những chữ đó.” Sau đó, ông ta đã đưa ra một phản ứng tương tự đối với một câu hỏi từ nhà báo Mỹ Anna Louise Strong:

“Người dân Việt Nam, bao gồm cả cha của riêng tôi, thường tự hỏi những ai sẽ giúp họ loại bỏ ách thống trị của Pháp. Một số cho là Nhật Bản, những người khác là Anh, và một số nói là Hoa Kỳ. Tôi thấy rằng tôi phải đi ra nước ngoài để xem cho chính tôi. Sau khi tôi đã tìm ra họ sống như thế nào, tôi sẽ trở lại để giúp đồng bào tôi.”30

Những người viết tiểu sử ở Hà Nội đã làm ra nhiều bài tường thuật rải rác được chứa đựng hồi ký của ông Hồ mô tả đặc điểm về quyết định của ông ta rời khỏi Việt Nam như là một nhiệm vụ để cứu lấy đất nước mình. Do xu hướng nổi tiếng của ông ta nhằm kịch hóa những sự kiện trong cuộc đời của mình cho những chủ tâm dễ khám phá, đó là một điều khôn ngoan để xem xét những bài tường thuật như thế với một vài sự hoài nghi nào đó. Tuy nhiên, dường như ít nghi ngờ rằng khi ông ta rời Sài Gòn vào mùa hè năm 1911, ông có đầy niềm đam mê yêu nước và ý thức sâu sắc về những bất công được cam kết bởi chế độ thuộc địa chống lại đồng bào mình. Đối với Thành, dường như là không có giải pháp cho những vấn đề như vậy ở trong nước. Có lẽ chúng có thể được tìm thấy ở nước ngoài.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Toàn quyền Đông Dương : Governor-General of Indochina
pc 02_ Cao ủy Cư trú : Résident Supérieur
pc 03_ Bài thơ …

                    Á-Tế Á

                                                               Phan Bội Châu

Á-tế-á năm châu là bậc nhất
Người thì nhiều mà đất cũng nhiều hơn
Cuộc đời mở hội doanh hoàn
Anh hùng bốn bể, giang san một nhà

Tự giống khác mượn màu bảo hộ
Mưu hùm thiêng lo lũ cáo già
Non sông thẹn với nước nhà
Vua là tượng gỗ, dân là thân trâu

Nỗi diệt chủng vừa thương vừa sợ
Nòi giống ta chắc có còn không
Nói ra ai chẳng đau lòng
Cha con tủi nhục vợ chồng lìa tan

Cũng có lúc bầm gan tím ruột
Vạch trời kia mà tuốt gươm ra
Cũng xương cũng thịt cũng da
Cũng hòn máu đỏ con nhà Lạc Long

Thế mà chịu trong vòng trói buộc
Bốn mươi năm nhơ nhuốc lầm than
Than ôi! Bách Việt giang san
Văn minh đã sẵn, khôn ngoan có thừa

Hồn cố quốc tỉnh chưa chưa tỉnh
Anh em ta phải tính làm sao!
Cũng nhà cửa cũng giang san
Thế mà nước mất nhà tan hỡi trời!

Nghĩ lắm lúc đang cười hoá khóc
Muốn ra tay ngang dọc dọc ngang
Vạch trời thét một tiếng vang
Cho thân tan với giang san nước nhà

Lời huyết lệ gửi về trong nước
Kể tháng ngày chưa được bao lâu
Liếc xem phong cảnh năm châu
Gió mây phẳng lặng dạ sầu ngẩn ngơ

Nó coi mình như trâu như chó
Nó coi mình như cỏ như rơm

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s