III- Nhà Cách Mạng Tập Sự (Phần 1)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p87

III-NHÀ CÁCH MẠNG TẬP SỰ

Vào cuối hè năm 1923, Liên Xô vẫn đang phục hồi từ gần bảy năm chiến tranh, cách mạng, và xung đột dân sự cay đắng. Bên ngoài thành phố Petrograd, Moscow, và một số ít thành phố lớn khác trong những khu vực Âu châu của Nga, Cách mạng Tháng Mười đã từng là, trong những lời nói đáng nhớ của Leon Trotsky, một “cuộc cách mạng bằng điện tín.” Trong những làng nông thôn và thị trấn buôn bán nằm rải rác đế chế Nga rộng lớn, những người Bolshevik của Lenin –lên đến chỉ khoảng 50.000 ở thời điểm của cuộc khởi nghĩa– có hỗ trợ ít ỏi từ hàng triệu nông dân Nga, những người có ít sự hiểu biết về những ý tưởng của Karl Marx và thậm chí ít quan tâm đến số phận của cách mạng thế giới.

Ban đầu, vai trò lãnh đạo cách mạng mới đã cố gắng thiết lập tính hợp pháp của nó bằng cách công bố lễ nhậm chức của chính phủ mới qua những bức điện thư đến tất cả những đơn vị nhà nước. Nhưng nhanh chóng trở thành bằng chứng rằng sẽ mất nhiều hơn một mảnh giấy để mở rộng quyền lực cách mạng đến những dãy đất rộng, xa của đế chế Sa hoàng xưa. Trong vòng vài tuần xông vào Cung điện Mùa Đông vào tháng 10 năm 1917 (theo lịch Nga), lực lượng đối lập bắt đầu xuất hiện: những phần tử Bạch Vệ trung thành với Nga hoàng Nicholas II và hệ thống quân chủ xưa; lực lượng dân tộc giữa các nhóm thuộc tộc dọc theo những rìa của đế chế xưa, từ Ukraine đến Trung Á; và thậm chí cả quân đội nước ngoài đóng tại Nga để hỗ trợ trong cuộc chiến chống lại Đức.

Chính phủ Bolshevik vội vàng huy động nhân lực từ trong số những công nhân và nông dân nghèo để xây dựng Hồng quân; sau ba năm chiến đấu đẫm máu, cuối cùng có thể để đè bẹp lực lượng phản cách mạng và thiết lập quyền lực chặt chẽ trên nhà nước Xô viết mới. Tuy nhiên, trong quá trình này, nó đã xa lánh yếu tố quan trọng trong xã hội Nga, bao gồm cả nông dân những người mà những thu hoạch của họ bị trưng dụng do nhà nước để nuôi binh lính Hồng quân và dân cư làm việc trong thành phố, những thành viên của những nhóm thuộc tộc không-Nga mà những nhà lãnh đạo của họ bị đánh bại và bị đuổi bắt một cách tàn bạo giảm bởi lực lượng an ninh Liên Xô,

p88

Dzerzhinsky, được gọi thân mật là Cheka (Chrezvychainyi Komitet, hoặc Ủy ban Đặc nhiệm).

Khi quốc gia cố gắng phục hồi từ cuộc Nội chiến, Lenin miễn cưỡng nhìn nhận rằng nước Liên Xô cần phải đi qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa của riêng nó trước khi bắt đầu quá trình chuyển đổi khó khăn đến chủ nghĩa xã hội. Năm 1921, ông ta đã thúc đẩy để cuối cùng một chương trình ôn hòa về phát triển kinh tế và xã hội được biết đến như là Chính sách Kinh tế Mới, hoặc NEP (New Economic Policy). Những yếu tố chính trong chương trình là sử dụng sự kết hợp của tư bản và chủ nghĩa xã hội, và kỹ thuật để tăng sản xuất, trong khi đồng thời thúc đẩy các khái niệm về quyền sở hữu xã hội chủ nghĩa và duy trì kiểm soát Đảng vững chắc trong hệ thống chính trị. Ngành công nghiệp chính và ngành phục vụ công cộng và những ngân hàng vẫn nằm trong tay của nhà nước, nhưng doanh nghiệp tư nhân hoạt động ở các cấp thấp hơn. Việc trưng dụng cưỡng bức về ngũ cốc, vốn đã gây ra tình trạng bất ổn nghiêm trọng ở những vùng nông thôn, được thay thế bằng thuế trên sản xuất. Đất vẫn còn trong tay tư nhân.

Những ngày đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc trong thiên đường mới của xã hội chủ nghĩa mà anh ta đã rất nhiệt tình mô tả trong những bài báo được viết ở Pháp, ắt hẵn là một cái gì gây nên kích thích. Sau khi lên bờ từ con tàu Karl Liebknecht neo bến ở Petrograd, anh ta đã bị thẩm vấn bởi một nhân viên di trú trẻ đa nghi. Thiếu giấy tờ chính thức ngoại trừ sổ thông hành đứng tên một thương gia Trung Quốc giả mạo, mà đã được phê duyệt bởi toà lãnh sự Liên Xô tại Berlin, và không có liên lạc cá nhân nào trong thành phố, anh ta đã bị giam giữ trong nhiều tuần “trong một bầu không khí căng thẳng” cho đến khi danh tính của mình cuối cùng đã được xác nhận bởi một đại diện của Đảng Cộng sản Pháp đóng tại Moscow. Anh ta sau đó được cho phép để du lịch và tiếp tục đến Moscow bằng xe lửa vào cuối tháng Bảy. Sau khi được cấp chỗ ở tạm thời trong một khách sạn gần điện Kremlin, anh ta ta được phân công làm việc ở Cục Viễn Đông (Byuro Dalnego Vostoka, hoặc Dalburo cho ngắn) tại trụ sở Quốc tế cộng sản, nằm đối diện với Bảo tàng Rumyantsev (nay là Thư viện Lenin).1

Cục Viễn Đông (Dalburo) đã được tạo ra như là kết quả của nghị quyết tại Đại hội lần Thứ hai của Quốc tế cộng sản vào năm 1920 được nêu lên bởi Maring (tên thật là Hendrik Sneevliet), một đại biểu quốc tịch Hà Lan, người sau này đạt được sự nổi bật như là một cố vấn cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Một người có niềm tin mạnh mẽ vào tầm quan trọng của những khu vực thuộc địa đối với tương lai của cách mạng thế giới, Maring đã đưa ra đề nghị về sự thành lập những cơ quan tuyên truyền cho Trung Đông và Viễn Đông, cũng như việc khai mở Viện Mác-xít ở Moscow để cung cấp sự đào tạo cho những lãnh đạo cách mạng tiềm năng Á châu. Với những luận thuyết của Lenin sắp được chấp thuận, những đề nghị của Maring cũng đã được chấp thuận, và tháng Sáu sau, tại một cuộc họp của Ủy ban Điều hành Quốc tế cộng sản,

p89

Cục Viễn Đông (Dalburo) được thành lập dưới sự điều khiển của G. Safarov học giả Đông Phương người Nga.2

Trong những tháng sau đó, những lãnh đạo Quốc tế cộng sản thực hiện một số bước khác để thúc đẩy việc thành lập phong trào cách mạng ở châu Á và châu Phi. Tất cả những đảng Cộng sản ở Tây Âu đã được hướng dẫn để thiết lập những ủy ban thuộc địa để đánh giá tình hình và hỗ trợ cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức ở những thuộc địa riêng của họ (do đó Ủy ban nghiên cứu thuộc địa đã được thành lập tại Pháp). Trong khi đó, kế hoạch được khởi xướng thành lập các viện đào tạo ở Liên Xô để thấm nhuần ý thức hệ những người cấp tiến từ châu Á và châu Phi và chuẩn bị cho họ trở về nước mình để thực hiện những hoạt động cách mạng.

Lúc đó, Quốc tế cộng sản đã bắt đầu tham gia vào một số hoạt động sơ bộ ở Đông Á. Vào mùa xuân năm 1920, mật vụ Quốc tế cộng sản Grigory Voitinsky được gửi đến Trung Quốc để liên lạc với những nhóm cách mạng Trung Quốc. Những mật vụ khác có trụ sở ở Vladivostok đi đến tận Thượng Hải, Sài Gòn, và Singapore thiết lập liên lạc với những phần tử cấp tiến và hỗ trợ họ trong việc thực hiện các hoạt động cách mạng. Vào tháng Mười Một, hai người Nga đã đến Sài Gòn được báo cáo bị trục xuất vì nghi ngờ tiến hành những hoạt động.3

Với sự tinh tế đặc trưng hiện nay của mình tạo nên ấn tượng, Nguyễn Ái Quốc đã không bỏ phí thời gian trong việc cho người ta cảm thấy sự hiện diện của mình. Ngay sau khi đến Moscow, anh ta viết một lá thư cho Ủy ban Trung ương của Đảng Cộng sản Pháp, chỉ trích những cộng sự viên của mình về việc bỏ qua các quyết định của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần Thứ tư nhằm mở rộng những hoạt động của họ về các vấn đề thuộc địa. Trong khi thừa nhận rằng Đảng Cộng sản Pháp thoạt đầu đã đáp ứng với mệnh lệnh của Quốc tế cộng sản bằng cách tạo ra Ủy ban Nghiên cứu Thuộc địa cũng cột bình luận thường lệ về vấn đề thuộc địa trên tạp chí Đảng L’Humanité(i.e. Nhân Loại), anh ta phàn nàn rằng trong những tháng gần đây, cột bình luận đã bị hủy bỏ và trong sự vắng mặt của mình, ủy ban hầu như hấp hối. “Những tuyên ngôn được ban hành tại Đại hội quốc gia ủng hộ của các dân tộc thuộc địa đã giúp củng cố sự đồng cảm của họ với Đảng”, anh ta chỉ ra, nhưng “nó không phải là hợp lý để liên tục lặp lại điều tương tự trong khi không làm gì.” Những dân tộc thuộc địa, nhìn thấy nhiều lời hứa với tối thiểu về thực hiện, sẽ bắt đầu hỏi liệu những người Cộng sản thì nghiêm túc hoặc chỉ giả vờ. Anh ta kết luận lá thư bằng cách nhắc nhở người nhận rằng một trong những một điều kiện chủ yếu để gia nhập Quốc tế cộng sản là tiến hành khích động có hệ thống nhằm hỗ trợ công cuộc giải phóng của dân tộc thuộc địa.4

Anh Quốc cũng viết một báo cáo cho Đoàn Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, trình bày chi tiết ý tưởng mình về việc làm thế nào để thúc đẩy cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương. Như anh ta mô tả nó, tình hình hầu như không hứa hẹn. Bắc Bộ và Nam Bộ đã bị kiểm soát trực tiếp bởi Pháp,

p90

trong khi An Nam, vẫn còn trên danh nghĩa thuộc thẩm quyền của triều đình, trên thực tế cũng chịu sự thống trị thuộc địa. Giai cấp vô sản thành thị tiêu biểu chỉ có 2% tổng dân số và chưa được tổ chức. Có một tầng lớp trung lưu nhỏ, sống chủ yếu ở những thành phố lớn của Hà Nội và Sài Gòn và ở những thủ phủ rải rác trong cả nước; tuy nhiên, họ bị chi phối về mặt kinh tế bởi nước ngoài Trung Quốc. Giai cấp tư sản nhỏ nhoi, bao gồm những thương gia nhỏ, nhân viên văn phòng, công chức thấp của chính phủ, và thợ thủ công, thí ít về số lượng và thiếu quyết đoán trong quan điểm chính trị của họ, mặc dù họ thực sự có khuynh hướng hỗ trợ nguyên nhân của sự độc lập dân tộc. Những người nông dân bị áp bức dữ dội, và nếu được tổ chức, sẽ có một tiềm năng cách mạng mãnh liệt. Tuy nhiên nguồn lực chính cho sách lượt hoạt động chính trị là trí thức và học giả quan chức yêu nước. Đó chính là họ, anh ta nói, những người đã kích thích tất cả những cuộc khởi nghĩa trong quá khứ. Nhu cầu cấp bách do đó là thành lập sự hoạt động liên kết giữa những người yêu nước “cách mạng quốc gia” như thế và đảng Cộng sản.5

* * *

Những khuyến nghị của Nguyễn Ái Quốc là chủ nghĩa Lenin nguyên thủy, như được phản ảnh trong đảng Cộng sản “Những Luận thuyết về những Vấn đề Quốc gia và Thuộc địa” Tuy nhiên đối với nhà nước liên bang hiện thời ở Moscow, nơi mà sự chú ý về những khu vực thuộc địa đã giảm một cách đáng kể từ những ngày nẩy lửa của Đại hội Quốc tế Cộng sản lần Thứ hai, khiến người ta nghi ngờ rằng những ý tưởng của anh ta thu hút nhiều sự quan tâm trong số các cấp trên của mình. Tuy nhiên, những quan chức Liên Xô có ảnh hưởng đã dần dần trở nên có nhận thức về nhà cách mạng trẻ tuổi đầy tham vọng từ Đông Dương, và trong ánh sáng của thực tế anh ta là một trong số ít người Cộng sản Á châu, lúc đó đang sống ở Moscow; về những ích lợi cho cách mạng mà chính anh ta có thể được dùng đến. Trong suốt mùa hè năm 1923 có một sự xôn xao về điều quan tâm trong khái niệm của Lenin về một chính phủ công nhân và nông dân trong những xã hội vẫn chưa từng qua cuộc Cách mạng Kỷ nghệ. Ở Prague, những phần tử thuộc phái dân túy (pc 03) đã thành lập một “Quốc tế Xanh” vào năm 1922 để khuyến khích sự hình thành của những đảng phái nông dân với những chương trình chính trị hiện đại, và một vài phần tử cấp tiến ở Đông Âu tin rằng rằng Quốc tế cộng sản phải bắt kịp với một tổ chức “quốc tế” tương tự để cạnh tranh với Quốc tế Xanh cho sự hỗ trợ của những nhóm nông dân trong khu vực. Nổi bật trong nỗ lực này là người Cộng sản Ba Lan, Thomas Dombal (còn gọi là Dabal), đã từng bị bắt giữ bởi chính phủ Ba Lan và được gửi đến Moscow vào mùa xuân năm 1923 trong một cuộc trao đổi những tù nhân với nước Liên Xô.

Thực tế cho biết rằng hầu hết những người Bolshevik, phản ảnh quan điểm của chủ nghĩa Marx Âu châu khác từ Karl Marx chia ra, đã luôn luôn nghi ngờ rằng

p91

nông dân là “tư sản” trong trái tim với cam kết của họ về khái niệm sở hữu tư nhân, một số quan chức Quốc tế cộng sản có nhiều hứng thú đến ý tưởng của Dombal, nhưng họ đồng ý để thời gian thúc đẩy họ. Trong sự chuẩn bị cho việc tổ chức một hội nghị, họ lợi dụng cuộc triển lãm nông nghiệp quốc tế đã mở ra ở Moscow vào tháng Tám, và quyết định lướt qua hội trường tìm những người nước ngoài có sự quan tâm về nông thôn, những người có thể được tuyển chọn để làm những đại biểu cho một hội nghị như thế. Nguyễn Ái Quốc, người dường như quan tâm đến  mọi thứ đang diễn ra ở Moscow, đã từng tham dự cuộc triển lãm khi nó được mở lần đầu tiên vào tháng Tám, và có thể dự đoán anh ta sẽ được chọn là một đại biểu đại diện cho Đông Dương đến Hội nghị Nông dân Quốc tế, mà nó được triệu tập ở Moscow vào tháng Mười Mười năm 1923. Anh ta đã từng báo hiệu điểm của mình về vai trò của giai cấp nông dân trong báo cáo của mình cho Ủy ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, khi anh ta nhận xét rằng vì họ đã bị bóc lột thật tồi tệ, họ thì “rất yêu nước.”6

Hội nghị được tổ chức trong Dinh thự Andreyevskiy, trong phạm vi những bức tường của điện Kremlin, và Nguyễn Ái Quốc thì trong hàng khán giả như là một trong hơn 150 đại biểu từ 40 quốc gia khác nhau. Mikhail Kalinin, một cái rìu nhọn của đảng mà gần đây đã được bổ nhiệm như là chủ tịch bù nhìn của Liên bang Nga, đã đưa ra bài phát biểu khai mạc, trong khi Grigory Zinoviev cựu chiến binh Bolshevik, sau nầy là người đứng đầu của Quốc tế cộng sản, trình bày vị trí chính thức của Đảng trên vai trò của những nông dân trong cuộc cách mạng thế giới.

Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết trước hội nghị vào ngày thứ mười ba. Bài phát biểu, được nói bằng tiếng Pháp bởi vì kiến ​​thức của anh ta về tiếng Nga vẫn chưa đầy đủ, không nhắc gì đến việc thực hiện có thể được một “chiến lược nông thôn” ở các khu vực thuộc địa, hoặc cũng không nhắc gì đến nhu cầu cho một vai trò cụ thể cho nông dân trong quá trình cách mạng ở châu Á, mà chỉ bày tỏ bằng những ngôn từ đơn giản và không màu mè về hoàn cảnh khó khăn của dân cư nông thôn trong nhiều xã hội thuộc địa Á châu, chỉ ra rằng nông dân là những nạn nhân tồi tệ nhất của sự áp bức bởi chủ nghĩa đế quốc trong khu vực. Comintern, anh Quốc khẳng định, sẽ trở thành Quốc tế Cộng sản chân chính chỉ khi nó bao gồm những đại diện của giai cấp nông dân Á châu như là những người tham gia tích cực.7

Vào cuối hội nghị, những người tổ chức đồng thành lập một Quốc tế Nông dân mới (trong tiếng Nga, Krestyanskii Internatsional, hoặc Krestintern tắt). Mục đích của nó là “thiết lập và duy trì quan hệ vững chắc với các hợp tác xã và những tổ chức kinh tế và chính trị của những nông dân của tất cả các nước,” và “phối hợp những tổ chức nông dân và những nỗ lực của những nông dân để thực hiện khẩu hiệu để xây dựng một “chính phủ” của giai cấp công nhân và nông dân.

p92

Hội đồng Nông dân Quốc tế cũng được tạo ra và Nguyễn Ái Quốc được chọn như là một trong mười một thành viên của Đoàn Chủ tịch của nó. Vị trí Tổng thư ký của một hội đồng lớn hơn chính nó đã được trao cho một quan chức Bolshevik nổi bật, Alexander P. Smirnov. Dormbal được bổ nhiệm là phụ tá của ông ta.8

* * *

Vào tháng 12 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu lấy những khóa học tại Đại học Cộng sản Toilers của Phương Đông. Được thành lập theo lệnh của Lenin vào năm 1921 như là một kết quả trong số quyết định được thực hiện ở Đại hội Quốc tế Cộng sản lần Thứ hai năm trước, ban đầu được đặt dưới pháp quyền của Dân ủy Nhân Dân Dân tộc (People’s Commissariat of Nationalities) của Joseph Stalin, và do đó đã trở thành phổ biến có danh hiệu ở nước ngoài như là “Trường Stalin” khiếp đảm. Dưới sự điều hành của Stalin, nó nhanh chóng trở thành học viện hàng đầu nhằm đào tạo những nhà cách mạng Á châu được mời đến Liên Xô để nghiên cứu, cũng như cán bộ xuất thân từ thuộc tộc không-Nga từ những vùng phía đông của đế chế Sa hoàng xưa. Một viện nghiên cứu thứ hai, Trường Lenin Quốc tế, được thành lập để cung cấp đào tạo cho những cán bộ tiên tiến từ những quốc gia Tây Âu.

Vào năm 1924 Nguyễn Ái Quốc xuất bản một bài viết ngắn trong tạp chí Pháp, Đời Sống Lao Động (La Vie Ouvrière), mô tả bản chất của nhà trường, và thông tin này, thêm vào tài liệu được thu thập bởi tình báo Pháp vào thời gian đó và sự hiểu biết uyên thâm gần đây bởi những nhà nghiên cứu Nga ở Moscow, cung cấp một bức tranh khá rõ ràng của trường học và những hoạt động của nó. Vào thời gian ấy, anh ta học ở đó, có hơn 1.000 học viên từ 62 quốc tịch khác nhau. Hầu hết những người ghi danh đó đến từ những khu vực Liên-Xô-chiếm-cứ ở Trung Á, nhưng cũng có một số người nước ngoài, bao gồm một vài người Trung Quốc và Hàn Quốc. Dường như không có học viên từ Đông Dương trước khi anh Quốc đến. Gần 900 học viên là thành viên của những đảng phái Cộng sản, và khoảng 150 là phụ nữ. Khoảng một nửa đến từ những gia đình nông dân, trong khi phần còn lại được phân chia giữa những công nhân và giới “trí thức vô sản.”

Có 10 giảng viên ở trường, dạy nhiều khóa khác nhau, bao gồm khoa học tự nhiên và xã hội, toán học, lịch sử cách mạng và phong trào công nhân, và lý thuyết của Marx về duy vật lịch sử. Sự giảng dạy không có qui định qua các bài giảng, nhưng qua việc sử dụng kỹ thuật Socrates, như là những học viên được giao các chủ đề cá nhân để được chuẩn bị với sự hỗ trợ của giảng viên và thảo luận trong lớp. Những sách giáo khoa bao gồm Nhà nước và Cách mạng” của Lênin, Cách mạng Tháng Mười và Chiến thuật của Chủ nghĩa Cộng sản Nga” của Stalin, và Lịch sử Nga: Một khóa Học ngắn” của I.M. Yaroslavskii. Trường được đặt trong mười tòa nhà, với trụ sở chính nằm trong một nữ tu viện xưa trên đường Tverskaya (nay là Gorkii),

p93

và những ký túc xá và nhà ăn nằm gần đó tại một tỉnh xưa của cảnh sát.9

Nhà trường được quản lý bằng kỷ luật quân sự nghiêm ngặt, và những học viên không chỉ tham gia những nghiên cứu trong lớp học mà còn được huấn luyện quân sự và đã được giảng dạy những hoạt động cách mạng hữu ích như làm thế nào để khích động đình công và lan rộng tuyên truyền. Những lớp học ban đầu được dạy bằng tiếng Pháp hoặc bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, nhưng sau đó học viên được yêu cầu ​​thông thạo tiếng Nga (một yêu cầu mà không phải luôn luôn đáp ứng). Chỗ ở miễn phí, nhưng tất cả học viên được yêu cầu ​​thay phiên làm những công việc hành chính khác nhau hoặc làm việc trong nhà bếp. Những chi bộ Đảng đã được thành lập giữa các thành viên đảng để theo dõi những hành vi của họ và đảm bảo sự chính thống tư tưởng hệ. Khi đến trường, mỗi học viên được đặt cho một tên giả, và danh tính thực sự của mình chỉ được biết đến bởi nhân viên an ninh tại trường.

Không phải tất cả chỉ là lao động. Năm học kéo dài từ tháng Chín đến đầu tháng Bảy, và bao gồm ba tuần nghỉ lễ Giáng sinh và một tuần vào mùa xuân. Một rạp chiếu phim có sẵn cho học viên hai ngày mỗi tuần, và hai trại nghĩ được thành lập ở vùng Crimea cho họ để tiến hành những hoạt động học-hành trong suốt mùa nghĩ hè. Một số được dạy chăn nuôi gia súc ở đó, trong khi số khác trồng trọt hàng trăm mẫu tây được giao nhằm cung cấp thực phẩm riêng dùng ở trại. Trong suốt kỳ nghỉ của họ, những học viên đã giúp những nông dân địa phương mang lại thu hoạch hoặc tham gia trong các dịch vụ cộng đồng khác. Tuy nhiên, nhiều người trong những số học viên, có lẽ không quen với cái lạnh cực kỳ của những mùa đông Nga, ngày càng bị bệnh, và một số đã bị cho đi vì lý do đó từ chương trình. Một học viên Việt Nam mắc phải bệnh lao và yêu cầu thuyên chuyển đến một thành phố trong phần phía nam của đất nước.

Như Nguyễn Ái Quốc mô tả trong bài viết của mình, trường học là một nơi thôn dã để nghiên cứu. Có hai thư viện có chứa hơn 47.000 cuốn sách, và mỗi dân tộc chính được đại diện ở trường sở hữu khu vực riêng với những cuốn sách và tạp chí định kỳ bằng ngôn ngữ dân tộc  mình. Những học viên thì “nghiêm túc và đầy nhiệt huyết”, và “nhiệt tình mong muốn tiếp thu kiến ​​thức và nghiên cứu.” Ban điều hành và những giảng viên đối xử những học viên nước ngoài “như anh em” và thậm chí mời họ “tham gia đời sống chính trị của đất nước.”10

Anh Quốc không hài lòng với tất cả những khía cạnh của trường. Ngay sau khi tham gia trong lễ kỷ niệm thứ ba của trường vào tháng 4 năm 1924, anh ta đã viết một bức thư cho Đồng chí Petrov, thư ký của Cục Dalburo (i.e. Cục Viễn Đông), phàn nàn rằng hầu như không có người Việt nào hiện diện và đề nghị rằng một phần thêm riêng biệt cho những học viên Á châu đáng lý ra nên được thành lập ở trường. Trường Stalin, anh ta chỉ ra,

p94

là khuôn mẫu mà có thể uốn nắn trí não thế hệ kế tiếp của cách mạng Á châu và sẽ trở thành nền tảng mà qua đó một người Cộng sản “liên bang” của phương Đông sẽ được tìm thấy sau cùng.11

Trường Stalin hoạt động trên hai cấp độ –một chương trình ba năm cơ bản về chủ nghĩa Marx-Lenin và khoa học, và một “khóa học ngắn hạn” bảy tháng cho học viên tạm thời. Nguyễn Ái Quốc lấy khóa ngắn hạn, có thể đoán là bởi vì anh ta cũng đang làm việc ở Comintern (Quốc tế Cộng sản) và không có ý định ở lại Moscow trong một khoảng kéo dài thời gian. Anh ta cũng tham gia vào một số tổ chức khác lúc gần đây được thành lập bởi nhà nước Xô viết, như là Lao động Quốc tế Đỏ, Quốc tế Thanh Niên, và Phụ nữ Quốc tế. Rõ ràng, bộ phận lãnh đạo Quốc tế Cộng sản xem anh ta như là một dân cư thuộc địa tiêu biểu của họ, chính là người có thể cung cấp một hình dáng châu Á đến vô số tổ chức mặt trận được hình thành trong suốt những ngày sôi sục. Vào đầu tháng 5 năm 1924, anh ta được mời tham gia lễ kỷ niệm May Day (Cấp Cứu) hàng năm và nói chuyện trên tinh thần đoàn kết công nhân quốc tế trong các lễ hội ở Quảng trường Đỏ. Hai tháng sau, anh ta tham gia vào Đại hội lần thứ ba của Quốc tế Lao động Đỏ như là một đại diện cho Đông Dương. Anh ta cũng tham dự Đại hội quốc tế của phụ nữ, nơi anh ta tiếp chuyện ngắn ngủi với bà quả phụ Lenin, Nadezhda Krupskaya.12

* * *

Thông qua vô số những hoạt động này, Nguyễn Ái Quốc dần dần nổi lên như là một người định cư nổi tiếng ở Moscow, và trở thành quen thuộc với những ngôi sao sáng quan trọng của phong trào Cộng sản quốc tế, như là Nikolai BukIiarin cựu chiến binh Bolshevik, Otto Kuusinen nhân vật Cộng sản Phần Lan, Bulgary Georgi Dimitrov nhà lãnh đạo Quốc tế cộng sản, và Ernst Thälmann, một thành viên hàng đầu của Đảng Cộng sản Đức. Anh ta cũng gặp một số đồng chí Trung Quốc đang học tập tại trường (bao gồm thủ tướng tương lai Zhou Enlai (i.e. Chu Ân Lai), người mà anh đã từng gặp mặt lần đầu tiên ở Paris), cũng như cố vấn quân sự trưởng của Sun Yat-sen (i.e Tôn Dật Tiên), Chiang Kai-shek (i.e. Tưởng Giới Thạch), những người đến thăm Moscow trong ba tháng vào cuối hè và thu năm 1923.

Nói chung, của những người quen biết anh Quốc dường như thích anh ấy. Ruth Fischer, một nhân vật Cộng sản Đức nổi tiếng, nhận xét rằng mặc dù anh ta không gây một ấn tượng sâu sắc trong làn gặp gỡ đầu tiên, anh ta đã sớm giành được sự tôn trọng và cảm tình của tất cả bằng “lòng tốt và tính đơn giản” của anh ta. Một người thực dụng hơn là người lý thuyết, anh dường như lão luyện về sự tránh né những cuộc tranh chấp phe phái gay gắt mà đã thực sự bắt đầu truyền nhiễm những bộ phận lãnh đạo Sô-Viết và cuối cùng dẫn đến sự tê liệt của Đảng Bolshevik (khoảng lúc nầy, được đổi tên thành Đảng Cộng sản Liên Xô, hoặc CPSU) và của chính Quốc tế cộng sản trong suốt thập kỷ tới. Giai đoạn của NEP (i.e. Chính sách Kinh tế Mới) là một khoảng thời gian tạm nghĩ tương đối ngắn khi tương lai ắt hẵn thấy tươi sáng đối với nhiều công dân Liên Xô và những người nước ngoài cũng thế.

p95

Với cuộc Nội Chiến kết thúc, chế độ đã từ bỏ chính sách của nó về cưỡng chế và đàn áp những đối thủ tiềm năng và bắt đầu khuyến khích người dân tham gia xây dựng kinh tế (“hãy làm giàu cho chính mình” là một khẩu hiệu phổ biến đương thời). Đời sống văn hóa thì vẫn phong phú và đa dạng, khi những nhà văn, nghệ sĩ và nhà soạn nhạc tìm cách xây dựng một môi trường cách mạng mà nó có thể thể hiện một cách chính xác những thay đổi mạnh mẽ này đang diễn ra trong nước. Một vài năm sau đó, theo sự khẳng định của Stalin, giai đoạn này đột nhiên chấm dứt.

Anh Quốc dường như không bị thiệt hại nào về cường độ trong những niềm tin cách mạng của chính mình. Nhà báo Ossip Mandeistam, người đã phỏng vấn anh ta cho tạp chí Ogonyok vào tháng 12 năm 1923, đã ghi chú rằng người đàn thanh niên mảnh khảnh, thật thấm nhuần những phẩm với đức tính tinh tế của lớp trí thức Nho giáo, có đôi mắt đen lớn và thấu suốt, và khi anh ta nói về hoàn cảnh ở đất nước mình, toàn thân anh ta dường như lên cơn co giật và đôi mắt của anh ta dường như phản ảnh sự chói lọi mãnh liệt kỳ lạ. Trong cuộc phỏng vấn, anh Quốc phát âm từ “văn minh” với một thái độ ghê tởm cực kỳ, và kịch liệt chỉ trích Giáo Hội Công Giáo ở Đông Dương vì sự chiếm hữu gần như 1/5 đất canh tác của quốc gia. Theo như Boris Souvarine, nhân vật Cộng sản Pháp, sau đó đã rời phong trào cách mạng, Nguyễn Ái Quốc bấy giờ trở thành “một người Stalin toàn diện.”13

Chỉ có một trong số những người quen của mình vào thời điểm đó đánh giá thấp về anh Quốc. Nhân vật Cộng sản Ấn Độ nổi bật M.N. Roy, người sau này phục sự như là một đại diện Quốc tế cộng sản ở Trung Quốc và (trong quan điểm của nhiều nhà quan sát) là người mà khả năng yếu kém của ông ta đã là một yếu tố quan trọng trong sự thất bại của những người Cộng sản Trung Quốc dưới bàn tay của Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai-shek) vào năm 1927, cảm thấy rằng người Việt Nam trẻ không mấy ấn tượng qua tâm trí cũng như qua hình dáng và là một học viên kém cỏi để khởi động. Trớ trêu thay, anh Quốc là một trong số ít ở Moscow, những người chia sẻ luận thuyết của ông Roy rằng cuộc cách mạng Á châu là bước cần thiết đầu tiên trong việc lật đổ chủ nghĩa tư bản thế giới.14

Nguyễn Ái Quốc cũng có thời gian để làm một số lượng đáng kể về viết lách, đóng góp đều đặn cho những tạp chí cánh tả Pháp và cũng như báo chí Liên Xô, xuất bản một số bài viết trên Inprecor (International Press Correspondence (i.e. Thư từ Báo chí Quốc tế), cơ quan ngôn luận chính thức của Quốc tế Cộng sản). Những chủ đề bài viết của anh được thay đổi, nhưng luôn luôn có chiều hướng nghiêng về cách mạng. Anh ta viết về sự áp bức của đế quốc ở Trung Quốc, về những hoạt động của Ku Klux Klan(pc 04) ở Hoa Kỳ, về đời sống bình dị của người dân ở Liên Xô, và dĩ nhiên về sự khai thác thuộc địa của các dân tộc bản địa thuộc châu Á và châu Phi. Trong sự phối hợp với những học viên Trung Quốc ở trường Stalin, anh ta tự biên tập cuốn sách mỏng với tựa đề Kitai i kitaiskaya molodezh (Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc), được xuất bản vào năm 1925 bằng tiếng Trung Quốc và tiếng Pháp cũng như tiếng Nga.

p96

Anh ta cũng được cho là đã viết về lịch sử Đông Dương dưới sự cai trị của Pháp, mà nó vẫn chưa được phát hành trong những lưu viện Quốc tế Cộng sản.15

Dự án viết bài có tầm cở của Nguyễn Ái Quốc trong suốt thời gian ở Moscow, tuy nhiên, là Le Procès de la colonisation française (i.e. Bản án Chế độ Thực dân) (được dịch sang tiếng Anh là “French Colonialism on Trial”). Có thể đoán là nó được dựa trên những bài báo mà anh ta đã viết trong khi sống ở Paris cũng như trên bản thảo của anh ta mang tên Les opprimés (i.e. Những người bị áp bức), vốn đã bị biến mất trước khi công bố vào năm 1920, cuốn sách được hoàn thành ở Moscow và xuất bản tại Paris bởi thư viện Travail (Librairie du Travail) vào năm 1926, một thời gian dài sau khi anh ta đã rời Pháp đến Moscow. Nó là một bản cáo trạng dong dài, thiếu mạch lạc về những hoàn cảnh thuộc địa trên toàn thế giới, kết thúc với một lời kêu gọi mạnh mẽ đến thanh niên Đông Dương để đứng lên chống lại những kẻ bóc lột của họ. Phần lớn những tư liệu trong cuốn sách liên quan đến Đông Dương, nhưng có nhiều ghi chú cho tham khảo về những thuộc địa châu Phi. Mặc dù nó có lẽ là nổi tiếng nhất trong số tất cả tác phẩm của Hồ Chí Minh, nó được sắp xếp quá kém cỏi và được viết quá tồi tệ đến nổi một trong những người viết tiểu sử đã suy đoán rằng tác phẩm đó có thể được viết bởi một người Việt Nam khác và sau đó được in ra dưới tên của ông ta. Nhưng trong giai điệu và phong cách của tác phẩm đó, nó thì quá giống những bài viết khác của Hồ Chí Minh đối với hầu hết những học giả đến nỗi không thể nghi ngờ rằng nó thực chất là tác phẩm của ông ta. Trên hết, có thể nói về nó là chính nó, tác phẩm đó cho thấy một bằng chứng, được viết trong lúc vội vàng.16

Trong tất cả những lời phát biểu công khai của anh ta, Nguyễn Ái Quốc dường như vẫn là một người thực sự có lòng tin. Những bài viết của anh ta về Liên Xô thì đồng nhất đầy lời khen ngợi, và sự ngưỡng mộ của anh ta đối với Lenin dường như vô biên. Anh ta rõ ràng đã rất thất vọng khi không thể gặp mặt nhà lãnh đạo Bolshevik trước khi ông ta qua đời. Khi anh ta được hỏi về mục đích của chuyến thăm viếng ở Petrograd vào tháng Bảy năm 1923, anh Quốc đã trả lời rằng anh ta ao ước được gặp Lenin và chán nản khi nghe rằng nhà lãnh đạo Liên Xô bị bệnh. Vào tháng Giêng kế đó, anh ta biết được sự đau buồn to lớn của mình là Lenin đã chết. Như một người Ý quen, là Giovanni Germanetto, kể lại câu chuyện:

Moscow, tháng Giêng năm 1924. Mùa đông nước Nga thì ở cực điểm của nó. Nhiệt độ chìm xuống trong mùa đến 40 độ dưới số không. Một vài ngày trước, Lenin đã qua đời. Sáng hôm đó, một tiếng gõ kín đáo trên cửa chúng tôi ở khách sạn Lux đánh thức tôi. Cánh cửa mở ra và một thanh niên mảnh khảnh bước vào.

        Anh ta nói rằng anh ta là người Việt Nam và tên của anh ấy là Nguyễn Ái Quốc. Anh ta cũng cho biết anh ta dự định đến Viện Công đoàn Thương nghiệp (Trade Union House) và tiễn Lenin…

Tôi nói với anh ta rằng anh ta mặc quần áo quá nhẹ đối với cái lạnh đóng băng ở bên ngoài. Tôi nói anh ta nên chờ, chúng tôi muốn đưa anh ta một số quần áo ấm.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Canton : Quảng Châu
pc 02_ Sun Yat-sen : Tôn Dật Tiên
pc 03_ Phái dân túy : những người ủng hộ về quyền hợp pháp và sức mạnh của dân tộc
pc 04_ Ku Klux Klan (KKK hoặc Klan) : Những tổ chức ở miền Nam Hoa Kỳ, từ thập kỷ >1860s, gồm những phần tử người da trắng cực đoan trong ba dòng thác hoạt động: quyền tối cao của qân da trắng, chủ nghĩa dân tộc da trắng, và chống di dân. Mục tiêu chính của KKK là người da đen, bị khủng bố bằng bạo lực nhưng kể từ giữa thế kỷ 20, KKK cũng chống lại cộng sản. Theo ước tính có khoảng 3.000 đến 5.000 thành viên vào năm 2012.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s