II- Con Ngựa Hung Hăng (Phần 1)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p46

II- CON NGỰA HUNG HĂNG

Mặc dù những hoạt động của Nguyễn Tất Thành theo sau chuyến ra đi của ông từ Sài Gòn không được ghi lại rõ ràng, bằng chứng cho thấy anh ta đã trải qua hai năm sau đó trên biển. Tiếp xúc với thế giới bên ngoài Việt Nam đã có một tác động lớn đến tư duy và thái độ của anh ta đối với cuộc sống. Hơn một thập kỷ sau, khi anh ta bắt đầu viết bài cho nhửng ấn phẩm tiếng Pháp, sự mô tả của anh về những thực tế khắc nghiệt của cuộc sống ở những thành phố cảng bị thuộc địa của châu Á, châu Phi, và châu Mỹ Latinh, thường gây chấn động, chuyên về những bất hạnh khốn khổ mà trong đó nhiều người đang sống và sự tàn bạo mà họ được đối xử bởi những kẻ áp bức Âu châu của họ. Vào đầu thế kỷ 20, phần lớn thế giới bị đặt dưới sự cai trị thuộc địa, và những thành phố cảng của châu Phi và châu Á tràn ngập với những công nhân bến cảng, phu kéo xe, và những người lao động bình thường, tất cả làm theo sự sai khiến của người  da trắng. Có thể trong suốt khoảng thời gian ra nước ngoài là những nền tảng của sự nghiệp cách mạng sau nầy của anh ta lần đầu tiên được đặt ra.

Chuyến đi trên Amiral Latouche-Tréville từ Sài Gòn đến Marseilles kéo dài nhiều tuần. Hoàn cảnh trên biển thường khắc nghiệt; con tàu thì nhỏ đối với tàu hàng đại dương, kích thước chỉ khoảng 400 bộ chiều dài và trọng lượng dưới 6.000 tấn. Trong tác phẩm tự truyện của anh ta, mà hầu như là nguồn duy nhất cho giai đoạn trong cuộc sống của mình, Thành nhớ lại những cơn bão với sóng “lớn như núi”, gần như cuốn anh ta xuống biển.

Những ngày của anh ta trên biển thường dài và tẻ nhạt. Anh ta dậy sớm vào buổi sáng và chưa hoàn tất công việc cho đến khi trời tối. Nhiều năm sau đó khi anh nhắc lại về người thứ ba:

Qua sự giúp đỡ của ông đầu bếp, anh đã phải làm việc hàng ngày như sau: Từ 4 giờ sáng, anh làm sạch nhà bếp lớn, sau đó thắp lửa những nồi hơi trong khoang, mang than đá vào, đi lấy rau, thịt, cá, nước đá, v.v., từ nơi cất giữ. Công việc khá nặng nhọc bởi vì rất nóng trong nhà bếp và rất lạnh trong khoang. Thật là gian khổ riêng biệt khi con tàu đang tung lên trong biển động và anh ta đã phải leo lên hành lang tàu với một túi nặng trên hai vai.1

p47

Tuy nhiên, Thành dường như chịu đựng được tất cả bằng sự hài hước và lòng nhiệt tình. Trong bức thư viết cho một trong số những người quen của mình ở Sài Gòn, anh ta đã đùa: “Người anh hùng hân hoan vượt qua thời kỳ của mình để làm điều gì người đó muốn, đánh bóng đồng và nhà vệ sinh và đổ những thùng phân người.” Sau khi kết thúc công việc của mình lúc 09:00 giờ tối, anh ta đọc hoặc viết cho đến nửa đêm (pc 01), hoặc đôi khi giúp những bạn cùng tàu không biết chữ để viết thư cho gia đình họ. Một người vừa là nhà nông học và nhà báo, Bùi Quang Chiêu, sau đó trở thành một nhân vật hàng đầu của một trong những tổ chức đối nghịch phong trào cộng sản của Hồ Chí Minh, nhớ lại cuộc gặp gỡ anh ta trên chuyến đi và hỏi tại sao một người thông minh như vậy thì nên tìm việc làm đến nổi gì mà cần đến lao động khó nhọc như thế. Thành mỉm cười và nói vắn tắt rằng anh ta dự định sang Pháp để tìm kiếm một sự đảo ngược cho việc sa thải gần đây của cha mình bởi chính phủ triều đình.2

Sau khi ngừng ở Singapore, Colombo, và Cảng Said, tàu hàng Amiral Latouche-Tréville thả neo tại bến cảng Marseilles vào ngày 06 tháng Bảy, 1911. Ở đây Thành nhận được tiền lương –khoảng mười franc, một số tiền chỉ vừa đủ để ăn và ở trong một khách sạn giá rẻ được vài ngày– và lên bờ với một người bạn để có được cái thoáng nhìn đầu tiên về nước Pháp. Lần đầu tiên, anh nhìn thấy những xe điện (“ngôi nhà chạy”, như người Việt sau đó gọi chúng). Lần đầu tiên, cũng thế, anh đã được xưng hô như là “monsieur” (thưa ông) khi anh dừng lại uống cà phê ở một tiệm trên đường Cannebière nổi tiếng của thành phố. Kinh nghiệm nầy tạo cảm hứng cho anh ta đưa ra nhận xét với người bạn mình: “Người Pháp ở Pháp tốt hơn và lịch sự hơn những người ở Đông Dương.” Đồng thời, anh phát hiện ra rằng có sự đói nghèo ở nước Pháp, như là ở Đông Dương thuộc Pháp. Sau đó, như hiện tại, Marseillers là một thành phố hỗn độn, những con đường của nó đầy với những thủy thủ, những kẻ tứ cố vô thân, những thương gia, và những kẻ trộm của mọi chủng tộc. Nhìn thấy những cô gái mại dâm lên tàu để giao kết với những thủy thủ, anh ta đã bày tỏ với người bạn mình: “Tại sao người Pháp không văn minh hóa đồng bào của họ trước khi làm việc đó cho chúng ta?”3

Thành đã trở về tàu trước khi nó khởi hành đến Le Havre; con tàu đến đó vào ngày 15 tháng Bảy. Một vài ngày sau đó nó căng buồn đến Dunkirk, và cuối cùng trở về Marseilles, nơi mà con tàu cập cảng vào giữa tháng Chín. Từ nơi đó, anh ta đã viết một bức thư cho tổng thống Cộng hoà Pháp. Một sự việc xảy ra bất ngờ thì đủ tò mò để trình bày cả bức thư:

Marseilles
Ngày 15 tháng 9 năm 1911

Thưa Ngài Tổng Thống:

         Tôi có vinh dự để yêu cầu sự trợ giúp của ngài để được nhận vào các khóa học tại Trường Thuộc địa như là một thực tập sinh.

p48

         Bây giờ tôi đang làm việc với công ty Chargeurs Réunis (Armiral Latouche-Tréville) vì sinh kế của tôi, tôi hoàn toàn không có nguồn tài chính nào và rất ham muốn nhận được một sự giáo dục. Tôi muốn trở thành hữu ích cho nước Pháp đối với vấn đề đồng bào của tôi, và cùng lúc để họ có thể kiếm lợi ích từ sự truyền đạt kiến thức.

         Tôi là một người gốc tỉnh Nghệ An ở An Nam. Trong chờ đợi sự trà lời của ngài, mà tôi hy vọng sẽ được thuận lợi, xin vui lòng nhận lấy, thưa Ngài Tổng Thống, lòng biết ơn sâu xa của tôi.

Nguyễn Tất Thành
Sinh ở Vinh, năm 1892 [sic],
Con trai của Ông Nguyễn Sinh Huy (Tiến sĩ Văn chương)
Học sinh của Pháp ngữ và Hoa tự

Trường Thuộc địa, được thành lập vào năm 1885 để đào tạo quan chức cho dịch vụ chính phủ ở những thuộc địa Pháp, bao gồm “phần nghèo khổ” cho những đối tượng thuộc địa, với khoảng hai mươi học bổng hiện có cho những học sinh từ Đông Dương thuộc Pháp. Một số học giả đã từng tự hỏi tại sao một thanh niên như Nguyễn Tất Thành, một người quá rõ ràng đối nghịch với quyền lực Pháp trên đất nước mình, ước muốn vào trường thuộc địa để trở thành dịch vụ cho Pháp; họ đã suy đoán rằng anh ta có thể chuẩn bị bán lòng yêu nước của mình cho sự nghiệp quan liêu. Tuy nhiên, trong ánh sáng của sự có mặt trong quá khứ của mình ờ Quốc Học viện Huế, không có gì là đặc biệt đáng ngạc nhiên trong hành vi của Thành. Mặc dù thái độ thù nghịch của mình đối với quyền lực thực dân Pháp ở Đông Dương dường như được thiết lập chắc chắn rồi, anh ta rõ ràng đã chưa quyết định con đường nào để giải thoát đất nước của mình và, theo lời tường thuật của anh ta, vẫn ham muốn có được một nền giáo dục để nâng cao hiểu biết của mình về tình hình. Trong một bức thư được viết vào năm 1911, anh ta đã nói với em gái mình rằng anh ta hy vọng tiếp tục việc học của mình ở Pháp và trở về Đông Dương trong năm hoặc sáu năm. Hơn nữa, như lá thư của anh ta gởi tổng thống cho biết, mục tiêu cuối cùng là có ích cho đất nước của mình. Có thể là, không phải lần sau cùng, anh ta sẵn sàng che giấu ý định thực sự để tìm kiếm mục tiêu cuối cùng của mình.4

Từ Marseilles, Thành trở về Sài Gòn trên tàu hàng Amiral Latouche-Trévillie. Anh đã rời tàu khi nó đến vào giữa tháng Mười và cố gắng; để tìm liên lạc với cha mình. Ông Sắc đã chưa tìm được việc làm ổn định từ khi bị sa thải khỏi vị trí mình tại triều đình, và một lần nào đó có lẽ bị bắt vì say rượu. Sau khi làm việc trong một thời gian ở đồn điền cao su thuộc Thủ Dầu Một, gần biên giới Cam-pu-chia, ông ta bắt đầu bán thuốc Bắc theo y học cổ truyền ở khắp Nam Bộ. Mặc dù có thể ông ta ở trong vùng lân cận Sài Gòn khi đứa con trai của mình đến, không có dấu hiệu cho thấy rằng người nầy biết nơi ở của người kia.

p49

Vào ngày 31 tháng Mười, 1911, Thành đã viết một lá thư cho Cao ủy Cư trú(pc 02) Pháp ở An Nam, giải thích rằng anh ta và cha mình bị lạc nhau bởi nghèo đói hơn hai năm và kèm theo số tiền mười lăm đồng để được chuyển tiếp đến cha mình. Anh ta đã không được nhận sự trả lời nào.5

Từ Sài Gòn, Thành ra biển lại và trở về Marseilles, nơi mà anh ta được biết rằng đơn xin  nhập học của mình ờ Trường Thuộc địa đã bị từ chối. Tờ đơn nầy đã được chuyển đến những quan chức trường học, những người đã trả lời rằng những dự sinh nhập học phải được giới thiệu bởi Toàn quyền Đông Dương,(pc 03) một quy định mà chắc chắn loại bỏ Thành qua cứu xét. Sau đó, anh ta quyết định ở lại với con tàu đến khi nó đi vào ụ tàu ở Le Havre. Hầu hết những thủy thủ đã ký giao kèo với một tàu khác và quay trở lại Đông Dương, Thành vẫn ở Le Havre và chấp nhận công việc như một người làm vườn tại nhà của chủ tàu ở Sainte-Adresse, một khu nghỉ mát của bãi biển nhỏ (sau này, được miêu tả trên vải vẽ bởi nhà họa sĩ Pháp thuộc trường phái ấn tượng, Claude Monet) một vài dặm về phía tây của thành phố. Trong thời gian rảnh rỗi của mình, anh ta đọc những tạp chí trong thư viện của chủ tàu và học tiếng Pháp với con gái của chủ tàu. Đôi khi anh ta vào thị trấn để thăm viếng những người Việt Nam khác. Tại một số điểm, anh ta có lẽ đã thậm chí từng đến Paris để gặp Phan Chu Trinh. Theo một số báo cáo, cha anh ta đã trao anh ta một lá thư giới thiệu đến người bạn tốt nghiệp phó bảng trước khi chuyến ra đi của Thành từ Việt Nam, Trinh, sau cuộc phóng thích của ông từ nhà tù ở Đông Dương, đã đến Paris lúc nào đó vào mùa xuân năm 1911. Nếu họ thực sư gặp nhau, chắc chắn họ đã thảo luận về tin tức khích động từ Trung Hoa, nơi mà những cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Sun Yat-sen(pc 04) mới vừa lật đổ triều đại nhà Thành và thành lập một nước Cộng hòa theo kiểu Tây.6

Thành hòa hợp tốt đẹp với gia đình của chủ nhà, và người sau này có khả năng giúp anh ta trở lại việc làm của công ty chuyển hảng Chargerus Réunis trên một con tàu đến châu Phi. Mặc dù một người bạn đã cảnh cáo anh ta rằng trời nóng hơn ở châu Phi so với Việt Nam, Thành vẫn còn chịu đau khổ vì tính đam mê giang hồ (“Tôi muốn nhìn thấy thế giới,” anh ta trả lời) và quyết định ra đi. Trong suốt nhiều tháng sau, anh ta thăm viếng những quốc gia trên khắp châu Phi và châu Á, bao gồm Algeria, Tunisia, Morocco, Ấn Độ, Đông Dương, Saudi Arabia, Senegal, Sudan, Dahomey, và Madagascar.

Anh ta đã bị cuốn hút bởi những gì anh nhìn thấy và học được những gì anh ta có thể trong khi tàu của mình ở cảng. Như anh ta đã thuật lại trong hồi ký của mình:

Ba thì tinh mắt về mọi thứ. Mỗi khi thuyền trong cảng, anh ta đã làm hết sức mình để thăm viếng thị trấn. Khi anh ta trở lại, túi của anh thì đầy những hình ảnh và hộp diêm, vì anh ta thích thu thập những thứ này.

p50

Anh ta thường nhắc nhở về những nỗi kinh hoàng của hệ thống thuộc địa. Tại Dakar, anh nhìn thấy nhiều người Phi châu bị chết đuối trong khi được lệnh của người Pháp để bơi ra tàu trong suốt cơn bão. Anh ta sau đó đã viết:

Người Pháp ở Pháp thì tất cả đều tốt. Nhưng những thực dân Pháp thì rất ác độc và vô nhân đạo. Ở đâu cũng như nhau. Ở nhà tôi đã từng thấy những điều như vậy xảy ra ở Phan Rang. Những người Pháp cười phá lên trong khi đồng bào của chúng tôi bị chết đuối vì lợi ích của họ. Đối với những thực dân, đời sống của một người Á châu hoặc Phi châu thì không đáng một xu.7

Trong suốt những năm của mình trên biển, Thành đã đến thăm nhiều bến đỗ ở Tây Bán Cầu. Nhiều năm sau đó, anh ta nói với một người Cuba quen rằng anh đã từng thăm viếng Rio de Janeiro và Buenos Aires. Tại một số điểm, tàu của anh dừng lại tại những thành phố cảng dọc theo bờ biển phía Đông của Hoa Kỳ, bao gồm thành phố New York, nơi mà Thành đã quyết định rời khỏi con tàu và tìm kiếm việc làm. Cuối cùng, anh ở lại nhiều tháng ở Hoa Kỳ.

Chuyến thăm viếng Mỹ của Hồ Chí Minh vẫn là một trong những giai đoạn bí ẩn và khó hiểu nhất trong cả cuộc đời ông ta. Theo lời tường thuật của ông ta và trong những điều nhớ lại của những người quen biết, ông ta đã dành một khoảng thời gian ở thành phố Nửu Ước (New York), nhìn chằm chằm trong sự kinh ngạc vào những tòa nhà chọc trời hiện đại nơi đường chân trời của khu phố Manhattan và đi dạo với bạn bè ở phố Tàu, nơi ông ta đã rất ấn tượng bởi sự kiện là những người di dân Á châu ở Hoa Kỳ dường như có quyền bình đẳng trong pháp luật nếu không trong sự thật. Anh ta làm việc như một người lao động (kiếm được, anh ta bày tỏ, một mức lương như ông hoàng với bốn mươi đô la một tháng) và như là một người đầy tớ trong một gia đình giàu có, tuy vậy vẫn tìm thời gian để tham dự cuộc họp của những nhà hoạt động da đen như là hội Tín nhiệm Cải thiện Dân da đen Thế giới (Universal Negro Improvement Trust) ở Harlem, một tổ chức thành lập dưới sự bảo trợ của nhà dân tộc chủ nghĩa nổi tiếng da đen gốc Jamaica, Marcus Garvey. Nhiều năm sau, Hồ Chí Minh đã nói với một phái đoàn của những  nhà hoạt động hòa bình, những người đã ghé thăm Hà Nội vào lúc cao điểm của Chiến tranh Việt Nam rằng ông ta đã được khích động mạnh mẽ bởi hoàn cảnh thiếu may mắn của dân tộc da đen trên khắp thế giới và đã đóng góp rộng rãi cho phong trào.” Khi được hỏi bởi một thành viên đoàn đại biểu tại sao ông đã đến Nửu Ước (New York), ông ta đã trả lời rằng vào thời điểm đó, ông nghĩ rằng Hoa Kỳ đối nghịch với chủ nghĩa đế quốc Tây phương và sẵn sàng đồng ý để giúp người dân Việt Nam trong việc lật đổ chế độ thực dân Pháp. Cuối cùng ông ta kết luận rằng không có sự giúp đỡ ở đây.8

Trong những năm sau đó, Hồ Chí Minh tuyên bố rằng ông ta đã từng sống ở tiểu bang Boston, nơi ông làm việc một thời gian ngắn như là một đầu bếp bánh xếp trong khách sạn Parker House,

p51

và ông đã từng thực hiện một chuyến thăm ngắn đến những tiểu bang miền Nam, nơi ông đã quan sát nhục hình của người da đen bởi nhóm da trắng Ku Klux Klan(pc 05). Sống ở Moscow vào thập niên 1920s, ông ta đã viết một bài báo mô tả những sự kiện này trong chi tiết sống động. Thật không may, không có chút gì trong số những chi tiết về chuyến đi của ông ta đến Hoa Kỳ có thể được chứng thực. Hầu như bằng chứng duy nhất không thể chối cãi mà nó xác nhận sự hiện diện của ông ta ở đó, thì trong hình thức của hai thông tin mà ông đã gửi. Mẫu tự đầu tiên, ký tên Paul Tất Thành và gửi cho Cao ủy Cư trú(pc 02) Pháp tại An Nam, được ghi ngày 15 tháng Mười Hai, 1912 và đóng dấu bưu điện thành phố Nửu Ước (New York). Thứ hai là một tấm bưu thiếp từ tiểu bang Boston, được gửi qua đường bưu điện đến Phan Chu Trinh ở Pháp; nó đã đề cập rằng ông ta đã làm việc như người phụ bếp ở khách sạn Parker House.9

Thành có lẽ đã rời Hoa Kỳ vào năm 1913. Bằng cách tự ý mình, sự lưu lại của ông ta hiển nhiên có chút ảnh hưởng về thế giới quan của mình, vì sau này ông nói với nhà báo Mỹ Anna Louise Strong rằng trong suốt chuyến thăm Hoa Kỳ, ông ta không biết gì về chính trị. Sau một điểm ngừng lại khác ở Le Havre, Thành đã đến Vương quốc Anh để học tiếng Anh. Trong một ghi chú ngắn gởi cho Phan Chu Trinh ở Pháp, anh ta cho biết rằng trong bốn tháng rưởi qua anh ta ở Luân Đôn (London)học tiếng Anh và giao kết với những người nước ngoài. Trong bốn hoặc năm tháng, anh ta viết, “Cháu hy vọng gặp bác lần nữa.” Lá thư không được ghi ngày, nhưng ắt hẵn nó được viết trước khi sự bùng nổ của chiến tranh vào tháng Tám 1914, vì anh ta đã hỏi ông Trinh, ông định muốn đi nghĩ hè ở nơi nào.

Trong một bức thư thứ hai, Thành bình luận về sự bắt đầu của những gì sẽ biến thành Thế Chiến thứ I. Anh ta lưu ý rằng bất kỳ quốc gia nào cố gắng can thiệp vào vấn đề này sẽ bị ràng buộc lôi kéo vào chiến tranh và đã kế luận: “Cháu nghĩ rằng trong ba hay bốn tháng tới, tình hình ở Á châu sẽ thay đổi, và thay đổi một cách đáng kể. Vì vậy, nhiều tồi tệ hơn cho những người đấu tranh và khuấy động. Chúng ta chỉ đứng sang một bên.” Anh ta có lẽ đã dự đoán rằng cuộc xung đột sẽ dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống thực dân Pháp.10

Trong lá thư đầu tiên gởi cho Phan Chu Trinh, Thành cũng đã bày tỏ rằng anh ta đã phải làm việc chăm chỉ để tránh bị đói. Công việc đầu tiên của anh ta như là một người quét tuyết tại một trường học. “Thật là một công việc khó khăn”, sau này anh đã viết trong cuốn tự truyện của mình. “Tôi đã đổ mồ hôi khắp người nhưng tay và chân tôi thì bị cóng lạnh. Và không phải dễ phá vỡ tuyết băng, vì nó trơn trượt. Sau tám tiếng làm việc, tôi hoàn toàn kiệt sức và đói.” Anh nhanh chóng từ bỏ công việc đó vì việc làm khác như là người điều hành lò hơi. Nhưng thậm chí còn tồi tệ hơn:

p52

Từ 5 giờ sáng, một người bạn khác và chính tôi đã phải đến tầng hầm để thắp lửa. Cả ngày dài, chúng tôi đã phải cho than đá vào trong lò hơi. Thật là kinh khủng. Tôi không bao giờ biết người ta làm gì ở trên lầu bởi vì tôi chưa từng bao giờ lên đó. Người bạn làm chung của tôi là một con người trầm lặng, có lẽ anh ta bị câm. Trong suốt ngày làm việc, anh ta không bao giờ nói. Anh hút thuốc trong khi làm việc. Khi anh ta cần tôi, anh làm dấu hiệu nhưng không bao giờ nói một lời. Trong tầng hầm thì nóng khủng khiếp và bên ngoài thì khủng khiếp lạnh. Tôi không có quần áo đủ ấm áp và do đó mắc cảm lạnh.

Cuối cùng, anh ta đã có thể tìm được việc làm trong nhà bếp ở khách sạn Drayton Court trong trung tâm Luân Đôn (London). Sau đó, anh chuyển sang khách sạn Carlton và làm việc dưới đầu bếp nổi tiếng Auguste Escoffier. Nếu câu chuyện sau đây trong cuốn tự truyện của Hồ Chí Minh là chính xác, ắt hẵn ông ta được hứa trở thành một đầu bếp:

Mỗi người chúng tôi đã phải thay phiên nhau dọn dẹp. Những bồi bàn, sau khi phục vụ những khách hàng, phải dọn sạch tất cả đĩa và gửi chúng bằng phương tiện của một máy nâng bằng điện đến nhà bếp. Sau đó, công việc của chúng tôi là phân ra men sứ và bạc để lau sạch. Khi đến lượt Ba, anh ta rất cẩn thận. Thay vì ném bỏ tất cả những phần nhỏ còn lại, mà thường là một phần tư con gà hoặc một miếng lớn bít-tết, v.v., Ba giữ chúng sạch sẽ và gửi chúng trở lại nhà bếp. Chú ý sự việc nầy, đầu bếp Escoffier đã hỏi Ba: “Tại sao anh không vứt những phần còn lại vào thùng rác như những người khác làm?”

         “Những thứ này không nên bỏ đi. Ông có thể đem cho người nghèo.”

         “Người bạn trẻ thân yêu của tôi, hãy nghe tôi!” Đầu bếp Escoffier dường như hài lòng và nói, trong lúc mỉm cười: “Để qua ý tưởng cách mạng của anh sang một bên dùm một chút, và tôi sẽ dạy cho anh nghệ thuật nấu ăn mà nó sẽ mang lại cho anh nhiều tiền. Anh có đồng ý không?”

         Và đầu bếp Escoffier đã không để Ba lại ở công việc rửa chén nhưng đưa anh ta đến phần làm bánh, nơi mà anh có mức lương cao hơn.
Quả thật, đó là một sự kiện lớn trong nhà bếp vì đó là lần đầu tiên chưa từng xảy ra, ông “vua bếp” đã làm một việc đại loại như vậy.”11

Trong thời gian rảnh rỗi của mình, Thành đã dùng phần tiền để dành dư ra của mình để lấy khóa học tiếng Anh với một giáo viên Ý, thường xuyên ngồi, như anh nhận xét, “trong công viên Hyde với một cuốn sách và cây bút chì trong tay mình.” Ông ấy cũng hoạt động trong những tổ chức chính trị, tổ chức chính trị. Những lời thuật lại khác nhau cho biết rằng ông ta

p53

tham gia vào những hoạt động công đoàn lao động và trở thành một thành viên của Hiệp hội Công nhân Nước ngoài (Overseas Workers’ Association), một tổ chức bí mật của hầu hết những người lao động Trung Quốc ở nước ngoài cam kết cải thiện hoàn cảnh làm việc trong những nhà máy của người Anh. Ông ta cũng tự nhận là đã tửng tham gia trong những cuộc xuống đường nhằm ủng hộ nền độc lập của người Ái Nhĩ Lan và một loạt những nguyên nhân phe cánh tả. Chắc hẵn rằng ông ta lần đầu tiên đã học được từ những tác phẩm của Karl Marx nhà cách mạng Đức trong suốt giai đoạn.12

Bỏ qua những động cơ khác, Thành liên tục lo âu về hoàn cảnh khốn khó của đất nước mình. Trong một bài thơ ngắn mà anh ta đã gửi cho ông Trinh trên một bưu thiếp, anh đã viết:

Trước sự đối mặt với bầu trời và biển cả
dưới sự thúc đẩy của ý chí làm nên một anh hùng
Người ta phải đấu tranh vì đồng bào họ.13

Hoàn toàn mù tịt đối với Thành, những bức thư được gởi cho Phan Chu Trinh đã rơi vào tay của các cơ quan thẩm quyền ở Pháp. Vào cuối hè năm 1914, ông Trinh và cộng sự viên thân thiết của mình, luật sư Phan Văn Trường, đã bị bắt giữ bởi chính phủ Pháp qua sự nghi ngờ về cuộc họp với những mật vụ Đức. Mặc dù họ sau đó được thả vì thiếu bằng chứng, cảnh sát Pháp lục soát căn chung cư của họ ở Paris và phát hiện ra những thông tin từ một người Việt có tên N. Tất Thành, cư ngụ tại 8 Stephen Street, Tottenham Court Road, ở Luân Đôn (London). Trong quá trình điều tra của họ, cảnh sát cũng phát hiện ra rằng trong một lá thư gởi cho ông Trinh (không còn hiện hữu), Tất Thành đã phàn nàn về tình thế ở Đông Dương và hứa rằng trong tương lai, anh ta sẽ tìm cách tiến hành công việc của ông Trinh. Theo yêu cầu của Đại sứ quán Pháp ở London, cảnh sát Anh thực hiện giám sát, nhưng không thể xác định vị trí bất cứ ai với tên đó tại địa chỉ nhất định. Họ đã xác định vị trí hai anh em, tên là Tất Thành và Thanh, tại một địa chỉ khác nhau. Họ đã chứng minh là sinh viên kỹ thuật chỉ mới rời nước để theo đuổi việc học của mình ở Bedford, và rõ ràng không bị lôi cuốn vào những hoạt động chính trị.14

Những năm của thời kỳ chiến tranh ở Vương quốc Anh là trong số ít nhất cung cấp tài liệu  về cuộc sống của Thành. Những tường thuật về những hoạt động của Thành dựa vào gần như một cách độc quyền tác phẩm tự truyện của anh ta trong nhiều năm sau đó. Một số nhà sử học không tin rằng anh ta đã từng thực sự sống ở Anh quốc, nhưng nghi ngờ anh ta đã bịa đặt ra kinh nghiệm như một phương tiện làm cho vững chắc hơn những giấy chứng nhận của mình như là một nhà cách mạng từ nền tảng tầng lớp lao động. Điều này dường như không chắc chắn, vì anh ta hiếm khi tìm cách để che giấu thân thế gia đình mình như là con trai của một học giả Nho giáo.

p54

Mặc dù không thể chứng minh để xác minh bất kỳ những giai thoại nào được bao gồm trong bài tường thuật của ông ta về thời kỳ này, có đủ bằng chứng tồn tại để xác nhận rằng ông ta đã sống ở Luân Đôn (London), mặc dù bản chất chính xác của những hoạt động của ông ta ở đó vẫn còn một điều gì bí ẩn.15

* * *

Ngày trở lại Pháp của Thành sang từ lâu đã từng là vấn đề của sự bàn cãi. Nhà chức trách Pháp không nhận biết được sự hiện diện của anh ta cho đến khi mùa hè năm 1919, khi anh ta dính dáng vào một sự việc rắc rối làm cho anh ta trở thành người Việt có tiếng nhất ở trong nước. Trong cuốn tự truyện của mình, Hồ Chí Minh đã viết rằng ông ta trở về Pháp trong khi cuộc chiến tranh vẫn còn. Một số trong những người quen của ông ta ở Paris vẫn chắc chắn rằng ông ta đến vào năm 1917 hoặc 1918, và một mật vụ được giao nhiệm vụ bởi cảnh sát để theo dõi ông ta vào năm 1919 đã báo cáo rằng ông ta “đã ở Pháp từ lâu.” Hầu hết những nguồn tài liệu để ngày trong tháng Mười Hai 1917.16

Những động cơ trở lại Pháp của anh ta thì hoàn toàn không rõ ràng, mặc dù, xét về những mục tiêu dân tộc của anh ta sự thay đổi thì chắc chắn là một điều hợp lý. Trong suốt chiến tranh, hàng ngàn người Việt đã bị cưỡng bức ghi tên để làm việc trong những nhà máy ở Pháp như là sự thay thế cho công nhân Pháp phục vụ trong lực lượng vũ trang. Từ một số ít hơn 100 vào năm 1911, số lượng người Việt Nam tại Pháp đã phát triển nhanh chóng trong suốt thời gian chiến tranh. Đối với một người yêu nước quyết định đóng một vai trò quan trọng trong việc giải thoát đất nước mình, nước Pháp là một nơi hợp lý cho những hoạt động và sự tuyển dụng của những ngươi đồng tâm khao khát. Về Phan Chu Trinh và cộng sự viên của ông ta, Phan Văn Trường, Thành đã có những liên lạc viên hữu ích có thể phục sự như là entrée (ngõ vào) của mình vào thế giới Byzantine (i.e Đế Quốc Đông La Mã)  của nhà chính trị Việt émigré (i.e di dân) tại Paris. Bởi vì sự nỗi tiếng được mang lại qua bức thư ngỏ gởi cho Paul Beau vào năm 1906, ông Trinh là nhà lãnh đạo được thừa nhận của cộng đồng émigré ở Pháp. Tiếp theo sau sự bắt bớ của ông ta vì nghi ngờ tội phản quốc vào đầu của chiến tranh, ông Trinh đã cư xử thận trọng, mặc dù tin đồn khăng khăng rằng ông ta vẫn còn hoạt động trong phong trào độc lập của Việt Nam.

Sau khi đến Pháp, Thành nhanh chóng ngày càng dự phần trong sự khích động trong những người lao động Việt Nam. Sự bất ổn xã hội gia tăng như là một kết quả của sự kéo dài và tàn bạo của Đại Chiến, vào năm 1917 đã có một cuộc binh biến nghiêm trọng trong quân đội Pháp, và những phần tử cực đoan đã bắt đầu phân phối tài liệu tuyên truyền chống chiến tranh và tổ chức công đoàn lao động khắp cả nước. Những công nhân nhà máy và xưởng đóng tàu từ các nước thuộc địa, vì lương thấp và hoàn cảnh ảm đạm mà họ sống trong đó, thì đặc biệt dễ bị khích động như thế. Một thanh niên chiến binh Việt cháy bừng với lòng nhiệt thành chống thực dân sẽ đặc biệt hữu ích trong những hoạt động như vậy.17

Làm thế nào Thành đã tham gia thì không được rõ.

p55

Có thể anh ta đã trở về như là một đại biểu của Hiệp hội Công nhân Nước ngoài để thiết lập sự kết nối với những nhóm Công nhân ở Pháp. Trong trường hợp đó, không phải là không có thể anh ta đã qua lại giữa hai nước nhiều lần. Hoặc anh ta có thể chỉ đơn giản thiết lập liên lạc độc lập với một số trong những nhân vật hàng đầu trong những vòng tròn phe cánh tả ở Paris, những người đã lợi dụng sự nhiệt tình hiển hiện của anh ta để hỗ trợ họ trong những hoạt động của mình.

Boris Souvarine, sau này trở thành một nhà sử học nổi bật nhưng sau đó trở thành nhà hoạt động cấp tiến ở Paris, nhớ lại rằng ông ta lần đầu tiên gặp Thành ngay sau khi Thành đến từ Luân Đôn và từ những nơi các vào năm như là 1917. Thành đã tìm được chỗ ở tại một khách sạn tồi tàn trên một cul-de-sac (ngõ cụt) ở Montmartre, và đã bắt đầu tham dự những hội họp của một trong những hội nhỏ địa phương của Đảng Xã hội Pháp, chính là ở nới đó anh ta đã gặp Souvarine, người giới thiệu anh ta với Léo Poldès, người sáng lập của nhóm diễn thuyết được gọi là Câu lạc Ngoại ô (Club du Faubourg). Thành bắt đầu có mặt thường xuyên tại những cuộc nói chuyện hàng tuần của câu lạc bộ, thuyết trình nhiều chủ đề đa dạng, từ chính trị cấp tiến đến tâm lý và huyền bí. Những cuộc họp nầy diễn ra tại những hội trường khác nhau ở Paris. Anh ta thì quá nhút nhát đến một cách đau khổ (Souvarine nhớ lại rằng anh ta là “một thanh niên nhút nhát, gần như khiêm tốn, rất nhẹ nhàng, khao khát học tập”) mà những người tham gia khác được gọi nhạo anh ta là “người câm của Montmartre.”

Cuối cùng, tuy nhiên, Poldès khuyến khích anh ta để nói chuyện công khai như một phương tiện chinh phục của sự rụt rè của mình. Nhân dịp đầu tiên của anh ta, khi anh ta được kêu lên để mô tả sự đau khổ của đồng bào mình dưới chủ nghĩa thực dân, Thành đã quá lo sợ đến nỗi mà anh ta nói lắp bắp. Nhưng mặc dù ít người trong khán giả hiểu những gì anh đã nói, họ thông cảm với chủ đề của anh ta. Khi kết thúc buổi nói chuyện, có nhiều tiếng vỗ tay. Anh ta chẳng bao lâu được mời diễn thuyết lần nữa.18

Lởi tường thuật của Souvarine phù hợp với điều đó của chính Leo Poldès, người đã nói với nhà văn Mỹ Stanley Karnow rằng ông ta lần đầu tiên nhìn thấy Thành tại một cuộc họp của Câu lạc bộ Faubourg. Có lần, ông ta nhớ lại, “một Chaplinesque (i.e. vua hề Pháp) rực rỡ tựa anh ta –có lúc buồn và khôi hài, vous savez [bạn biết đó].” Poldès bị chạm bởi đôi mắt sáng của anh ta và sự thú vị khát khao của anh ta về tất cả mọi thứ. Thành vượt qua nỗi sợ trên sân khấu của mình và dự phần tích cực trong những cuộc thảo luận tại các cuộc họp hàng tuần của câu lạc bộ. Có một lần, anh ta chỉ trích quan điểm của một người ủng hộ phái thôi miên, lập luận rằng chính quyền thực dân Pháp thường hay dùng thuốc phiện và rượu để thôi miên các dân tộc Đông Dương. Ông đã trở thành quen thuộc với nhiều người trong số những nhân vật hàng đầu trong phong trào cấp tiến và trí thức ở Paris, chẳng hạn như là nhà văn xã hội chủ nghĩa Paul Louis, nhà hoạt động dân quân Jacques Doriot, và tiểu thuyết gia cấp tiến của Henri Barbusse, người mà trong tác phẩm của ông đã rung cảm mô tả hoàn cảnh tệ hại đối với những binh sĩ tại tiền tuyến.19

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Anh Thành phải thức dậy lúc 4 giờ sáng và làm nhiều việc nặng nhọc mãi đến 9 giờ tối.
Mỗi ngày phải chịu đựng 14 tiếng làm việc nhưng dành ra 2 tiếng ngủ để học hoặc viết, chỉ còn lại 4 tiếng để nghĩ dưỡng sức.

pc 02_ Cao ủy Cư trú : Résident Supérieur
pc 03_ Toàn quyền Đông Dương : Governor-General of Indochina
pc 04_ Sun Yat-sen : Tôn Dật Tiên
pc 05_ Ku Klux Klan (KKK hoặc Klan) : Những tổ chức ở miền Nam Hoa Kỳ, từ thập kỷ 1860s, gồm những phần tử người da trắng cực đoan trong ba dòng thác hoạt động: quyền tối cao của qân da trắng, chủ nghĩa dân tộc da trắng, và chống di dân. Mục tiêu chính của KKK là người da đen, bị khủng bố bằng bạo lực nhưng kể từ giữa thế kỷ 20, KKK cũng chống lại cộng sản. Theo ước tính có khoảng 3.000 đến 5.000 thành viên vào năm 2012.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s