IV- Những Người Con Của Rồng (Phần 1)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p105

IV- NHỮNG NGƯỜI CON CỦA RỒNG

 

Châu Á mà Nguyễn Ái Quốc trở lại vào cuối năm 1924 thì khác nhau từ châu Á rằng mà anh ta đã bỏ đi mười ba năm trước đó. Trong khi đó, hệ thống thuộc địa ở Nam và Đông Nam Á châu đã sống sót qua Thế Chiến thứ I còn nguyên vẹn, tình hình ở Trung Quốc đã thay đổi đáng kể. Vào mùa thu năm 1911, một cơn co giật lớn đã mang lại sự tan rã của hệ thống đế quốc xưa ở Bắc Kinh. Bốn tháng sau chuyến khởi hành của Nguyễn Ái Quốc từ bến tàu Nhà Rồng của Sài Gòn trong tháng Sáu đó, một cuộc nổi dậy được bùng khởi bởi những thành viên thuộc đảng phái cách mạng của Sun Yat-sen (i.e. Tôn Dật Tiên) đã đưa đến sự thành công mau chóng đối với những sự sụp đổ của triều đại Mãn Châu (Manchu) và sự vươn lên của một chính phủ mới ở Trung Quốc. Tuy nhiên, những đảng viên của Sun Yat-sen(pc 01)đã không thể lợi dụng hoàn cảnh. Có được chiến thuật về chính trị và quân sự bởi Tướng Yuan Shikai (i.e. Viên Thế Khải), người chỉ huy của lực lượng vũ trang Mãn Châu vào tháng Hai năm 1912. ông Sun đã buộc phải dâng tặng Tướng Yuan chức vụ tổng thống của một nước cộng hòa mới, được thành lập tại Bắc Kinh.

Ông Yuan, cuối cùng hy vọng sẽ tuyên bố một triều đại mới bằng tên của riêng mình, cố gắng khôi phục lại luật pháp và trật tự bằng cách dựa trên những phương pháp chuyên quyền truyền thống của sự cai trị. Điều này đã khích động cuộc đụng độ với đảng phái của ông Sun, mà những thành viên chiếm gần một nửa số ghế trong hội đồng nghị viện mới thành lập, được gọi là Quốc hội. Vào tháng Giêng năm 1914, ông Yuan đột ngột giải thể nghị viện và cố gắng cai trị bằng quyền tuyệt đối. Đảng phái của ông Sun bi công bố là bất hợp pháp và ông Sun chạy trốn sang Nhật Bản. Nhưng sau khi ông Yuan qua đời một cách đột ngột vì bệnh tật vào năm 1916, Trung Quốc bắt đầu tan rã, khi những chỉ huy quân sự khu vực, được biết đến rộng rãi như là những lãnh chúa, nắm quyền kiểm soát ở các tỉnh khác nhau trên khắp đất nước. Mặc dù một chính phủ mong manh tiếp tục ngự trị ở Bắc Kinh, sự náo động mang tính chất xã hội và tri thức bắt đầu lan rộng khắp nước, vào năm 1919, những cuộc biểu tình quy mô của học sinh nổ ra tại thủ đô và nhiều thành phố lớn khác. Cùng năm đó, Sun Yat-sen (i.e. Tôn Dật Tiên) thành lập thành công một cơ sở cho đảng cách mạng của mình –bấy giờ đổi tên thành Quốc Dân Đảng (Kuomintang), hoặc Đảng Quốc gia– tại Canton (i.e.Quảng Châu), thủ phủ của tỉnh Guangdong (i.e. Quảng Đông),

p106

là mồi lửa bảo vệ của Chen Jiongming, lãnh chúa địa phương. Vào tháng Tư năm 1921, ông Sun chính thức tuyên bố thành lập một chính phủ quốc gia mới, với chính mình như là tổng thống.

Trong hai năm theo sau liền cuộc cách mạng Bolshevik, chính quyền mới của Sô-Viết ở Moscow không có một vị trí để lợi dụng những biến cố diễn ra ở Trung Quốc, và nó được quan tâm hơn bằng sự thiết lập kiểm soát khắp những lãnh thổ rộng lớn của đế chế Nga ngày xưa ở Siberia, bấy giờ tạm thời bị chiếm đóng bởi nhiều nhóm lực lượng chống Cộng sản khác nhau. Tuy nhiên vào mùa xuân năm 1920 chính quyền Sô-Viết trên khu vực đã được củng cố, và một Ban Thư ký Viễn Đông được thành lập ở Irkutsk để điều hành những chiến dịch Cộng sản trên khắp khu vực rộng lớn của Đông Á và Thái Bình Dương. Tháng Tư đó, Grigory Voitinsky, sau đó một mật vụ Quốc tế Cộng sản có trụ sở chính ở Irkutsk, đi đến Bắc Kinh. Sau khi lưu lại ngắn hạn, ông ta tiếp tục đến Thượng Hải, nơi mà ông ta giúp đở thiết lập một tổ chức tạm thời bao gồm những nhà cách mạng đang hoạt động trong khu vực. Mùa hè kế tiếp, những người cấp tiến từ khắp nơi trên đất nước tập trung ở Thượng Hải và thành lập một Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức (CCP: Chinese Communist Party).

Một trong những quyết định đầu tiên đối mặt đảng phái mới là liệu có nên hợp tác với chế độ cách mạng của Sun Yat-sen (i.e. Tôn Dật Tiên) ở Canton (i.e Quảng Châu). Một số thành viên, tin tưởng rằng những thành viên chủ chốt trong đoàn tùy tùng của Sun thì phản cách mạng một cách thiết yếu theo bản năng của họ, tỏ ra miễn cưỡng kết hợp lực lượng với Quốc Dân Đảng. Nhưng ông Maring Cộng sản Hà Lan, kế tiếp ông Voitinsky như là trưởng đại diện Quốc tế cộng sản ở Trung Quốc, vẫn cố tiếp tục; vào tháng Giêng năm 1923, Sun Yat-sen(pc 01) và Adolf Joffe đại diện Sô-Viết đã ký một thỏa thuận tại Thượng Hải mà nó tạo ra một mặt trận thống nhất giữa hai bên và sắp xếp cho sự giúp đỡ của Liên Xô trong việc hoàn thành thống nhất Trung Quốc. Sự sắp xếp, được mô tả như là một “khối bên trong”, được gọi cho những thành viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc gia nhập Quốc Dân Đảng, vốn vẫn là lực lượng chính trị chiếm ưu thế ở Canton (i.e. Quảng Châu).1

Bắt đầu từ cuối năm 1923, hai đảng phái, với sự hỗ trợ của ủy ban mới thuộc Quốc tế cộng sản của Mikhail Borodin, bắt đầu chuẩn bị cho một chuyến thám hiểm phía Bắc nhằm phế truất những chế độ lãnh chúa tham tàn mà Trung Quốc đã từng được chia ra kể từ cái chết của Yuan Shikai (i.e Viên Thế Khải). Trong khi Đảng Cộng sản Trung Cộng (hoặc CCP) là một thành phần kết hợp cấp dưới trong liên minh và thiếu người ủng hộ và uy tín của Quốc Dân Đảng, nó rõ ràng là một sức mạnh mới và hoạt năng trong chính trị Trung Quốc, một đảng phái của tương lai nếu không phải là quá khứ.

* * *

Ờ Đông Dương thuộc Pháp, những thay đổi cũng đang diễn ra, mặc dù không ở cùng một tốc độ như ở Trung Quốc. Dân số của ba khu vực đang tăng lên một cách nhanh chóng. Từ khoảng 7 triệu người vào năm 1880, nó tăng lên khoảng 16 triệu vào năm 1926,

p107

với 6 triệu người ở Bắc Bộ, 5 triệu ờ An Nam, và khoảng 4 triệu ở Nam Bộ. Mặc dù hơn 3/4 dân số vẫn sống ở nông thôn, có một sự tăng lên đều đặn trong mật độ dân số đô thị, đạt đến mức khoảng 1 triệu người vào giữa thập niên 1920s. Hầu hết trong số họ sống ở các thành phố thủ đô của Sài Gòn và Hà Nội.

Trong mười ba năm kể từ khi Nguyễn Ái Quốc rời Sài Gòn, phong trào nhằm khôi phục lại nền độc lập Việt Nam đã bị mất đất. Với việc bắt giữ và lưu vong bất ngờ của Phan Chu Trinh sang Pháp, người ủng hộ nổi bật nhất của sự cải cách bất bạo động ít nhất đã tạm thời im lặng. Trong khi đó, tổ chức có triễn vọng một thời của Phan Bội Châu, vốn đã từng giành được sự ủng hộ của nhiều trong số những người yêu nước nổi bật nhất của Việt Nam, đã dần dần phai mờ tầm quan trọng sau nhiều cuộc nổi dậy sớm thất bại và sau đó một số bắt giữ và cầm tù ở phía nam Trung Quốc của chính nhà lãnh đạo dân tộc.

Khi nghe những tin tức về cuộc cách mạng năm 1911 ở Trung Quốc, ông Châu đã bỏ kế hoạch của mình để lập nên một chế độ quân chủ lập hiến và thay vào đó thành lập một đảng chính trị mới –gọi là Xã hội Phục hồi (Restoration Society), hoặc Quang Phục Hội– nhằm mục tiêu tạo ra một nước cộng hòa độc lập theo mô hình của Sun Yat-sen (i.e. Tôn Dật Tiên). Rõ ràng, ông Châu hy vọng vào sự hỗ trợ của Trung Quốc trong việc lật đổ người Pháp; trong suốt một cuộc họp với Sun Yat-sen(pc 01) ở Canton(pc 02) trong thời điểm nào đó vào đầu năm 1912, ông Sun đã từng hứa với ông ta rằng Việt Nam sẽ là nước đầu tiên nhận được sự hỗ trợ Trung Quốc một khi những người cách mạng củng cố quyền lực của họ ở Trung Quốc. Ngay sau đó, tuy nhiên, Phan Bội Châu bị bắt giữ bởi một lãnh chúa địa phương về tội thực hiện những hoạt động lật đổ chính phủ. Vào thời điểm ông Châu nổi bật lên từ nhà tù vào năm 1917, đảng phái của Sun Yat-sen đã sa sút quyền lực và chính ông Sun thì ở Nhật Bản. Với những hy vọng của mình vào sự viện trợ nước ngoài một lần nữa bị tiêu tan, Phan Bội Châu dường như không còn chịu đựng được nữa. Trong tuyệt vọng, ông ta thậm chí tỏ ý hợp tác với người Pháp, qui ước rằng họ phải giữ lời hứa của họ để thực hiện những cải cách chính trị và kinh tế ở Đông Dương. Đến đầu thập niên 1920s, hệ thống cách mạng của ông ta ở Việt Nam đã hầu như tan rã. Ông ta vẫn sống lưu vong ở Trung Quốc, được bao quanh bởi một nhóm nhỏ của những người đồng hành trung thành, một con số càng lúc không xác thực. Thời đại của Phan Bội Châu đã rõ ràng đến tận cùng.2

Sự sụp đổ của phong trào Phan Bội Châu và cuộc sống lưu vong của Phan Chu Trinh đã cho thấy những thay đổi rộng lớn hơn đang diễn ra trong xã hội Việt Nam; sự đi qua của thời đại của hai người họ Phan trùng hợp với sự suy giảm của tầng lớp học giả quan chức truyền thống, mà đã thống trị chính trị Việt Nam hàng bao thế kỷ. Mặc dù, theo sự thúc giục của những nhân vật yêu nước như là ông Châu và ông Trinh,

p108

nhiều thành viên của các tầng lớp trí thức Nho giáo đã vứt bỏ những niềm tin cũ của họ và cố gắng dự phần vào chính trị số đông, như là một lớp học mà họ không bao giờ thật sự thoải mái trong vai trò trí thức như vậy; nhiều người tìm thấy khó khăn để thích nghi với hoàn cảnh đang thay đổi được tạo ra dưới sự cai trị của thực dân Pháp. Phan Bội Châu tỏ ra đầy nhiệt tình trong việc in về một phong trào bao gồm 10.000 anh hùng vô danh” những người sẽ đuổi người Pháp vào biển, nhưng cuối cùng đảng của ông ta bao gồm chủ yếu là thành phần giàu có, học thức, và một số ít nông dân tham gia. Mặc dù phong trào của ông ta đã cố gắng thúc đẩy thương mại và kỷ nghệ như một phương tiện làm giàu cho xã hội Việt Nam, những thành viên cao cấp của nó là đại diện của tầng lớp quý tộc bị đẩy vào truyền thống. Những học giả yêu nước theo đúng nghĩa trong những chiếc áo choàng nhẹ bay mở cửa tiệm để huy động tài chánh và khuyến khích thương mại địa phương và sau đó làm những khách hàng xa lánh với những cách hạ mình chiếu cố.3

Đến cuối Thế Chiến thứ I, ảnh hưởng của lớp học giả quan chức (trong đó có khoảng 20.000 người vào cuối của thế kỷ trước) trong phạm vi xã hội Việt Nam đã bắt đầu suy yếu dần. Dịch vụ dân sự thi cử kiểu Nho giáo đã được bãi bỏ trong tất cả ba vùng lãnh thổ và được thay thế bởi một hệ thống giáo dục mới áp đặt bởi người Pháp. Quốc ngữ, hình thức phiên âm của ngôn ngữ Việt Nam vào trong bảng mẫu tự La Mã, bấy giờ đang được tích cực thúc đẩy bởi cả hai nhà truyền giáo Tin Lành ở Nam Bộ và những nhà trí thức cải cách ở Bắc Bộ và An Nam và ngày càng được chấp nhận như là một thay thế hữu ích cho hệ thống cồng kềnh của những ký tự Trung Quốc. Trong khi hầu hết thanh niên Việt Nam tiếp tục nhận được một nền giáo dục truyền thống ở các làng mạc nông thôn, trẻ em của nhiều nhà quý tộc trí thức, bây giờ từ bỏ con đường Nho giáo để đi lên sự chuyển đổi, được đào tạo ở những trường Pháp-Việt mới như Học viện Quốc gia ở Huế, nơi mà sự giảng dạy được đưa ra bằng tiếng Pháp. Nhiều người đã sang Pháp để hoàn tất việc học của họ.

Vào lúc đó, một tầng lớp trung lưu người Việt có tính cách mới và Tây phương hóa hơn xuất hiện. Một số người đã thành lập những công ty thương mại hoặc sản xuất để phục vụ cho  nhu cầu và ham chuộng của những gia đình giàu có sống ở các thành phố lớn. Những người khác làm việc cho các công ty Âu châu, vào các nghề chuyên môn, hoặc có được một vị trí trong bộ máy hành chính. Mặc dù nhiều thành viên của tầng lớp thượng lưu thành thị mới này ngưỡng mộ Phan Bội Châu và những người đồng hành của ông ta vì lòng yêu nước của mình, họ kín đáo chế nhạo những bậc trưởng thượng vì những cách bảo thủ, lỗi thời của họ. Đồng tâm cho sự nghiệp độc lập dân tộc, những thành viên của thế hệ mới này đã bi bứng ra khỏi quá khứ của họ và bị thay đổi hơn trong kiến ​​thức của họ về phương Tây. Nhiều người mặc quần áo kiểu Tây phương, uống rượu Pháp, và trò chuyện bằng tiếng Pháp. Như nhà báo Pháp Paul Monet đã viết, những thành viên của thế hệ mới này là “nguyên mẫu văn hóa [Pháp] của chúng tôi,

p109

đã từ bỏ những niềm tin truyền thống và bị bật gốc từ đất tổ tiên, hoàn toàn không biết gì về đạo đức Nho giáo, mà họ coi thường bởi vì họ không hiểu nó”4 Những quan chức Pháp thường ám chỉ sự phát triển như thế là một dấu hiệu cho thấy nhiệm vụ văn minh hóa đang được thành công, nhưng họ sẽ sớm tìm ra rằng thế hệ này sẽ tiêu biêu cho một thách thức đáng sợ hơn là của bậc cha mẹ.

Những người cầm quyền cao cấp Pháp đã vô tình góp phần vào sự phát triển của sự chán nản của người Việt về những hậu quả của chế độ thực dân. Năm 1919, Albert Sarraut đối thủ tương lai của Nguyễn Ái Quốc, sau đó phục vụ như Toàn quyền Đông Dương, đã kích thích những trái tim Việt Nam với lời hứa của ông ta về một kỷ nguyên mới của cải cách. “Tôi sẽ đối xử các bạn như người anh em từ lớn đến nhỏ,” ông ta đã nói về những trách nhiệm của mình, “và từ từ cho các bạn phẩm giá con người.”5 Những lời như thế làm phấn khởi niềm hy vọng ở Việt Nam và thậm chí giành được sự ngưỡng mộ tạm thời của Nguyễn Ái Quốc ở Paris, người mà vẫn ẩn chứa một sự ngưỡng mộ kéo dài cho một nền văn hóa vốn đã từng sản sinh ra những khẩu hiệu cách mạng về “tự do, bình đẳng, và bác ái.”

Sau khi ông Sarraut rời Hà Nội đến Paris để trở thành bộ trưởng thuộc địa, tuy nhiên, những lời hứa về cải cách của ông ta vẫn chưa được thực hiện. Một hệ thống giáo dục mới, thí dụ, nhận được tài trợ ít ỏi từ chính quyền thuộc địa và hậu quả là chỉ có một tác động hạn chế trên người dân địa phương. Những trường làng thì thiếu tài chánh một cách biệt lệ, và phần lớn thanh niên Việt Nam nhận được ít hơn bốn năm giáo dục. Vào giữa những năm 1920s, chỉ có khoảng 5.000 sinh viên khắp cả nước đã nhận được một nền giáo dục tương đương trung học. Sự thống kê như thế nhấn mạnh thái độ đạo đức giả của lời tuyên bố của người Pháp rằng họ đang thực hiện một sứ mệnh văn minh ở Đông Dương; nhưng trái lại, theo hệ thống xưa cũ vào khoảng một phần tư dân số đã có thể giải mật những văn bản được viết bằng ký tự Trung Quốc, trong thập kỷ sau Thế Chiến thứ I tỷ lệ biết chữ hoặc là quốc ngữ hay những ký tự truyền thống (i.e. tiếng Nôm) đã được ước tính chỉ khoảng 5% dân số.

Trong khi đó, mặc dù nhiều người Việt Nam đã góp phần vào sự nghiệp của người Pháp trong suốt Thế Chiến thứ I, chính quyền thực dân vẫn từ chối cho phép những đối tượng của họ có nhân quyền để nhận một vai trò tích cực trong quá trình chính trị trong đất nước của họ. Vào khoảng 10.000 quan chức thuộc địa ở Đông Dương vẫn được trả lương nhiều đáng kể hơn những đối tác người Việt của họ cho công việc như nhau. Nhiều người trong số 40.000 người Âu châu sống và làm việc ở Đông Dương –một số trong số người đã đến với một ít chỉ nhiều hơn những chiếc áo sơ mi trên lưng họ– tất cả họ rất thường hay cư xử bằng thói kiêu ngạo và hạ mình đối với người dân địa phương. Những người ngoại quốc, bao gồm hơn 200.000 người Hoa kiều vốn đã từng định cư chủ yếu là ở các thành phố và thị trấn buôn bán, tiếp tục thống trị nền kinh tế thành thị.

p110

Bằng sự ghê tởm, một nhà văn Pháp tuyên bố những chính sách cải cách của Sarraut –mà chúng đôi khi được mô tả như là “những chính sách hợp tác”– là một sự gian lận, trong khi Tổng thống Pháp Raymond Poincaré thừa nhận rằng chúng đã được thực hiện duy nhất là vì hình thức.6

Trong khi đó, một khối lượng dân số chịu khốn khổ vì những thuế má được tăng lên và những độc quyền của chính phủ về sản xuất và bán thuốc phiện, muối, và rượu, mà qua đó đã làm tăng giá bán lẻ của tất cả ba sản phẩm. Ở Nam Bộ, những điền chủ ẩn mặt từng mua những vùng đất nguyên sơ ở đồng bằng sông Cửu Long, đã tính những mức lời cắt cổ cho người thuê mới của mình, đôi khi hơn 50% vụ mùa hàng năm, trong khi vẫn giữ những nơi cư ngụ của riêng họ ở Sài Gòn. Khắp cả đất nước, có hơn nửa triệu nông dân không có đất, so với khoảng 50.000 điền chủ. Trong một cuốn sách có tựa đề Forceries humaines (i.e. Những nhà kính nhân loại) được viết vào giữa thập kỷ, tác giả Georges Garros nhận xét rằng, dưới những khiêu khích tương tự dân Pháp đã từng nổi dậy. Quả thật, như Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét trong sự thất vọng đối với nhà báo Ossip Mandelstam trong cuộc phỏng vấn năm 1923 của anh ta tại Moscow, Việt Nam là “một quốc gia chìm vào bóng tối.”

Sự thất vọng với tình hình mang lại một làn sóng mới của phong trào hoạt động chính trị vào giữa những năm 1920s. Dẫn đầu là một thế hệ trí thức trẻ, thuộc tầng lớp trung lưu từng được giáo dục theo hệ thống trường học của Pháp. Giống như những đối tác của họ ở phần còn lại của thế giới thuộc địa, nhiều người đã có một mối quan hệ phức tạp với văn hóa Tây phương, ngưỡng mộ nhiều về nó nhưng cũng oán hận nó. Nhiều người trong số họ đọc những tiểu thuyết Pháp nổi tiếng và các tạp chí, bao gồm những tạp chí định kỳ được viết bằng quốc ngữ như là Phụ nữ Tân Văn (Bản tin của phụ nữ) phục vụ cho những thị hiếu Tây hóa và thái độ của lớp thanh niên có giáo dục. Nhưng họ, lớp thế hệ trí thức trẻ, cũng phẫn nộ vì cách hạ mình mà người Pháp đối xử với các đối tượng thuộc địa của họ và đặt câu hỏi tại sao những khái niệm khoe khoang của người Pháp về tự do, bình đẳng, tình huynh đệ, mà họ đã học ở trường, cũng không thể được áp dụng ở Đông Dương.

Những dấu hiệu đầu tiên của sự xôn xao xuất hiện ở Sài Gòn, mà qua đó, tất cả các thành phố của Việt Nam, đã trực tiếp bị ảnh hưởng bởi sự hiện diện của thực dân Pháp. Một tỷ lệ phần trăm cao của dân số Âu châu ở Đông Dương đã định cư ở đó bởi vì Nam Bộ là một thuộc địa, và do đó trực thuộc chính quyền Pháp, và bởi vì cơ hội cho lợi nhuận nguyên liệu được cung cấp bởi cao su, trà, và những đồn điền cà phê mà chúng đã được xây dựng ở những khu vực gần đó. Vào cùng lúc ấy, có thêm nhiều công nhân nhà máy ở đó hơn so với bất kỳ phần nào khác của đất nước. Ở Sài Gòn, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, bản địa và nước ngoài, được khoanh định lộ rõ ra nhất. Ở đây, ngay cả người Việt Nam giàu có nhất có lý do để oán hận sự kìm kẹp những người nước ngoài sở hữu hết nền kinh tế.

p111

Những thương nhân Hoa kiều kiểm soát các nhà máy gạo và ngân hàng và hiệu cầm đồ, trong khi người Âu châu làm chủ hầu hết các nhà máy lớn hơn và thống trị thương mại trao đổi xuất-nhập cảng. Nhà nông học giàu có Bùi Quang Chiêu, người mà Nguyễn Ái Quốc đã ngắn ngủi gặp mặt trong suốt chuyến đi đầu tiên của anh ta đến châu Âu, đã dẫn đầu trong việc tập trung sự oán giận này. Một điền chủ ẩn mặt có nơi trú ngụ của mình ở Sài Gòn, anh Chiêu cũng để hết tâm trí vào các giao dịch kinh doanh khác nhau và thành lập một tạp chí có tựa đề La Tribune Indigène (i.e. Diễn đàn của người Bản xứ) đại diện cho những lợi ích của tầng lớp thương mại địa phương. Một vài năm sau đó, anh ta kết hợp với những người quen biết thành lập Đảng Lập hiến (Constitutionalist Party), một đảng chính trị chính thức, đầu tiên ở Đông Dương thuộc Pháp. Trong khi Bùi Quang Chiêu và những cộng sự viên của anh ta hy vọng sẽ thúc ép người Pháp thừa nhận cho một vai trò lớn hơn cho người dân Việt Nam trong quá trình chính trị, một mục tiêu phụ là để giảm bớt sự nắm giữ của những thương gia người Hoa trên nền kinh tế của Nam Bộ.7

Trong nhiều xã hội khác ở Đông Nam Á, những thương gia người Hoa từ lâu đã từng là một sức mạnh thống trị trong nền kinh tế thành thị của Việt Nam, Lào, và Cam-pu-chia. Những con cháu của những người định cư những người mà đã di cư vào thế kỷ qua đến khu vực từ những vùng ven biển ở phía nam Trung Quốc, họ thường được khuyến khích tham gia vào những hoạt động sản xuất và thương mại bởi vị vua nước đó vốn ngăn cản những thực hành như vậy trong dân chúng bản địa. Thông thường họ được định cư ở khu nhà chen chút ở thành thị và tiếp tục duy trì những phần hợp thành quan trọng của văn hóa Trung Hoa, bao gồm đạo đức Nho giáo và ngôn ngữ Trung Quốc. Khi Bùi Quang Chiêu và các cộng sự viên của anh ta tập trung sự chú ý của họ vào việc giảm ảnh hưởng của người Hoa kiều chứ không phải vào điều đó của chính quyền thực dân, họ đã ứng dụng một thái độ được phản ảnh ở nhiều nơi thuộc địa khác trong vùng.

Một kẻ thù có tiềm năng nguy hiểm hơn anh Chiêu, từ quan điểm của người Pháp, là Nguyễn An Ninh trí thức được-đào-tạo-ở-Paris. Con trai của một học giả Nho giáo từ Nam Bộ vốn có sự kết nối wih trường Đông kinh Nghĩa Thục (Tonkin Free School) và sau đó phục vụ trong phong trào của Phan Bội Châu, anh Ninh học luật ở Pháp, nơi anh ta tuyên bố đã từng gặp Nguyễn Ái Quốc và phát triển một sự quan tâm nồng nhiệt về chính trị. Trên chuyến trở về Sài Gòn trong đầu thập kỷ 1920s, anh ta thành lập một tạp chí được gọi là La Clocke Fêlée (Chuông Nứt) với mục đích khơi dậy tinh thần yêu nước của người Việt và thúc đẩy người Pháp cho phép những cải cách chính trị. Giống như Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh là một người ngưỡng mộ nhiệt thành về văn hóa Tây phương và tin tưởng rằng nó có thể phục vụ như là một sửa đổi hệ thống Nho giáo truyền thống, mà anh ta tin rằng đã bóp nghẹt sự sáng tạo của đồng bào của mình và góp phần vào cuộc chinh phục bởi người Pháp

Trong suốt đầu và giữa thập niên 1920s, một nhà báo trẻ, có sức lôi cuốn

p112

là một người được lòng yêu mến cuồng nhiệt trong số những thanh niên có học vấn của Nam Bộ; những bài diễn văn tùy dịp của anh ta được háo hức chờ đợi. Trong một cuộc diễn thuyết vào tháng Mười năm 1923 ở Salle d’Enseignement (i.e. giảng đường) ở Sài Gòn, anh ta kêu gọi những thính giả của mình phát động một nền văn hóa mới không bị cản trở bởi những tư tưởng dược du nhập của Khổng Tử, Mạnh Tử, và Lao-tzu. Giống như Mahatma Gandhi ở Ấn Độ, anh Ninh lập luận rằng giải pháp đối với những vấn đề Việt Nam thì có tính chất tâm linh cần thiết, và rằng câu trả lời chỉ có thể đến từ bên trong dân tộc.

Sự tác động qua những hoạt động của Nguyễn An Ninh trên giới trẻ Nam Bộ thì ngày càng đáng lo ngại cho chính quyền Pháp; cuối cùng anh ta bị gọi lên nói chuyện với Phụ tá Toàn quyền (Lieutenant Governor) Maurice Cognacq, là người đã cảnh cáo anh ta rằng những nỗ lực của anh ta bị giám sát chặt chẽ giám sát bởi chính quyền, và rằng nếu anh ta khăng khăng trong hoạt động của mình họ sẽ dùng phương pháp cần thiết để buộc anh ta phải từ bỏ. Người dân Việt Nam thì có đầu óc quá đơn giản, ông Cognacq đề nghị, để hiểu thông điệp của anh Ninh. Nếu anh Ninh muốn những người trí thức, ông ta mỉa mai nói thêm, đến Moscow. Lời cảnh cáo của ông Cognacq, tuy nhiên, bị bỏ qua; Nguyễn An Ninh tiếp tục công cuộc vận động.8

Vào ngày mà Nguyễn Ái Quốc đến Canton (i.e. Quảng Châu) tàu từ tàu hàng Vladivostok vào giữa tháng Mười Một năm 1924, thành phố thì trong sự rối loạn, với hàng ngàn người làm tắc nghẽn những đường phố gần bờ sông để biểu tình ủng hộ chính phủ của Sun Yat-sen(pc 01) và tiễn đưa tổng thống trên chuyến đi đến Bắc Kinh. Kể từ tháng Hai năm 1923, ông Sun đã đưa vào hiệu lực sách lược”khối trong” vốn đã được thương thảo với mật vụ Quốc tế Cộng sản Maring vào một vài tháng trước đây. Ông Sun chuyển hướng Quốc Dân Đảng qua phe cánh trái bằng cách thêm vào một số thành viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) vào những vị trí có trách nhiệm. Sau chuyến mới đến của mật vụ Quốc tế cộng sản Mikhail Borodin từ Moscow vào tháng Mười, đảng phái được tổ chức lại theo chiều hướng chạy dọc theo những lằn ranh của chủ thuyết Lenin và một học viện quân sự mới được thành lập trên đảo Whampoa (hoặc Huangpu Island : Hoàng Phố) để cung cấp hàng ngũ sĩ quan được huấn luyện. Chiang Kai-shek (i.e. Tưởng Giới Thạch), một trong những cấp tá trẻ đáng tin cậy nhất của Sun Yat-sen(pc 01), được bổ nhiệm là chỉ huy trưởng của trường, mà nó được đặt ở hạ lưu cách vài dặm từ thành phố; Zhou Enlai (i.e. Chu Ân Lai) trở thành ủy viên chính trị của trường.

Việc chuyển sang phe cách trái của Sun Yat-sen, tuy nhiên, thì không phải xảy ra tự nhiên; những quan hệ giữa chính phủ của ông ta và những đại diện cho lợi ích Âu châu ở Canton(pc 02) bắt đầu trở nên xấu đi. Đối với nhiều thương gia và nhà ngoại giao Tây phương trong thành phố, quyết định của ông Sun để thiết lập một mối quan hệ chính thức với Liên Xô và Đảng Cộng sản Trung Quốc cung cấp bằng chứng kết luận rằng ông ta và đảng phái của mình thì chống Tây phương trên cơ bản và đã trở thành móng vuốt-mèo của Moscow.

p113

Trong suốt vài tháng tới, tình hình ngày càng trở nên căng thẳng. Vào hè năm 1924, những cuộc đình công chống lại các công ty Anh ở Canton đã nổra để đáp trả cho sự kiện xảy ra bất ngờ được khích động bởi những người thừa hành Anh Quốc, những người mà đã từng áp đặt sự kiểm soát của cảnh sát để đè bẹp những cuộc biểu tình đường phố ở đảo Shamian (i.e. Hương Cảng, đảo nhỏ thuộc Quảng Châu), một tô giới Âu châu dọc theo những bờ sông Tây Giang (West River). Chính phủ của ông Sun tuyên bố sự hỗ trợ của nó cho những cuộc đình công. Vào  mùa thu đó, Hiệp hội Thương gia Quảng Châu, bị chi phối bởi những lợi ích thương mại Âu châu, thành lập một lực lượng dân sự để cung cấp cộng đồng Tây phương sự bảo vệ chống lại những lực lượng quân sự của ông Sun, và những cuộc đụng độ nổ ra giữa các đơn vị lực lượng dân sự và quân đội chính phủ.

Trong khi đó, tình hình bên ngoài Canton(pc 02) đột ngột thay đổi, khi Wu Peifu (i.e Ngô Bội Phu), một lãnh chúa vốn đã từng trong nhiều năm kiểm soát những phần phía bắc Trung Quốc, bị lật đổ “Tổng giáo hội Tin Lành” Feng Yuxiang (i.e. Phùng Ngọc Tường). Mặc dù ông Feng cũng là một lãnh chúa, ông ta được dân ở Canton (i.e. Quảng Châu) xem như thành phần nào đó có sự cảm thông với sự nghiệp cách mạng Trung Quốc hơn Wu Peifu; khi ông Feng mời Sun Yat-sen(pc 01) đến Bắc Kinh để thương nghị một hòa giải hòa bình, ông Sun đã đồng ý.

Mặc dù Nguyễn Ái Quốc đã chưa được gửi đến Trung Quốc trong một tư cách chính thức, anh ta không là phải không có những liên lạc. Anh ta lập tức tiếp xúc với Mikhail Borodin, người đã mời người mới tới đến cư ngụ ở chỗ của riêng mình tại Guan Baogong, một biệt thự khoảng khoác kiểu Tây phương được bao quanh bởi khu vườn, đối diện trụ sở chính của Quốc Dân Đảng trong trung tâm thành phố. Trên tầng trệt của tòa nhà là những văn phòng dành cho 20 đại diện Quốc tế Cộng sản được gửi từ Moscow. Trên tầng hai là căn buồng riêng biệt của ông Borodin, nơi anh Quốc làm nơi chỗ ở của mình. Để bảo vệ mình chống lại sự giám sát của Pháp hoặc sự bắt giữ bởi chính quyền địa phương như là một người nước ngoài bất hợp pháp, Quốc tự cho mình là một người Trung Quốc có tên là Lý Thụy. Chỉ có ông Borodin và vợ của ông ta nhận biết được chân tướng thực sự của mình.

Ông Borodin đã trở nên quen thuộc với nhà cách mạng Việt Nam trẻ tuổi ở khách sạn Lux khi cả hai sống ở Moscow năm trước đó. Cả hai nói tiếng Anh (ông Borodin đã từng trải qua một thời gian như là người tổ chức khối lao động ở thành phố Chicago trước Thế Chiến thứ I), và họ chia sẻ một lợi ích chung trong mong muốn thúc đẩy sự phát triển của phong trào cách mạng ở châu Á. Như là người đứng đầu trong nhiệm vụ Quốc tế Cộng sản cho chính phủ của ông Sun Yat-sen(pc 01) ở Canton(pc 02), ông Borodin có thể sẽ rất hữu ích đối với người cộng sự viên trẻ của mình.9

Sau khi giải quyết chỗ ở mới của mình, Nguyễn Ái Quốc được phân công làm việc tại văn phòng ROSTA cơ quan tin tức của Liên Xô, được đặt ở tầng trệt tại trụ sở chính của Comintern (i.e Quốc tế Cộng sản) tại Guan Baogong. Quốc viết bài cho cơ quan, vốn được gửi trở lại Moscow và xuất bản dưới bút danh Nilovskii,

p114

anh ta cũng phục vụ không chính thức như là một thông dịch viên và đại diện địa phương của Quốc tế Nông dân. Mục tiêu chính của anh ta, tuy nhiên, là tạo ra những hạt nhân cho một đảng cách mạng Việt Nam mới được xây dựng trên mô hình theo chủ thuyết Lenin. Anh ta sau đó có thể bắt tay vào mục tiêu dài hạn về việc đặt vài qui cũ vào trong phong trào kháng chiến Việt Nam và chuyển đổi nó thành một sức mạnh đáp ứng mong muốn của mình.

Chiến lược cách mạng vốn đã được hoạch định bởi Quốc tế Cộng sản tại Đại hội lần Thứ hai ở Moscow cung cấp cho anh ta những nguyên tắc hướng dẫn tổng quát về việc thiết lập một quá trình chuyển động. Một trong những quy định là một số biện pháp về sự hợp tác cần phải nên thực hiện với nhóm dân tộc chủ nghĩa không-Cộng-sản hiện hữu đang hoạt động trong vùng lân cận, một mục tiêu mà anh ta đã nêu ra trong những báo cáo của anh ta cho những nhà lãnh đạo Quốc tế cộng sản ở Moscow. Nhưng Nguyễn Ái Quốc đã thực sự nhận biết rằng những nguyên tắc hướng dẫn này không hoàn toàn phù hợp để đáp ứng những nhu cầu của mình. Tại một cuộc họp được tổ chức để thảo luận về vấn đề thuộc địa tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần Thứ năm vào mùa hè năm 1924, anh ta đã hỏi Dmitri Manuilsky, một chuyên gia Quốc tế cộng sản về vấn đề cai trị thuộc địa, những gián điệp Cộng sản Á Châu nên làm gì ở nơi mà không có đảng phái quốc gia quần chúng tồn tại. Không thể không nghi ngờ rằng ông Manuilsky, người có ít kinh nghiệm trong những vấn đề Á châu, đã từng nghĩ về câu hỏi đó. Tuy nhiên, anh ta đã cố gắng thêm thắt một cách ngẫu hứng về chiến lược “mặt trận liên kết” của Lenin, đề nghị rằng nơi nào không có phong trào quốc gia quần chúng hiện hữu từ trước, đảng Cộng sản địa phương nên chủ động thành lập một đảng dưới bộ phận lãnh đạo của riêng nó.10

Sẽ không dễ dàng gì thực hiện đề nghị của Manuilsky ở Đông Dương. Như Nguyễn Ái Quốc đã báo cáo với những cộng sự viên Quốc tế cộng sản trong khi anh ta vẫn còn đang ở Moscow, tầng lớp công nhân Việt Nam, được xem là sức mạnh hàng đầu trong một đảng phái theo chủ nghĩa Marx-Lenin trong tương lai, vẫn còn ở giai đoạn phôi thai, lên đến chỉ khoảng 2% dân số, bao gồm những thợ mỏ than đá, là những người được phân tán rộng rãi khắp ba lãnh thổ của Bắc Bộ, An Nam, và Bắc Bộ. Trong nhận thức về chính trị, những công nhân Việt Nam còn ở phía sau những đối tác của họ ở nước láng giềng Trung Quốc và hiển nhiên khả năng dẫn đầu trong việc tiến hành một cuộc tổng nổi dậy chống lại sự cai trị của thực dân Pháp.

Nguyễn Ái Quốc đã ghi chú ở Moscow rằng đó là những người trí thức yêu nước dẫn đầu cuộc đối kháng đầu tiên của người Việt đối với hệ thống thuộc địa. Thật không may, rất ít người có nhận thức về ý thức hệ của chủ thuyết Marx. Ở Pháp, sự hiện diện về quan điểm cấp tiến xã hội trong số giới trí thức được tính trở lại ít nhất đến cuộc cách mạng năm 1789; ở Nga, họ đã mọc lên trong suốt giữa thế kỷ 19 với Narodniks; thậm chí ở Trung Quốc, những hệ tư tưởng cấp tiến từ phương Tây như chủ nghĩa vô chính phủ và chủ nghĩa cộng sản đã trở thành quen thuộc với những thành viên hàng đầu của phong trào tiến bộ lúc bước vào thế kỷ 20.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Sun Yat-sen : Tôn Dật Tiên.
pc 02_Canton : Quảng Châu.
pc 03_ Đoàn Thanh niên Cách mạng : Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.

pc 04_ Machiavellian được viết hoa vì nó được lấy ra từ tên của một nhà ngoại giao kiêm nhà văn người Ý, Niccolò Machiavelli, trong thời kỳ Phục hưng. Từ ngữ nầy được dùng trong khoa tâm lý học hiện đại chỉ về một trong tam hắc thể (dark triad) của nhân cách.
          _ narcissistic : tính tự đại, phô trương, tự kỷ bản vị, không cảm thông.
          _ Machiavelli : tính quỷ quyệt, nham hiểm, gian xảo, bất chấp đạo đức, vì quyền lợi cá nhân.
          _ psychopath hoặc antisocial : tính chống đối xã hội, thích khích động, ích kỷ, tàn nhẫn, cách biệt.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s