II- Con Ngựa Hung Hăng (Phần 2)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p56

Lúc bấy giờ, Nguyễn Tất Thành gần ba mươi tuổi. Kinh nghiệm thế giới của anh ta bị giới hạn về giảng dạy, nấu ăn, và một vài công việc tầm thường. Có lẽ là rất khó cho Thành tìm được việc làm ở Pháp, vì anh ta không có giấy phép làm việc. Nhiều nguồn tài liệu khác nhau nói rằng ông đã bán thực phẩm Việt Nam, sản xuất bản hiệu, dạy tiếng Hoa, và làm nến. Cuối cùng, anh ta được một công việc như là người tô ảnh (thêm màu sắc cho các bức ảnh đen-trắng, một sự đổi mới phổ biến vào thời điểm đó) trong một cửa tiệm được quản lý bởi Phan Chu Trinh. Trong thời gian rảnh rỗi của mình, anh ta thường đến phòng đọc sách của Thư viện Quốc gia (Bibliothèque Nationale) hoặc thư viện của Sorbonne. Thành là một độc giả tham lam, và anh ta đặc biệt thích tác phẩm của Shakespeare, Charles Dickens, Victor Hugo, Emile Zola, Leo Tolstoy, và Lu Xun, chưa kể những tác phẩm của Barbusse. Ông đã sống một cách theo nghĩa đen gần như không có một chiếc vali, và dường như di chuyển thường xuyên từ một khách sạn tồi tàn hoặc căn buồng trống rỗng đến một nơi khác trong những khu thuộc tầng lớp lao động của thành phố.20

Paris trong giai đoạn kết thúc chiến tranh là một nơi hấp dẫn cho một người Á châu trẻ tuổi quan tâm đến chính trị. Thủ đô nước Pháp vẫn có một số tham vọng về chính trị cũng như về một tụ điểm văn hóa của thế giới Tây phương. Nhiều người trong số những nhân vật cực đoan nổi tiếng nhất của thế kỷ 19 đã từng sống và hoạt động ở Paris, và những sự tàn bạo của cuộc chiến gần đây đã thâm năng lực cho những người thừa kế hệ tư tưởng của họ vào trong sự  leo thang những cuộc tấn công bằng lời nói của họ trên hệ thống tư bản chủ nghĩa. Cùng Ngân hàng còn lại, những nhà trí thức và sinh viên đến từ Pháp và trên cả thế giới tụ tập trong những quán cà phê và nhà hàng để thảo luận về chính trị và ra kế hoạch cho những cuộc cách mạng. Một số người được tuyển dụng bí mật như là những mật vụ Pháp để theo dõi những cộng sự viên mình và báo cáo bất kỳ hoạt động lật đổ nào cho cảnh sát.

Trong số những người lưu vong khác nhau, những cộng đồng đã được thành lập ở Paris vào cuối chiến tranh, người Việt Nam là một trong con số nhiều nhất. Đến cuối chiến tranh, có khoảng 50.000 người Việt ở Pháp. Trong khi hầu hết làm việc trong những nhà máy, một vài trăm, thường là con em của những gia đình giàu có, đến đi học; bởi vì bầu không khí đậm màu sắc chính trị trong phạm vi cộng đồng trí thức ở Pháp, vì thế những học sinh đó đã chín muồi cho sự khích động chính trị. Tuy nhiên, mặc dù tình cảm quốc gia thì cao trong số người Việt sinh sống ở Pháp, ít người đã làm gì để chuyển tình cảm nầy cho sự nghiệp độc lập. Trong suốt cuộc chiến của Pháp đã khẳng định rằng đó là nhiệm vụ của mỗi phần cấu-thành-thân-thể của đế chế thuộc địa xa xôi đến để bảo vệ mẫu quốc; kết quả là, một số trong những phần tử từng tham gia chiến đấu nhiều hơn nghĩ rằng họ nên đòi hỏi một sự đền bù –qua sự hỗ trợ cho người Pháp ở châu Âu đổi lại quyền tự chủ được tăng thêm hoặc ngay cả sự độc lập cho Việt Nam sau chiến tranh. Những người khác đã đi xa hơn nữa, kết thân với những nhân viên tình báo Đức với hy vọng rằng một thất bại của Pháp sẽ làm suy yếu bộ máy hành chính ở nước ngoài và dẫn đến sự lật đổ chính quyền thực dân.

p57

Người Pháp dường như có một số bằng chứng rằng Phan Chu Trinh và đồng hương của ông ta, Phan Văn Trường, có thể đã cố gắng thử nghiệm cả hai cách khả thể. Ông Trường, sinh năm 1878 gần Hà Nội, tỉnh Hà Đông, đã được đào tạo như là một luật sư, định cư ở Pháp vào năm 1910, và trở thành một công dân Pháp. Ngay trước khi chiến tranh bùng nổ, ông ta và ông Trinh đã thành lập một hiệp hội của những người lưu vong Việt Nam. Ông Trinh, nỗi bật hơn là một người tạo ý tưởng, không bao giờ phơi bày nhiều khả năng về chính trị có tổ chức. Nhóm, được gọi là Hiệp hội Huynh đệ Đồng hương (Hội đồng Thân ái) (Fratenal Association of Compatriots), không đạt được biết đến nhiều trong số người Việt sống trong và xung quanh Paris, tuyển dụng chỉ có khoảng hai mươi thành viên và lên kế hoạch cho một vài hoạt động. Nhưng có những tin đồn –dường như được thu thập một cách nghiêm túc bởi cơ quan tình báo Pháp– rằng hai người đã đưa ra một số suy nghĩ để tổ chức một phong trào nhằm thúc đẩy một cuộc tổng khởi nghĩa ở Việt Nam. Chính là vì lý do đó mà ngay sau khi cuộc chiến bắt đầu, họ đã bị giam giữ một thời gian ngắn trong tù vì nghi ngờ tham gia trong những hoạt động phản nghịch. Đây là vụ bắt giữ đưa đến kết quả là quan hệ thư từ của Thành rơi vào tay của các cơ quan thẩm quyền. Sau khi được thả, ông Trinh và ông Trường đã tự chế không tung ra một thách thức lớn đối với chính quyền thực dân ở Đông Dương– và trải qua một thập kỷ trước khi bất kỳ người nào khác sẽ làm như vậy. Cho dù vì hành động quyết định ngăn chặn Pháp hoặc thiếu năng lực, cộng đồng người Việt ở Pháp đã không làm nhiều trong suốt thời gian chiến tranh để giúp cho sự nghiệp độc lập dân tộc. Đối với tất cả những mục đích thực tế, cộng đồng thì trì trệ về mặt chính trị.

* * *

Thành đã nhanh chóng thay đổi điều đó. Cho đến năm 1919, mặc dù anh ta đã làm quen với một số trong những nhân vật lớn của phong trào chống thực dân của người Việt, thành quả chính trị duy nhất của anh ta là phục sự một thời gian ngắn như một thông dịch viên trong suốt những cuộc biểu tình của nông dân ở Huế. Không nét oai phong gì về ngoại hình, ăn mặc tồi tàn, Thành khó là một người đi bắt bớ đối với một người qua đường bất chợt. Tuy nhiên, những người bạn của anh ta nhớ rằng anh luôn có một đặc tính hình thức đáng chú ý, ngụ ý rằng đây không phải là một người bình thường– một đôi mắt đen lóe lên với cường độ khi anh ta nói và dường như xâm nhập vào linh hồn của người quan sát. Một người quen từng nhắc đến rằng cường độ của Thành làm kinh hoảng vợ mình.

Mùa hè năm đó, với sự đồng thuận của hai cộng sự viên lớn tuổi của anh ta, Thành thành lập một tổ chức mới cho người Việt sinh sống ở Pháp: Hiệp hội Những người An Nam Yêu nước (Association des Patriotes Annamites). Bởi vì Thành vẫn còn tương đối chưa được biết đến, ông Trinh và Phan Văn Trường được lên danh sách như là những người lãnh đạo tổ chức, nhưng Thành, như là một thư ký, gần như chắc chắn là một lực hướng dẫn.

p58

Những thành viên đầu tiên có lẽ là những người trí thức, nhưng Thành đã gián tiếp có thể sử dụng những liên lạc viên riêng của mình để tuyển dụng một số Việt thuộc tầng lớp lao động, bao gồm cả một số tay hải quân từ các cảng biển của Toulon, Marseilles, và Le Havre.21

Trên bề mặt, hiệp hội không tán thành những mục tiêu cực đoan. Thật vậy, những người sáng lập hy vọng sẽ tránh một định hướng như thế để có được sự ủng hộ rộng rãi trong cộng đồng Việt và tránh sự nghi ngờ của chính quyền. Việc áp dụng từ ngữ “An Nam” thay vì chữ truyền thống “Việt Nam” trong tên hội có lẽ là tín hiệu cho một chính phủ không đại diện cho một mối nguy hiểm nghiêm trọng đối với những doanh nghiệp thuộc địa. Tuy nhiên từ khởi đầu, Thành đã có quyết tâm dùng hiệp hội để biến cộng đồng Việt Nam trở thành một lực lượng hiệu quả được hướng dẫn chống lại chế độ thuộc địa ở Đông Dương. Ông đã liên lạc với những thành viên của các nhóm quốc gia khác sinh sống ở Paris, như là Hàn Quốc và Tunisia, những người đã thành lập những tổ chức tương tự của riêng mình để tìm kiếm sự độc lập từ sự cai trị thực dân.

Đó là một thời gian thuận lợi để hình thành một tổ chức như thế. Sau khi kết thúc Thế Chiến thứ I, Paris đã trở thành một trung tâm toàn thế giới cho sự khích động các nhóm chống thực dân. Những cuộc tranh luận về chủ nghĩa thực dân đã diễn ra thường xuyên trong Quốc hội Pháp. (Trong một địa chỉ được đưa ra ở Hà Nội vào tháng Tư năm 1918, Toàn quyền Đông Dương(pc 03) có tài hùng biện, Albert Sarraut, sau đó phục vụ một thời gian ngắn trong lần thứ hai ở vị trí đó, đã hứa với nhân dân Việt Nam rằng họ sẽ sớm thấy một mở rộng cảm động về quyền chính trị của họ.) Vấn đề cũng được đưa ra vào tháng Giêng năm 1919, khi những nhà lãnh đạo của phe Đồng minh thắng trận bắt đầu tập trung tại Cung điện Versailles để đàm phán một hiệp ước hòa bình với các phe Trục bại trận và quy định những nguyên tắc mà theo đó chi phối những quan hệ quốc tế trong thế giới sau chiến tranh. Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã khuyến khích những khát vọng của những quốc gia thuộc địa trên khắp thế giới bằng cách phát hành bản tuyên ngôn Mười bốn Điểm nổi tiếng của mình, mà nó kêu gọi, trong số những thứ khác, quyền tự quyết cho tất cả dân tộc.

Vào đầu mùa hè, một số tổ chức dân tộc chủ nghĩa với những trụ sở chính của họ ở Paris đã phát hành một bản tuyên ngôn nhằm công bố công khai nguyên nhân của họ. Thành và các cộng sự viên của mình trong Hiệp hội người An Nam Yêu nước đã quyết định tận dụng lợi thế của tình hình và phát hành tuyên bố của riêng mình. Với sự hỗ trợ của Phan Văn Trường, người tỏ ý muốn đánh bóng tiếng Pháp vẫn không đủ của Thành, Thành đã soạn thảo một bản kiến ​​nghị tám-điểm kêu gọi những nhà lãnh đạo Đồng minh tại Versailles để áp dụng những lý tưởng của Tổng thống Wilson cho những lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á. Được viết tựa là “Revendications du peuple Annamite” (Những yêu cầu của dân An Nam),

p59

văn bản thì khá ôn hòa trong giai điệu; nó không đề cập đến độc lập dân tộc nhưng yêu cầu quyền tự trị chính trị cho Việt Nam, cũng như các quyền tự do dân chủ truyền thống của hiệp hội, tôn giáo, báo chí, và phong trào, đòi hỏi sự ân xá cho những tù nhân chính trị, quyền bình đẳng giữa người Việt với người Pháp tại Việt Nam, và sự xóa bỏ lao động cưỡng bức và những thứ thuế đáng ghét về muối, thuốc phiện, và rượu. Bản tuyên bố được ghi ngày 18 tháng Sáu, 1919, và tác giả của bản kiến ​​nghị là Nguyễn Ái Quốc, của 56 Rue Monsieur-le-Prince, đại diện cho Hiệp hội người An Nam Yêu nước. Mặc dù đối với một độc giả Việt Nam, cái tên rõ ràng là một bút danh có nghĩa là “Nguyễn người yêu nước”, danh tính thực sự của tác giả đã được biết, ngoại trừ một số ít những cộng tác viên của mình.

Đã từng có cuộc tranh luận đáng kể trong số những người viết tiểu sử về Hồ Chí Minh và những nhà quan sát khác về lịch sử Việt Nam hiện đại như hoặc giả Nguyễn Tất Thành là tác giả của tài liệu đó, hay nó là một nỗ lực của nhóm được thực hiện bởi nhiều thành viên của nhóm người Việt tại căn chung cư của Phan Chu Trinh ở Khu biệt thự Yên tỉnh (Villa des Gobelins). Chính quyền Pháp tại thời điểm đó đều bối rối; họ chưa bao giờ bắt gặp cái tên người đó trước đây. Một số suy đoán rằng tác giả thực sự là Phan Văn Trường, được xác định như là một “ma lực” (mauvais esprit) phía sau nhóm và là thành viên được xem là thông minh nhất của nó. Trong hồi ký của riêng mình, tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã tuyên bố rằng ông ta là tác giả, mặc dù ông thừa nhận rằng Phan Văn Trường đã giúp ông soạn thảo nó thành tiếng Pháp dễ hiểu.22

Có hay không Thành là tác giả của bản kiến ​​nghị, có lẽ là không quá quan trọng như thực tế rằng chính anh ta, người trước tiên chịu trách nhiệm cho sự công bố công khai nó và người trong vòng vài tháng dần dần được nhận biết với tên Nguyễn Ái Quốc, một bút danh mà anh ta sẽ sử dụng với niềm tự hào trong ba thập kỷ tới. Anh ta đã đích thân đưa bản kiến nghị bằng tay đến những thành viên chính của Quốc hội và đến Tổng thống Pháp, và anh ta bước đi trên những hành lang của Cung điện Versailles để trình nó cho các đoàn đại biểu của các cường quốc. Để chắc chắn rằng nó sẽ có tác động tối đa, anh ta đã sắp xếp để nó được ấn hành trên tờ  L’Humanite(i.e. Nhân Loại), một tờ báo cấp tiến ủng hộ của chủ nghĩa xã hội. Anh ta cũng tranh thủ được sự trợ giúp của thành viên thuộc Tổng Liên đoàn Lao động để có được 6.000 bản sao được in ra và phân phối trên những đường phố của Paris.23

Bản kiến nghị không nhận được phản ứng chính thức từ chính quyền Pháp. Mặc dù câu hỏi về vấn đề thuộc địa tiếp tục là một vấn đề lớn trong những cuộc tranh luận trong Quốc hội và làm dấy lên sự tranh cãi đáng kể trong suốt hội nghị hòa bình ở Versailles, cuối cùng những người tham gia hội nghị đã không có hành động để giải quyết vấn đề. Đại tá House, Cố vấn cao cấp của Wilson

p60

Tổng thống Wilson trong phái đoàn Hoa Kỳ tại Versailles, đã viết lời đáp ngắn gọn cho sự lưu ý của Nguyễn Ái Quốc, cho biết nhận được lá thư và cám ơn tác giả cho việc gửi nó nhân dịp  chiến thắng của Đồng minh. Một lá thư ngắn thứ hai ngày hôm sau chỉ nói rằng bản kiến nghị sẽ được trình cho Tổng thống Wilson. Không có thông tin hơn nữa từ phái đoàn Hoa Kỳ về vấn đề này. Ông Woodrow Wilson, thật ra, đã gặp phải kháng cự cứng rắn về Mười bốn Điểm của anh ta tại Versailles, và buộc phải chấp nhận thỏa hiệp để đạt được một thỏa thuận hòa bình, một quyết định làm dấy lên sự tức giận và thất vọng khắp thế giới thuộc địa.24

Tuy nhiên, bản kiến nghị đã tạo nên sự kinh ngạc trong giới chức trách ở Paris. Ngày 23 tháng Sáu, Tổng thống Pháp đã viết thư cho Albert Sarraut, bấy giờ trở lại Paris sau thời gian làm của mình như là Toàn quyền Đông Dương(pc 03), lưu ý rằng ông ta đã nhận được một bản sao và yêu cầu Sarraut xem xét vấn đề và xác thực danh tính của tác giả. Vào tháng Tám, Cao ủy Cư trú(pc 02) ở Bắc Bộ đánh điện thư đến Paris rằng những bản sao của bản kiến nghị đang lưu hành trong những đường phố của Hà Nội và đã gây nên những lời phê bình ​​trong báo chí địa phương. Vào tháng Chín, Thành đã chấm dứt sự giả đoán về nguồn gốc tác giả của bản kiến ​​nghị bằng cách công khai xác nhận mình là Nguyễn Ái Quốc trong quá trình của một cuộc phỏng vấn với phóng viên Hoa Kỳ của một tờ báo Trung Quốc đóng tại Paris. Anh ta đã làm như vậy, tuy nhiên, không tiết lộ tên thật của mình. Cùng lúc đó, Thành làm quen với Paul Arnoux, một quan chức cảnh sát chịu trách nhiệm theo dõi những hoạt động của émigrés (i.e. di dân) Việt Nam ở Paris. Trong khi tham dự buổi diễn thuyết của một học giả Pháp, người chỉ trích chính sách thuộc địa ở Đông Dương, ông Arnoux đã gặp một thanh niên nồng nhiệt đang phân phát những tờ truyền đơn. Sau khi nhiều cuộc trò chuyện với Thành trong một quán cà phê gần Opéra (i.e. Nhà hát kịch nghệ cổ điển), ông Arnoux đã liên lạc với Bộ Thuộc địa và đề nghị rằng Albert Sarraut nên sắp xếp gặp gỡ anh ta.

Ngày 06 tháng Chín, Thành được gọi đến Bộ Thuộc địa trên Rue Oudinot để gặp riệng, trong khi những mật vụ cảnh sát hoạt động bí mật trong phạm vi cộng đồng lưu vong Việt Nam, đã chụp ảnh anh ta và bắt đầu thăm dò tin tức về danh tính thực sự của anh ta.25

Rất khó để biết liệu Nguyễn Ái Quốc, như anh ta từ nay sẽ gọi mình, đã có bất kỳ hy vọng thực sự mà sự yêu cầu của anh ta về công lý và quyền tự quyết cho dân Việt Nam có thể nhận được một phản ứng, hoặc liệu anh ta chỉ kỳ vọng vào sự tác động của bản kiến nghị nhằm phổ biến nguyên nhân chống chủ nghỉa thực dân và cấp tiến hóa cộng đồng người Việt ở Pháp. Không phải là không thể xảy ra rằng ban đầu anh ta hy vọng là bản kiến nghị của mình có thể mang lại những thay đổi tích cực ở Đông Dương. Anh ta có một khía cạnh lạc quan trong cá tính mình và dường như nhất định tin rằng điều tốt đẹp nhất về đồng loại con người của mình, và thậm chí về những kẻ thù của mình. Thái độ này thì không giới hạn đối với đồng bào của mình, hoặc thậm chí những người cùng giống Á châu, nhưng được mở rộng đến cả những người Âu châu.

p61

Trong suốt một chuyến hành trình ngắn đến Đức, Thụy Sĩ, và Ý mà anh ta đã đi trong khoảng thời gian này, anh bày tỏ với một người bạn rằng “tất cả là con người. Ở khắp mọi nơi chúng ta gặp người tốt và người xấu, người trung thực và quanh co. Nếu chúng ta là những người tốt, chúng ta sẽ gặp người tốt ở khắp mọi nơi.” Chính là, anh bị thuyết phục, mối quan hệ thuộc địa đã làm mất giá trị và làm hư hỏng bản chất con người. Không có gì nghi ngờ, tuy nhiên, rằng anh ta đã thất vọng bởi sự thiếu đáp ứng đến bản kiến nghị của mình: Nguyễn Ái Quốc đã phàn nàn với những cộng sự viên một thập kỷ sau đó rằng nhiều người đã bị lừa dối bởi “bài hát của tự do” của ông Woodrow Wilson.

Có lẽ, cũng thế, giống như nhiều người Việt Nam khác, anh ta đã bị quyến rũ bởi những lời của Toàn quyền (Governor-General)Albert Sarraut. Trong cuộc phỏng vấn mà anh ta đã tiến hành với phóng viên Hoa Kỳ của tạp chí Trung Quốc Yi Che Pao vào tháng Chín, Thành đã phàn nàn về hoàn cảnh tồi tệ ở Đông Dương, nhưng thừa nhận rằng bước đầu tiên là đạt được tự do ngôn luận để tìm cách giáo dục dân chúng và sau đó làm việc cho quyền tự chủ và nền độc lập quốc gia.26

Tuy nhiên, có bằng chứng rằng sự kiên nhẫn và lạc quan của anh ta chỉ ngắn ngủi. Một ngày sau cuộc nói chuyện riêng của mình với ông Sarraut, anh ta gửi cho ông ấy một bản sao của bản kiến ​​nghị với một lá thư tóm lượt:

Như theo sau cuộc nói chuyện của chúng ta ngày hôm qua, tôi gửi cho anh theo một bản sao của văn bản Những Yêu Cầu. Vì anh đủ thiện ý cho tôi biết rằng anh đã có ý muốn nói chuyện thẳng thắn, tôi đang dùng tự do để yêu cầu anh chỉ ra cho chúng tôi những gì đã được thực hiện liên quan đến 8 điểm yêu cầu của chúng tôi… Bởi vì tôi cho rằng tám câu hỏi vẫn chưa được giải quyết, không ai trong số họ nhận ra một giải pháp thỏa đáng.

         Xin hãy nhận, thưa ông Toàn quyền kính mến, niềm tin về sự tôn trọng sâu xa của tôi.

Nguyễn Ái Quốc27

Một vài ngày sau đó, hai mật vụ cảnh sát được chỉ định để theo dõi mỗi cử động của Nguyễn Ái Quốc và hoạt hoạt động chính trị. Đến tháng Mười Hai, anh đã được ​​xác nhận theo ước đoán là Nguyễn Tất Thành, con trai của cựu quan Nguyễn Sinh Sắc và cũng là người thanh niên trốn tránh đã bị đuổi khỏi Học viện Quốc gia vì hoạt động nổi loạn vào năm 1908.

Dù bất kỳ là những động cơ gì của anh ta về sự nhận quyền tác già và sự thúc đẩy bản kiến ​​nghị, Nguyễn Ái Quốc đã đạt được một cách công khai nguyên nhân cho quyền tự quyết Việt Nam. Tin tức về bản kiến nghị lan ra nhanh chóng trong phạm vi cộng đồng người Việt ở Pháp và đã có một ảnh hưởng gây nên xúc động mạnh mẽ trong số những đồng bào mình. Những người yêu nước lớn tuổi hơn ngạc nhiên trước sự táo bạo của một thanh niên tô ảnh.

p62

Những người trẻ tuổi hơn bày tỏ sự nhiệt tình mới cho nguyên nhân. Người thận trọng hơn xem anh ta như là một “người hoang dã” và bắt đầu tránh né anh ta. Anh, họ có lẽ đã rỉ tai nhau, có thể mong đợi gì từ một trâu cứng đầu từ Nghệ An?

* * *

Những yêu cầu vô vọng cho nền độc lập dân tộc đã thúc đẩy vô số trí thức yêu nước từ những nước thuộc địa ở châu Á và châu Phi vào chính trị cấp tiến. Mặc dù có thể là Hồ Chí Minh thì không ngoại lệ, trong trường hợp của ông ta cũng rõ ràng là sự thú vị của ông ta về chính trị xã hội chủ nghĩa được đánh dấu xảy ra trước sự tham gia của mình trong việc soạn thảo bản kiến nghị. Sự tham gia của ông ta trong những hoạt động của công đoàn lao động, trong khi sống ở Anh, cũng có thể cung cấp những nơi liên lạc mà qua đó ông ta đã dần dần hoạt động trong vòng tròn tương tự ngay sau khi ông ta đến Paris. Ông Michel Zecchini, một thành viên của Đảng Xã hội Pháp (FSP: French Socialist Party) tại thời điểm đó, đã gặp Nguyễn Tất Thành vào cuối Thế Chiến thứ I và ghi nhận rằng Thành đã làm quen với những ngôi sao sáng của Đảng Xã hội Pháp như là Marcel Cachin, Paul Vaillant-Couturier, Léon Blum, Edouard Herriot, Henri Barbusse, và cháu trai Jean Longuet của Karl Marx. Qua những nơi liên lạc của Đảng Xã hội Pháp, anh ta cuối cùng có thể để có được những giấy tờ và giấy phép làm việc. Theo Zecchini, tuy nhiên, anh chưa được chấp nhận như là một thành viên chính thức của Đảng Xã hội Pháp cho đến lúc khi sau khi anh được nổi tiếng như là Nguyễn Ái Quốc trong tháng Sáu năm 1919. Như là tác giả của bản kiến ​​nghị nổi tiếng, Đồng chí Nguyễn (hoặc Monsieur Nguyễn, như ông ta đôi khi được gọi thế) đã có được một mức hạn nào đó của sự tôn trọng.

Hồ Chí Minh có lẽ bị thu hút bởi những người xã hội chủ nghĩa Pháp bởi vì, theo lời ông ta, “họ đã bày tỏ sự đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức.” Đồng thời, tư tưởng hệ của ông ta rẽ hướng về phía chủ nghĩa xã hội có thể được xem như là một hệ quả tự nhiên của sự thù ghét của ông ta về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc. Giống như nhiều người Á châu, kinh nghiệm đầu tiên của ông ta với hệ thống tư bản chủ nghĩa là một sản phẩm của sự khai thác thuộc địa trên quốc gia mình, mà nó đã sinh ra một tác động tàn bạo vào những cuộc sống của nhiều người trong số đồng bào của ông ta. Những quan điểm như vậy chắc chắn đã được củng cố hơn bởi năm tháng của mình trên biển, giong thuyền từ cảng nầy đến cảng khác khắp thế giới thuộc địa, và có lẽ bởi giai đoạn cư trú ở Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Trong những năm sau đó, ông ta thường xuyên chỉ trích về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản Mỹ, mặc dù ông ta thỉnh thoảng bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với sự hoạt năng và năng lực của dân Mỹ. Dường như có vẻ rằng, cũng như với nhiều người Á châu theo quốc gia (dân tộc) chủ nghĩa, sự thú vị ban đầu của ông ta về chủ nghĩa xã hội đến như là một kết quả của sự phát hiện tính thù nghịch của nó đối với giai cấp bản.28

Tuy nhiên, xu hướng trong giới dân tộc chủ nghĩa người Á châu hướng tới chủ nghĩa xã hội

p63

không nên bị gán hoàn toàn là tính chất thủ đoạn. Đối với nhiều nhà trí thức Á châu, đạo đức nhóm của lý thuyết xã hội chủ nghĩa Tây phương tương ứng tốt hơn những lý tưởng được thừa kế của họ so với đạo đức của người theo cá nhân chủ nghĩa đã chủ động và đạo đức được thúc đẩy bởi lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản Tây phương. Và không nơi nào rõ ràng hơn thế trong những xã hội Nho giáo như Trung Quốc và Việt Nam. Những người quốc gia Hoa vả Việt từ những gia đình học thức quý tộc thường tìm thấy sự lộng lẫy của những thành phố thương mại mới hơn là đáng ghét một cách mơ hồ. Trong tâm trí của Nho giáo, nền công nghiệp Tây phương thì quá dễ dàng chuyển sang tham lam và ham muốn không chính đáng cho sự tự phóng đại. Ngược lại, chủ nghĩa xã hội nhấn mạnh nỗ lực cộng đồng, đơn giản về lối sống, công bằng về cải và cơ hội, tất cả những điều đó có ngụ ý mạnh mẽ trong truyền thống Nho giáo. Trong hoàn cảnh như thế, quá trình chuyển đổi triết học từ Nho giáo đến Marx là dễ dàng làm hơn là đến Adam Smith và John Stuart Mill, những người nhấn mạnh những khái niệm không quen thuộc như là chủ nghĩa vật chất và chủ nghĩa cá nhân.29

Vào năm 1920, Monsieur (i.e. Ông) Nguyên bắt đầu tham dự những cuộc họp thường xuyên của Đảng Xã hội Pháp và Tổng Liên đoàn Lao động, cũng như Ligue des Droits de l’Homme (i.e. Liên đoàn Nhân quyền) (một tổ chức không giống như American Civil Liberties Union) (i.e. Công đoàn Lao động Tự Do Mỹ), và nhận vai trò thậm chí tích cực hơn trong những cuộc thảo luận chính trị. Có những dấu hiệu phong phú, tuy nhiên, anh ta bắt đầu tìm thấy thái độ của nhiều người trong số những cộng sự viên của mình khiến bực tức hơn. Đối với Nguyễn Ái Quốc, vấn đề trung tâm của thời đại là sự bóc lột dân tộc thuộc địa bởi chủ nghĩa đế quốc Tây phương. Anh ta phát hiện ra rằng đối với hầu hết những người Pháp quen của anh, chủ nghĩa thực dân đã được xem như là một bề mặt ngoại vi của một nan đề rộng lớn hơn –vấn đề của chủ nghĩa tư bản thế giới. Marx đã nghiêng về phía chủ nghĩa trung tâm Âu châu (Eurocentrism), và hầu hết dòng dõi của ông ta ở Âu châu đã sự dẫn dắt của ông. Những thuộc địa, sau cùng, đại diện sự giàu có về kinh tế cho Pháp, và công việc cho những người lao động trong nước. Vì vậy, Monsieur Nguyễn gây ra phản ứng rất ít khi anh ta nêu lên những câu hỏi về vấn đề thuộc địa tại các cuộc họp chính trị, khiến anh ta thốt lên với một cộng sự viên trong sự thất vọng của mình, “Nếu anh không buộc tội chủ nghĩa thực dân, nếu anh không đứng về phía với dân tộc thuộc địa, làm thế nào anh có thể làm một cuộc cách mạng?”

Một sự tách biệt nghiêm trọng đã phát triển trong hàng ngũ của phong trào xã hội chủ nghĩa giữa những nhà lãnh đạo ôn hoà như Jean Longuet và Léon Blum và những nhân vật thuộc chiến binh hơn như Marcel Cachin, Paul Vaillant-Couturier, những người đã xuất hiện để giữ những tầm nhìn triệt để hơn về tương lai của xã hội loài người. Nguyễn Ái Quốc đứng về phía những người cấp tiến. Một trong những vấn đề mà hai phe chia ra là cuộc cách mạng Bolshevik. Một nhóm chiến binh trong đảng đã bắt đầu để kết hợp xung quanh hỗ trợ cho những đề xướng ​​quan trọng: sự đối lập với việc giải quyết hòa bình Versailles,

p64

sự  sáng tạo một phong trào mới và cấp tiến hơn của những người theo xã hội chủ nghĩa có tính cách quốc tế (vào năm 1889, Đệ nhất Quốc tế nguyên thủy của Marx được thay thế bởi Đệ nhị Quốc tế ôn hòa hơn, nhắm mục tiêu đạt được chủ nghĩa xã hội qua phương tiện quốc hội); sự cảm thông đối với những dân tộc bị áp bức của các khu vực thuộc địa, và sự hỗ trợ mạnh mẽ cho cuộc cách mạng Bolshevik. Vào cuối năm 1919, một ủy ban vận động sự tham gia vào Đệ tam Quốc tế mới của Lenin –mà nó khẳng định sự ủng hộ sự cần thiết của cuộc cách mạng bạo lực và sự hình thành của một chế độ độc tài của giai cấp vô sản– được thành lập trong phạm vi Đảng Xã hội Pháp. Nguyễn Ái Quốc đã tham gia tích cực trong những phương cách hành động, và thường xuyên tham dự những cuộc họp để quyên tiền nhằm giúp bảo vệ cuộc cách mạng Liên Xô từ những kẻ thù tư bản của nó.

Nguyễn Ái Quốc vẫn còn là một người tập sự trong thế giới chính trị cấp tiến. Một số cộng sự viên của anh ta trong suốt những năm hình thành sau đó nhận xét rằng vào thời điểm đó, anh gần như không biết gì về lý thuyết, hoặc sự những sự khác biệt giữa Đệ nhị và Đệ tam Quốc tế. Có một lần anh ta hỏi Jean Longuet giải thích ý nghĩa của chủ nghĩa Marx. Ông Longuet đã lưỡng lự, nói rằng các câu hỏi quá phức tạp và đề nghị rằng anh nên đọc cuốn Das Kapital (i.e. Tư bản Luận) của Marx. Nguyễn Ái Quốc ngay sau đó đã đến một thư viện gần Place d’Italie (i.e. Khu người Ý) và mượn một bản sao của tác phẩm chính đó, anh ta đọc cùng lúc với một số tác phẩm khác về chủ nghĩa Marx. Một thời gian về sau, anh ta đưa ra nhận xét trong cuốn tự truyện của mình, anh ta đã giữ một bản sao của Tư bản Luận như sách gối đầu.

Chính là, tuy nhiên, cuốn sách “Những Luận thuyết về những Vấn đề Quốc gia và Thuộc địa” nổi tiếng của Lenin, được giới thiệu cho Đại hội Quốc tế Cộng sản Lần hai trong mùa hè năm 1920, mà nó đặt Nguyễn Ái Quốc theo hướng đi đã làm biến dạng anh ta từ một người yêu nước đơn thuần với những kiến thức về xã hội chủ nghĩa trở thành một người cách mạng theo chủ nghĩa Marx. Trong một bài báo được viết cho một ấn phẩm Liên Xô vào năm 1960, anh ta thừa nhận rằng trong suốt những cuộc thảo luận giữa những người ủng hộ của Đệ nhị Quốc tế và người của Đệ tam Quốc tế trong phạm vi Đảng Xã hội Pháp, anh ta “đã không có khả năng hiểu tường tận” diễn biến của các cuộc tranh luận. Tất cả những gì quan trọng với anh ta là bên nào hỗ trợ dân tộc thuộc địa. Sau đó, vào giữa tháng Bảy năm 1920, một người nào đó đã cho anh ta một bản sao về “Những Luận thuyết” của Lenin, mà chúng vừa được công bố trên tạp chí Nhân Loại (L’Humanité). Kết quả, anh ta kể lại, làm chấn động:

Có những thuật ngữ chính trị khó hiểu trong luận thuyết này. Nhưng bởi đọc mãi nó một lần rồi lần nữa, cuối cùng tôi có thể hiểu được phần chính của nó. Cảm xúc, lòng nhiệt tình, nhận thức, và sự tự tin, nó truyền dẫn vào tôi như thế nào đó! Tôi đã vui mừng lên đến rơi nước mắt. Mặc dù ngồi một mình trong phòng của tôi, tôi đã hét to lên như là đang diễn thuyết trước đám đông khổng lồ: Hỡi những nghĩa sĩ đã hy sinh, đồng bào thân mến! Đây là điều gì chúng ta cần, đây là con đường đưa đến sự giải thoát của chúng ta.

p65

Ngay sau đó, anh ta đã gửi một bức thư cho Ủy ban Liên Kết với Đệ tam Quốc tế, yêu cầu được thu nhận như là một thành viên riêng rẽ. Tờ đơn xin được chấp nhận.30

Cắt bỏ hành trang tư tưởng hệ của nó, thông điệp của Lenin thì đơn giản và trực tiếp. Đảng Cộng sản ở phương Tây, trong cuộc đấu tranh của họ để lật đổ hệ thống tư bản chủ nghĩa trong những quốc gia kỷ nghệ tiến bộ, nên tích cực hợp tác với những phong trào dân tộc ở các khu vực châu Á và châu Phi. Nhiều trong số những phong trào, Lenin thừa nhận, đã bị  điều khiển bởi tầng lớp trung lưu bản địa, những người, trong thời gian dài, không đồng cảm với cuộc cách mạng xã hội. Vì vậy, bất kỳ những sự liên minh với các nhóm dân tộc tư sản nên được thực hiện cẩn thận, và chỉ với điều kiện rằng những đảng phái Cộng sản địa phương duy trì bản sắc riêng biệt của chúng và tự do hành động. Ngoài những hạn chế như thế, Lenin đã xem những phong trào giải phóng dân tộc của châu Á và châu Phi như là những nước đồng minh tự nhiên, mặc dù tạm thời, của những người Cộng sản chống lại kẻ thù chung của chủ nghĩa đế quốc thế giới. Khả năng của những nước tư bản Tây phương để định vị thị trường và nguyên liệu ở những nước kém phát triển nhằm duy trì hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới và ngăn chặn sự sụp đổ cuối cùng của nó.

Chủ nghĩa đế quốc kiểm soát những khu vực thuộc địa không chỉ nhằm dặp tắt ngày không thể tránh khỏi khi cuộc cách mạng xã hội sẽ phá hủy bất công và bất bình đẳng ở phương Tây, mà nó cũng ngăn cản sự xuất hiện của lực lượng tiến bộ trong những xã hội Phi châu và Á châu. Giai cấp tư sản địa phương, bị ngăn cản đóng một vai trò tích cực trong sự phát triển kỷ nghệ và thương mại trong xã hội của họ bởi sự thống trị đế quốc Tây phương, vẫn còn yếu ớt và chưa phát triển; do đó họ không thể đóng vai trò tiên tiến được giao trong việc tiến hành cuộc cách mạng tư bản chủ nghĩa chống lại lực lượng phong kiến trong xã hội, một bước đầu cần thiết đưa đến chủ nghĩa cộng sản toàn cầu. Tầng lớp trung lưu thuộc địa sẽ cần sự giúp đỡ từ lực lượng tiến bộ khác –như là giai cấp nông dân nghèo và giai cấp vô sản thành thị, nhỏ nhưng đang phát triển– để lật đổ chế độ phong kiến ​​và mở cửa cho sự phát triển kỷ nghệ và thương mại.

Vì mục đích thiết thực, Lenin kêu gọi những người Cộng sản bè bạn của ông ta ở phương Tây để góp tay với những người quốc gia Á châu và Phi châu trong một nỗ lực cho cuộc cách mạng chung. Sự liên minh là tạm thời; một khi chủ nghĩa đế quốc và những nước đồng minh phong kiến ​​của nó trong những xã hội kém phát triển bị lật đổ, phong trào Cộng sản sẽ tự tách khỏi sự liên minh của nó với lực lượng chính trị tư sản, những người lúc bấy giờ sẽ trở nên ngày càng phản động, và đấu tranh để đạt được giai đoạn thứ hai của những người theo xã hội chủ nghĩa trong cuộc cách mạng.

Lenin cung cấp hỗ trợ cho dân Việt Nam và những dân tộc khác ở thời điểm khi họ vô cùng cần đến. Và anh ta đã rõ ràng enunciating quan điểm –quá quan trọng đối với thế giới quan của Nguyễn Ái Quốc –khu vực thuộc địa là một dòng phòng thủ quan trọng trong hệ thống tư bản thế giới.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Anh Thành phải thức dậy lúc 4 giờ sáng và làm nhiều việc nặng nhọc mãi đến 9 giờ tối.
Mỗi ngày phải chịu đựng 14 tiếng làm việc nhưng dành ra 2 tiếng ngủ để học hoặc viết, chỉ còn lại 4 tiếng để nghĩ dưỡng sức.

pc 02_ Cao ủy Cư trú : Résident Supérieur.
pc 03_ Toàn quyền Đông Dương : Governor-General of Indochina.
pc 04_ Sun Yat-sen : Tôn Dật Tiên
pc 05_ Ku Klux Klan (KKK hoặc Klan) : Những tổ chức ở miền Nam Hoa Kỳ, từ thập kỷ 1860s, gồm những phần tử người da trắng cực đoan trong ba dòng thác hoạt động: quyền tối cao của qân da trắng, chủ nghĩa dân tộc da trắng, và chống di dân. Mục tiêu chính của KKK là người da đen, bị khủng bố bằng bạo lực nhưng kể từ giữa thế kỷ 20, KKK cũng chống lại cộng sản. Theo ước tính có khoảng 3.000 đến 5.000 thành viên vào năm 2012.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s