II- Con Ngựa Hung Hăng (Phần 3)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p66

Cắt đứt những cái vòi của chủ nghĩa thực dân ở những thuộc địa xa xôi, và hệ thống của chính nó có thể bị lật đổ.

Những người theo xã hội chủ nghĩa ở Paris, với vài ngoại lệ, có khuynh hướng ngừng lại ở lời nói hơn là những việc làm. Lenin không phải là một nhà lý luận, nhưng là một người hành động. Đối vời Nguyễn Ái Quốc, ông ấy rõ ràng là một nhân vật truyền cảm hứng kỳ lạ, và là người xứng đáng với lòng trung thành của mình.

* * *

Với sự giúp đỡ của những người Pháp quen biết như nhà báo cấp tiến Gaston Monmousseau và Jean Longuet, những người đã giúp đánh bóng phong cách đặc trưng, không trang trí, và thẳng thắn, Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu đóng góp những bài viết cho những tạp chí cánh tả ở Paris vào cuối mùa hè năm 1919, và tiếp tục làm một người ủng hộ hiệu quả cho những mục tiêu tiến bộ cho đến khi chuyến khởi hành của anh ta từ Pháp gần bốn năm sau đó. Bài viết đầu tiên của anh ta, mang tựa đề “Câu hỏi về sự nghèo khổ” (La question indigence) và được in ra trên tờ Nhân đạo vào ngày 02 tháng Tám, 1919, là một sự phê phán về những chính sách của Pháp ở Đông Dương, những chính sách mà, theo lời anh ta, đã từng mang lại nhân dân Việt Nam không gì ngoài sự khổ đau. Mặc dù trên lý thuyết người Pháp đã thực hiện một nhiệm vụ văn minh, trong thực tế những chính sách giáo dục của họ là sự tuyên truyền đơn giản và cứ giữ dân Việt Nam thiếu chuẩn bị cho cạnh tranh trong tương lai với các nước láng giềng của họ. Trong khi đó, chính phủ Nhật Bản đã khôn ngoan chuẩn bị dân chúng để phát triển những khả năng kinh tế của họ. Cuối cùng, ông ta lưu ý một cách tiên đoán, những doanh nhân Nhật sẽ đến Đông Dương và làm cho những cuộc sống dân Việt thậm chí còn khó khăn hơn.

Nguyễn Ái Quốc đã có một quan điểm. Vào cuối Thế Chiến I, hệ thống giáo dục gần đây đã được đưa ra bởi người Pháp cung cấp những đối tượng Đông Dương để tiếp xúc với kiến ​​thức Tây phương, đạt được chỉ một tỷ lệ phần trăm nhỏ dân số. Chỉ có 3.000 trong số hơn 23.000 xã ở Việt Nam là có trường làng theo phong cách Tây phương. Giáo dục truyền thống qua kinh điển Trung Quốc tiếp tục được cung cấp bởi những học giả Nho giáo ở các vùng nông thôn, nhưng sau khi những kỳ thi phục vụ dân sự đã bị bãi bỏ qua nghị lệnh của Pháp trong thập niên thứ hai của thế kỷ, một nền giáo dục như thế đã mất đi mục đích nghiệp vụ chính của nó. Giáo dục ở cấp độ cao hơn thì có sẵn cho người Việt Nam đang sống ở những thành phố, nhưng nó cần thiết bị hạn chế chỉ một số ít trường trung học phục vụ cho những đám con trai gái của tấng lớp sang giàu.

Khi mà chiến lược của ông Sarraut về mở rộng sự tham gia chính trị, Thành vẫn tiếp tục tham dự, nó thực sự không có chính sách gí hết. Khi người ta cố gắng đứng lên để phản đối, như họ đã làm vào năm 1908, họ bi trấn áp một cách kịch liệt. Dân Pháp không nhận ra, ông ta đã kết luận, rằng đó là thời gian để giải phóng người dân địa phương và giúp họ chuẩn bị cho sự cạnh tranh trong tương lai từ các nước láng giềng của họ sao? 31

p67

Nguyễn Ái Quốc theo dõi sát bài viết đó cùng với một bài khác có tựa đề “Đông Dương và Hàn Quốc” trên tạp chí Nhân Dân (Le Populaire) và sau đó với “Bức thư cho Ông Outrey” (Lettre à Monsieur Outrey), trong cùng một tạp chí vào tháng Mười. Giống như bài trước đó của tạp chí, hai bài viết ngắn nầy, trong khi gay gắt chỉ trích về một số chính sách của Pháp, thì ôn hòa một cách cần thiết về những giải pháp được trù định. Chúng không nhắc gì đến việc dùng bạo lực hoặc một liên minh theo kiểu Lenin giữa những nông dân và người lao động. Trong bài viết của tháng Mười, tác giả đề cập bằng một cách tán thành đến những chính sách và nhận xét của cựu Toàn quyền Albert Sarraut và tuyên bố sự phản đối của ông ta đối với Maurice Outrey, một quan chức thuộc địa và đại diện của Nam Bộ tại Quốc hội Pháp, người được đồn đại là mong muốn thay thế Sarraut làm Toàn quyền. Ông Outrey đã từng chỉ trích Hiệp hội người An Nam Yêu nước trong phòng họp đó, trong khi phủ nhận rằng chế độ thực dân Pháp đàn áp những người An Nam. Nguyễn Ái Quốc, người đã hỏi một cách châm biếm, ông đại diện phải không? Hai chục triệu người An Nam mà ông Outrey không biết ngay đến cả cái tên họ, hay chỉ là ngoại trừ một vài viên chức và một nắm cử tri giàu có ở Nam Bộ? Giữa những quan điểm của ông Outrey và của ông Sarraut, anh ta đã kết luận, có “một khoảng cách mênh mông.”32

Công việc của Nguyễn Ái Quốc như là một người tô ảnh dường như không đòi hỏi nhiều giờ, trong khi viết những bài ngắn nầy, anh ta cũng bắt đầu chuẩn bị một bản thảo dài có tựa đề Les opprimés (Những kẻ bị áp bức), một bài phê bình dài về chính sách của Pháp ở Đông Dương. Hiếm khi, dường như là vậy, có được những nỗ lực non nớt của một tác giả để viết một cuốn sách có dẫn chứng bằng tài liệu đầy đủ như vầy, kể từ khi cảnh sát đã được thông báo rộng rãi về tiến bộ của anh ta qua những báo cáo định kỳ của các mật vụ. Anh ta đã bắt đầu viết vào cuối năm 1919 với sự giúp đỡ của người cộng hoà chống thực dân, Paul Vigné d’Octon, và mải mê nghiên cứu báo chí và những bài viết định kỳ trong Thư viện Quốc gia (Bibliothèque Nationale) để có được những thống kê hữu dụng và những đoạn trích. Khi một người quen cảnh cáo Quốc phạm phép những trích dẫn không có ghi rõ nguồn gốc, anh ta đã vặn lại rằng anh ta hy vọng những nhà xuất bản khác sẽ yêu cầu bồi thường cho những đoạn trích dẫn như vậy, từ đó sẽ giúp làm cho thiên hạ biết đến cuốn sách đó. Một người khác đưa ý kiến cho anh ta chống lại cách dùng một tựa đề có ý đối đầu như thế, nhưng anh ta khăng khăng giữ lại nó.

Theo những báo cáo của mật vụ, Nguyễn Ái Quốc không có đủ tiền để được trợ giúp ấn loát và có ý định tự phát hành bản thảo. Sau một thời gian ngắn hoàn thành nó, tuy nhiên, anh ta trở về nhà một đêm thấy nó biến mất. Một số người viết tiểu sử đã suy đoán rằng nó đã bị đánh cắp bởi một mật vụ cảnh sát. Điều đó dường như có thể xảy ra, mặc dù không có những dấu tích gì trong những hồ sơ cảnh sát. Mặc dù không có những dấu tích rõ ràng về nội dung, có thể là anh ta dùng nhiều tài liệu từ những ghi chép của mình trong một cuốn sách sau này gọi là Le Procès de la colonisation française (i.e. Bản án chế độ thực dân Pháp), mà anh ta xuất bản vào năm 1925.

p68

Cuốn sách này là bài phê phán nhiều khắc nghiệt hơn những chính sách thực dân Pháp và phản ảnh một cách rõ ràng ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx trên quan điểm thế giới của anh ta.33

Nguyễn Ái Quốc đã chuyển vào căn chung cư của Phan Chu Trinh ở Khu biệt thự Yên tỉnh (Villa des Gobelins) vào tháng Bảy năm 1919, ngay sau khi sự công bố bản kiến nghị đến lực lượng Đồng Minh. Nằm trong một khu trung lưu thoải mái gần Khu người Ý (Place de l’Italie) thuộc Bờ phía Trái, chắc chắn là một bước đi lên từ những nơi ở xơ xác trước đây của anh ta. Anh ta ở chung không chỉ với Phan Chu Trinh, nhưng cùng nhiều cộng sự viên khác.

Nhưng sự di chuyển đưa đến một số vấn đề. Vào khoảng đầu tháng Mười Hai năm 1919, một mật vụ cảnh sát trong đoàn tùy tùng của nhóm đã báo cáo rằng một cuộc tranh luận dữ dội đã xảy ra giữa Nguyễn Ái Quốc và Phan Chu Trinh tại căn chung cư trên một đường lối thích hợp để đi theo. Anh Quốc đã lập luận rằng những quan chức Việt Nam thì ngoan ngoãn như con cừu và trở thành những kẻ đồng lõa của người Pháp trong việc cố gắng kiềm giữ quần chúng và bóc lột họ. Ông Trinh vặn lại rằng đấy là một cái nhìn quá thiển cận. Người dân Việt Nam, ông cảm thấy, vẫn còn quá yếu và thiếu khả năng để chống lại người Pháp. Sự đối lập ở thời điểm này, ông lập luận, sẽ chắng khác gì là sự tự sát. “Anh bạn Quốc”, ông khuyên nhủ, “cho phép tôi nhạn xét rằng anh bạn vẫn còn rất trẻ, và tất cả mọi người có thể thấy rằng anh bạn quá cứng đầu. Anh bạn muốn hai mươi triệu đồng bào của chúng ta làm một cái gì đó khi họ không có vũ khí trong tay của họ để chống lại những vũ khí đáng sợ của người Âu châu. Tại sao chúng ta phải tự sát vô kết quả?”

Đối với Phan Chu Trinh, vẫn cần thiết dựa vào Pháp để đẩy nhanh sự hiện đại hóa xã hội Việt Nam, mà nó vẫn còn chịu ảnh hưởng của quyền hành đã chết của truyền thống Nho giáo. Tuy nhiên, anh Quốc cảm thấy rằng người Pháp là kẻ thù chính và không thể đáng tin cậy để tiến hành những lời hứa cải cách của họ. “Tại sao,” anh ta hỏi,

hai mươi triệu đồng bào của chúng ta làm bất cứ điều gì để buộc chính phủ phải đối xử chúng ta như là con người? Chúng ta là con người, và chúng ta phải sống như con người. Bất cứ ai không muốn đối xử chúng ta như bè bạn của anh ta, là kẻ thù của chúng ta. Chúng ta không muốn sống chung với họ trên trái đất này. Nếu những người khác không muốn sống với chúng ta như đồng loại, như vậy thực sự là vô ích để sống những cuộc sống nhục nhã và bị xúc phạm trên trái đất này.

Như đối với quan niệm cho rằng Việt Nam phải dựa vào Pháp để thực hiện những cải cách cần thiết, Nguyễn Ái Quốc lập luận rằng họ đã làm rất ít để giáo dục dân chúng hoặc chuẩn bị cho quyền tự trị. “Tất cả mọi người đều lớn tuổi hơn và nhiều kinh nghiệm hơn tôi,” ông thừa nhận,

p69

“nhưng đồng bào ta đã từng đòi hỏi điều đó trong sáu mươi năm và đã nhận được những gì? Rất ít!”34

Mặc dù khoảng cách càng tăng lên giữa những quan điểm chính trị của họ, Nguyễn Ái Quốc vẫn tôn trọng Phan Chu Trinh và đã cố gắng thuyết phục ông ta thay đổi quan điểm của mình. Trong những lần khác, anh ta đã đưa người cộng sự viên lớn tuổi của mình đến những buổi họp của phe cấp tiến ở Paris. Cảnh sát hiện nay theo dõi Quốc liên tục và không ngừng những nỗ lực của họ để lấy tin tức chính xác về thân thế anh ta. Nhà chức trách vẫn tin rằng Nguyễn Ái Quốc cũng là Nguyễn Tất Thành, người đã từng tham gia trong những cuộc quấy rối ở Huế vào mùa hè năm 1908. Họ đã từng gặp mặt cha anh ta, em gái anh ta, và anh trai của anh ta, và đang tìm kiếm những dấu vết làm lộ chân tướng trên thân thể anh ta để xác minh danh tính. Thí dụ, họ nghe nói anh ta có một vết sẹo trên vành tai từ một tai nạn thời thơ ấu. Trong lúc anh ta ở bệnh viện vào năm 1920 vì một vết ung mủ (áp-xe: abscess) trên khuỷu tay phải, cảnh sát đã cố gắng chụp ảnh anh ta.”35

Vào ngày 17 tháng Tám, năm 1920, Albert Sarraut, bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, đã viết một chú thư ngắn đến quận trưởng cảnh sát yêu cầu cho biết tin tức chính xác hơn về Nguyễn Ái Quốc. “Anh ta không có quyền” ông Sarraut đã kêu lên trong sự bực tức, “can thiệp vào chính trị của chúng ta dưới một tên giả.” Tháng sau, anh Quốc được gọi vào Bộ một lần nữa để thẩm vấn. Theo vào lời tường thuật sau này của chính anh ta vể sự kiện:

Một ngày nọ, tôi đã viết một bức thư cho một nhà văn và bốn ngày sau đó, tôi nhận được một lá thư từ Bộ thuộc địa, được ký bởi một  Monsieur Guesde, trong đó ông nói với tôi, ông ta đã nhận được lá thư của tôi và yêu cầu tôi đến văn phòng của ông. Cái gì đây, tôi tự hỏi, tôi không biết M. Guesde! Tôi chưa bao giờ viết cho ông ta hoặc bất kỳ ai trong Bộ. Sau đó, một ý tưởng đến với tôi. Tôi nói với chính mình, M. Guesde không biết tôi, do đó muốn làm quen và mua chuộc tôi, ông ta tìm kiếm một cái cớ để tôi đến văn phòng của ông ta.

         Một vài ngày sau, tôi đến Bộ Thuộc địa. M. Guesde không có ở đó, và thực tế, đang trên một chuyến đi đến nước Anh. M. Pasquier [sau nầy là một quan chức cấp cao của Bộ] tiếp nhận  tôi và hỏi xem tôi muốn gì đó nơi chính phủ. Nếu là vậy, ông ta sẽ cố gắng giúp tôi.

         Tôi không cần gì, tôi đã trả lời, ngoại trừ tám mục của bản kiến nghị mà tôi đã trình bày với hội nghị hòa bình. Nếu ông có thể can thiệp với chính phủ Pháp ban cho những yêu cầu của chúng tôi, chúng tôi sẽ vô cùng biết ơn. M. Pasquier không trả lời câu hỏi của tôi và bắt qua chuyện khác.36

p70

Phản ứng của ông Pasquier đối với cuộc trò chuyện này thì không được biết đến. Nhưng sự thất vọng ngày càng tăng của các cơ quan có thẩm quyền bị tiết lộ trong một báo cáo về Nguyễn Ái Quốc được viết bởi Pierre Guesde, Bộ trưởng Bộ thuộc địa vào ngày 12 tháng Mười. Anh Quốc đã bị gọi đến quận cảnh sát ba ngày sau cuộc nói chuyện riêng của mình tại Bộ. Ở trạm cảnh sát, anh ta khai rằng anh ta đã được sinh ra vào ngày 15 tháng Giêng năm 1894, tại Vinh, và rằng sáu anh chị em của anh ta đều qua đời.

“Nguyễn Ái Quốc này là ai?” Ông Guesde phát nổ.

Anh ta thường xuyên thay đổi tên mình và hiện tại đang giấu kín danh tính mình phía sau một cái tên giả mà không thể đánh lừa bất cứ ai, thậm chí chỉ hơi quen thuộc với ngôn ngữ Việt Nam. Ông ta trình bày rằng ông không có tài liệu nào từ các cơ quan hành chính của Đông Dương mà có thể xác nhận được anh ta, nhưng anh ta can thiệp vào chính trị của chúng tôi, tham gia trong các nhóm chính trị, diễn thuyết trong các cuộc hội tụ cách mạng, và chúng tôi thậm chí không biết trong sự hiện diện của ai mà chúng tôi có mặt! Tin tức mà anh ta cung cấp, rõ ràng là giả tạo.

Thực ra, ông Guesde nói, sau những nỗ lực mệt nhoài chính quyền có chứng cứ rõ ràng rằng Quốc thực sự là Nguyễn Tất Thành, “một kẻ khích động nguy hiểm” đã tham gia vào những cuộc biểu tình ở An Nam vào năm 1908.37

* * *

Trong hơn một thế hệ, phong trào xã hội chủ nghĩa ở Pháp đã được hình thành bởi những nhà tư tưởng tiến bộ của nhiều màu sắc khác nhau: những người theo chủ nghĩa tích cực của cách mạng Auguste Blanqui thuộc thế kỷ 19, ủng hộ cuộc nổi dậy cấp tốc và bỏ qua vấn đề về xây dựng một xã hội tương lai; những nhà cải cách, theo đường tiến hóa của Eduard Bernstein và Đệ nhị Quốc tế; những nhà cấp tiến lý thuyết, truy tìm những nguồn gốc của họ đến cuộc Cách mạng Pháp hơn là đến tư tưởng Karl Marx; và những nhà lãnh đạo công đoàn, tiến hành cuộc đấu tranh giai cấp chống lại các đội trưởng kỷ nghệ nhưng đã ít dùng đến ý thức hệ. Thế Chiến thứ I giáng một đòn chí tử vào bất cứ điều gì kéo dài mức độ quyền lợi chung đã tồn tại trước đó trong phạm vi nhóm hổn tạp này, và khi Lenin đưa ra thách thức của mình đến những người theo xã hội chủ nghĩa ở khắp mọi nơi để đi theo ông ta trong một cuộc thánh chiến chống lại chủ nghĩa tư bản, ông ta bắt buộc những đảng viên để phải chọn lấy bên.

Tại hội nghị Đảng Xã hội Pháp được tổ chức ở Strasbourg vào tháng Hai năm 1920, một cuộc thảo luận quan trọng đã diễn ra về việc liệu có nên theo Đệ nhị Quốc tế tương đối ôn hòa hoặc Đệ tam Quốc tế mới của Lenin, Quốc tế Cộng sản (Comintern). Nguyễn Ái Quốc đã có mặt, nhưng không tham gia trong cuộc tranh luận.

p71

Được đặt vào một cuộc bỏ phiếu, nhóm đa số mạnh mẽ muốn rời khỏi Đệ nhị Quốc tế, nhưng nhóm đa số tương đối bày tỏ sự phản đối gia nhập Quốc tế Cộng sản. Cho đến bây giờ, phe cánh trái người Pháp chưa sẵn sàng chọn lựa.

Trong suốt những tháng sau, cuộc tranh luận về đường hướng tương lai của phong trào xã hội chủ nghĩa càng sôi nổi hơn. Mùa hè năm đó, hai thành viên nổi bật của đảng, Marcel Cachin và Tổng thư ký Louis Frossard, tham dự Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ hai ở Moscow, đã chấp thuận tác phẩm “Những luận thuyết về các vấn đề quốc gia và thuộc địa” của Lenin. Trên đường trở về Pháp, họ triệu tập một cuộc biểu tình khổng lồ  vào ngày 13 tháng Tám để thảo luận về kết quả của Đại hội. Trong số 30.000 người nhét chật những khoảng đất của gánh xiếc Paris trong những vùng ngoại ô phía tây thành phố, là Nguyễn Ái Quốc. Anh ta nghe Marcel Cachin nói một cách mạnh mẽ trong sự ủng hộ trung thành với Quốc tế Cộng sản mới của Lenin, tuyên bố rằng chính một mình nó sẽ giải thoát các dân tộc nô lệ của thế giới và đưa cuộc đấu tranh đến trái tim của chủ nghĩa đế quốc toàn cầu.38

Những lời như vậy chắc chắn chào đón Nguyễn Ái Quốc, mặc dù anh ta có thể đã bị thất vọng rằng điều kiện thứ tám của Lenin về việc gia nhập Quốc tế cộng sản mới –kêu gọi những đảng Cộng sản ở các nước đế quốc tiến hành một cuộc đấu tranh tích cực chống lại những chính sách đế quốc của chính phủ riêng họ– ít được chú ý tại cuộc họp. Anh ta có lẽ phấn khởi hơn trong tháng Chín, tuy nhiên, khi nghe tin gần đây về Hội nghị của các Dân tộc Đông phương được tổ chức ở Baku, nơi Platovich, một diễn giả đại diện cho Quốc tế cộng sản, đã kêu gọi một cuộc đấu tranh tích cực để giải thoát các dân tộc bị áp bức của châu Á.39

Đảng Xã hội Pháp đã lên kế hoạch một hội nghị quốc gia diễn ra tại Tours vào cuối tháng Mười Hai để quyết định về liên kết có thể xảy ra với Quốc tế cộng sản của Lenin. Trong những tháng đưa đến Đại hội, Nguyễn Ái Quốc đã tham dự tất cả các phiên họp cấp huyện và nghe tất cả những đối chất trên cả hai mặt của vấn đề. Có ba phe phái trong đảng, với những người thuộc phe ôn hòa và thuộc phe cấp tiến ở mỗi thái cực và một nhóm được xác nhận với Jean Longuet ở giữa. Nguyễn Ái Quốc đã rất hiếm đóng góp vào những cuộc tranh luận. Khi anh ta làm, luôn luôn phàn nàn về việc thiếu chú ý đến câu hỏi về vấn đề thuộc địa. Có một lần, theo lời tường thuật  riêng của mình, anh ta kêu gọi sự thống nhất về mục đích trong sự theo đuổi một sự nghiệp chung:

Các bạn thân mến, tất cả các bạn là những người xã hội chủ nghĩa tốt. Các bạn muốn giải phóng giai cấp công nhân. Vâng, cho dù đó là Đệ nhị Quốc tế, Quốc tế thứ hai và một rưởi, hoặc Đệ tam Quốc tế, tất cả đi xuống cùng một điểm. Chúng không là tất cả các cuộc cách mạng sao? Chúng không đấu tranh ủng hộ chủ nghĩa xã hội sao? Giả như các bạn thích nhóm nầy hơn hoặc nhóm khác, trong bất kỳ trường hợp nào các bạn phải đoàn kết. Vì vậy, tại sao tất cả là cuộc tranh cãi?

p72

         Trong khi các bạn dành nhiều thời gian tranh luận, những đồng chí, đồng bào của tôi đang đau khổ và chết dần.

Khi những sự lựa chọn cho những đại diện Đại hội được thực hiện, anh ta xoay trở để được mời là đại diện của một nhóm nhỏ của những đảng viên từ Đông Dương.40

Đại hội mở ra vào ngày 25 tháng Mười Hai, 1920, trong một trường học lớn dạy cưỡi ngựa bên cạnh Nhà thờ St. Julian trên bờ phía nam của sông Loire. Hội trường như hang động được trang trí bằng những chân dung của con ngựa trận xã hội chủ nghĩa, Jean Jaurès và những biểu ngữ công bố sự thống nhất của giai cấp công nhân khắp thế giới. Diễn đàn của những diễn giả ở phía trước hội trường gồm có một bàn tạm thời được làm bằng những tấm ván trải dài trên giá cưa. 285 đại biểu và những vị khách đủ loại khác nhau –đại diện cho hơn 178.000 thành viên trong cả nước– được dành ghế ở những cái bàn dài bằng gỗ sắp xếp theo phe phái chính trị của họ. Nguyễn Ái Quốc được ngồi với phe cánh tả, dẫn đầu bởi Marcel Cachin hung hăng.

Cuộc tranh luận bắt đầu ngày hôm đó, với quyết định về việc có nên gia nhập Quốc tế cộng sản, chủ đề chính trong chương trình nghị sự. Khi đó, một người Á châu duy nhất, mặc một bộ đồ đen có nhiều số cỡ quá lớn cho dáng mảnh mai của mình, Nguyễn Ái Quốc. ắt hẵn dường như bị lạt trong số hàng trăm người Âu châu có râu quai nón. Thật vậy, không mất nhiều thời gian cho anh ta để tạo ra một chấn động tại Đại hội. Vào ngày đầu tiên, một nhiếp ảnh gia chụp hình anh ta, và bức ảnh được in trong ấn hành ngày hôm sau của tờ báo thuộc dân thủ đô Paris Le Matin (i.e Buổi sáng). Được báo động về sự hiện diện của anh ta, cảnh sát xuất hiện ngay lập tức với lệnh bắt giữ, nhưng nhiều người trong số những đại biểu đã tập trung xung quanh và ngăn cản họ bắt giữ anh ta. Cuối cùng, cảnh sát đành bỏ mọi nỗ lực.41

Nguyễn Ái Quốc đứng lên nói chuyện vào cùng một ngày hôm đó. Anh ta nói trong mười hai phút mà không cần dùng đến những giấy ghi chú. Anh ta đi thẳng vào vấn đề, chỉ trích các chính sách thực dân Pháp cho sự đàn áp và bóc lột đồng bào của mình. Bất cứ ai phản đối, anh ta nói, thì bị bắt, và những nhà tù còn nhiều hơn trường học và luôn luôn chật cứng những người bị giam giữ. Người dân không có quyền tự do ngôn luận hoặc quyền đi lại. Họ bị cưỡng bức phải hút thuốc phiện và uống rượu vì lợi nhuận của chính phủ Pháp mà đánh thuế cả hai sản phẩm. Những người Pháp theo xã hội chủ nghĩa, anh ta nói, phải có hành động để hỗ trợ các dân tộc thuộc địa bị áp bức.

Tại thời điểm này, Nguyễn Ái Quốc bị gián đoạn bởi Jean Longuet. Nhà lãnh đạo xã hội chủ nghĩa phản đối rằng ông ta đã từng lên tiếng ủng hộ những người dân địa phương. “Tôi đã áp đặt chế độ độc tài của sự im lặng,” anh Quốc trả lời theo một hài kịch về khái niệm của Marx qua chế độ độc tài của giai cấp vô sản,

p73

và thêm rằng đảng phải thúc đẩy tích cực việc tuyên truyền xã hội chủ nghĩa ở tất cả các nước thuộc địa. Anh ta nói rằng một quyết định gia nhập Quốc tế cộng sản sẽ khẳng định rằng đảng đã ước tính một cách chính xác tầm quan trọng về vấn đề thuộc địa. Anh ta đã kết thúc với một lời kêu gọi: “Nhân danh tất cả nhân loại, nhân danh tất cả những ngưởi theo xã hội chủ nghĩa của phe phải và trái, chúng tôi kêu gọi các bạn, những đồng chí, hãy cứu chúng tôi!”

Sau khi Nguyễn Ái Quốc kết luận bài phát biểu của mình, Jean Longuet chiếm sàn diễn một lần nữa và khẳng định lại rằng ông ta đã từng công khai ủng hộ sự nghiệp Việt Nam ở Quốc hội và nói rằng vấn đề đang được tranh luận trong hội đồng đó. Tuy nhiên, Paul Vaillant-Couturier, một ngôi sao đang lên trong phong trào cấp tiến và một trong những người ủng hộ lớn giọng nhất của Nguyễn Ái Quốc, vặn lại rằng điều gì cần thiết bây giờ không chỉ đơn giản là cuộc tranh luận quốc hội, nhưng là hành động do Đại hội đại diện cho các dân tộc bị áp bức.42

Vào lần thứ 27, Marcel Cachin chính thức đề nghị Đảng Xã hội Pháp chấp nhận những điều kiện của Lenin để gia nhập Quốc tế cộng sản, và Nguyễn Ái Quốc đã nói trong hỗ trợ vận động. Hai ngày sau đó, cuộc vận động tiến hành bởi đa số hơn 70% những đại biểu. Những đại biểu khác, những người phản đối nhập vào Quốc tế cộng sản, xông ra khỏi hội trường để phản đối. Những người còn lại bỏ phiếu ly khai Đảng Xã hội Pháp và thành lập Đảng Cộng sản Pháp mới (FCP : French Communist Party). Tuy nhiên, không có thảo luận nào đi xa hơn về vấn đề thuộc địa và nhóm giữ vai trò lãnh đạo đã bác bỏ đề nghị, một cách chắc chắn, được thúc đẩy bởi Nguyễn Ái Quốc, nhằm tuyên bố công khai về sự hỗ trợ các dân tộc thuộc địa.43

* * *

Tại Đại hội Tours, Nguyễn Ái Quốc đã giao cho những cộng sự viên của mình một thông báo rằng anh quyết tâm trở thành một người ủng hộ thẳng thắn về sự chú ý lớn hơn đối với nhu cầu của các dân tộc thuộc địa như là một thành phần quan trọng của cuộc đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản. Anh ta đã chứng minh trong những phê phán về cả hai mặt công và tư nhân rằng anh ta quan tâm không chỉ đơn giản về sự thành công của cuộc cách mạng thế giới, mà còn về số phận của đất nước của anh ta. Tinh thần đó được phản ảnh trong một chú thích cho một người quen của anh ta vào thời điểm đó: “Tôi đã không có may mắn để theo những khóa học tại trường đại học. Nhưng cuộc sống đã cho tôi một cơ hội để nghiên cứu lịch sử, khoa học xã hội, và ngay cả khoa học quân sự. Người ta yêu thương điều gì? Người ta thù ghét điều gì? Đối với chúng ta người Việt, nó là cần thiết để yêu độc lập, làm việc, và quê hương.”44

Nhưng đã không mất nhiều thời gian cho anh ta dần dần tan vỡ ảo tưởng trong hy vọng rằng tất cả những thành viên của đảng phái mới sẽ làm theo dẫn dắt của anh ta. Trong tháng Hai năm 1921, anh ta bị bệnh và trải một số thời gian trong bệnh viện. Sau khi trở lại, anh ta đã viết một bài báo có tựa đề “Indochine” (i.e. Đông Dương) cho tờ Tạp chí Cộng sản (La Revue Communiste),

p74

được xuất bản trong tháng Tư. Trong bài viết, anh ta chỉ trích một số thành viên của Đảng Cộng sản Pháp vì không đủ chú ý đến những vấn đề của việc thúc đẩy cuộc cách mạng ở các thuộc địa và vì không nghiên cứu vấn đề theo một cách có hệ thống. Anh ta lập luận rằng mặc dù Pháp đã cố gắng để tiêu diệt tinh thần của nhân dân Đông Dương, các dân tộc Đông Dương không chết, và thực sự “các dân tộc Đông Dương vẫn sống và sẽ sống mãi mãi” –hầu như không một biểu hiện của chủ nghĩa quốc tế vô sản Marxist. Bài viết đã chứng minh rõ ràng rằng anh ta đã bỏ rơi hy vọng rằng sự thay đổi có thể được mang lại không có bạo lực. Trong khi thừa nhận rằng Đông Dương thì chưa chín muồi cho cuộc cách mạng –chủ yếu bởi vì người dân thiếu giáo dục và không có tự do ngôn luận hay hành động –anh ta cho rằng, dưới mặt nạ của sự vâng phục thụ động “có cái gì đó đang sủi bọt và ầm ầm và sẽ, ở thời điểm thích hợp, bùng nổ một cách ghê gớm.” Tùy thuộc vào tầng lớp ưu tú, anh ta lập luận, đẩy nhanh thời điểm đó. “Chế độ độc tài của chủ nghĩa tư bản”, anh ta kết luận, “đã chuẩn bị địa hình; chủ nghĩa xã hội chỉ gieo những hạt giống của sự giải phóng.”45

Trong một bài báo thứ hai với tựu đề giống nhau trong tháng Năm, Nguyễn Ái Quốc đã thảo luận câu hỏi về hoặc giả chủ nghĩa cộng sản có thể được áp dụng ở châu Á nói chung, và ở Đông Dương nói riêng. Đây là một vấn đề thích hợp riêng biệt, bởi vì tại thời điểm đó hầu hết những người cấp tiến Âu châu vẫn tin rằng, trong hầu hết những quốc gia “lạc hậu” cuộc cách mạng sẽ bị trì hoãn lâu dài. Ngay cả khi Joseph Stalin, trong một bài báo được xuất bản trên tờ Pravda cùng một tháng, đã nói rằng những quốc gia tiên tiến, sau khi giải phóng bản thân, có nhiệm vụ giải phóng những dân tộc lạc hậu.”

Trong bài viết của mình, Nguyễn Ái Quốc đã đưa vấn đề với những quan điểm như vậy, và lập luận rằng chủ nghĩa Marx và Lenin về giáo lý và chiến lược có liên quan hiện thực ở châu Á cũng như ở phương Tây. Tại Nhật Bản, anh ta đã chỉ ra, những quốc gia Á châu đầu tiên trở thành tư bản chủ nghĩa, một đảng xã hội chủ nghĩa đã được hình thành. Trung Quốc, vẫn còn chịu cảnh nô lệ của thủ đô Âu châu và Mỹ, chỉ vừa mới thức tỉnh, và một chính phủ cách mạng mới được dẫn dắt bởi nhà lãnh đạo phiến quân Sun Yat-sen (i.e. Tôn Dật Tiên) ở phía nam Trung Quốc đã hứa hẹn sinh ra “một Trung Quốc được tổ chức lại và vô sản hoá.” Có lẽ một ngày không xa, anh ta dự đoán, Nga và Trung Quốc sẽ hành quân cùng nhau. Còn như đối với những dân tộc đau khổ khác ở châu Á, Hàn Quốc vẫn còn ở lòng thương xót của thủ đô Nhật Bản, trong khi Ấn Độ và Đông Dương thì trong bàn tay của những người bóc lột Anh và tiếng Pháp.

Dự đoán của Nguyễn Ái Quốc về sự hợp tác trong tương lai của dân Nga và Trung Quốc chắc chắn là tiên tri. Đối với thời điểm này, anh ta đang bình luận về những sự kiện gần đây ở Trung Quốc, mà chúng đã khiến Tôn Dật Tiên thành lập một liên minh với một nhà lãnh đạo quân sự để thiết lập một chế độ cách mạng ở thành phố cảng phía nam của Canton (i.e. Quảng Châu).

p75

Ông Sun đã sống lưu vong trong nhiều năm, sau khi nhà lãnh đạo quân sự Yuan Shikai (i.e. Viên Thế Khải) hủy bỏ nỗ lực của những người theo ông Sun để xây dựng một Trung Quốc Tây hóa và nắm giữ sự kiểm soát trên dây cương của quyền lực chính mình. Sau cái chết của ông Khải vào năm 1916, Trung Quốc rơi vào sự rối loạn dân sự, với những tư lệnh quân đội nắm giữ kiểm soát của những phần khác nhau của đất nước.

Có những lý do lịch sử vững chắc, Nguyễn Ái Quốc lập luận, lý do tại sao chủ nghĩa cộng sản có thể thích nghi chính nó dễ dàng hơn ở châu Á so với châu Âu. Theo quan điểm của anh ta, dân Á châu, mặc dù được nhìn bởi người phương Tây như là lạc hậu, đã hiểu rõ hơn sự cần thiết cho một cuộc cải cách toàn bộ xã hội đương thời. Họ cũng nuôi dưỡng một sự cảm thông lịch sử cho ý tưởng về cộng đồng và bình đẳng xã hội. Trung Quốc cổ đại đã thực hành “lãnh vực bình đẳng” hệ thống (ở Trung Quốc, thành phố jingtian), phân chia tất cả đất nông nghiệp thành những phần bằng nhau và để riêng ra một mảnh đất tách biệt cho sở hữu chung. Hơn 4.000 năm trước đây, triều đại nhà Hạ đã khai trương việc thực hành về lao động bắt buộc. Vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, nhà triết gia vĩ đại Khổng Tử (Confusius) đã dự kiến ​​Quốc tế Cộng sản rao giảng giáo lý về sự bình đẳng, về tài sản. Thế giới hòa bình, Bậc thầy đã từng dự đoán, sẽ không đến cho đến khi thành lập một nước cộng hòa toàn vũ (universal republic). “Bạn không cần phải sợ hãi vì có ít,” ông ta rao giảng, “Nhưng không có sự phân phối bình đẳng về hàng hoá.” Đệ tử của Khổng Tử, Mạnh Tử (Mencisus) vẫn tiếp tục theo học thuyết của Bậc thầy, xây dựng một kế hoạch chi tiết cho việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ. Đáp lại cho câu hỏi về chủ quyền của mình, Mạnh Tử nói rằng những nhu cầu của người dân đến đầu tiên, của quốc gia tiếp theo, trong khi của vua đến cuối cùng.

Những truyền thống như vậy, anh Quốc khẳng định, tiếp tục ảnh hưởng đến những xã hội Á châu. Luật pháp Việt Nam, thí dụ, đặt những giới hạn về việc bán và mua đất, và một phần tư của tất cả những đất ruộng đã được dành riêng như là tài sản công xã (i.e tài sản chung). Vì vậy, anh ta kết luận, vào ngày khi hàng triệu người Á châu bị áp bức thức dậy, họ sẽ tạo thành một lực lượng khổng lồ có khả năng lật đổ chủ nghĩa đế quốc, họ sẽ hỗ trợ anh em của họ ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn từ bóc lột của tư bản chủ nghĩa. Châu Á sẽ đóng một vai trò tích cực trong việc thực hiện cách mạng thế giới.46

Nguyễn Ái Quốc cũng đã dùng bút của mình để đâm thủng huyền thoại vĩ đại của nền văn minh Pháp. Trong một bài báo được viết vào tháng Chín có tựa đề “Nền văn minh vĩ đại” (La civilisation supérieure), anh ta đã nhạo báng tam đoản luận của cách mạng Pháp về tự do, bình đẳng, và tình huynh đệ, trích dẫn những thí dụ cụ thể về sự tàn ác của Pháp như được kể lại trong cuốn nhật ký của một người lính Pháp. Trong một đoạn ngắn được xuất bản vào tháng Mười ở tờ Tự do Chủ nghĩa (Le Libertaire), anh ta kể lại một thí dụ cá nhân mà anh đã chứng kiến ​​như là một học sinh tại Học viện Quốc gia ở Huế vào năm 1908, nơi một học sinh cùng trường bị làm nhục một cách tàn nhẫn bởi một trong những giảng viên Pháp của người đó. Điều này đã xảy ra, anh ta nhận xét mỉa mai,

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Anh Thành phải thức dậy lúc 4 giờ sáng và làm nhiều việc nặng nhọc mãi đến 9 giờ tối.
Mỗi ngày phải chịu đựng 14 tiếng làm việc nhưng dành ra 2 tiếng ngủ để học hoặc viết, chỉ còn lại 4 tiếng để nghĩ dưỡng sức.

pc 02_ Cao ủy Cư trú : Résident Supérieur.
pc 03_ Toàn quyền Đông Dương : Governor-General of Indochina.
pc 04_ Sun Yat-sen : Tôn Dật Tiên
pc 05_ Ku Klux Klan (KKK hoặc Klan) : Những tổ chức ở miền Nam Hoa Kỳ, từ thập kỷ 1860s, gồm những phần tử người da trắng cực đoan trong ba dòng thác hoạt động: quyền tối cao của qân da trắng, chủ nghĩa dân tộc da trắng, và chống di dân. Mục tiêu chính của KKK là người da đen, bị khủng bố bằng bạo lực nhưng kể từ giữa thế kỷ 20, KKK cũng chống lại cộng sản. Theo ước tính có khoảng 3.000 đến 5.000 thành viên vào năm 2012.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s