IX- Thủy Triều Đang Lên (Phần 3)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p278

Ngay sau khi cuộc tấn công của Nhật vào Trân Châu Cảng vào tháng Mười Hai năm 1941, Tổng Bí thư Trường Chinh đã ban hành một communiqué (i.e. thông cáo) phân tích tình hình thay đổi trên thế giới có thể ảnh hưởng như thế nào đến vận mệnh dân Việt Nam và Đảng nên phản ứng ra sao. Trong “Chiến tranh Thái Bình Dương và những Nhiệm vụ khẩn cấp của Đảng,” ông ta tuyên bố rằng trong trường hợp của một cuộc xâm lược Đông Dương bởi quân đội Trung Hoa Dân quốc, lực lượng Việt Minh nên chào đón họ và cung cấp cho họ sự hỗ trợ, trong khi đồng thời cảnh cáo họ rằng họ không nên đến như là những kẻ chinh phục. Ông ta nghĩ có thể là lực lượng hoàng gia Anh và Mỹ cũng sẽ quyết định xâm chiếm Đông Dương, trong trường hợp đó Đảng nên vui lòng nhượng bộ theo nguyên tắc để bảo đảm sự ủng hộ của họ. “Nếu họ đồng ý giúp đở cuộc cách mạng ở Đông Dương,” ông ta nói, “chúng ta có thể chấp nhận họ về những lợi thế kinh tế.” Nhưng nếu họ để tìm cách hỗ trợ phong trào Dân Pháp Tự Do của Charles de Gaulle trong việc khôi phục quyền kiểm soát của Pháp trên khắp khu vực, “chúng ta sẽ quyết liệt chống đối và tiến hành cuộc đấu tranh của chúng ta để giành độc lập.” Nếu thời gian sắp đến khi quân đội hoàng gia và Mỹ bắt đầu đến mỗi địa phương, ông ta chỉ thị những cán bộ Đảng huy động sự ủng hộ quần chúng để dựng lên chính quyền cách mạng nhân dân, mà sau nầy chính quyền đó sẽ bước vào những cuộc đàm phán với lực lượng Đồng minh đang đến. “Chúng ta nên đề phòng chống lại ảo tưởng là Chiang Kai-shek(pc 03) và đội quân Mỹ gốc Anh sẽ mang lại sự tự do cho chúng ta,” ông ta cảnh cáo. “Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc hiễn nhiên chúng ta phải tìm kiếm những đồng minh –ngay cả khi họ là tạm thời, nửa vời, hoặc có điều kiện– nhưng cuộc đấu tranh nhất định không kém thành quả vì những cố gắng của riêng chúng ta.”

Trường Chinh kết luận bằng cách chỉ trích những đề nghị của những phần tử “cánh tả” hung hăng trong phạm vi nội bộ Đảng vốn là những người ủng hộ một cuộc nổi dậy toàn quốc vào lúc có cuộc xâm lược của Trung Quốc. “Hoàn cảnh cho một cuộc nổi dậy ở Đông Dương”, ông ta cảnh cáo, “thì chưa chín muồi.” Phong trào ở những khu vực nông thôn thì tích cực hơn ở những thành phố, và ở Việt Nam nhiều hơn là ở vùng láng giềng Lào và Cam-pu-chia. Ông Chinh đã thực sự nhận xét rằng trong trường hợp hoàn cảnh đã chín muồi ở một khu vực địa phương, chính quyền nhân dân lâm thời có thể được thành lập ở đó trước khi có cuộc tổng khởi dậy.27

Đến đầu năm 1943, khả năng của một cuộc xâm lược Đông Dương bởi lực lượng Đồng Minh ngày càng đang tăng thêm. Để chuẩn bị cho sự việc có thể xảy ra, vào cuối tháng Hai Trường Chinh triệu tập một cuộc họp Uỷ ban Thường vụ tại Võng La, phía tây bắc của Hà Nội. Theo quan điểm của ủy ban, mặc dù phong trào cách mạng vẫn khốn khổ vì một số thiếu sót, nó đang đến gần những tiến bộ tuyệt vời. Vì vậy, phong trào quyết định bắt đầu lập kế hoạch cho cuộc tổng nổi dậy; nhằm nâng cao thêm những cố gắng trong tất cả khu vực để xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của phong trào; và nhằm mở rộng phong trào công nhân, bởi vì không có sự tham gia của dân sư thành thị, đó sẽ là điều khó khăn cho cuộc khởi nghĩa đạt được thành công ở những khu vực quan trọng đối với kẻ thù.

p279

Ủy ban kêu gọi sự mở rộng những tổ chức lao động và sự việc làm lan rộng hơn mặt trận dân chủ bao gồm những công dân Pháp có cảm tình với phong trào Dân Pháp Tự Do và những thành viên của cộng đồng Hoa kiều, cũng như tất cả các phần tử yêu nước trong dân cư người Việt.28

Trong khi Uỷ ban Thường vụ đang lo những việc sắp xếp của riêng mình, lãnh đạo Đảng từ hai khu căn cứ Cao Bằng và Bắc Sơn-Võ Nhai đang tổ chức hội nghị của riêng họ ở Lung Hoàng, thuộc huyện Hòa An, phía tây bắc của tỉnh Cao Bằng. Để chống lại những cố gắng của Pháp đàn áp phong trào, họ quyết định liên kết hai khu căn cứ và mở một tuyến đường thông tin liên lạc hướng về đồng bằng sông Hồng như là một giai đoạn đầu tiên trong việc hợp nhất Việt Bắc với phong trào cách mạng nơi khác trong nước, cũng như thành lập phương tiện liên lạc đáng tin cậy với Uỷ ban Thường vụ. Sau khi hội nghị kết thúc, những đơn vị du kích vốn đã rút lui về phía biên giới để thoát khỏi sự càn quét của Pháp, được lệnh trở lại những căn cứ ban đầu của họ ở Bắc Sơn-Võ Nhai, và họ bắt đầu đẩy về phía nam hướng tới Tuyên Quang, Vĩnh Yên, nơi có thị trấn buôn bán ở rìa đồng bằng vào khoảng hai mươi dặm tây bắc Hà Nội. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển về hướng Nam, những đơn vị cách mạng của Đội Cứu quốc Quân thuộc Chu Văn Tấn trong khu vực hiện nay được chia thành hai bộ phận và tiến dọc theo hai bên sông Cầu, mà nó chảy vào đồng bằng sông Hồng từ vùng núi phía bắc.

Trong khi đó, những phân đội du kích ở Cao Bằng đẩy về phía nam theo hướng Bắc Cạn và Lạng Sơn. Vào tháng Tám năm 1944, những nhóm quân xung kích nhỏ được chỉ huy bởi Võ Nguyên Giáp –đang tiến bước, sau này ông ta nhận xét, “giống như quả cầu tuyết”– tạo ra những khu căn cứ mới và tiến hành những hoạt động tuyên truyền đến tận phía nam miền núi ngay phía bắc Thái Nguyên, một thủ phủ bên rìa đồng bằng. Trong một khe núi ở giữa khu rừng gần Lang Cốc, họ thành lập một liên kết với những phân bộ của Đội Cứu Quốc Quân thuộc Chu Văn Tấn đang đẩy về phía tây từ Bắc Sơn-Võ Nhai. Những yếu tố đầu tiên của một khu căn cứ được giải phóng trong tương lai cuối cùng đã vào vị trí.

Như là một kết quả, sự tự tin được phản ảnh trong những quyết định như thế là điều gì đó non nớt. Đến mùa hè 1943, chính quyền thực dân Pháp càng ngày trở nên quân tâm về những  báo cáo của một cuộc xâm lược khu vực có thể trong tương lai bởi quân đội Trung Hoa Dân quốc, và họ nhận thức rõ về mức độ ngày càng tăng của sự hợp tác giữa chính quyền Trung Quốc và những phần tử Việt Nam Quốc dân Đảng đang sống lưu vong ở phía nam Trung Quốc. Mùa thu năm đó, Toàn quyền Decoux phát động một chiến dịch quân sự để làm sạch những phần tử kháng chiến ở ngoài Việt Bắc và thành lập sự hiện diện của Pháp mạnh mẽ hơn trong khu vực. Những đội tuần tra của Pháp gia tăng thêm,

p280

và chính quyền ban những phần thưởng lớn cho bất cứ ai là người sẽ cung cấp tin tức về vị trí của những người lãnh đạo kháng chiến. Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự kiểm soát của chính phủ, những quan chức tìm cách gôm dân cư địa phương vào trong những khu vực giám sát. Nhiều tá Cộng sản người bị bắt trong lưới, trong khi những người khác buộc phải chạy trốn đến những vùng cô lập hơn.29

Những vấn đề tương tự gây tai hại cho sự cố gắng xây dựng phong trào ở Hà Nội. “Đơn vị kỹ thuật” của Uỷ ban Thường vụ  thúc đẩy việc tuyên truyền cách mạng trong số dân cư thành thị đã bị đàn áp vào mùa xuân năm 1943. Những người lãnh đạo Đảng cố gắng thành lập một ủy ban thành phố trong thành phố, nhưng cố gắng đó cũng bị phá vỡ bởi lực lượng an ninh Pháp. Những đặc vụ của Đảng bấy giờ đang gặp khó khăn trong việc tuyển mộ ở những khu vực thành thị vì sự giảm bớt kích thước của phong trào lao động trong tất cả các thành phố, một hệ quả của suy giảm những hoạt động kinh tế trong suốt chiến tranh. Thương mại đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi chiến tranh, trong khi thuế má và những lệnh trưng dụng cho chiến tranh bởi chính quyền thì ở những mức độ trừng phạt. Mặc dù nhiều người lao động Việt Nam bực tức dưới kỷ luật nghiêm khắc của Nhật Bản và cảm thông với sự nghiệp cách mạng, một số người lo ngại tham gia vào những cuộc biểu tình và đình công. Vào tháng Tám, Hoàng Văn Thụ bị phản bội giải giao cho người Pháp bởi một gián điệp hai mang; ông ta bị xử tử vào tháng Năm năm 1943. Trường Chinh tìm cách lẫn trốn bị chụp ở một trạm kiểm soát của Pháp bằng cách giả dạng như là một đốc công điều hành lao động ở những cánh đồng gần đó.

Đến giữa năm 1944, tuy nhiên, tình hình của quân nổi dậy đang bắt đầu được cải thiện. Ở Việt Bắc, những cố gắng bình định của Pháp đã có một số thành công trong việc giảm đến mức độ chửng mực nào đó những hoạt động của Việt Minh, nhưng kết quả cuối cùng là mang lại sự tập trung lực lượng du kích ở những vùng kháng chiến, khi những người hoạt động bắt đầu tạo ra những chi bộ bí mật an toàn từ kẻ thù; những chi bộ này sau đó trở thành nền tảng cho việc mở rộng nhanh chóng của phong trào. Sự tăng trưởng tương tự đang bắt đầu diễn ra ở những vùng nông thôn thuộc miền Trung và miền Nam Việt Nam. Đồng thời, hoàn cảnh kinh tế liên tục xấu hơn ở khắp Đông Dương cuối cùng dẫn đến sự gia tăng có mức độ về sự bất mãn ở thành thị và một phạm vi bị tác động đang trỗi lên của những cuộc đình công. Mặc dù những mục tiêu của các người đình công thường là về kinh tế hơn chính trị, sự náo động tạo điều kiện thuận lợi cho những cố gắng tuyển dụng của Đảng, trong khi sự thông cảm cho giới lao động trong số những học sinh và công dân thuộc tầng lớp trung lưu thúc đẩy sự nghiệp.30

Trong một sự bừng lên của lòng tự tin, ủy ban ĐCSĐD(pc 01) đại diện cho ba tỉnh ở vùng biên giới gặp gỡ vào tháng Bảy năm 1944 để thảo luận một đề nghị của đồng chí Võ Nguyên Giáp khởi đầu cuộc chiến tranh du kích bằng một quan điểm tạo ra một khu căn cứ giải phóng. Một số tham dự có những quan tâm về việc liệu khu vực có thể được cầm giữ chống lại một cuộc phản công có thể được phối hợp bởi người Pháp. Họ cũng đặt câu hỏi liệu lực lượng du kích được chuẩn bị để tiến hành một cuộc đấu tranh kéo dài chống lại cả Pháp và Nhật Bản.

p281

Cuối cùng, hội nghị ​​thử đồng ý với đề nghị của ông Giáp, trong khi dành riêng sự cứu xét liệu những hoạt động du kích nên được tung ra ngay lập tức hoặc hoãn lại cho đến một ngày nào đó. Nhưng cuộc họp không đạt được một sự đồng thuận về việc liệu có nên bắt đầu xây dựng một đội quân giải phóng. Khi Giáp bắt đầu đề xướng việc tiến hành sáng kiến ​​riêng của mình, Vũ Anh (vốn là một thành viên cao cấp của Ủy ban Trung ương) hủy bỏ mệnh lệnh.

Khi Vũ Anh và Võ Nguyên Giáp đến Jingxi(pc 08) vào giữa tháng Chín để chào đón Hồ Chí Minh và đi cùng ông ta trở lại Pác Bó, ông Giáp báo cáo về những quyết định đạt được tại hội nghị tháng Bảy và phát họa kế hoạch. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng khuyến nghị để phát động một chiến dịch tấn công ở Việt Bắc chỉ được dựa trên tình hình địa phương và không sự lưu tâm đến tình hình ở nơi khác trong nước. Ông Hồ tin rằng để ném tất cả lực lượng vào trong một cuộc nổi dậy theo quy mô lớn sẽ có chiều hướng liều lĩnh của một cuộc thoái trào chính lớn hơn sự kiện gặp phải vào cuối năm 1943. Mặc dù phong trào đang phát triễn về sức mạnh, không có khu vực nào của đất nước có lực lượng của Đảng được chuẩn bị sẵn sàng để phát động cuộc đấu tranh vũ trang trong sự ủng hộ của cuộc nổi dậy ở Việt Bắc. Chính đối phương do đó có thể tập trung lực lượng chống lại những chiến binh ở khu vực biên giới, nơi mà lực lượng của nó trong bất kỳ trường hợp nào không có đủ những đơn vị vũ trang chính quy thích hợp để phục vụ như là một trục điểm. “Giai đoạn của cuộc cách mạng ôn hòa đã qua,” ông Hồ kết luận, “nhưng giờ khắc của các cuộc tổng nổi dậy chưa vang lên được,” Ông ấy cảm thấy rằng cuộc đấu tranh chính trị thì không còn đủ thích hợp, nhưng cuộc khởi nghĩa vũ trang vẫn còn quá nguy hiểm để nhận lấy; rằng một cuộc đấu tranh phải bắt đầu chuyển đổi từ chính trị đến một giai đoạn bạo lực, nhưng thời điểm này, những hoạt động chính trị phải tiếp tục có sự ưu tiên.31

Hồ Chí Minh đã thực sự đưa ra một vài an ủi nào đó cho cộng sự viên trẻ của mình. Trong khi từ chối đề nghị của ông Giáp bắt đầu việc tạo ra một đội quân giải phóng của nhân dân, ông ta đồng ý bắt đầu sự hình thành những đơn vị đầu tiên của quân đội như vậy trong tương lai. “Nếu chúng tôi không là một lực lượng mạnh nhất,” ông ta lưu ý, “không có lý do gì cho chúng ta bị tiêu diệt mà không có một phản ứng.” Ngày hôm sau, ông Giáp sau này nhớ lại, Ông Hồ đưa ra đề nghị rằng những đơn vị cách mạng mới này tạm thời được mệnh danh là “Quân đội Tuyên truyền và Giải phóng Việt Nam,” vì chúng sẽ chủ yếu được tham gia vào nhiệm vụ huy động lực lượng chính trị của quần chúng trong việc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa trong tương lai.

Võ Nguyên Giáp và Vũ Anh còn thêm một ngày nữa ở Pác Bó để nghiên cứu tình hình và phát họa những kế hoạch cho những lữ đoàn tuyên truyền vũ trang mới. Ông Hồ cho họ một vài lời khuyên chia tay: “Bí mật, luôn luôn là bí mật. Hãy để cho đối phương nghĩ rằng đồng chí hướng về phía tây khi đồng chí ở phía đông. Hãy tấn công bất ngờ và rút lui trước khi kẻ thù có thể đáp trả” Khi chuyến trở về khu căn cứ Bắc Sơn-Võ Nhai của ông Giáp, ông ta tiến hành thiết lập những đơn vị mới đầu tiên. Ba mươi bốn thành viên của lữ đoàn đầu tiên được đặc biệt chọn lựa

p282

bởi những cán bộ lãnh đạo và bao gồm một số học viên tốt nghiệp từ chương trình đào tạo ở phía nam Trung Quốc. Từ Hồ Chí Minh ở Pác Bó đến một tin nhắn chúc mừng, được viết trên một mảnh giấy nhỏ xíu được giấu kín trong một gói thuốc lá:

Lữ đoàn tuyên truyền của Quân đội Giải phóng Việt Nam được gọi là người anh lớn cho một gia đình đông người. Tôi hy vọng rằng vẫn còn những lữ đoàn khác sẽ sớm nhìn thấy ánh sáng ban ngày. Tuy khiêm tốn trong sự khởi đầu của nó, nó sẽ tìm thấy rộng thoáng trước nó những triển vọng rực rỡ nhất. Chính là một phôi thai của quân đội giải phóng trong tương lai của chúng tai, và có được chiến trường của nó khắp toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam, từ Bắc đến Nam.

Với sự hình thành của những đơn vị đầu tiên thuộc những lữ đoàn tuyên truyền vũ trang vào ngày 22 tháng Mười Hai, 1944, hình dáng của các lực lượng vũ trang cách mạng trong tương lai –được biết đến như là Việt Nam Giải Phóng Quân (VNGpQ)– bắt đầu có hình dạng. Những lữ đoàn tuyên truyền vũ trang đại diện các đơn vị lực lượng chính quy còn non trẻ đầu tiên của phong trào. Họ sẽ bổ sung lực lượng du kích được tổ chức và chỉ đạo ở cấp huyện, cũng như những đơn vị dân quân tự vệ được tuyển dụng ở các làng mạc địa phương dưới sự kiểm soát của Đảng. Chỉ hai ngày sau khi họ nhìn thấy ánh sáng ban ngày, những đơn vị mới này giành được những chiến thắng trong cuộc tấn công các đồn trú của Pháp ở làng Phái Khát và Nà Ngần khi lực lượng đối phương, bị chiếm bất ngờ bởi cường độ của cuộc tấn công, gần như bị xóa sổ. Những người thắng trận mang đi không chỉ là niềm tự hào về sự thành công của họ, mà còn là một số lượng vũ khí, trong khi những người phòng thủ chịu thiệt hại hơn 70 thương vong. Tin tức về những chiến thắng lan ra như cháy rừng trên khắp Việt Bắc.

Trở lại Pác Bó, Hồ Chí Minh tiếp tục đẩy mạnh phong trào theo cách của riêng mình. Vào tháng Mười, ông ta viết một “Thư gởi Tất cả Đồng bào Chúng ta,” trong đó ông ta phân tích tình hình hiện thời và cho biết “cơ hội của việc giải phóng nhân dân của chúng ta chỉ là trong một năm hoặc năm rưỡi. Thời gian đến gần. Chúng ta phải hành động nhanh chóng!”32

Vào ngày 11 tháng Mười Một, 1944, một máy bay do thám của Hoa Kỳ được lái bởi Trung úy Rudolph Shaw gặp phải trục trặc động cơ trong khi chuyến bay qua địa hình miền núi hiểm trở dọc theo biên giới Trung-Việt. Ông Shaw có thể nhảy dù xuống nơi an toàn, nhưng biến cố đã được quan sát bởi chính quyền Pháp đóng quân trong vùng lân cận, và những đội tuần tra đã được gởi đi để xác định vị trí ông ta. Những thành viên của một đơn vị Việt Minh địa phương là những người trước tiên tiếp cận ông ta, tuy nhiên, và họ quyết định đưa ông ta đến Hồ Chí Minh. Trong nhiều ngày sau, quân đội Việt Minh dẫn người phi công Mỹ qua những dãy núi và những đường rừng mòn về hướng Pác Bó,

p283

đi bộ vào ban đêm và nghỉ ngơi suốt ban ngày trong những hang động để tránh kẻ thù. Cuối cùng, mất gần một tháng trải qua một khoảng cách chỉ bốn mươi dặm.

Không ai trong số những người áp tải Shaw đã có thể giao tiếp với ông ta (theo lời tường thuật riêng của ông ta, họ truyền đạt thông tin chỉ khi nào ông ta nói, “Việt Minh! Việt Minh!” và người Việt trả lời, “Mỹ! Roosevelt!”), nhưng khi ông ta đến Pác Bó, Hồ Chí Minh chào đón ông ta một cách dạt dào bằng ngôn ngữ Anh trong giao tiếp: “Anh bạn khoẻ chứ, Anh phi công! Anh bạn từ đâu đến?” Ông Shaw gián tiếp quá khích động đến nổi ông ấy ôm lấy ông Hồ và sau đó nói với ông ta: “Khi tôi nghe giọng nói của ông, tôi cảm thấy như thể tôi đang nghe tiếng nói của cha tôi ở Hoa Kỳ.”33

Đối với Hồ Chí Minh, việc đến đây của người phi công Mỹ bị rơi máy bay thì như là ngẫu nhiên. Từ đó đến nay từ khi việc bước vào chiến tranh của Hoa Kỳ vào tháng Mười Hai năm 1941, ông ta đã nhìn thấy sự ủng hộ của Mỹ cho phong trào của mình như là một quân bài chủ có thể có trong cuộc đấu tranh chống lại lực lượng chiếm đóng Nhật Bản và Pháp. Sau khi được thả ra khỏi nhà tù ở Liuzhou(pc 11) vào mùa thu năm 1943, ông ta đã dành thời gian đáng kể tại thư viện của Cục Thông tin Chiến tranh Hoa Kỳ (OWI: U.S. Office of War Information) ở đó và chắc chắn đã dần nhận biết về những báo cáo rằng Tổng thống Roosevelt không có ý thích về chủ nghĩa thực dân châu Âu và đang mưu cầu tìm cách khôi phục cho những thuộc địa của vùng Đông Nam Á nền độc lập của họ sau khi kết thúc chiến tranh. Ông Roosevelt rõ ràng có một ác cảm riêng biệt chống lại vai trò của Pháp ở Đông Dương, và được trích dẫn vào một dịp như từng có nhận xét: “Pháp đã từng vắt sữa Đông Nam Á trong 100 năm. Dân tộc Đông Dương đáng được hưởng một vài điều gì đó tốt hơn thế” Mặc dù Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng Hoa Kỳ là một xã hội tư bản chủ nghĩa., ông ta đã luôn luôn bày tỏ sự ngưỡng mộ vì sự cam kết của nó đối với những nguyên tắc dân chủ và có thể đã từng cảm thấy rằng chính ông Roosevelt có thể dẫn Hoa Kỳ trên con đường bình đẳng kinh tế và công bằng xã hội.34

Đối với phần của họ, những quan chức Hoa Kỳ đóng ở Trung Quốc đã thực sự dần nhận biết về Hồ Chí Minh từ lâu trước khi sự phóng thích của ông ta từ nơi bắt giữ. Trong suốt mùa thu năm 1942, những bản tin trên báo chí Trung Quốc (có lẽ được rò rỉ bởi nguồn tin thân cận ĐCSĐD(pc 01) ở Trung Quốc) đề cập đến việc bị bắt giữ của một người An Nam có tên là “Ho Chih-chi” vốn là người đã có sự kết nối bị cáo buộc với một “chính phủ lâm thời” Đông Dương ủng hộ Đồng Minh mà nó được thành lập ở Liuzhou(pc 11) với sự ủng hộ từ chính phủ Trung Quốc. Khi những quan chức Đại sứ quán Hoa Kỳ liên lạc với đại diện địa phương của phong trào Dân Pháp Tự Do chống phát-xít, ông ta gở bỏ sự thật của câu chuyện và không nhìn nhận là một chính phủ như thế tồn tại. Tuy nhiên, Đại sứ Hoa Kỳ Clarence Gauss đánh điện tín đến Bộ Ngoại giao vào ngày 31 tháng Mười Hai 1942, báo cáo việc bắt giữ và hướng dẫn những nhân viện Đại sứ quán xem xét vấn đề.

p284

Thiếu sự hợp tác từ chính quyền Trung Quốc, tuy nhiên, họ có rất ít thành công; khi vào tháng Sáu kế tiếp, Washington yêu cầu sự cập nhật về tình hình, Đại sứ quán chỉ đơn giản báo cáo rằng cho đến nay như có thể xác định, phong trào kháng chiến ở Đông Dương không có một tầm quan trọng riêng biệt nào vào thời điểm đó.

Nhưng nếu Đại sứ quán Mỹ ở Chongqing(pc 04) không muốn làm gì đối với một “An Nam” ít người biết đến, những quan chức Hoa Kỳ khác ở Trung Quốc thí có một cái nhìn khác nhau. Khi, vào mùa hè năm 1943, Zhou Enlai(pc 05) trưởng cơ quan liên lạc của ĐCSTQ tiếp cận Cục Dịch vụ Chiến lược Hoa Kỳ (OSS: U.S. Office of Strategic Services) địa phương cho sự hỗ trợ trong việc bảo đảm sự phóng thích của ông Hồ trên lý lẽ rằng ông ta có thể là sự hỗ trợ cho kết quả đạt được của một cuộc chiến Liên minh, họ, cùng với các quan chức tại Cục Thông tin Chiến tranh Hoa Kỳ (là những người có thể đã từng được tiếp cận bởi Hồ Chí Minh với ý muốn phục vụ như là một người thông dịch), thảo luận vấn đề với những quan chức Đại sứ quán Hoa Kỳ, vốn là những người dường như đồng ý đề cập vấn đề với chính phủ Trung Quốc để tìm kiếm sự phóng thích và sắp xếp cho sự hợp tác của ông ta.

Có hay không cách tiếp cận của Hoa Kỳ từng xảy ra, và nếu như vậy, liệu nó đã có bất kỳ tác động gì đến quyết định của Zhang Fakui(pc 12) ban sự tự do hạn chế cho Hồ Chí Minh là điều  không rõ ràng. Trong bất kỳ trường hợp nào, nó không dẫn đến bất kỳ thỏa thuận tức thời cho ông Hồ hợp tác với những quan chức Hoa Kỳ ở phía nam Trung Quốc. Vào tháng Mười Một năm 1943, phân bộ Việt Nam của Liên đoàn Quốc tế Chống Xâm lược, viết từ Jingxi,(pc 08) van nài Đại sứ quán Mỹ ở Chongqing(pc 04) về sự hỗ trợ của Hoa Kỳ trong việc có được hoàn toàn tự do hành động cho “Hu Chih-ming” để tham gia trong những hoạt động chống Nhật và, nếu cần thiết, để trở về đất nước của ông ta.

Philip D. Sprouse một nhân viên Đại sứ quán nhận ra cái tên như là “người chịu sự bắt giữ qua cáo buộc” đã xảy ra năm trước. Nhưng ông Sprouse dường như đã bị thuyết phục bởi những đại diện của Dân Pháp Tự Do ở Chongqing rằng cái gọi là chính phủ lâm thời Đông Dương được thành lập ở Liuzhou(pc 11) chỉ đơn giản là một mưu đồ của chính phủ Trung Quốc nhằm thúc đẩy những lợi ích riêng của mình trong khu vực. Đại sứ Gauss truyền tin sự van nài đến Washington, với một lá thư tóm tắt chỉ ra rằng kể từ khi người Pháp đã từ chối sự tồn tại của tổ chức như thế, ông ta sẽ “không trả lời” lá thư. Báo cáo của ông Gauss được xếp vào hồ sơ và bị quên lãng ở Washington.35

Đến mùa xuân 1944, sự quyến rũ về sự ủng hộ tiềm năng của Hoa Kỳ đã khơi gợi sự quan tâm của những đại diện Việt Minh khác đang sống ở phía nam Trung Quốc. Vào tháng Tư đó, những đại diện Việt Minh ở Kunming (i.e. Côn Minh) đã gặp với các quan chức tại Lãnh sự quán Dân Pháp Tự Do về việc sắp xếp một cuộc họp để thảo luận những chính sách sau chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, nhưng sau những liên lạc ban đầu những cố gắng của họ đã bị đình lại. Bị khước từ bởi người Pháp, họ quay sang Hoa Kỳ, và gặp gỡ với những quan chức địa phương của Cục Dịch vụ Chiến lược Hoa Kỳ (CDvClHK) và Cục Thông tin Chiến tranh Hoa Kỳ (CTtCtHK), để tìm kiếm sự hỗ trợ của họ bằng cách viết một lá thư cho Đại sứ Hoa Kỳ Gauss ở Chongqing. Lá thư van nài sự viện trợ của Mỹ trong cuộc đấu tranh Việt Nam vì nền độc lập

p285

trong khi bày tỏ ý muốn chiến đấu cùng với những Đồng minh chống lại lực lượng chiếm đóng của Nhật ở Đông Dương. Vào ngày 18 tháng Tám, một nhân viện của CDvClHK(pc 17) giao thư cho Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ William Langdon ở Kunming(pc 16) với lời bình luận rằng sẽ có “rắc rối đáng kể ở Đông Dương sau chiến tranh nếu ít nhất một biện pháp thực tế của chế độ tự trị không đưa vào hiệu lực ở quốc gia đó vào một ngày sớm hơn.” Ông Langdon đồng ý gặp gỡ với nhóm đại diện của Việt Minh vào ngày 08 tháng Chín. Ông ta hứa sẽ đệ trình lá thư đến đại sứ Hoa Kỳ và bày tỏ sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với những nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, sau khi lưu ý rằng “những người phát ngôn cao nhất của Chính phủ Mỹ trong nhiều tuyên bố đã từng bảo đảm cho sự quan tâm của chính phủ họ về phúc lợi chính trị và sự tiến bộ của những dân tộc bị áp bức ở phương Đông, trong đó có dân tộc An Nam có thể tin rằng chính mình được bao gồm.” Nhưng ông Langdon thận trọng theo cách ngoại giao trong việc đáp ứng yêu cầu về sự cảm thông của Hoa Kỳ, sau khi lưu ý rằng “dân tộc An Nam là những công dân của Pháp, vốn là nước đang chiến đấu sát cánh với Hoa Kỳ… chống lại phe Trục. Đó sẽ là một điều vô lý… nếu người Mỹ với một bàn tay chịu phí tổn khổng lồ về sự sinh tồn và những gì được quí trọng cứu vớt và chuyển giao cho Pháp từ ách nô lệ của Đức và với một bàn tay khác làm suy yếu Đế chế của Pháp.”

Phạm Việt Tú, người dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam, hứa với ông Langdon rằng Việt Minh đã không có ý định chiến đấu với Pháp, nhưng chỉ với Nhật Bản, và yêu cầu sự hỗ trợ cho mục đích đó. Nhưng ông ta nói thêm hy vọng của ông ta là Hoa Kỳ sẽ khẳng định về quyền tự trị cho dân tộc An Nam sau khi kết thúc chiến tranh. Ông Langdon thì không hứa hẹn gì, sau khi lưu ý rằng trong suốt chuyến thăm của Charles de Gaulle ở Washington, D.C., vào tháng Bảy, vị Tướng đã nói với báo chí rằng chính sách của Pháp là để giới thiệu những dân tộc của đế chế Pháp chính quyền tự trị, và rằng nếu dân Việt Nam có bất kỳ khiếu nại gì chống lại chính quyền Pháp, họ sẽ giải quyết trực tiếp với dân Việt.36

Mưu mẹo của những đại diện địa phương ở Kunming(pc 16) để giành được sự ủng hộ của Hoa Kỳ như vậy là một lần nữa đã bị thất bại. Những quan chức Mỹ vẫn có ít kiến ​​thức về những nhóm quốc gia người Việt đang hoạt động trong khu vực, và một số người hoài nghi về hiệu quả của họ vì bản chất bè phái kinh niên mà dường như đi kèm với những hoạt động của họ. Mặc dù CDvClHK(pc 17) đệ trình một báo cáo thuận lợi về cuộc họp, ông Langdon và đại diện của CTtCtHK(pc 18) thì nghi ngờ hơn. CTtCtHK ghi nhận rằng những nhóm quốc gia người Việt ở miền nam Trung Quốc dường như có ít kinh nghiệm trong việc điều hành một chính phủ hiện đại (mặc dù ông ta thừa nhận rằng điều đó không phải là lỗi của họ). Ông Langdon thậm chí còn tiêu cực hơn, sau khi báo cáo trong một công văn đến Washington rằng những nhóm Việt Nam tại phía nam Trung Quốc “không có tầm quan trọng thực sự” ở Đông Dương. Vào tháng Mười Hai đó, một báo cáo của CDvClHK, trích dẫn từ những nguồn tài liệu của Pháp,

p286

đưa ra nhận xét rằng Đông Dương Độc lập Đồng minh Hội (như là Mặt trận Việt Minh được biết đến bằng tiếng Anh) không có bất kỳ sự ủng hộ quần chúng” và là “phần lớn bề ngoài cấu thành gồm một số lượng tương đối nhỏ của những nhà trí thức Đông Dương và những phần tử bất mãn khác ở thuộc địa.”37

Hồ Chí Minh thì không trực tiếp tham gia vào những sự kiện này, nhưng được cho là có liên lạc với Phạm Việt Tú và những cộng sự viên của ông ta, và có thể đề nghị một cuộc họp với những quan chức Mỹ ở Kunming.(pc 16) Trong những tháng sau khi việc thoát khỏi của mình từ nhà tù vào tháng Chín năm 1943, ông Hồ đã cẩn thận vun bón tình hữu nghị và lòng tự tin của những sĩ quan Mỹ tại chi nhánh của CTtCtHK(pc 18) ở Liuzhou,(pc 11) là những người vào tháng Tám năm 1944, hiển nhiên tìm cách để sắp xếp cho Hồ Chí Minh đi đến San Francisco. Tổng Lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Kunming yêu cầu sự hướng dẫn từ Bộ Ngoại giao về sự yêu cầu này của CTtCtHK về việc thị thực cho một Hồ Ting-ching nào đó (được mô tả như là một Trung Quốc được sinh ở Đông Dương) đi đến Hoa Kỳ để phát thanh tin tức bằng tiếng Việt. Philip Sprouse, vốn là người lúc bấy giờ đã được thuyên chuyển về Washington, nhận lấy vấn đề và viết một giác thư về “Mr.Ho,” mô tả những hoạt động của ông ta. Ông Sprouse phỏng đoán rằng “Mr. Hồ là cùng một người đã từng làm việc cho Quốc Dân Đảng ở Kunming để phát sóng tuyên truyền bằng tiếng Việt vào trong Đông Dương. Lời yêu cầu được ủng hộ bởi Bộ phận Viễn Đông của Bộ Ngoại giao, nhưng bị phản đối bởi những người theo chủ nghĩa Âu hóa, là những người chắc chắn là cảm thấy được rằng điều đó sẽ gây ra những vấn đề khó khăn với Pháp. CTtCtHK(pc 18) lập luận thay mặt ông Hồ rằng những hoạt động của ông ta ở Hoa Kỳ sẽ được kiểm soát chặt chẽ và chủ yếu về máy móc, nhưng lời yêu cầu cuối cùng bác bỏ.38

Lý do tại sao Hồ Chí Minh đã có dự định muốn đến Hoa Kỳ vào thời gian riêng biệt đó là điều không rõ ràng. Đến mùa hè năm 1944, tình hình chung ở Chiến trường Thái Bình Dương đang ngày càng trở nên thuận lợi cho các nước Đồng Minh và, như ông Hồ đã từng dự đoán trước đây, việc kết thúc chiến tranh đã ra dấu hiệu vào thời điềm nào đó trong năm sau. Nếu đó là một trường hợp, ông Hồ chắc chắn sẽ muốn ở bên trong Việt Nam điều hành cuộc đấu tranh chống Pháp. Có lẽ lời giải thích gần giống như là lời yêu cầu được đưa ra tại một thời điểm khi Zhang Fakui(pc 12) vẫn từ chối phê duyệt chuyến trở về Đông Dương của ông ta, và ông Hồ thấy việc thị thực như một cơ hội để gây ảnh hưởng đến tình hình ở Hoa Kỳ, có lẽ qua sự khiếu nại trực tiếp đến Nhà Trắng, trong việc chuẩn bị cho chuyến trở lại đất nước của ông ta vào một thời điểm thích hợp.

Nếu sự ủng hộ của Hoa Kỳ cho Mặt trận Việt Minh là một giải thưởng lớn nhất, kế đó là sự xuất hiện của Trung úy Shaw trên ngưỡng cửa của Hồ Chí Minh vào cuối năm 1944 là tấm vé của mình để tham gia trong cuộc xổ số. Khi ông Shaw yêu cầu sự hỗ trợ của ông Hồ trong việc tiếp cận biên giới Trung Quốc, ông Hồ đồng ý, bày tỏ rằng ông ta cũng dự định đi Trung Quốc kinh doanh. Ông Shaw sau đó mời ông Hồ tham gia với mình đi Kunming,(pc 16)

p287

sau đó đến trụ sở của Không Lực thứ Mười Bốn của Hoa Kỳ. Một vài ngày sau đó, Hồ Chí Minh và hai cộng sự viên trẻ hộ tống ông Shaw vào Trung Quốc, ông Hồ vẫn mặc đồng phục quân sự xác xơ của Quốc Dân Đảng và mang theo những giấy tờ tùy thân mà Zhang Fakui đã cấp cho ông ta trước khi chuyến khởi hành của ông ta từ Liuzhou.(pc 11) Ngay sau khi vượt qua biên giới Trung Quốc, ông Shaw báo cho cơ quan Dịch vụ Trợ giúp Không nạn (AGAS: Air Ground Aid Services) ở Kunming, một cơ quan quân sự Hoa Kỳ chịu trách nhiệm về sự hỗ trợ trong việc cứu nạn những phi công Đồng minh bị rơi máy bay trong khu vực, về việc được cứu và chuyến đi gần đến nơi của mình. Những quan chức tại Dịch vụ Trợ giúp Không nạn (DvTgKn) đánh điện trở lại cho ông Shaw, mời ông ta mang Hồ Chí Minh cùng với mình đến Kunming.(pc 16) Chính quyền địa phương Trung Quốc quyết định gởi Shaw tiếp tục đến Kunming bằng máy bay, để lại ông Hồ tự lo liệu lấy, nhưng Hồ Chí Minh quyết định dùng cơ hội để gặp gỡ với các quan chức Mỹ ở Kunming, vì vậy ông ta quyết định tiếp tục cuộc hành trình đường bộ, giả dạng như là kiểm soát viên dọc theo đường rầy xe lửa Hà Nội-Kunming được xây bởi Pháp.39

Trên đường đến quận Kunming, ông Hồ và hai người đồng hành dừng lại ở huyện Yiliang (i.e. Nghi Lương thuộc quận Côn Minh tỉnh Vân Nam), một thị trấn nhỏ trên tuyến đường sắt nơi mà Hoàng Quang Bình, một trong những đồng chí mà ông ta đã từng gặp bốn năm trước đây trong suốt thời gian ở Kunming, vẫn đang làm việc như là thợ hớt tóc. Trong hồi tưởng của mình, ông Bình sau nhớ lại rằng Hồ Chí Minh trông bệnh hoạn và gầy gò, và ăn ít. Bộ đồng phục của ông ta được đắp vá và bị mòn, và đôi giày vải mỏng của ông ta đầy lỗ hỏng; nhóm người đã từng đi bộ nhiều ngày, qua đêm với cảm tình viên, và thường ngủ ngoài trời hoặc trong những chuồng heo. Ông Hồ vừa mới bị sốt từ một người khác đi chung, và đối với gia chủ của mình, ông ta dường như chán nản một cách dị biệt. Tuy nhiên, tâm trí của ông ta vẫn tập trung vào sự nghiệp. Khi ông Bình bày tỏ rằng ông ta và những đồng chí mình chống lại những lời kêu gọi từ văn phòng địa phương của Đồng Minh Hội (nhiều người trong số họ là những thành viên của VNQDĐ(pc 19)) tham gia tổ chức của họ, ông Hồ quở trách gia chủ của mình, khuyên ông ta gia nhập Đồng Minh Hội và sau đó đánh cắp đi những người theo hội để biến thành những thành viên của Đảng.40

Sau khi lưu lại nhiều ngày ở Yiliang để cho phép Hồ Chí Minh phục hồi, nhóm nhỏ tiếp tục trên đoạn đường lội bộ cuối cùng của cuộc hành trình họ. Một khi họ đến Kunming,(pc 16) vào thời điểm nào đó trong những tuần đầu tiên của năm 1945, tuy nhiên, họ phát hiện ra rằng Trung úy Shaw đã trở về Hoa Kỳ bằng máy bay rồi. Hồ Chí Minh chọn chỗ ở với Tống Minh Phương, một trong những đại diện Việt Minh địa phương vốn là người đã từng viết thư cho Đại sứ Gauss tháng Tám trước đó. Một cựu học sinh ở Đại học Hà Nội là người đã đến Kunming từ Đông Dương năm 1943, ông Phương đã thiết lập một cửa hàng cà phê gần trụ sở chính CDvClHK mà ông ta sử dụng như là lớp che đậy cho những hoạt động bí mật của Đảng; bây giờ ông ta chắc chắn thông báo ông Hồ về sự tiếp cận thất bại của họ đối với những người Mỹ.41

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.
pc 02_ ĐCSTQ : Đảng Cộng sản Trung Quốc.
pc 03_ Chiang Kai-shek : Tưởng Giới Thạch.
pc 04_ Chongqing : thành phố Trùng Khánh.
pc 05_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 06_ Sun Yat-sen : Tôn Dật Tiên.
pc 07_ Guilin : huyện Quế Lâm.
pc 08_ Jingxi : huyện Tĩnh Tây.
pc 09_ Debao : huyện Đức Bảo.

pc 10_ Tất cả những bài thơ được chép lại theo nguyên bản Hán Viết vả bản dịch của một số dịch giả Việt Nam, hơn là dịch lại từ tác giả.

pc 11_ Liuzhou : huyện Liễu Châu.
pc 12_ Zhang Fakui : Trương Phát Khuê.
pc 13_ Nanning : huyện Nam Ninh.
pc 14_ Guangxi : tỉnh Quảng Tây.
pc 15_ Guangdong : tỉnh Quảng Đông.
pc 16_ Kunming : quận Côn Minh.
pc 17_ CDvClHK : Cục Dịch vụ Chiến lược Hoa Kỳ (OSS: U.S. Office of Strategic Services).
pc 18_ CTtCtHK : Cục Thông tin Chiến tranh Hoa Kỳ (OWI: U.S. Office of War Information).
pc 19_ VNQDĐ : Việt Nam Quốc dân Đảng.
pc 20_ DvTgKn : Dịch vụ Trợ giúp Không nạn (AGAS: Air Ground Aid Services).
pc 21_ GBT : nhóm tình báo dân sự của Hoa Kỳ.
pc 22_ Yan’an : Diên An.
pc 23_ New Guinea : là hải đảo lớn thứ hai trên thế giới, sau Greenland là hải đảo phía tây gần Vương quốc Anh, bao gồm một diện tích 786.000 km 2. Nằm ở phía tây nam Thái Bình Dương, theo mặt địa lý nó nằm về phía đông của quần đảo Mã Lai Á, qua đó mà đôi khi nó được bao gồm như là một phần lớn quần đảo Ấn-Úc. Hải đảo nầy bị tách ra tử phía bắc nước Úc khi khu vực này được biết đến với tên gọi Eo biển Torres bị ngập lụt trong thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Tên gọi Papua từ lâu đã đồng hành với hòn đảo này. Về mặt chính trị, một nửa phía tây của hòn đảo bao gồm hai tỉnh của Indonesia : Papua và Tây Papua. Nửa phía đông hình thành lục địa của nước Papua New Guinea.

pc 24_ VNGpQ : Việt Nam Giải phóng Quân.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s