IX- Thủy Triều Đang Lên (Phần 4)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p288

Ông Hồ quyết định tiếp xúc cơ quan DvTgKn(pc 20) địa phương với hy vọng những quan chức ở đó, như là một biểu hiện lòng biết ơn đối với việc đưa người phi công Hoa Kỳ bị rơi đến Trung Quốc của ông ta, sắp xếp cho ông ta một cuộc phỏng vấn với Tướng Claire Chennault, Tư lệnh Không Lực thứ Mười Bốn Hoa Kỳ ở Kunming. Ông ta cũng bắt liên lạc với trụ sở chính địa phương của CDvClHK, kể từ khi những quan chức ở đó đã từng giúp đỡ ông Phương và những đại diện Việt Minh trong việc soạn thảo lá thư của họ cho ông Gauss. Có lẽ bây giờ, Hồ Chí Minh hy vọng, việc phục vụ của mình cho chính quyền Mỹ có thể được đánh cuộc vào sự nhìn nhận chính thức của Hoa Kỳ về phong trào mình và sự viện trợ quân sự cho những hoạt động Việt Minh.

Đối với vận may của riêng mình, Hồ Chí Minh đã đến Kunming(pc 16) vào một thời điểm thật là theo ý trời và rất đúng lúc. Trong nhiều tháng qua, cơ quan DvTgKn(pc 20) địa phương đã được ủy quyền để mở rộng những hoạt động của nó vượt ra ngoài việc cứu vớt những phi công Đồng Minh đến việc thu thập tin tức tình báo về những hoạt động của Nhật Bản bên trong Đông Dương thuộc Pháp. Trong số những nguồn tin có giá trị nhất của nó là một nhóm nhỏ những thường dân Tây phương (được biết đến như là GBT từ những cái tên của những cá nhân: một người Gia Nã Đại, L.L. Gordon; một người Mỹ, Harry Bernard; và một người Mỹ gốc Trung Quốc, Frank Tan). Tất cả họ trước đây đã từng làm việc cho một công ty dầu ở Sài Gòn và có thể sử dụng những liên lạc viên địa phương của họ để thu thập tin tức giá trị về những hoạt động của Nhật Bản khắp Đông Dương. Vào ngày 09 tháng Ba năm 1945, tuy nhiên, nguồn tin đó đột nhiên khô cạn khi người Nhật (nghi ngờ về lòng trung thành của những quan chức Pháp ở Đông Dương) bất ngờ tuyên bố việc bãi bỏ chính quyền Vichy của Pháp ở Đông Dương và chuyển giao sự kiểm soát cho một chính quyền bù nhìn dưới Bảo Đại, vị Hoàng đế Việt Nam. Hầu hết những công dân nước ngoài bên trong Đông Dương lúc bấy giờ bị đặt dưới sự bắt giữ hoặc bị cách chức từ những vị trí của họ, và nhóm GBT trốn chạy đến miền Nam Trung Quốc.

Đối mặt với sự mất mát của nguồn tin tình báo chính yếu của họ ở Đông Dương, những quan chức Hoa Kỳ ở Chongqing(pc 04) hướng dẫn những đơn vị tình báo ở phía nam Trung Quốc tìm kiếm những nguồn đưa tin mới, thậm chí từ các nhóm kháng chiến chống Pháp của Việt Nam. Trước đây, những gián điệp Hoa Kỳ đã được lệnh từ chối những liên lạc với những nhóm đó như là kết quả của những mệnh lệnh từ Nhà Trắng mà những quan chức Hoa Kỳ không được quyền tham gia vào những chính trị địa phương ở Đông Dương. Bấy giờ, tuy nhiên, những mệnh lệnh mới đến từ Washington hướng dẫn họ làm việc với bất cứ những nguồn đưa tin nào có sẵn.

Vào một thời điểm nào đó trong giữa tháng Ba, Đại úy Hải quân Charles Fenn, là người gần đây đã được thuyên chuyển từ văn phòng CDvClHK(pc 18)  địa phương đến DvTgKn(pc 20) để điều hành hoạt động của nhóm tình báo GBT,(pc 21) được thông báo bởi một người trong số những cộng sự viên của mình rằng “người An Nam già nua” (vào lúc đó, ông Hồ thực sự chỉ 54 tuổi, nhưng trông già hơn) vốn là người đã đến Kunming(pc 16) sau khi cứu được một phi công Mỹ bị rơi máy bay, dường như có những kết nối với một nhóm yêu nước và có thể chứng tỏ là hữu ích trong việc thực hiện các hoạt động tình báo ở Đông Dương.

p289

Là người gốc Ái Nhĩ Lan (Ireland) và là cựu phóng viên vốn đã được giao nhiệm vụ ở Kunming(pc 16) vì kiến ​​thức của ông ta về châu Á và ngôn ngữ Trung Quốc, ông Fenn thì nóng lòng tìm nguồn tin tức tình báo mới ở Đông Dương để thay thế hoạt động của GBT;(pc 21) ông ta yêu cầu liên lạc viên của mình sắp xếp một gặp gỡ cho ông ta với Hồ Chí Minh, là người đã từng dành thời gian của mình tại cơ quan địa phương của CTtCtHK đọc mọi thứ từ tạp chí Time đến bộ Bách khoa Tự Điển Americana. Mặc dù ông Fenn đã từng được cảnh cáo về những kết nối Cộng sản của ông Hồ; một cuộc gặp gỡ được sắp xếp cho ngày 17 tháng Ba. Như ông Fenn ghi lại trong nhật ký mình vào lúc đó:

Ông Hồ đến cùng một người đàn ông ta trẻ tên là Fam. Ông Hồ không phải như những gì tôi nghĩ. Trước hết, ông ta không thực sự là “già”: mớ râu bạc của ông ta cho biết tuổi tác, nhưng khuôn mặt của ông ta thì đầy khí lực và đôi mắt sáng ngời và lấp lánh. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp. Dường như ông ta đã tửng gặp ông Hall, ông Blass, và ông de Sibour rồi [những nhân viên của CDvClHK(pc 17) ở quận Kunming(pc 16)], nhưng không đi đến đâu với bất kỳ người nào trong số họ. Tôi hỏi ông ta muốn gì với họ. Ông ta cho biết –chỉ nhìn nhận nhóm của ông ta (được gọi là Việt Minh Hội hoặc Liên đoàn Độc lập). Tôi đã mơ hồ nghe nói về hội đoàn này như là cộng sản, và hỏi ông ta về nó. Ông Hồ nói rằng Pháp gọi tất cả dân An Nam là những người cộng sản vốn là những người muốn độc lập. Tôi nói với ông ta về công việc của chúng tôi và hỏi liệu ông ta có muốn giúp chúng tôi không. Ông ta cho biết có lẽ họ có khả năng giúp được nhưng không có truyển tin viên, dĩ nhiên cũng không có bất kỳ dụng cụ nào. Chúng tôi thảo luận về việc bao gồm một đài truyền tin và máy phát điện và một vô tuyến viên. Ông Hồ nói rằng máy phát điện sẽ khiến quá nhiều tiếng ồn –những người Nhật thì luôn luôn quanh đó. Không thể nào chúng ta dùng loại một bộ pin ghép, chẳng hạn như cách sử dụng của người Trung Quốc sao? Tôi giải thích những tép pin đó thì quá yếu cho hoạt động có khoảng cách, đặc biệt là khi những tép pin sắp hết. Tôi hỏi ông ta muốn gì trong sự đáp trả cho việc giúp đở chúng tôi. Vũ khí và thuốc men, ông ta nói. Tôi bảo ông ta vũ khí thì sẽ khó khăn, bởi vì chính quyền Pháp. Chúng tôi thảo luận vấn đề về chính quyền Pháp. Ông Hồ nhấn mạnh rằng Liên đoàn Độc lập thì chỉ chống Nhật. Tôi cảm kích bởi cách nói chuyện rõ ràng ngắn gọn của ông ta; một sự điềm tĩnh như Đức Phật, ngoại trừ những di chuyển của các ngón tay nhăn nheo màu nâu. Ông Fam làm việc ghi chú. Hai bên đồng ý là chúng tôi nên có một cuộc họp nữa. Họ viết tên họ xuống bằng những ký tự Trung Quốc mà chúng được La-tinh hoá thành Fam Fuc ​​PaoHo Tchih Ming.

Ông Fenn tham khảo ý kiến ​​với những cộng sự viên mình tại DvTgKn,(pc 20) và tất cả họ đồng ý chuẩn bị cho việc gởi “ông già Hồ” (ông ta được chính thức đưa ra mật danh “Lucius,” nhưng người Mỹ gọi ông ta là “ông ta già Hồ” trong tư nhân) trở lại Đông Dương với một truyền tin viên Trung Quốc. Ba ngày sau họ gặp lại một lần nữa:

p290

Có một cuộc họp lần thứ hai với những người An Nam trong quán cà phê của người Hoa gốc Việt trên đường Chin Pi. Dường như người chủ là bạn của họ. Chúng tôi ngồi trên lầu và uống cà phê lọc theo kiểu Pháp, đặm đặc và khá ngon. Căn phòng thì trống rỗng nhưng ông Hồ cho biết những khách hàng có thể vào. Chúng tôi đồng ý dùng những thuật ngữ thích hợp: người Trung Quốc được gọi là “bạn bè,” người Mỹ là “anh em,” người Pháp là “dân trung lập,” người Nhật là “dân chiếm ngụ,” người An nam là  “dân bản địa.” Hồ cho biết rằng liên quan đến việc đưa xuống hai người Trung Quốc, một người trong họ là người Trung Quốc gốc Mỹ, điều này có thể khó khăn bởi vì người đó, chắc chắn, sẽ dễ dàng xác nhận. Nhóm của ông Hồ có khuynh hướng nghi ngờ về người Trung Quốc. Kể từ khi không có vô tuyến viên An Nam, truyền tin viên Trung Quốc thì tất nhiên không thể tránh khỏi. Nhưng thay vì chọn ông [họ Frank] Tan, ông ta muốn đi chỉ với một người đàn ông này và sau đó chúng tôi có thể thả xuống một sĩ quan Hoa Kỳ. Tôi sẽ đi một mình không? Tôi nói tôi sẽ. Ông Hồ cho biết nhóm của ông ta sẽ cho tôi mọi sự chào đón. Chúng tôi sau đó thảo luận về quân nhu. Ông Fam đề cập đến “những chất nổ loại mạnh” mà ông Hall đã cho ông ta biết. Tôi cố gắng giảm thắng lại vấn đề này, nhưng đồng ý là sau này chúng tôi có thể thả xuống những vũ khí loại nhẹ, thuốc men và thêm vào những bộ đài phát sóng. Truyền tin viên của riêng chúng tôi có thể huấn luyện một số trong những người của ông Hồ để sử dụng những đài vô tuyến nầy. Ông Hồ cũng muốn gặp gỡ ông Chennault. Tôi đồng ý sắp xếp việc này nếu ông ta sẽ đồng ý không yêu cầu ông Chennault cho bất cứ điều gì: không cả những quân nhu hoặc cũng không hứa hẹn về hỗ trợ. Ông Hồ đồng ý. Người đàn ông già nua mặc quần bông vải kiểu Trung Quốc và áo khoác loại kết nút tận cổ áo, có màu cát vàng, không chút màu xanh. Đôi dép của ông ta là loại có quay mà họ thường mang ở Đông Dương. Chòm râu nhỏ của ông ta thì màu bạc, nhưng đôi lông mày của ông ta thì nâu nhạt đang chuyển sang xám ở rìa trên và tóc của ông ta vẫn gần như đen nhưng hớt trán. Người đàn ông trẻ, ông Fam, mặc bộ đồ theo kiểu Tây và có xương gò má to lớn và cái cằm mạnh mẽ. Cả hai người họ đều nói chuyện nhẹ nhàng nhưng tuy vậy đôi khi bật cười khúc khích. Chúng tôi dường như hòa hợp với nhau tốt đẹp.42

Sau cuộc họp, ông Fenn kiểm soát cùng những cộng sự viên của mình về Việt Minh, và tìm thấy rằng mặc dù chính quyền Pháp dán nhãn họ như là những người Cộng Sản, chính quyền Trung Quốc chỉ đơn giản xem họ lắm xảo quyệt. Khi ông Fenn yêu cầu tổng hành dinh ở Chongqing(pc 04) cho ý kiến, ông ta nhận được những hướng dẫn: “Tung một mạng lưới bất kể là thế nào,” nhưng với một cảnh báo rằng những hoạt động tình báo được điều hành không nên để trở thành bị lôi cuốn vào những chính sách bản địa của Pháp.

Một vài ngày sau đó, ông Fenn sắp xếp cho Hồ Chí Minh gặp Tướng Claire Chennault trong văn phòng của ông ta tại trụ sở chính của Không Lực thứ Mười Bốn, nhưng cảnh cáo ông ta một lần nữa không gởi một yêu cầu chính thức nào về việc hỗ trợ. Ông Hồ đến cuộc họp vận phục bằng áo dài bông vải cũ mòn có màu vàng xám ka-ki, mặc dù ông Fenn nhận thấy rằng ông Hồ đã thay cái nút bị mất trên cổ áo. Như là thói quen của ông ta, ông Chennault diện trắng tinh trong bộ quân phục rực rỡ của mình và ngồi sau một chiếc bàn lớn.

p291

Ông Chennault bảnh bao, đã nổi tiếng với vai trò của mình như là vị chỉ huy phân đội “Phi Hổ” (Flying Tiger) của Hoa Kỳ gồm những phi công tình nguyện vốn đã từng giúp đỡ lực lượng Trung Hoa Dân Quốc trong việc chiến đấu chống lại quân Nhật xâm lược vào cuối thập niên 1930s, có uy tín rộng rãi khó phai mờ về hình tượng cá nhân mình. Vị Tướng cảm ơn Hồ Chí Minh cho việc cứu thoát Trung úy Shaw; theo ông Fenn, không có bày tỏ nào ​​về những vấn đề chính trị. Ông Hồ giữ lời hứa mình không yêu cầu sự trợ giúp và (theo lời khuyên của ông Fenn) nghiêm túc đánh giá cao những cố gắng của ông Chennault cùng đội Phi Hổ, nhưng vào  cuối chuyến thăm ngắn ngủi, ông ta đã thực sự yêu cầu người chủ khách cho một bức ảnh có chữ ký. Như ông Fenn nhớ lại:

Không có gì ông đối với Chennault thích thú hơn là tặng hình mình. Vì vậy, ông ta nhấn chuông và bước vào là Doreen [người thư ký của ông Chennault] một lần nữa. Theo đúng trình tự, có chút nào đó là công của cô gái kia là người làm ra cặp giấy gồm những trang bóng loáng có kích thước tám mười. “Hãy chọn theo ý anh bạn,” ông Chennault nói. Ông Hồ lấy một cái và hỏi ngài Tướng có thể nào tốt bụng ký tên vào nó không? Cô Doreen rút ra cây viết máy hiệu Parker 51 và ông Chennault viết ngang bên dưới, “Trân trọng, Claire L. Chennault.” Và tất cả đám chúng tôi bước ra trong không khí hân hoan của quận Kunming.43

Hồ Chí Minh do đó đã lập nên những liên lạc với các quan chức quân sự chính yếu của Hoa Kỳ ở Kunming.(pc 16) Tuy nhiên, ông ta vẫn chưa giành được sự nhìn nhận chính thức của Hoa Kỳ về tính hợp pháp của Mặt trận Việt Minh như là đại diện hợp thức của dân Việt Nam hoặc chưa có được bất kỳ điều gì hơn là một ít giúp đở cho phong trào của ông ta. Khi ông Hồ chuẩn bị ra về, ông ta yêu cầu Charles Fenn cho sáu khẩu súng tự động Colt .45 mới trong nguyên bao của chúng, mà ông Fenn có được từ bạn bè ở CDvClHK.

Vào cuối tháng Ba năm 1945, Hồ Chí Minh bay bằng chiếc máy bay nhỏ của Hoa Kỳ với truyền tin viên mới của mình đến thị trấn Paise (i.e ?). Nằm khoảng sáu mươi dặm bắc của Jingxi(pc 08) trong tỉnh Guangxi,(pc 14) Paise là trụ sở mới của Bộ Chỉ huy Quân sự Quân đoàn Bốn của Zhang Fakui(pc 12) kể từ khi sự chiếm đóng của Nhật ở Liuzhou(pc 11) trong suốt “Cuộc Tấn công Số Một” nổi tiếng của họ ở phía nam Trung Quốc vào tháng Mười Một trước. Mục tiêu của ông Hồ tại Paise là tái lập liên lạc với những thành viên của Đồng Minh Hội với chủ đích thúc rèn luyện nó trở thành một vũ khí hữu ích cho những mục đích của Mặt trận Việt Minh. Sau chuyến khởi hành của ông Hồ từ Liuzhou vào tháng Tám trước, Đồng Minh Hội đã hầu như tan rã vì sự lơ là của Trung Quốc và sự quyết định của nhiều người trong số những thành viên hàng đầu không-Cộng-sản trở về tỉnh Yunnan (i.e. Vân Nam). Với sự trợ giúp của những đại diện Việt Minh như Lê Tòng Sơn, là người đã từng theo Bộ Chỉ huy Quân sự Quân đoàn Bốn đến Paise, ông Hồ cố gắng tổ chức lại Hội Đồng Minh bằng cách tạo ra một “ủy ban hành động” mới được thống trị bởi những người theo mình.

p292

Để làm giảm bớt những nghi ngờ của những thành viên hàng đầu của các tổ chức quốc gia khác, ông ta cho họ thấy bức ảnh có chữ ký của ông Chennault và trao mỗi người trong số họ một khẩu súng tự động Colt. Vài ngày sau đó, tuy nhiên, Tướng Wen Xiao, vốn chính là người ngày càng trở nên không tin tưởng về Việt Minh, giải tán ủy ban hành động của ông Hồ và chọn lựa một ủy ban mới bao gồm sự hỗn hợp của những thành viên không-Cộng-sản và Cộng sản, trong đó có Hồ Chí Minh. Ông Hồ bây giờ khởi hành đến Jingxi trên đường về Pác Bó.44

* * *

Trong khi Hồ Chí Minh ở Paise đang cố gắng khơi lại sức sống cho Đồng Minh Hội, một sĩ quan tình báo quân sự của Hoa Kỳ đến Kunming(pc 16) để tham gia một đơn vị của CDvClHK(pc 17) ở đó. Đại úy Archimedes “Al” Patti đã từng phục vụ ở Chiến trường châu Âu cho đến tháng Giêng năm 1944, khi ông ta được thuyên chuyển đến Washington, D.C., và được bổ nhiệm bàn làm việc về Đông Dương tại trụ sở chính của CDvClHK. Một người đàn ông lịch sự và tự tin đáng kể, ông Patti mang đến nhiệm vụ của mình một ý thức mạnh mẽ về lịch sử và sự ngờ vực tuân thủ của người Pháp và di sản của họ ở những vùng thuộc địa. Điều đó là từ những hồ sơ ở Washington, D.C., mà ông ta lần đầu tiên dần nhận biết về những hoạt động của Mặt trận Việt Minh và người lãnh đạo bí ẩn của nó, Hồ Chí Minh. Vào tháng Tư năm 1945, ông ta đến Kunming như là người thay thế vị trưởng CDvClHK địa phương, Đại tá Paul Helliwell, để điều hành những hoạt động tình báo của CDvClHK ở Đông Dương thuộc Pháp. Khi ông ta nhanh chóng phát hiện ra, chính sách của Hoa Kỳ đối với Đông Dương thì trong một tình trạng thay đổi liên tục, và có sự lẫn lộn đáng kể trong số những quan chức Hoa Kỳ địa phương về liệu có nên và bao nhiêu hổ trợ Dân Pháp Tự Do, và liệu có nên và đến trình độ nào những quan chức như thế có thể được ủy quyền tham gia với những nhóm đối kháng của Việt Nam ở bên trong nước. Tại một hội nghị được tổ chức ngay sau khi chuyến đến của ông Patti, những hoạt động của phong trào Việt Minh được đưa ra thảo luận và đại diện từ DvTgKn(pc 20) nhắc nhở rằng một “ông già” được biết đến như là Hồ Chí Minh đã đồng ý hỗ trợ văn phòng của ông ta trong việc tổ chức một mạng lưới tình báo ở Đông Dương. Một quan chức khác nói thêm rằng ông Hồ đã đang nhận lãnh một số công việc chiến tranh tâm lý với cơ quan tuyên truyền của Trung Quốc trong hợp tác cùng CTtCtHK.45

Đối với ông Patti, phong trào của Hồ Chí Minh dường như là một phương tiện tuyên truyền tự nhiên cho những hoạt động của ông ta ở Đông Dương. Mặc dù bất kỳ cố gắng nào của CDvClHK muốn sử dụng Việt Minh hiệu lực có thể gặp phải những vấn đề khó khăn với cả Trung Quốc và Pháp, ông Patti cảm thấy được bảo vệ bởi những chỉ thị gần đây từ Washington là tận dụng bất cứ nguồn tình báo nào được cung cấp để thu thập tin tức về những hoạt động của Nhật ở Đông Dương. Điều mà giờ đây ông yêu cầu là một cơ hội để gặp Hồ Chí Minh, là người đã rời khỏi Kunming(pc 16) để quay trở lại đất nước của mình. Tình cờ, một vài ngày sau khi chuyến đến đây của mình,

p293

ông Patti nhận được tin về chuyến thăm của Vương Minh Phương. Sau khi những lời pha trò ban đầu, ông Phương xác nhận chính ông ta như là một thành viên của Mặt trận Việt Minh được dẫn dắt bởi “Tướng” Hồ Chí Minh và tinh tế bày tỏ sự hỗ trợ của mặt trận cho sự nghiệp Đồng minh trong việc đổi lại cho viện trợ quân sự và sự nhìn nhận mặt trận như là một tổ chức chính trị duy nhất đang đại diện cho những lợi ích của nhân dân Việt Nam. Khi ông Patti hỏi làm cách nào Tướng Hồ có thể được gặp, ông Phương cho biết rằng ông Hồ có thể liên lạc được ờ Jingxi,(pc 08) nơi mà ông ta đang dừng lại trên đường trở về Đông Dương.

Ông Patti sau đó tham khảo ý kiến ​​với cấp trên của mình, Đại tá Richard Heppner, trưởng đại diện của CDvClHK ở Chongqing,(pc 04) và, trong thời bình, là một luật sư nổi bật với những kết nối cao cấp trong chính quyền Roosevelt. Ông Heppner lúc đầu do dự. Patrick Hurley, một chính trị gia kỳ cựu của tiểu bang Oklahoma là người vừa thay thế Clarence Gauss như là Đại sứ Hoa Kỳ đối với Trung Quốc, đã từng trở thành người ủng hộ của Chiang Kai-shek(pc 03) và bực tức với những nhân viên của CDvClHK ở Yan’an(pc 22) về việc tìm cách sắp xếp một liên minh giữa ông Chiang và những người Cộng sản Trung Quốc; ông Hurley cũng đã từng cảnh cáo ông Heppner rằng cả người Pháp và Trung Quốc sẽ không vui vẻ khi phát hiện ra những liên lạc của tình báo Hoa Kỳ với Việt Minh, và đặc biệt là với Hồ Chí Minh, người mà những nguồn tin tình báo Pháp đã từng chính xác nhận dạng như là Nguyễn Ái Quốc. Vào ngày 26 tháng Tư, tuy nhiên, ông Heppner nhận được một điện tín từ Tướng Albert C. Wedemeyer, vị chỉ huy lực lượng Mỹ ở Chiến trường Trung Quốc, cho phép ông ta mở đầu đưa những gián điệp của CDvClHK vào Đông Dương để thu thập tin tức tình báo và tiến hành công việc phá hủy chống lại những cài đặt của đối phương trong khu vực. Ông Heppner thông báo ông Patti rằng vấn đề giành lấy Hồ Chí Minh vào trong kết quả có được của Đồng minh vẫn còn mở ra để xem xét, trong khi cảnh cáo ông ta đừng xa lánh người Pháp hoặc Trung Quốc.

Ngày hôm sau, ông Patti đến phi trường Debao,(pc 09) ngay phía bắc của Jingxi, và sau cuộc tham khảo ý kiến ​​với những đại diện DvTgKn(pc 20) địa phương, lái xe vào Jingxi,(pc 08) nơi mà ông ta gặp gỡ một liên lạc viên Việt Minh tại một nhà hàng địa phương và được đưa đi bằng xe đến gặp Hồ Chí Minh trong một ngôi làng nhỏ khoảng sáu dặm bên ngoài thị trấn. Sau khi tế nhị bày tỏ tình cảm với người khách viếng về bản thân và quan điểm chính trị của mình, ông Hồ mô tả hoàn cảnh bên trong Đông Dương và chỉ ra rằng phong trào của ông ta có thể cung cấp nhiều sự hỗ trợ và tin tức hữu ích cho Đồng minh nếu phong trào có được những vũ khí hiện đại, đạn dược, và phương tiện thông tin liên lạc. Tại thời điểm này, Ông Hồ thừa nhận rằng phong trào phụ thuộc vào một số lượng hạn chế của dụng cụ tịch thu được từ đối phương. Ông Patti tránh né bất kỳ cam kết nào, nhưng hứa xem xét vấn đề. Theo lời tường thuật của riêng ông Hồ, ông Patti cảm thấy phấn khởi.46

Một tuần sau, Hồ Chí Minh trở lại Pác Bó sau chuyến đi vất vả qua những khu rừng già dọc theo biên giới. Nhóm đi cùng với ông ta tổng cộng khoảng bốn mươi người, và bao gồm Mac Shinn nhân viên truyền tin của quân đội Hoa Kỳ

p294

và Frank Tan, một thành viên của đội GBT bị hủy bỏ. Cả hai đã được cung cấp bởi ông Fenn với hy vọng rằng, như là một người Mỹ gốc Á, họ sẽ thu hút ít sự chú ý từ những con mắt tò mò hơn so với một người Mỹ khác. Từ Pác Bó, Mac Shinn bắt đầu báo cáo đến Kunming,(pc 16) và CDvClHK bắt đầu không vận thả xuống thêm quân nhu, bao gồm thuốc men, một bộ đài phát sóng thứ hai, và thêm nhiều vũ khí, vào trong vùng hoang dã xung quanh Pác Bó. Đổi lại cho dụng cụ, ông Hồ và những cộng sự viên của mình cung cấp cho người Mỹ những dịch vụ hữu ích, bao gồm những báo cáo thời tiết, và cứu vớt nhiều phi công Hoa Kỳ bị bắn rơi ở hướng bắc Đông Dương và đưa họ về Trung Quốc. Ông Hồ cuối cùng đã thành lập một liên kết –tuy mong manh– với sự nghiệp của Đồng minh.

* * *

Lúc bấy giờ, chiến thắng của Đồng minh trong Chiến tranh Thái Bình Dương dường như chỉ là vấn đề thời gian. Quân lực Hoa Kỳ đang di chuyển một cách không nhượng bộ gần đến những hòn đảo nước nhà của Nhật Bản, và những cuộc không kích bằng những máy bay ném bom B-29 không ngừng tàn phá những thành phố lớn của Nhật. Những kế hoạch thử nghiệm ​​vẫn đang tiến hành cho cuộc xâm lấn Đông Dương thuộc Pháp có thể của Đồng minh, kết hợp với những đơn vị Trung Hoa Dân Quốc đang di chuyển về hướng nam vào trong khu vực; ý tưởng này có sự ủng hộ mạnh mẽ từ Nhà Trắng.

Bên trong Đông Dương, tình hình đang phát triển nhanh chóng. Hoàn cảnh thời tiết xấu trên những phần lớn đất nước đã dẫn đến một sự thiếu hụt đáng kể trong vụ thu hoạch mùa thu năm 1944, dẫn đến sự tích trữ và đầu cơ giá cả là một phần của những người kinh doanh gạo. Chính quyền chiếm đóng của Nhật Bản đã làm tăng thêm những vấn đề khó khăn bởi việc ban hành cưỡng lệnh những chuyến vận chuyển gạo đến Nhật và ra lệnh những nông dân ở các huyện nông nghiệp khắp miền Bắc Việt Nam chuyển đổi từ việc trồng lúa gạo qua hạt dầu, đậu phọng, bông vải, và cây đay. Bấy giờ, khi nạn đói xảy ra, chính quyền Nhật từ chối mở những kho thóc nhà nước hoặc gia tăng những chuyến vận chuyển gạo từ đồng bằng sông Cửu Long màu mỡ đến những vùng bị ảnh hưởng nặng nề ở Trung phần Việt Nam và đồng bằng Bắc Bộ. Qua sự thờ ơ hoặc không đủ thẩm quyền, chế độ Vichy dưới Jean Decoux đã không làm gì nhiều để giúp đỡ.

Trong suốt mùa đông, chính quyền đã từ chối giảm thuế má hoặc gia tăng giá cả của những hạn ngạch bắt buộc về gạo được ấn định cho mỗi nông dân để bán cho chính phủ. Giới nông dân tuyệt vọng chuyển sang việc trồng những loại cây khác, như là khoai lang hoặc khoai mì, nhưng nguồn cung cấp nhanh chóng cạn dần. Khi những giá cả cho tất cả mặt hàng chủ yếu bắt đầu nhanh chóng tăng lên, mối đe dọa nạn đói lờ mờ hiện ra cả những vùng thành thị. Đến giữa mùa đông, hàng ngàn người chịu khốn khổ từ đói kém, và số tử vong do nạn đói đang tăng lên một cách nhanh chóng. Giới nông dân tìm cách để tránh đỡ đói kém bằng cách ăn rễ cây, cỏ dại, và thậm chí vỏ cây, trong khi những người cư ngụ ở thành phố trao đổi những đồ dùng quý giá trong nhà để lấy gạo và các loại rau vốn được bán với giá lạm phát.

p295

Vì số lượng chết chóc lên cao, những xác người bắt đầu xuất hiện dọc theo những đường xa lộ, và những nông dân đói kém lang thang không mục đích xin ăn hoặc tụ tập gần những kho thóc được sốt sắng bảo vệ bởi quân đội Nhật.

Tuy nhiên tình trạng bi thảm gây nên tác động của nó trên dân cư Việt Nam, cuộc khủng hoảng là một biến cố trời ban đầy tiềm năng đối với Việt Minh, là những người lúc bấy giờ có thể tranh luận không lắm lo sợ về mâu thuẫn mà không phải chính quyền Pháp hoặc cũng không nhà nhà chức trách Nhật có khả năng nhìn thấy trước những lợi ích của nhân dân Việt Nam. Trong suốt mùa đông, những người hoạt động Việt Minh thúc giục những nông dân địa phương tấn công nhà kho khắp các tỉnh miền Bắc và miền Trung, thu giữ ngủ cốc được lưu trữ ở đó và phân phối cho người nghèo. Trong nhiều trường hợp, tuy nhiên, quá muộn, và số tử vong do đói kém kéo dài thành hàng trăm hàng ngàn người. Những xác chết nằm bỏ mặc bên lề đường ở những vùng nông thôn, khi những người trong gia đình thường quá kiệt quệ không giúp được gì cho người thân họ.47

Mùa đông đó, chính quyến Pháp đã thực hiện nhiều cố gắng để làm sạch những căn cứ du kích Việt Minh ở vùng núi phía bắc đồng bằng. Sau những chiến thắng ban đầu của họ trong các trận đánh tại Phai Khắt và Nà Ngần, những đơn vị tuyên truyền vũ trang của Võ Nguyên Giáp bấy giờ tiến về phía bắc hướng đến biên giới Trung-Việt, chiếm các ngôi làng nơi sinh sống của dân tộc thiểu số địa phương dọc theo đường tiến quân. Khi chính quyền Pháp gởi đi những đội tuần tra, phiến quân rút lui vào khu căn cứ của họ (được biết như là Hoàng Hoa Thám) giữa Cao Bằng và làng Bắc Cạn, nơi mà ông Giáp và Vũ Anh và Phạm Văn Đồng, những cộng sự viên mình ở ủy ban liên tỉnh Đảng, bắt đầu dự thảo những kế hoạch tiếp tục Cuộn tiến Quân của họ về miền Nam để giải phóng Hà Nội và đồng bằng sông Hồng từ sự chiếm đóng quân sự của Nhật Bản.

Khi, vào ngày 9 tháng Ba năm 1945, Nhật phát động một cuộc đảo chính, họ bằng một nét bút mang đến một sự kết thúc hơn nửa thế kỷ của nhà cầm quyền Pháp trên Việt Nam. Bằng cách xoá bỏ chính quyền thực dân và thay thế nó với một chính phủ triều đình bù nhìn được đứng đầu là Hoàng đế Bảo Đại, nhưng vững chắc dưới sự thống trị của họ, chính quyền Nhật đã vô tình mở ra toàn bộ khu vực phía bắc đồng bằng cho sự chiếm giữ của cách mạng. Tổng Bí thư Trường Chinh của Đảng đã từng dự đoán động thái này, sau khi triệu tập một cuộc họp ngày hôm trước gồm những thành viên hiện hữu của Ủy ban Trung ương ở Đình Bảng, một ngôi làng cách mười hai dặm đông bắc Hà Nội, để thảo luận về mối quan hệ mật thiết. Khi cuộc đảo chính diễn ra, ủy ban ban hành một chỉ thị ra lệnh những cuộc chuẩn bị cần được tăng cường thêm cho một cuộc tổng nổi dậy sắp tới. Sau khi tuyên bố rằng nhiều yếu tố thuận lợi cho sự thành công của cuộc nổi dậy như thế, bao gồm cuộc khủng hoảng chính trị đang tiếp tục xảy ra được tạo nên bởi cuộc đảo chính, nạn đói đang gia tăng mạnh mẽ, và cuộc xâm lấn trong tương lai của Đồng minh, ủy ban kết luận rằng cuộc đấu tranh quân sự hiện tại sẽ nhận được ưu tiên cao nhất; chỉ thị do đó kêu gọi cho sự bành trướng những căn cứ du kích,

p296

sự mở rộng hơn căn cứ chính trị của Mặt trận Việt Minh, và sự hợp nhất những đơn vị khác nhau của lực lượng vũ trang cách mạng thành một VNGpQ(pc 24) mới.

Tuy thế, Trường Chinh vốn thận trọng lo ngại rằng Đảng không nên di chuyển cho đến khi tình hình nội bộ và quốc tế đã chín muồi, vì chính lực lượng cách mạng vẫn chưa được chuẩn bị đầy đủ để phát động một cuộc nổi dậy thành công. Chỉ khi nào những yếu tố đó đã chín muồi, những người đi theo của ông ta sẽ được chuẩn bị để hành động. Ủy ban dường như giả định rằng một cuộc xâm lược của Đồng minh có thể xảy ra, vì lực lượng của Đảng đã được chỉ thị tấn công phía sau những phòng tuyến Nhật Bản và tiến hành một cuộc tổng nổi dậy một khi lực lượng đồng minh đã đổ bộ vào Đông Dương và bắt đầu cuộc tiến quân của họ. Nhưng lưu ý rằng ngay cả nếu chính phủ Nhật quyết định đầu hàng trước một cuộc xâm lược như thế diễn ra, “cuộc tổng nổi dậy của chúng ta vẫn có thể nỗ ra và thành công.”48

Trước khi chuyến khởi hành của mình từ Kunming,(pc 16) Hồ Chí Minh đã cung cấp cho những liên lạc viên Hoa Kỳ của mình lời giải thích của ông ta về cuộc đảo chính ngày 09 tháng Ba. Trong một lá thư ngắn được ký tên “Lục” mà bây giờ thì trong kho lưu trữ của Hoa Kỳ, ông ta tuyên bố rằng cuộc đảo chính đó đã mang lại một kết thúc nền thống trị của Pháp ở Đông Dương, một nền thống trị vốn đã bắt đầu 87 năm trước đây. “Vì vậy,” ông ta kết luận, “con chó sói đế quốc Pháp cuối cùng bị xé xác bởi con linh cẩu phát-xít Nhật.” Ông Lục thừa nhận rằng trong mưu dồ tổng thể của những sự việc trong thế giới lúc chiến tranh, điều này chỉ là “một sự kiện nhỏ nhoi,” nhưng ông ta tuyên bố rằng nó sẽ có “một mối quan hệ nghiêm trọng trên Thế Chiến nói chung, ở Đông Dương, Pháp, Nhật Bản, và Trung Quốc nói riêng.” Mục đích của Hồ Chí Minh trong việc viết bản báo cáo thì rõ ràng –nhằm thuyết phục chính quyền Roosevelt tấn công Nhật Bản ở Đông Dương, mà ông ta gọi là “con đường rút lui duy nhất của Nhật Bản.” Trong ngôn ngữ đầy màu sắc đặc trưng, ​​ông ta bày tỏ rằng “từ Nhật đến New Guinea,(pc 23) lực lượng Nhật Bản nằm {theo nguyên văn} giống như một con rắn dài có cổ là Đông Dương. Nếu quân Đồng minh đánh mạnh lên cổ nó, con rắn sẽ ngưng di chuyển.”49

Ở căn cứ nhỏ của tỉnh Cao Bằng thuộc phía bắc Đông Dương, những nhà lãnh đạo khác của Đảng rút ra những kết luận của riêng mình từ sự thay đổi chính phủ ở Đông Dương. Khi nghe tin tức của cuộc đảo chính, họ ra lệnh một sự tăng cường các cuộc tấn công du kích khắp vùng biên giới gần Cao Bằng, trong khi những đơn vị tuyên truyền vũ trang của ông Giáp của bắt đầu di chuyển về phía nam, chiếm đóng những làng mạc và ghi tên những nhân tuyển mới cho lực lượng vũ trang giải phóng dọc theo con đường đi qua Chợ Chu, cuối cùng họ đến Kim Lung, một ngôi làng nhỏ bé nằm ở giữa nữa đường rừng lộn xộn giữa Thái Nguyên và Tuyên Quang. Ở đó, họ gặp phải những đơn vị quân sự của Cứu Quốc Quân thuộc Chu Văn Tấn, là người đã từng di chuyển vào trong khu vực từ phía đông. Với cuộc gặp gỡ của họ ở Kim Lung, nơi nối liền của lực lượng cách mạng đang hoạt động ở Việt Bắc đã từng đạt được và con đường đến đồng bằng thông mở.

p297

Vào đầu tháng Tư 1945, Ủy ban Trung ương triệu tập một hội nghị quân sự tại Hiệp Hòa, một vài dặm tây bắc Hà Nội ở tỉnh Bắc Giang, để thảo luận làm cách nào tiến hành chỉ thị được ban hành tại cuộc họp Ủy ban Trung ương được tổ chức vào đêm trước cuộc đảo chính. Hội nghị này xác nhận những kết luận đạt trong tháng Ba, dựa trên giả định rằng lực lượng Đồng minh có khả năng phát động cuộc xâm lược Đông Dương trước khi kết thúc chiến tranh Thái Bình Dương. Hội nghị chính thức ra lệnh cho việc tạo ra VNGpQ(pc 24) và hướng dẫn những cán bộ Việt Minh khắp nước thiết lập những ủy ban giải phóng dân tộc trong sự chuẩn bị cho việc tiến đến nắm giữ quyền lực. Nhưng hội nghị cảnh cáo rằng cuộc tổng nổi dậy không được xảy ra cho đến khi lực lượng Nhật Bản càng lúc tham gia hoàn toàn trong cuộc chiến đấu chống lại quân đội Đồng minh –đó là, trừ khi Tokyo quyết định đầu hàng trước cuộc xâm lược của Đồng minh. Trong sự kiện đó, khi chế độ Nhật ở Đông Dương trở nên “cô lập và bấn loạn,” cuộc khởi nghĩa mới có thể được phát động. Tại cuộc họp, Võ Nguyên Giáp biết được từ một cộng sự viên rằng vợ ông ta đã chết trong tù ba năm trước đây.50

Một vài ngày sau chuyến trở về Cao Bằng của ông ta từ hội nghị, Võ Nguyên Giáp nhận được tin rằng Hồ Chí Minh vừa trở về từ Trung Quốc và đang chuẩn bị lên đường dọc theo tuyến đường mới được chiếm bởi lực lượng Việt Minh để gia nhập những cộng sự viên của mình. Ông Giáp ngay lập tức đi về hướng bắc để đón ông ta dọc đường. Ông Hồ đã trở lại Pác Bó vào cuối tháng Tư, và nhanh chóng gửi đi bản báo cáo tình báo đầu tiên của mình cho  Archimedes Patti. Được kèm theo thông điệp của ông ta là hai cuốn sách mỏng, một cuốn trực tiếp đến những nhà lãnh đạo của quân Đồng minh, cuốn kia đến Liên Hiệp Quốc mới được tạo ra, cả hai đều van nài cho sự nhìn nhận của Đồng minh về nền độc lập Việt Nam. Những tài liệu được ghi tác giả che giấu bề ngoài là “Đảng Quốc gia An Nam,” mô tả như là một trong năm đảng phái vốn đã từ lúc đầu thành lập Đồng Minh Hội vào năm 1942 và sau đó sáp nhập với Mặt trận Việt Minh. Ông Patti chuyển đưa những cuốn sách mỏng về chính quyền Mỹ ở Chongqing.51

Vào ngày 04 tháng Năm năm 1945, vận phục trong chiếc áo khoác màu xanh đậm kiểu người Nùng, với chiếc nón lá và cây gậy, Hồ Chí Minh rời khỏi Pác Bó và theo hướng nam về phía Kim Lung, nơi mà lực lượng cách mạng đã liên kết nhau một vài tuần trước đây. Ông ta được tháp tùng bởi những cận vệ và đội DvTgKn.(pc 20) Một vài ngày sau đó, sau khi chống chọi sức nắng nóng, những con đường núi mòn gồ ghề, và đám đỉa luôn hiện diện, nhóm người đến làng Lam Sơn, nơi họ hòa nhập với Hoàng Quốc Việt, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng đến từ Cao Bằng. Sau khi gửi đi một tin ngắn cho Charles Fenn ở Kunming(pc 16) cảm ơn ông ta về việc đồng ý cung cấp sự huấn luyện dụng cụ vô tuyến điện cho một số cộng sự viên của mình, vào ngày 09 tháng Năm ông Hồ và những người còn lại của nhóm theo hướng nam về phía Ngân Sơn. Vào ngày thứ 17, họ đến Na Kiên, nơi họ bắt gặp Võ Nguyên Giáp đi lên từ hướng nam.52

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.
pc 02_ ĐCSTQ : Đảng Cộng sản Trung Quốc.
pc 03_ Chiang Kai-shek : Tưởng Giới Thạch.
pc 04_ Chongqing : thành phố Trùng Khánh.
pc 05_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 06_ Sun Yat-sen : Tôn Dật Tiên.
pc 07_ Guilin : huyện Quế Lâm.
pc 08_ Jingxi : huyện Tĩnh Tây.
pc 09_ Debao : huyện Đức Bảo.

pc 10_ Tất cả những bài thơ được chép lại theo nguyên bản Hán Viết vả bản dịch của một số dịch giả Việt Nam, hơn là dịch lại từ tác giả.

pc 11_ Liuzhou : huyện Liễu Châu.
pc 12_ Zhang Fakui : Trương Phát Khuê.
pc 13_ Nanning : huyện Nam Ninh.
pc 14_ Guangxi : tỉnh Quảng Tây.
pc 15_ Guangdong : tỉnh Quảng Đông.
pc 16_ Kunming : quận Côn Minh.
pc 17_ CDvClHK : Cục Dịch vụ Chiến lược Hoa Kỳ (OSS: U.S. Office of Strategic Services).
pc 18_ CTtCtHK : Cục Thông tin Chiến tranh Hoa Kỳ (OWI: U.S. Office of War Information)
pc 19_ VNQDĐ : Việt Nam Quốc dân Đảng.
pc 20_ DvTgKn : Dịch vụ Trợ giúp Không nạn (AGAS: Air Ground Aid Services).
pc 21_ GBT : nhóm tình báo dân sự của Hoa Kỳ.
pc 22_ Yan’an : Diên An.
pc 23_ New Guinea : là hải đảo lớn thứ hai trên thế giới, sau Greenland là hải đảo phía tây gần Vương quốc Anh, bao gồm một diện tích 786.000 km 2. Nằm ở phía tây nam Thái Bình Dương, theo mặt địa lý nó nằm về phía đông của quần đảo Mã Lai Á, qua đó mà đôi khi nó được bao gồm như là một phần lớn quần đảo Ấn-Úc. Hải đảo nầy bị tách ra tử phía bắc nước Úc khi khu vực này được biết đến với tên gọi Eo biển Torres bị ngập lụt trong thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Tên gọi Papua từ lâu đã đồng hành với hòn đảo này. Về mặt chính trị, một nửa phía tây của hòn đảo bao gồm hai tỉnh của Indonesia : Papua và Tây Papua. Nửa phía đông hình thành lục địa của nước Papua New Guinea.

pc 24_ VNGpQ : Việt Nam Giải phóng Quân.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s