VIII- Hang Động Tại Pác Bó (Phần 3-Hết)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p249

Anh ta chỉ nói bằng tiếng Pháp, mặc dù có một lần, anh ta sơ suất. Khi một cộng sự viên làm rơi tàn thuốc lá trên quần áo của mình, anh Quốc vô tình đã cảnh cáo anh ta bằng tiếng Việt rằng quần của anh ta đang cháy.25

Nguyễn Ái Quốc vẫn ở Tiandong một thời gian ngắn, trong khi Phạm Văn Đồng tiếp tục đến Jingxi,(pc 24) gần biên giới, để chuẩn bị tình hình cho chuyến đến của nhóm. Cuộc hành trình cuối cùng được thực hiện bằng chân trên những đường núi mòn vào thời điểm nào đó trong tháng Mười Hai. Khi đến Jingxi, anh Quốc tìm chỗ ở trong làng Xinxu gần đó, và sau đó bảo Vũ Anh vượt biên giới vào Đông Dương để tìm một vị trí thích hợp cho cuộc họp sắp tới của Ủy ban Trung ương. Địa điểm, anh ta ra chỉ thị, nên ở trong một khu vực nơi mà dân cư địa phương có cảm tình với cách mạng, và nó cần phải có một đường thoát trở lại vào Trung Quốc nếu điều đó tỏ ra cần thiết.

Mục đích chính của việc di chuyển trụ sở ở bên ngoài của Đảng từ Guilin đến Jingxi là để lợi dụng sự hiện diện của những chiến binh kháng chiến vốn là những người ở đó đang nhận được sự huấn luyện và vũ khí dùng để chống lại người Nhật và người Pháp. Sau khi đến, Nguyễn Ái Quốc chỉ thị Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng thành lập một chương trình đào tạo của Đảng ở Jingxi để cung cấp việc tuyên truyền chính trị và dạy dỗ cách mạng cho những cán bộ trẻ. Phần đầu tiên của những khóa học, được giảng dạy theo một giai đoạn hai tuần vào tháng Giêng năm 1941, bao gồm các khóa học trong ba lĩnh vực chính: tình hình về thế giới và về Đông Dương; cách nào sử dụng những tổ chức quần chúng; và những phương pháp tuyên truyền, tổ chức, đào tạo, và đấu tranh cách mạng. Những tài liệu đào tạo được soạn thảo theo sự điều hành của Nguyễn Ái Quốc, và được in bằng thạch bản theo một cuốn sách nhỏ được gọi là Con đường Giải Phóng. Những khóa học được giảng dạy ở một lùm cây bóng mát trên một sườn đồi ngay bên ngoài thị trấn. Nguyễn Ái Quốc đóng một vai trò tích cực như là một thuyết trình viên, không mệt mỏi lặp lại cho mỗi lớp tầm quan trọng của tư cách thích hợp đối với người dân địa phương, bao gồm sự cố gắng học hỏi ngôn ngữ của dân tộc thiểu số và bắt chước theo những phong tục địa phương, cũng như tầm quan trọng về việc vận phục theo quần áo địa phương để duy trì sự bí mật. Sau khi hoàn tất chương trình, những người tốt nghiệp tham gia vào nghi lễ trong một khu rừng dọn sạch, mỗi người bước về phía trước hôn vào biểu tượng mang tính chất quốc gia trong tương lai –một lá cờ đỏ với sao vàng ánh. Sau đó, họ trở lại Đông Dương.

Nguyễn Ái Quốc cũng cố gắng củng cố mối liên hệ mong manh của Đảng với Trương Bội Công. Anh Quốc đã gởi Hoàng Văn Hoan, Võ Nguyên Giáp, và Phạm Văn Đồng đến nói chuyện với ông Công về việc thành lập một tổ chức mới, được gọi là Uỷ ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam để tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác giữa những người đi theo của ông Công, mà nhiều người trong số họ là thành viên của VNQDĐ, và những thành viên của Đảng riêng mình.

p250

Tổ chức mới được chính thức được thành lập vào tháng Mười Hai năm 1940 và anh Quốc, đang hoạt động dưới tên Hoàng Quojun, được phục vụ như là Chủ tịch của ủy ban điều hành của nó .26

Nhưng Nguyễn Ái Quốc dành phần lớn thời gian của mình chuẩn bị cho một cuộc họp sắp tới của Ủy ban Trung ương, sau này được mệnh danh trong lịch sử Đảng như là Phiên họp Toàn thể lần Thứ tám nổi tiếng. Vào đầu năm 1941, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, tất cả thành viên của Ủy ban Trung ương lâm thời vốn đã được thành lập ở Bắc Bộ, hai tháng trước đó, đến Jingxi để báo cáo với anh ta về tình hình trong nội bộ. Vũ Anh cũng đã trở về từ chuyến đi trinh sát ngắn của mình qua biên giới đến Đông Dương, sau khi định được một địa điểm thích hợp để tổ chức hội nghị; nó sẽ diễn ra trong một hang động rộng rãi không xa từ ngôi làng nhỏ của Pác Bó, trong một khu vực được đánh dấu bởi những vách đá vôi khổng lồ nhô ra ngoài đám rừng xanh dày đặc. Hầu hết dân địa phương thì thuộc nguồn gốc dân tộc Nùng. Vào ngày 26 tháng Giêng, Nguyễn Ái Quốc chia ra những người đi theo của mình thành hai nhóm: một nhóm cùng đi với anh ta trở lại Việt Nam ngụ lại Pác Bó, nhóm khác tạm thời vẫn ở Jingxi. Ngay trước chuyến khởi hành của nhóm anh ta, tất cả họ tham gia cùng dân địa phương trong dịp chúc mừng kỳ lễ Năm Mới truyền thống. Theo phong tục địa phương, anh Quốc tặng như món quà cho mỗi gia đình một mảnh giấy màu đỏ trên đó được viết những ký tự Trung Quốc lả Chúc Mừng Năm Mới. Vào ngày thứ 28, cùng đi với Vũ Anh, là Phùng Chí Kiên, Lê Quang Ba một cán bộ dân tộc thiểu số, và một số đồng chí khác, tất cả đều mặc theo trang phục người Nùng địa phương, Nguyễn Ái Quốc rời Jingxi và đi về hướng biên giới.

Chuyến đi chỉ có khoảng bốn mươi dặm (i.e. khoảng 65 km), nhưng việc đó thì thật khó khăn, khi mà con đường mòn uốn lượn trên những dòng suối nhỏ của vùng núi và những phần đất nhô lên cứng như đá và đám rừng già rối rắm. Vào đầu tháng Hai, họ vượt qua biên giới vào Việt Nam tại một địa điểm được đánh dấu bằng một trụ cột đá nhỏ. Từ đó, một con đường nhỏ đầy đá uốn vòng xuống xuyên qua khu rừng đến làng Pác Bó. Với sự trợ giúp của một cảm tình viên địa phương, nhóm dựng lên những chỗ ở của họ trong một hang động được biết đến đối với dân địa phương như là Cốc Bó và nằm phía sau một tảng đá ở phía bên của một trong những vách đá địa phương. Khoảng 140 bộ (i.e. khoảng 43 m) dưới miệng hang là một dòng suối nhỏ mà Nguyễn Ái Quốc đặt tên cho vị anh hùng Lenin của mình. Quan sát từ trên cao xuống nơi chốn là một cảnh bùng phát đồ sộ mà anh ta đặt tên là Đỉnh Karl Marx. Từ hang động, một con đường nhỏ bí mật ngoằn ngèo thẳng đến biên giới Trung Quốc, cách xa ít hơn nửa dặm (i.e. khoảng 0.8 km).

Trong những năm sau nầy, Nguyễn Ái Quốc và những cộng sự viên của mình sẽ nhớ những ngày của họ ở Pác Bó như là một trong những điều đáng nhớ nhất trong đời họ. Tuy nhiên, hoàn cảnh thì khắc nghiệt. Họ ngủ trên thảm bằng những cành cây, để lại cho họ với những tấm lưng bị bầm vào buổi sáng. Chính hang động thì lạnh và ẩm ướt, vì vậy, những người cư ngụ giữ một ngọn lửa nhỏ liên tục cả đêm. Như là thói quen của anh ta,

p251

Nguyễn Ái Quốc dậy sớm, tắm trong dòng suối, tập những bài thể dục buổi sáng của mình, và sau đó đi làm việc trên một tảng đá ở rìa Dòng Suối Lenin. Như mọi khi, anh ta dành nhiều thời gian mình chỉnh sửa bài viết, lần nầy thì làm việc trên tờ báo địa phương của Đảng, Việt Nam Độc Lập, vốn được sản xuất trên một bản thạch in. Những bữa ăn gồm cơm trộn với thịt bầm hoặc với cá từ dòng suối. Vào chiều tối, nhóm sẽ tập trung ở bờ cạnh hang động, nơi mà Nguyễn Ái Quốc giảng dạy những cộng sự viên của mình về lịch sử thế giới và những cuộc cách mạng hiện đại. “Giờ nầy đến giờ khác, ngồi chung quanh đóng lửa” như Võ Nguyên Giáp sau này nhớ lại, “chúng tôi lắng nghe anh ta, như những đứa trẻ nghe chuyện huyền thoại.” Sự cảnh giác, tuy nhiên, thì cần thiết liên tục. Những cuộc tuần tra biên giới của chính quyền thuộc địa từ thị trấn Sóc Giang gần đó thì thường xuyên, và cảnh sát địa phương thường kỳ đến Pác Bó để tìm kiếm những tội phạm hoặc những người nấu rượu lậu. Có một lần, nhóm buộc phải tránh một cuộc tuần tra địa phương bằng cách ẩn núp dưới những tảng đá. Đêm đó, trời mưa nhiều, chảy tràn những dòng suối địa phương, và khi họ trở về Pác Bó, họ phát hiện ra những con rắn và động vật gặm nhấm đã vào hang của họ để tìm nơi ẩn náu từ dòng nước lũ. Nguyễn Ái Quốc chịu đựng tình trạng bất tiện với tính hài hước không bao giờ cạn của mình, nhưng nắm lấy cơ hội để cảnh cáo những cộng sự viên của mình luôn luôn duy trì bí mật và chú ý đến “ba không” (khi một Đảng viên bị bắt chuyện bởi một người lạ, anh ta sẽ nói một trong ba điều: tôi không thấy gì hết, tôi không nghe gì hết, hoặc tôi không biết gì hết). “Giữa kẻ thù và chính chúng ta,” anh Quốc cảnh cáo, “nó là một cuộc đấu tranh cho đến chết. Chúng ta phải có khả năng chịu đựng tất cả những gian khổ, vượt qua những khó khăn tồi tệ nhất, và đấu tranh đến cùng.”27

Trong suốt ba tháng tới, Nguyễn Ái Quốc và những cộng sự viên của anh ta cố gắng mở rộng nền tảng ủng hộ của họ ở khu vực biên giới bằng cách phân phối những bản sao của Việt Nam Độc Lập. Để làm cho nó dễ hiểu hơn đối với dân cư địa phương, nó được viết bằng văn xuôi đơn giản. Nó được bán ở mức giá không đáng kể hơn là cho không để tạo một ấn tượng rằng nó là một cái gì đó có giá trị. Những tổ chức quần chúng, được biết đến, kiểu Trung Quốc, như là Hội Cứu Quốc, được tạo ra dưới sự lãnh đạo của Đảng dành cho giới nông dân, thanh niên, phụ nữ, và binh lính, và một mạng lưới an ninh được thành lập khắp khu vực xung quanh để bảo vệ chống lại những gián điệp.

* * *

Phiên họp Toàn thể lần Thứ tám của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Pác Bó vào ngày 10 tháng Năm 1941, với Nguyễn Ái Quốc phục vụ như là người đại diện của Quốc tế cộng sản. Đó là cuộc họp đầu tiên của Ủy ban Trung ương mà anh ta đã chủ trì kể từ khi hội nghị thống nhất ở Hong Kong vào tháng Hai năm 1930.

p252

Thành phần tham gia là Anh Vũ, Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Phùng Chí Kiên, và Hoàng Quốc Việt, cũng như một số những đại biểu khác từ những miền khác của Đông Dương và ở nước ngoài. Những thành viên như Võ Nguyên Giáp, Hoàng Văn Hoan, và Phạm Văn Đồng vẫn được giao nhiệm vụ duy trì trụ sở chính bên ngoài của Đảng ở Jingxi, nơi mà ủy ban mới là Ủy ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam được thành lập với hợp tác của Trương Bội Công được cũng vừa bắt đầu phát động những hoạt động của riêng mình. Nhưng anh Quốc và những cộng sự viên của anh ta bây giờ tạo ra một tổ chức đối thủ, Hội Giải phóng Dân tộc, giành những phần tử không-Cộng-sản trong khu vực đến với Việt Minh.28

Nhiệm vụ chính của Phiên họp Toàn thể lần Thứ tám đã chính thức thành lập Mặt trận Việt Minh mới, mà đầu tiên đã được dự kiến bởi những người lãnh đạo Đảng vào cuối năm trước. Chương trình của mặt trận tượng trưng cho giai đoạn mới trong cuộc cách mạng Việt Nam. Theo nghị quyết được dự thảo tại cuộc họp, nhiệm vụ trước mắt cho dân Việt Nam là đấu tranh giải phóng dân tộc từ chế độ thực dân Pháp và lực lượng chiếm đóng Nhật Bản. Cuộc xung đột hiện nay đang quét qua thế giới là giữa hai nhánh cạnh tranh của chủ nghĩa đế quốc toàn cầu, và mặc dù nhiều quốc gia đang cố gắng giữ trung lập trong trận chiến, điều không thể tránh khỏi là toàn bộ thế giới sẽ bị kéo vào trong cuộc đấu tranh. Cuối cùng, chỉ như là Thế Chiến lần thứ I đã dẫn đến cuộc cách mạng Bolshevik ở Nga, vì vậy cuộc xung đột toàn cầu mới cuối cùng sẽ dẫn đến sự xuất hiện của nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa hơn. Như thế nhiệm vụ chính của mặt trận là chuẩn bị chiếm đoạt chính quyền tại thời điểm thích hợp.

Sự nhấn mạnh nặng về vấn đề độc lập quốc gia trong chương trình của mặt trận, dĩ nhiên, là một sự khởi hành cấp tiến từ những chính sách được thông qua tại đại hội quốc gia lần đầu tiên của Đảng ở Macao vào tháng Ba năm 1935, nhưng nó đại diện cho một đỉnh cao hợp lý đối với khuynh hướng vốn đã từng bắt đầu với Đại hội Quốc tế cộng sản lần Thứ bảy ở Moscow cùng một năm sau đó. Trọng tâm mới về các chủ đề quốc gia được phản ảnh trong tên chính thức của mặt trận, hội đoàn cho độc lập của Việt Nam, vốn không chỉ nhấn mạnh vấn đề độc lập mà còn thay thế thuật ngữ “Đông Dương” trong tên của Đảng Cộng sản với chữ nhiều cảm xúc hơn là “Việt Nam,” việc sử dụng danh từ đó đã có thời gian dài bị cấm bởi chế độ thực dân Pháp. Cái tên cũng xuất hiện trong những kháng cáo gởi ra cho toàn dân sau khi kết thúc cuộc họp. Trong một lá thư cho dân chúng ngày 06 tháng Sáu năm 1941, mà đã được xuất bản bằng cả những ký tự Trung Quốc và chữ viết Việt Nam theo La-tinh, Nguyễn Ái Quốc khích động tinh thần của những anh hùng trong quá khứ, cũng như những nhân vật yêu nước gần đây như là Phan Đình Phùng, để đánh thức những độc giả của mình bảo vệ di sản quốc gia của họ. Trong thư, anh ta kêu gọi tất cả những phần tử yêu nước, không chỉ là giới nông dân và công nhân

p253

mà còn là những địa chủ yêu nước và học giả quan chức, hòa nhập cùng nhau trong gắng sức chung.

Trong việc tập trung sự chú ý của Đảng trước và trước nhất về vấn đề độc lập của Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc và những cộng sự viên của mình đã dường như từ bỏ khái niệm (lần đầu được đặt ra tại hội nghị toàn thể đầu tiên của Đảng vào tháng Mười năm 1930) về một sự cố gắng trong khu vực để giải phóng tất cả Đông Dương và để tạo ra một liên bang của những tiểu bang Đông Dương độc lập riêng lẽ mà chúng sau đó sẽ thực hiện những giai đoạn sau của cuộc cách mạng. Thật ra, sự nghiệp của các dân tộc không phải người Việt của Đông Dương bị trì hoãn, nhưng không bỏ quên. Trong nghị quyết, những ủy ban khu vực của Nam Bộ và An Nam được chỉ thị để thành lập những cơ sở Đảng ở Cam-pu-chia và Lào, theo cách tương ứng theo vùng, cũng như trong số những dân tộc thiểu số khác, như thế tất cả có thể sau nầy chịu tùng phục dưới sự bảo trợ của những gì vẫn được mệnh danh là cách mạng Đông Dương.29

Mặc dù mặt trận mới nhấn mạnh tiên quyết vào nhiệm vụ lật đổ chủ nghĩa đế quốc, những vấn đề về chống chủ nghĩa quân chủ và sự thay đổi xã hội không hoàn toàn bỏ qua, kể từ khi những người lãnh đạo Đảng nhận thức được rằng họ cần nuôi dưỡng tập thể ủng hộ theo bản chất tự nhiên trong số giới công nhân và nông dân nghèo của họ để xây dựng một cơ sở cách mạng vững chắc cho cuộc đấu tranh tới. Đối với thời điểm này, tuy nhiên, chương trình xã hội của mặt trận thì tương đối khiêm tốn nhằm mục đích tránh xa những phần tử tiến bộ và yêu nước đáng ghét trong số tầng lớp quý tộc có đất đai và giai cấp tư sản. Những biểu ngữ vốn đã được dùng trong quá khứ ủng hộ việc tịch thu tất cả đất đai thuộc sở hữu của địa chủ, được thay thế bởi các cuộc kêu gọi giảm tiền thuê đất và thu giữ tài sản của những người theo đế quốc Pháp và những cộng tác viên người Việt của chúng. Như nghị quyết của Đảng đã nêu,

Những địa chủ, phú nông, và một phần giai cấp tư sản bản địa đã thay đổi rất nhiều thái độ của họ. Trước đây, họ có ác cảm đối với cách mạng và muốn tiêu diệt nó hoặc tỏ ra thờ ơ. Bây giờ tình hình đã thay đổi, và với sự ngoại lệ của một vài “con chó hoang” vốn là những người tâng bốc và bợ đỡ kẻ thù Nhật Bản, phần lớn những người như vậy có cảm tình đối với cách mạng hoặc ít nhất là trung lập… Nếu trước đây những địa chủ và giai cấp tư sản bản địa là đội quân dự bị của đế quốc chống cách mạng, bây giờ họ đã trở thành khối dự bị của cách mạng.

Điều đó rõ ràng là, tuy nhiên, chính sách chỉ là chiến thuật:

Điều nầy không có nghĩa là Đảng của chúng ta đang bỏ qua vấn đề đấu tranh giai cấp trong cuộc cách mạng Đông Dương. Không, vấn đề đấu tranh giai cấp sẽ tiếp tục tồn tại.

p254

Tuy nhiên, tại thời điểm hiện tại, quốc gia có quan trọng hàng đầu, và tất cả các nhu cầu lợi ích cho một lớp học cụ thể nhưng có hại cho lợi ích quốc gia phảiđược subodinated cho sự sống còn của dân tộc và chủng tộc. Tại thời điểm này, nếu chúng ta không giải quyết vấn đề giải phóng dân tộc, và không đòi hỏi độc lập và tự do cho toàn dân, sau đó không chỉ toàn bộ người dân của đất nước chúng ta sẽ tiếp tục sống cuộc sống của con thú, nhưng cũng là lợi ích cụ thể các lớp học cá nhân xã hội sẽ không thể đạt được cho hàng ngàn của years.30

Mục tiêu trước mắt là như thế để xây dựng một phong trào toàn quốc vì độc lập dân tộc, một phong trào mà có thể không chỉ giành sự ủng hộ của khối dân Việt Nam mà còn thậm chí có được sự đồng cảm của những dân tộc tiến bộ trên toàn thế giới. Chiến thắng sẽ tượng trưng cho một thắng lợi lớn của cuộc cách mạng dân chủ tư sản và mở ra sự hình thành của một chính quyền vô-sản-nông-dân được thống trị bởi Đảng Cộng sản. Sau đó sẽ có thừa thời gian để di chuyển hướng về giai đoạn thứ hai, hoặc là xã hội chủ nghĩa vô sản, của cách mạng. Trong khi đó, Đảng hy vọng rằng những phần tử bị đàn áp trong dân cư sẽ hỗ trợ một cách nhiệt tình sự nghiệp.

Về vấn đề thiết lập Mặt trận Việt Minh, Nguyễn Ái Quốc đã từng tìm cách để tái tạo qua hình thức hơi tiên tiến hơn chương trình mà anh ta đã thành lập lúc đầu với sự hình thành của Đoàn Thanh niên Cách mạng vào giữa những năm 1920s. Hai trụ cột của mặt trận sẽ là vấn đề độc lập dân tộc và công bằng xã hội, những lời kêu gọi vốn có thể hy vọng sẽ có được sự ủng hộ rộng lớn khắp phần lớn đất nước. Gần hai thập kỷ sau cái chết của Lenin, chiến lược của ông ta đã được hồi sinh ở vùng xa tít Đông Dương. Tuy nhiên, trong việc thành lập một mặt trận mới bên trong Đông Dương, anh Quốc đang đánh cuộc rằng tình hình trên toàn thế giới sẽ chuyển hướng thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam. Có phải chăng sự chiếm đóng của Nhật sẽ dẫn đến sự suy yếu của chế độ thực dân Pháp không? Có phải chăng chính Phát xít Nhật cuối cùng sẽ bị đánh bại bởi một liên minh lực lượng dân chủ trên khắp thế giới không? Có phải chăng những Đồng minh chiến thắng sẽ có cảm tình đối với việc thành lập một chính phủ độc lập mới của giới nông dân và công nhân ở Hà Nội không? Tất cả vẫn còn chờ xem.31

Mục tiêu cuối cùng của Mặt trận Việt Minh, tất nhiên, là để giúp Đảng trong cuộc đấu tranh cho quyền lực. Phiên họp Toàn thể lần Thứ sáu vào tháng Mười Một năm 1939 đã thiết lập một giai đoạn bằng cách kêu gọi một cuộc nổi dậy vũ trang để nắm lấy quyền lực và khôi phục nền độc lập dân tộc. Mục tiêu đó tạm thời bị hủy bỏ với việc bị bắt giữ của Nguyễn Văn Cừ và nhiều người còn lại của ủy ban trong những tháng theo sau; lúc bấy giờ, với sự bùng nổ của cuộc xung đột toàn cầu,

p255

mục tiêu đó được hồi sinh bời ban ngoài lãnh đạo bên ngoài của Đảng trong một hình thức cụ thể hơn. Trường hợp những người lãnh đạo Đảng trước đây đã không cụ thể về việc làm cách thế nào thực hiện một cuộc nổi dậy trong tương lai chống lại chế độ thuộc địa, hiện tại họ bắt đầu chú ý gần gũi hơn đến những hình thức đấu tranh mà chúng sẽ phù hợp nhất cho cơ hội nào đó.

Trọng tâm đối với nhiệm vụ này là nhận định sự kiểm tra về chiến lược và chiến thuật được thông qua bởi ĐCSTQ(pc 02) trong cuộc xung đột của riêng nó với chính phủ Dân quốc của Chiang Kai-shek(pc 11) và sau đó chống lại những kẻ xâm lược Nhật Bản. Vào đầu những năm 1930s, những người lãnh đạo ĐCSĐD đã trung thành theo những hướng dẫn chiến lược được xây dựng ở Moscow, mà nó kêu gọi một cuộc nổi dậy trong tương lai được tập trung vào sự kiểm soát những thành phố lớn. Nhưng vào cuối thập kỷ này, những người hoạt động hiến dâng, trẻ của Đảng như là Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thụ bắt đầu chuyển hướng đến kinh nghiệm của Trung Quốc cho cảm hứng. Họ đọc những tác phẩm của Mao Zedong(pc 25) và bắt đầu bày tỏ sự thích thú trong việc áp dụng chiến lược của ông ta, mà nó được dựa trên sự phát động chiến tranh du kích ở nông thôn, bên trong Việt Nam. Trong suốt giai đoạn cư trú của mình ở Trung Quốc vào cuối những năm 1930s, Nguyễn Ái Quốc đã tự phát triển một vài sự quen thuộc với những ý tưởng của ông Mao về chiến tranh cách mạng, và anh ta chắc chắn tìm thấy khái niệm của ông Mao về “chiến tranh nhân dân” có thể phù hợp như là một vũ khí để tạo nên một khu vực cơ sở giải phóng ở đất nước của anh ta. Nhưng đối với anh Quốc, không chỉ là vấn đề về loại gì của chiến thuật cách mạng chọn lấy; cũng rất là quan trọng để quyết định khi nào đưa chúng vào hiệu lực, và làm cách thế nào sử dụng chúng hiệu quả nhất để chiếm đoạt quyền lực ở cuối của chiến tranh. Như là một quốc gia nhỏ hiện tại bị chiếm đóng bởi hai kẻ thù mạnh mẽ, Việt Nam không có lợi thế về kích thước mà đã cho phép Mao và những cộng sự viên của ông ta thiết lập một khu vực căn cứ rộng lớn ở phía bắc Trung Quốc. Một cuộc nổi dậy nơn nớt do ĐCSĐD có thể dẫn đến một sự đàn áp kịch liệt và phá hủy phong trào ngay vừa khi lời hứa giải phóng dân tộc sắp sửa bừng sáng. Anh Quốc ngay bây giờ sẽ cần phải cảnh cáo những người cộng sự viên cứng đầu hơn của anh ta rằng rất cần thiết để chuẩn bị một lực lượng quân sự nhỏ nhoi của Đảng cho một cuộc khởi dậy cuối cùng tại thời điểm cơ hội tối đa, khi nước Nhật đã trên bờ vực thất bại ở bàn tay những kẻ thù của nó. Trong khi đó, họ nên hạn chế chính mình để củng cố cơ sở chính trị của họ bằng cách xây dựng một mạng lưới Việt Minh khắp nước, trong khi tạo ra một lực lượng quân sự nhỏ mà vào lúc đúng thời sẽ phát động những cuộc khởi dậy địa phương trong sự chuẩn bị cho cuộc tổng nổi dậy cuối cùng. Đối với những đơn vị du kích đã thực sự bắt đầu hình thành ở vùng núi Việt Bắc, một cơ sở được giải phóng có tiềm năng trong khu vực đó, bị cô lập từ trung tâm chính quyền Pháp và gần biên giới Trung Quốc, là đã có thể mạnh mẽ.

Nhiệm vụ cuối cùng của Phiên họp Toàn thể lần Thứ tám là lựa chọn một ủy ban trung ương mới. Khi Nguyễn Ái Quốc từ chối một cách khiêm tốn yêu cầu của những cộng sự viên mình để đảm nhận vị trí Tổng bí thư,

p256

sự lựa chọn rơi vào Trường Chinh, là người đã tạm thời chiếm vị trí đó kể từ mùa thu năm 1940. Sự lựa chọn dường như là một sự hợp lý. Đươc sinh ra trong một gia đình của những học giả ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1907, Chinh (tên thật là Đặng Xuân Khu) đã từng nhận được bằng tú tài tại một trường có uy tín là Lycée Albert Sarraut ở Hà Nội. Sau khi gia nhập Đoàn Thanh niên Cách mạng vào cuối những năm 1920s, anh ta bị giam giữ vì những hoạt động cách mạng. Được thả ra vào năm 1936, anh ta bắt đầu sự nghiệp như là một nhà báo trong khi phục vụ đồng thời như là một thành viên có ảnh hưởng của ủy ban khu vực ĐCSĐD ở Bắc Bộ. Tự hào trong tính cách của mình, thận trọng và kỹ lưỡng trong những hành động của mình, mô phạm trong quan hệ với các cộng sự viên của anh ta, anh Chinh có một cá tính của Nguyễn Ái Quốc thiếu niềm nở và hướng theo ý thức hệ mạnh mẽ, nhưng anh ta có thể được mong đợi sẽ thêm một tiếng nói chín chắn vào những suy tính thiệt hơn của Đảng khi nó bước vào một giai đoạn định mệnh mới trong sự nghiệp của nó. Ngay sau khi hội nghị bế mạc vào ngày 19 tháng Năm, anh Chinh đến Hà Nội để thiết lập một trụ sở bí mật cho Uỷ ban Trung ương. Những thành viên khác trở lại miền Nam Trung Quốc để tìm kiếm sự trợ giúp từ nước ngoài. Vào thời điểm này, Nguyễn Ái Quốc vẫn ở khu vực biên giới. Tuy nhiên tinh thần của anh ta ắt hẵn cao, vì bây giờ anh ta trở lại Việt Nam sau ba mươi năm ở nước ngoài.

Khi Nguyễn Ái Quốc bí mật lẻn ra khỏi Hong Kong đến Xiamen (i.e. Hạ Môn) vào tháng Giêng năm 1933, vị trí của anh ta như là lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã là một vị trí mong manh. Chiến lược mà anh ta đã từng theo tại thời điểm thành lập Đoàn Thanh niên cách mạng năm 1925 đã được bác bỏ bởi Moscow và là tác động cho sự tấn công bởi những thành viên trẻ của Đảng, mà nhiều người trong số họ đã có được sự đào tạo về ý thức hệ tại Trường Stalin. Tuy nhiên, vào lúc chuyến trở về của anh ta đến khu vực vào mùa xuân năm 1940, vai trò hàng đầu của anh Quốc qua phong trào rõ ràng được chấp nhận mà không có sự do dự từ các Đảng viên bên trong nước. Một phần, đây là sự chứng thực cho một thực tế rằng quan điểm chiến lược của anh ta đã được bào chữa tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần Thứ bảy, vốn nhận ra muộn màng rằng những cuộc cách mạng châu Á có động lực riêng của chúng và không cần gắn bó vào mô hình Bolshevik. Anh ta cũng là người vô tình thụ hưởng tính kỹ lưõng của ông Sûreté, mà qua đó theo một cách có hệ thống đã loại bỏ hầu hết những đối thủ tiềm năng của ông ta, bao gồm Trần Phú, Hà Huy Tập, và Lê Hồng Phong. Vào thời điểm này, trong bất kỳ trường hợp nào, không một ai trong Đảng dám thách thức anh ta, và anh ta lợi dụng hết mức uy tín của mình và sự nghiệp được huyền thoại của anh ta đã như là một nhà cách mạng xác nhận quyền lãnh đạo Đảng.

Đối với những trường hợp này, điều không rõ ràng là lý do tại sao Nguyễn Ái Quốc quyết định từ chối vị trí Tổng bí thư, mà nó sẽ cho anh ta sự nắm giữ chắc chắn trên những đòn bẩy quyền lực trong Đảng. Có lẽ anh ta vẫn xem mình như là một người điều hành trên sân khấu thế giới,

p257

như là một mật vụ của Quốc tế Cộng sản một người mà một ngày nào đó sẽ điều khiển sự trỗi dậy của làn sóng cách mạng mà nó sẽ quét sạch ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc trên toàn khu vực Đông Nam Á. Có lẽ, cũng, anh ta đã bắt đầu chú mục vào tương lai khi, như là Chủ tịch, anh ta có thể hy vọng vượt lên trên những sự kiềm chế của đấu tranh giai cấp được tượng trưng bởi Đảng Cộng sản để đại diện cho tất cả người dân trong cuộc đấu tranh của họ để xây dựng một Việt Nam độc lập và thịnh vượng.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Biến cố Mukden : còn được gọi là biến cố Mãn Châu, là một sự kiện có giai đoạn được sắp đặt bởi những nhân viên quân sự Nhật Bản như là một cái cớ cho sự xâm chiếm phần đất phía bắc của Trung Quốc, được biết như là Manchuria (i.e Mãn Châu), vào năm 1931.

pc 02_ ĐCSTQ : Đảng Cộng sản Trung Quốc.
pc 03_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.
pc 04_ VNQDĐ : Việt Nam Quốc dân Đảng.
pc 05_ Xi’an : thủ phủ Tây An (thuộc tỉnh Thiểm Tây).
pc 06_ Yan’an : Diên An.
pc 07_ Yangtze : Dương Tử.
pc 08_ Guilin : Quế Lâm.
pc 09_ Hu Gaung : Hồ Quảng.
pc 10_ Shanghai : Thượng Hải.
pc 11_ Chiang Kai-shek : Tưởng Giới Thạch.
pc 12_ Lanzhou : Lan Châu.
pc 13_ Guangxi : Quảng Tây.
pc 14_ Chongqing : Trùng Khánh.
pc 15_ Canton : Quảng Đông.
pc 16_ Guiyang : Quí Dương.
pc 17_ Kunming : Côn Minh.
pc 18_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 19_ Yunnan : Vân Nam.
pc 20_ Hoàng Văn Thụ là dân tộc Tày, cũng như Hoàng Đình Giong, không phải dân tộc Thái như tác giả lầm tưởng khi viết chữ “Tho”.

pc 21_ Nanjing : Nam Kinh.
pc 22_ Liuzhou : Liễu Châu.
pc 23_ Siam : Xiêm La = Thái Lan.
pc 24_ Jingxi : Tĩnh Tây.
pc 25_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s