X- Những Ngày Tháng Tám (Phần 3)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p327

những vật dụng của họ được gánh trên vai, chân họ bị sưng lên từ bệnh tê phù. Nhiều người trong số họ đi cùng với vợ và con.

Những người nầy không phải là trong số đội quân hay nhất trong quân đội Quốc Dân Đảng. Đối với những lý do chính trị, Chiang Kai-shek (i.e. Tưởng Giới Thạch) đã từ bỏ những kế hoạch sử dụng đội quân Guangxi (i.e. Quảng Tây) thiện chiến của Zhang Fakui (i.e. Trương Phát Khuê) như là lực lượng chính cho sự chiếm đóng Đông Dương của ông ta, và đã điều hành Lu Han (i.e. Lư Hán), vị lãnh chúa của tỉnh Yunnan (i.e. Vân Nam), để gởi những đơn vị của Quân Thứ nhất của mình xuôi hướng sông Hồng đến Hà Nội. Trong khi đó, Tướng Xiao Wen, người đỡ đầu của Hồ Chí Minh một vài tháng trước đó ở Liuzhou (i.e Liễu Châu), đưa những đơn vị thuộc quân đội Guangxi của Zhang Fakui qua biên giới tại Lạng Sơn. Lu Han(pc 09) được chỉ định là vị chỉ huy của lực lượng chiếm đóng, mà nó được mong mỏi ​​sẽ đạt đến sức mạnh của 180.000 người, trong khi Xiao Wen được chọn như là trưởng cố vấn chính trị của ông ta. Cùng hành trang mang theo của họ có sự tham dự của Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khánh, và những thành viên khác của phong trào dân tộc là những người đã từng trải qua những năm chiến tranh đang sống lưu vong ở miền nam Trung Quốc.

Vào ngày 9 tháng Chín, đại đội chính của quân đội Tướng Lu Han vào Hà Nội. Archimedes Patti đã mô tả quang cảnh:

Qua suốt đêm, đội quân của Lu Han đổ vào trong thành phố; chúng tôi có thể nghe sự đi lại của họ, tiếng xe phóng nhanh của những động cơ, tiếng của những người chỉ huy la hét. Chúng tôi thức dậy sáng hôm sau đối diện một cảnh tương phản bất ngờ. Nét đặc biệt của “quân đội ” Trung Quốc đã trải qua một sự thay đổi mạnh mẽ. Quân ưu tú của ngày hôm qua thì hôm nay là đội quân đoàn của những người ngồi lấn chiếm đất công. Vượt qua thị trấn, tôi trông thấy một cảnh tượng gần như không thể tin được về những người Trung Quốc ngớ ngẩn và đang lang thang vớ vẩn. Những vỉa hè, lối ra vào, và lề đường bừa bộn với những người lính và những người đi theo dựng trại đang lảng vảng gần những bọc đồ dùng trong nhà và trang bị quân sự được rải ra ở mọi nơi. Nhiều người đã chiếm lấy riêng những khu vườn tư nhân và sân nhà và sửa soạn nấu trà, làm công việc vặt như ở nhà và bắt đầu giặc giũ.22

Đối với Hồ Chí Minh, sự xuất hiện thực thể của một quân đội chiếm đóng mới đến thì ít quan trọng hơn so với câu hỏi về mục đích cuối cùng của nó. Bề ngoài nó đã được gởi đi để chấp thuận sự đầu hàng của quân Nhật và bảo vệ an ninh trật tự ở Đông Dương cho đến khi một chính quyền dân sự mới có thể được thành lập. Nhưng chính phủ thuộc loại gì Chongqing (i.e. Trùng Khánh) thấy trước ở Đông Dương, và Trung Quốc sẻ đóng vai trò gì ở đó trong thời kỳ hậu chiến? Mặc dù tại Hội nghị Cairo năm 1943 Chiang Kai-shek(pc 10) đã hứa với Tổng thống Roosevelt rằng chính Trung Quốc không có ý định về mưu toan nắm lấy đất nước,

p328

dường như có chút nghi ngờ rằng chính phủ của ông ta quyết định vận dụng tình hình địa phương nhằm mục đích duy trì mức độ ảnh hưởng trên biển. Sau đó, một lần nữa, chính quyền chiếm đóng của Trung Quốc phản ứng như thế nào đối với những cố gắng của Pháp nhằm khôi phục chế độ thực dân ở những vùng thuộc quyền quản lý của họ? Mặc dù một số sĩ quan quân đội Trung Quốc, như là tướng Zhang Fakui,(pc 08) thì rõ ràng chống Pháp, những người khác có thể bị cám dỗ đi đến một thỏa hiệp với Pháp nhằm mục đích mở rộng những lợi ích của Trung Quốc. Đây là mối quan tâm mà Hồ Chí Minh đã bày tỏ với ông Patti trong cuộc họp ngày 26 tháng Tám.

Ngay cả trước khi sự phát động cuộc Cách mạng Tháng Tám, những người lãnh đạo Đảng đã chuyển sự chú ý của họ đến câu hỏi về làm cách nào để đối phó với những cường quốc Đồng minh chiến thắng. Tại cuộc họp của Uỷ ban Trung ương Đảng được tổ chức ở Tân Trào vào giữa tháng Tám, Hồ Chí Minh đã giải thích cho cộng sự viên mình về sự phức tạp của vấn đề và sự cần thiết cho chính phủ lâm thời trong tương lai để khai thác những mâu thuẫn giữa các nước Đồng minh cho lợi thế của riêng mình. Trong báo cáo đó, ông ta cung cấp một số hiểu biết quan trọng vào trong quan điểm mình về tầm nhìn thế giới, và nó có thể gây ảnh hưởng đến cách mạng Việt Nam như thế nào. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, mối nguy hiểm nhất của những cường quốc Đồng Minh là chính quyền Pháp và Trung Quốc –chính quyền Pháp vì sự mong muốn khôi phục công trình xây dựng thuộc địa của họ, và chính quyền Trung Quốc vì những âm mưu của các quan chức Trung Quốc giành giựt quyền kiểm soát trên lãnh thổ hoặc ủng hộ những nguyện vọng của nhà dân tộc chuyên nghiệp Trung Quốc để nắm lấy quyền lực chính trị ở Hà Nội. Ông ta dự đoán rằng những mâu thuẫn giữa các nước Đồng minh có thể phát triển trong hai cách khác nhau: Thứ nhất, những sự khác biệt có thể nổi lên giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc theo một mặt và Anh và Pháp theo mặt khác trên sự mong muốn của Pháp nhằm khôi phục chế độ thuộc địa. Đây là một cái gì đó, ông ta nói, mà Việt Nam liệu có thể khai thác. Về mặt khác, nếu những sự căng thẳng phát triển giữa tất cả các cường quốc Đồng Minh khác và Liên Xô, điều đó có thể dẫn đến Hoa Kỳ và Vương quốc Anh ủng hộ chính quyền Pháp và cho phép họ quay trở lại Đông Dương.

Trong những trường hợp đó, Hồ Chí Minh đề nghị phân chia các cường quốc Đồng Minh thành những khóm tách biệt và phát triển những chiến thuật riêng biệt để đối phó với mỗi nước. Đối với chính quyền Pháp, ông giải thích, “chúng ta phải tránh xung đột quân sự, nhưng khi họ đến, chúng ta phải chỉ đạo quần chúng biểu tình chống lại những âm mưu của Pháp nhằm khôi phục quyền lực cũ của họ ở Đông Dương.” Như đối với chính quyền Anh và Trung Quốc, đáng nên khuyến khích tránh những cuộc xung đột với lực lượng chiếm đóng của họ và để phát triển các mối quan hệ thân thiện với cả hai chính phủ, nhưng nếu họ bắt đầu xâm nhập vào chính quyền của chính phủ lâm thời, điều cần thiết sẽ là huy động quần chúng và đòi hỏi độc lập dân tộc. Trên hết, điều quan trọng là tránh chiến đấu một mình, mà qua đó sẽ làm lợi cho Pháp và “những con chó hoang” của chúng trong phe phái hợp tác với họ ở Đông Dương.23

p329

Dựa trên hậu quả của những biến cố dồn dập đó, chính phủ mới tìm cách đối phó với chính quyền chiếm đóng của Trung Quốc bằng những chiếc bao tay trẻ con. Khi Xiao Wen người từng đỡ đầu của Hồ Chí Minh đến Hà Nội để phục vụ như là cố vấn chính trị của Tướng Lu Han,(pc 09) ông Hồ cẩn thận nhấn mạnh sự mong muốn của chính phủ mình hợp tác với chính quyền Trung Quốc. Để giảm thiểu mối nguy hiểm về những cuộc đụng độ quân sự giữa các đơn vị Việt Nam và Trung Quốc, VNGpQ(pc 01) được đổi tên thành Vệ Quốc Quân, và số lượng lớn đội quân của ông Giáp được rút ra khỏi Hà Nội, trong khi các đơn vị khác của Việt Nam đóng ở thủ đô được cẩn thận xếp đặt vị trí để tránh những cuộc đối đầu. Khi Tướng Lu Han đích thân đến vào ngày 14 tháng Chín, chính phủ không có một hành động phản đối nào cả khi ông ta tiếp nhận Dinh Toàn quyền từ chính quyền Pháp như là nơi cư ngụ của riêng mình. Đối với sự thất bại của họ, ông Sainteny và đoàn tùy tùng của mình buộc phải di chuyển đến một biệt thự ở trung tâm thành phố gần Ngân hàng Đông Dương, vốn vẫn còn dưới sự kiểm soát của chính quyền Nhật.

Một khó khăn tiềm năng giữa chính phủ và chính quyền chiếm đóng của Trung Quốc là làm cách nào để đối phó với những nhà chính trị dân tộc người Việt vốn đã đến Hà Nội với quân đội Trung Quốc. Trong khi vẫn còn đang trên đường qua Việt Bắc về Hà Nội, một số chính trị gia dân tộc đã thử cố gắng chiếm trụ sở chính của ủy ban nhân dân cách mạng địa phương, bắt buộc chính phủ phải gởi những phái viên đến các tỉnh biên giới hướng dẫn những đơn vị quân sự địa phương và những quan chức dân sự tránh một cuộc đối đầu với những người mới đến. Một khi họ đã ở Hà Nội, Nguyễn Hải Thần và những cộng sự viên mình ngụ tại trung tâm thành phố và cố gắng thiết lập một “vùng tự trị,” nơi họ bắt đầu khuấy động chống lại chính quyền mới.

* * *

Rõ ràng là, trong tâm trí của Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc chống đỡ những thách thức từ các cường quốc khác trên thế giới, và ông đã tìm cách moi ra mỗi lợi thế từ mối quan hệ mong manh mà ông đã từng tạo nên với CDvClHK(pc 04) trong mùa xuân năm 1945. Nhưng ông Hồ ắt hẵn đã cảm nhận rằng những cố gắng của mình đã mang lại chút kết quả. Vào thời điểm nào đó trong giữa tháng Tám, ông ta đã viết một lá thư cuối cùng cho Charles Fenn, người bạn của mình và người hợp tác với DvTgKn(pc 12) vốn là người lúc bấy giờ đang chuẩn bị trở về Hoa Kỳ. Tốt cho mọi người, ông đưa ra nhận xét, là chiến tranh được chấm dứt, nhưng ông cảm thấy xót xa rằng những người bạn Mỹ của mình sẽ bỏ lại ông ta không bao lâu. “Và việc rời khỏi của họ,” ông nói, “có nghĩa là những mối quan hệ giữa bạn và chúng tôi sẽ khó khăn hơn.”24

Mặc dù khi nhìn lại, những nhận xét của ông ta dường như là tiên tri, chúng hoàn toàn phù hợp với sự hiểu biết của ông về bản chất của thế giới và những chính sách trong tương lai của Hoa Kỳ. Khi Chiến tranh Thái Bình Dương đi đến sự kết thúc,

p330

Hồ xem Hoa Kỳ như là một yếu tố rất quan trọng nhưng bí ẩn trong cuộc đấu tranh đất của đất nước mình cho độc lập dân tộc. Như là một quốc gia tư bản chủ nghĩa, nó đại diện cho một đối thủ tiềm năng của cuộc cách mạng thế giới trong tương lai. Mặt khác, Tổng thống Roosevelt đã nổi lên trong suốt Chiến tranh Thái Bình Dương như là một trong những người phát ngôn mạnh mẽ và có quyề lực nhất cho công cuộc giải phóng các dân tộc bị áp bức Châu Á và Châu Phi từ chế độ thuộc địa, và ông Hồ rõ ràng bám lấy sự khả dĩ rằng những chính sách của ông Roosevelt sẽ tiếp tục uốn nắn những thái độ của Hoa Kỳ sau khi kết thúc chiến tranh.

Tầm nhìn song diện của ông Hồ về Hoa Kỳ như là ngọn hải đăng cho tự do nhân loại và là thành trì của chủ nghĩa tư bản toàn cầu được chứng minh một cách sinh động trong nghị quyết được ban hành bởi Ủy ban Trung ương Đảng tại Tân Trào vào giữa tháng Tám. Một mặt, ông Hồ cảm thấy rằng việc không ưa thích của Hoa Kỳ về chủ nghĩa thực dân của châu Âu có thể chứng tỏ là hữu ích trong cuộc đấu tranh của Đảng nhằm ngăn chặn sự trở lại quyền lực của Pháp ở Đông Dương. Mặt khác, nếu sự căng thẳng tăng lên giữa các cường quốc tư bản chủ nghĩa và Liên Xô, Washington có thể quyết định thực hiện những sự nhượng bộ cho Paris nhằm mục đích lôi kéo chính quyền Pháp trong cố gắng ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản.

Khi Harry S. Truman nhận chức tổng thống qua cái chết của ông Roosevelt vào tháng Tư, ông ta ngấm ngầm từ bỏ cố gắng sắp tàn của người tiền nhiệm mình nhằm ngăn chặn sự phục hồi quyền lực của Pháp ở Đông Dương. Tại hội nghị ở San Francisco tạo ra Liên Hiệp Quốc vào tháng Năm, những quan chức Hoa Kỳ đã cho biết rằng họ sẽ không phản đối sự trở lại Đông Dương của chính quyền Pháp sau khi kết thúc chiến tranh. Sự thay đổi của chính sách đó đã bị phản đối bởi những chuyên gia về châu Á trong Bộ Ngoại giao, nhiều người trong số họ cảm thông với những nguyện vọng của Việt Nam về độc lập dân tộc, nhưng của Cục Phòng Nội vụ châu Âu đã lập luận rằng sự phản đối của Hoa Kỳ đối với chủ quyền của Pháp trên Đông Dương có thể làm phức tạp những quan hệ với Paris sau chiến tranh và –với những sự căng thẳng giữa Moscow và Washington trong tình trạng gia tăng ở châu Âu– quan điểm của họ đã thắng thế. Charles de Gaulle nhà lãnh đạo Dân Pháp Tự Do đã cố gắng làm dịu những quan tâm của Hoa Kỳ bằng cách hứa hẹn vào tháng Ba rằng Đông Dương sẽ nhận được “quyền tự chủ tương ứng với sự tiến bộ và thành tựu của mình,” và tại San Francisco những đại biểu Hoa Kỳ đã phản ứng với thông báo rằng Washington sẽ không đòi hỏi thúc bách sự chuyển đổi Đông Dương thành một ủy nhiệm viên quốc tế. Tuy nhiên, trong sự tôn trọng quan điểm được bày tỏ bởi những chuyên gia châu Á tại Bộ Ngoại giao, chính quyền “nhấn mạnh về sự cần thiết về việc cung cấp một biện pháp tiến bộ của quyền tự trị cho tất cả các dân tộc phụ thuộc đang mong đợi nền độc lập sau cùng hoặc sự hợp thành một hình thức liên bang nào đó tùy theo những hoàn cảnh và khả năng của các dân tộc nhận lấy những trách nhiện nầy.25

Vào cuối tháng Tám, vừa khi Việt Minh củng cố quyền lực của họ ở Hà Nội,

p331

ông de Gaulle gặp ông Truman tại Nhà Trắng. Mặc dù ông Truman kêu gọi người khách viếng của mình cam kết nền độc lập trong tương lai của Đông Dương, ông de Gaulle bào chữa, đưa ra nhận xét rằng bất kỳ lời tuyên bố công khai đưa đến hiệu quả đó sẽ chỉ là “những lời tốt đẹp.” Ông ta thực sự bảo đảm người chủ khách của mình rằng chính phủ Pháp sẽ thực hiện những bước thích hợp mà cuối cùng chúng sẽ dẫn đến quyền tự trị cho các dân tộc trong khu vực. Một vài ngày sau đó, Bộ Ngoại Giao lưu hành lời tuyên bố vì mục đích mà Hoa Kỳ đã không tranh cãi về tuyên bố chủ quyền của Pháp ở Đông Dương. Thật không may, tin tức về quyết định đó đã không đến Chongqing(pc 13) cho đến tháng Mười. Kết quả là, Archimedes Patti và những người Mỹ khác đến Đông Dương thiếu những hướng dẫn chính thức từ Đại sứ quán Mỹ ở đó về những chính sách của Mỹ trong tương lai ở khu vực.

Ông Hồ không nhận biết về điều đó trong khi ông Patti được thông tin về những chính sách của Hoa Kỳ chỉ một ít hơn ông ta, Hồ Chí Minh tập trung những cố gắng mình về việc cam đoan (i.e. ông ta không phài là người Cộng sản) một lần nữa với người khách của mình. Trong cuộc gặp gỡ của ông ta với ông Patti vào ngày 26 tháng Tám, ông Hồ đã thực sự than phiền về những ý định của Trung Quốc ở Đông Dương, cũng như những ý định đó của người Pháp. Sau đó, vào một ngày trước những buỗi lễ của Ngày Độc lập, ông Hồ gặp gỡ với ông Patti một lần nữa để than phiền rằng những quan chức Hoa Kỳ không hiểu chính quyền Trung Quốc và Pháp đang định làm gì ở Đông Dương. Nhằm làm sống lại những nghi ngờ có thể có của Hoa Kỳ về định hướng tư tưởng hệ của chính phủ mình, ông chối bỏ một lần nữa rằng Mặt trận Việt Minh được thống trị bởi ĐCSĐD,(pc 02) và nói rằng chính phủ của ông ta sẵn sàng chấp nhận một hình thức hạn chế về nền độc lập từ Pháp (trong điện thư của ông Patti mô tả về cuộc gặp gỡ, ông ta trích dẫn lời của ông Hồ như là sự đòi hỏi về “nền độc lập hạn chế, sự giải thoát từ chính quyền Pháp, quyền được sống như những dân tộc tự do trong gia đình của các quốc gia và cuối cùng là quyền giao tiếp với thế giới bên ngoài”). Như là một nguyên nhân thêm vào để xui khiến, ông ta nói với ông Patti rằng đất nước ông ta rất cần sự đầu tư và cố vấn của Hoa Kỳ và ngụ ý vui lòng thừa nhận những nhượng bộ đặc biệt cho những lợi ích thương mại của Hoa Kỳ ở Việt Nam.

Theo lời tường thuật của riêng mình, ông Patti (như hầu như mọi người Mỹ vốn đã từng gặp gỡ với ông Hồ trong những ngày cuối của chiến tranh) có cảm thông đối với Hồ Chí Minh và chính phủ mới của ông ta, nhưng ông Patti đang hoạt động dưới sự hạn chế liên quan đến công tác của mình và sự mơ hồ của chính sách Hoa Kỳ, và vì thế cố kiềm chế đưa ra bất kỳ lời hứa nào. Một chuyến đi ngắn đến Kunming (i.e Côn Minh) vào đầu tháng Chín đã không làm giảm bớt mối quan tâm của mình. Richard Heppner Giám đốc CDvClHK(pc 04) tức giận vì sự sẵn lòng hiển hiện của ông Patti làm trung gian hòa giải cuộc tranh chấp Pháp-Việt Minh và ra lệnh cho anh ta kiềm chế lại những hoạt động chính trị trong tương lai. Sau khi bị bỏ mặc với phương cách của riêng mình, Hồ Chí Minh quyết định điều đình với chính quyền Trung Quốc. Khi Tướng Xiao Wen gặp gỡ với ông ta vào đầu tháng Chín và ám chỉ một cách chung chung đến việc nên làm về vấn đề bổ sung thêm những lãnh tụ quốc gia không-Cộng-sản vào chính phủ lâm thời,

p332

ông Hồ trả lời rằng thật ra đó là ý định cuối cùng của mình nhằm “dân chủ hóa” chính phủ, nhưng thêm rằng những cuộc bầu cử có lẽ không thể diễn ra cho đến khi hết năm.26

* * *

Trong khi Hồ Chí Minh và những cộng sự viên của mình đang cố gắng duy trì quyền lực mong manh của chính phủ ở Hà Nội, vị trí yếu ớt của những người đối nghịch của họ ở miền nam Việt Nam đang là mối đe dọa trực tiếp hơn. Sau những sự kiện hỗn loạn ở Sài Gòn vào ngày 25 tháng Tám, tình hình ở đó đã bắt đầu ổn định, khi ủy ban miền Nam –dưới quyền Chủ tịch Việt Minh của nó, Trần Văn Giàu– cố gắng củng cố quyền lực của mình trong sự chuẩn bị cho sự xuất hiện sắp xảy ra của lực lượng chiếm đóng Anh. Một vài ngày sau đó, Hoàng Quốc Việt đến Sài Gòn như là đại diện của Ủy ban Trung ương Đảng, và ông ta chắc chắn khuyên ông Giàu tránh những hành động khiêu khích hoặc bất kỳ cuộc đối đầu nào với người Anh sau khi họ đến. Nhưng vị trí của ông Giàu là vấn đề khó xử. Ông bị buộc phải chia sẻ quyền lực trong ủy ban với những đại diện của các đảng phái đối thủ, nhiều người trong số họ không chỉ rất đáng ngờ về cá tính và những ý định đối với Mặt trận Việt Minh mà còn sẵn sàng lợi dụng bất kỳ dấu hiệu yếu thế nào của Việt Minh đối với kẻ thù, mà những dấu hiệu đó sẽ cho phép họ buộc tội ông Giàu về việc bán đứng anh em. Tồi tệ hơn là, bất chấp sự hiện diện của Hoàng Quốc Việt, ông Giàu và những cộng sự viên mình vẫn còn gần như hoàn toàn bị cô lập từ ban lãnh đạo Đảng ở Hà Nội và buộc phải đưa ra những quyết định riêng mình. Họ đã chỉ mới biết được từ Hoàng Quốc Việt rằng cái người Hồ Chí Minh bí ẩn trong thực tế là Nguyễn Ái Quốc. Đã từng quen với việc ra tay hành động theo những hoàn cảnh địa phương, những người lãnh đạo miền Nam không đáp ứng bằng sự nhiệt tình đối với những đề nghị của ông Việt (đôi khi dường như diễn đạt bằng hình thức chỉ thị). Đổi lại, Hoàng Quốc Việt, một người lãnh đạo lao động từ bản thân công nhân với khuynh hướng mạnh mẽ đối với tư tưởng hệ chính thống, rõ ràng xem Giàu và những người cộng sự của ông ta như là những người mạo hiểm tiểu tư sản bị ô nhiễm nặng nề bởi tính chất suy đồi của cuộc sống ở Sài Gòn tư bản chủ nghĩa. Sự nghi ngờ lẫn nhau giữa những phân bộ phía Nam và phía Bắc của Đảng vốn đã bắt đầu được xuất hiện vào cuối những năm 1930s, được tăng mạnh mẽ thêm bởi những dấu vết riêng biệt được noi theo bởi hai khu vực trong suốt và sau Cách mạng Tháng Tám.

Vào ngày 2 tháng Chín, những đám đông to lớn tụ tập ở phía trước Dinh thự Norodom(pc 15) ở trung tâm Sài Gòn để đón mừng Ngày Độc lập và lắng nghe buỗi phát thanh vô tuyến về bài diễn văn của Hồ Chí Minh ở Hà Nội. Tuy nhiên những căng thẳng dâng cao giữa những người cư trú Việt Nam và Pháp trong thành phố, và khi những người biểu tình bắt đầu tuần hành xuống đường Catinat,(pc 16) là đường phố mua sắm giàu có dẫn từ Vương cung Thánh đường đến sông Sài Gòn, tiếng súng loại vũ khí nhỏ đột nhiên bùng nổ tại khoảnh đất trống ở phía trước thánh đường.

p333

Đám đông trở nên kích động, và giới thanh niên giận dữ bắt đầu tràn vào những tòa nhà gần đó tìm kiếm những tay súng bắn tỉa của Pháp. Trong hỗn loạn mà đưa đến, Đức Cha Tricoire, người quản thủ bảo tàng của nhà thờ, bị ghim vào bởi một viên đạn và thiệt mạng khi ông ta quan sát những sự kiện trong khi đang đứng trên những bực cửa. Được thổi bùng lên bởi sự cuồng loạn quần chúng, bạo lực lan ra, khi những đám người lục soát những căn nhà, cướp phá những cửa hàng buôn bán, và lang thang trên đường phố tìm kiếm những người Âu châu để đánh đập. Trước khi một ngày trôi qua (“ngày chủ nhật hắc ám,” báo chí Pháp đặt tên cho nó), bốn người chết và trăm người bị thương.

Trong vài ngày tới, ông Trần Văn Giàu khuyên bảo những người theo mình duy trì kỷ luật họ và xin họ tránh những khiêu khích không cần thiết, nhưng các phần tử đối thủ trong trại quốc gia và phe phái địa phương theo học thuyết Trotsky(pc 06) lẫn mặt theo dõi, nóng lòng thu lợi từ bất kỳ bước sai lầm nào của Việt Minh. Cũng chống đối chính quyền Việt Minh là hai giáo phái đang tăn trưởng, Cao Đài và Hòa Hảo, cả hai đều đã phát triển mạnh mẽ trong bầu không khí thay đổi bất thường và không ổn định của đồng bằng sông Cửu Long vào đầu thế kỷ 20. Tính hòa hợp trong bản chất và lòng hăng hái duy trì thẩm quyền trên những giáo dân mình, hai phái đã thực sự đạt được số người đi theo nhiều hàng trăm ngàn người và quyết định chống lại sự thiếu chính thống của thẩm quyền bên ngoài.

Vào ngày 12 tháng Chín, những đơn vị đầu tiên của lực lượng chiếm đóng Anh, hầu hết trong số họ là lính Ấn Độ Gurkha(pc 17) (i.e. còn gọi là lính Mã Tà) cũng như một vài quân Pháp, đến phi trường Tân Sơn Nhứt. Vị chỉ huy của họ, Thiếu Tướng Anh Douglas Gracey, đến ngày hôm sau. Mãnh dẽ, có râu mép, và cương trực như cái thông nòng súng, ông Gracey thì y khuôn hình ảnh của một vị tướng Anh. Ông ta là con trai của một công chức thuộc địa ở Ấn Độ, và là sinh viên tốt nghiệp của Học viện Quân sự Hoàng gia Anh Sandhurst. Sư đoàn Ấn Độ thứ 20 của riêng ông ta vừa hoàn tất phần việc thành công và kéo dài trong cuộc chiến đấu chống Nhật ở Miến Điện, và ông Gracey đã dành phần lớn sự nghiệp của mình ở các khu vực thuộc địa, nơi mà ông ta đã có được sự tôn trọng của đội quân của riêng mình, nhiều người trong số họ dân Á châu, vì lòng dũng cảm và có đầu óc công bằng của ông ta. Đối với nhiều nhà quan sát, ông ta ắt hẵn dường như là một sự bổ nhiệm lý tưởng cho nhiệm vụ đầy thách thức về việc chấp nhận sự đầu hàng của Nhật và duy trì an ninh trật tự ở Đông Dương cho đến khi một giải pháp chính trị có thể đạt được.

Ngay từ đầu, tuy nhiên, những vấn đề khó khăn phát sinh. Trước tiên, ông Gracey không phù hợp với kinh nghiệm cá nhân hoặc bản năng chính trị cho công tác khó xử của mình. Sự phục vụ lâu dài trong quân đội Anh đã làm đông cứng tâm trí ông ta sự tin chắc rằng sự cai trị của thực dân trên những lãnh thổ châu Á thì không thể tránh khỏi và không sai. Thứ hai, công tác của ông ta thì không rõ ràng. Trong khi ở thủ đô Rangoon,(pc 18) ông ta đã được chỉ định chức vụ chỉ huy tất cả các lực lượng trên bộ của Đồng minh ở Đông Dương về phía nam Vĩ tuyến 16, nhưng trên đường đến Sài Gòn, những mệnh lệnh của ông ta bị bổ sung bởi Trung tướng William J. Slim, vị chỉ huy trưởng của lực lượng trên bộ của Anh ở Chiến trường Đông Nam Á.

p334

Ông Gracey được hướng dẫn để duy trì an ninh trật tự chỉ trong những khu vực quan trọng của đất nước, trừ khi được yêu cầu bởi nhà chức trách Pháp hoặc bởi thẩm quyền của Tưóng Louis Mountbatten, Tư lệnh Đồng minh Tối cao của Bộ Chỉ huy Đông Nam Á (SEAC: Southeast Asia Command), qua đó, từ trụ sở chính của nó ở Tích Lan, đã từng giúp đỡ điều hành những hoạt động của Đồng minh ở phần nhiều của khu vực trong suốt Chiến tranh Thái Bình Dương. Qua ẩn ý, Tướng Slim đang giao nửa phía nam của Đông Dương trở lại cho Pháp.

Tình hình ở Sài Gòn khi ông Gracey đến của cũng không tốt hơn. Với sự đầu hàng của Nhật, chốt trục xe chính yếu cho sự duy trì an ninh trật tự đã được dời đi, và thành phố lúc bấy giờ đã được tuần tra bởi cảnh sát Việt Nam, là những người có lòng trung thành đối với không người nào cả. Khi, vào ngày 08 tháng Chín, Trần Văn Giàu đã kêu gọi dân cư địa phương giữ sự yên tĩnh và hợp tác với Uỷ ban miền Nam, ông ta bị chỉ trích dữ dội bởi những người quốc gia dân quân, và ngay cả bởi một số thành viên thuộc Đảng riêng mình, vốn nghi ngờ ông ta là một “tay sai” của Pháp. Ngày hôm sau, ủy ban được tổ chức lại, và ông Giàu từ chức Chủ tịch của mình qua lợi thế của nhà dân tộc Phạm Văn Bách. Thành phần của ủy ban được mở rộng hơn, để cho những thành viên Việt Minh chỉ có bốn trong mười ba người. Vào ngày 12 tháng Chín, những tù binh Pháp vốn đã được thả ra từ nhà tù do đội quân Pháp mới đến ở phân bộ của ông Gracey bắt đầu ăn uống no say khắp các đường phố, cướp phá những cửa tiệm và tấn công người Việt qua đường. Bị kinh hoàng bởi tình hình vô chính phủ mà ông tìm thấy trong thành phố, ông Gracey quay sang thành phần kiên quyết duy nhất ông ta có thể tìm thấy, ra lệnh đội quân Nhật tước vũ khí tất cả người Việt và đuổi Ủy ban miền Nam ra khỏi nơi ngụ của Toàn quyền ở trung tâm Sài Gòn. Trụ sở chỉ huy của Anh sau đó thông báo rằng quân đội Anh sẽ duy trì an ninh trật tự cho đến khi sự phục hồi thẩm quyền của thực dân Pháp.27

Dưới những chỉ đạo từ Hà Nội nhằm tránh tạo cho người Anh có cớ cho sự can thiệp xa hơn nữa, Trần Văn Giàu và những thành viên khác của ủy ban tìm cách ngăn chặn một sự bùng phát cuộc xung đột toàn diện, nhưng như là một sự đề phòng, ông Giàu bắt đầu di tản những đơn vị quan trọng của Việt Minh khỏi thành phố. Trong suốt vài ngày tới, lực lượng của ông Gracey bắt đầu làm sạch khu vực thành thị của tất cả những phần tử nổi loạn. Trong khi đó, Trần Văn Giàu và những thành viên khác của Uỷ ban miền Nam tìm kiếm một sự thỏa hiệp với Jean Cédile, một đại diện cao cấp của Pháp ở Nam Bộ. Ông Cédile, là người đã nhảy dù vào trong Nam Bộ vào ngày 22 tháng Tám, có tư tưởng tự do và sự ôn hòa trong quan điểm chính trị của mình, nhưng những cuộc nói chuyện không đi đến đâu. Ông Cédile yêu cầu rằng tương lai chính trị của Đông Dương được thảo luận chỉ sau khi việc phục hồi thẩm quyền của Pháp, trong khi ông Giàu khăng khăng về sự nhìn nhận của Pháp trước về nền độc lập dân tộc Việt Nam.

p335

Những cuộc đàm phán xa hơn nữa, được tổ chức vào tháng Chín qua sự xúi giục của Trung tá Hoa Kỳ A. Peter Dewey, một nhân vật đối tác của ông Patti thuộc CDvClHK(pc 04) ở phía nam, chìm đắm trên cùng một vấn đề, như là những phần tử ương ngạnh ở mỗi bên ngăn cản bất kỳ khuynh hướng nào đối với vấn đề hòa giải. Đó là, như nhà ngoại giao Pháp Bernard de Folin ghi lại, một cuộc đối thoại của người điếc.

Đến giữa tháng Chín, Phạm Văn Bách, Chủ tịch mới của Ủy ban miền Nam, đã càng lúc tin rằng một sự hòa giải với người Pháp thì không thể có, vì vậy ông ta kêu gọi một cuộc tổng đình công vào ngày 17 tháng Chín. Ông Gracey phản công bằng cách tuyên bố thiết quân luật, thả ra và tái vũ khí những tù nhân Pháp còn lại –nhiều người trong số họ là lính Lê dương– và ra lệnh cho họ lập lại trật tự. Không thể nào tránh khỏi, những cuộc đụng độ giữa quân đội Pháp và Việt Nam diễn ra, làm bốt cháy thêm tình hình. Vào đêm 22, ông Cédile ra lệnh cho quân đội Pháp chiếm giữ sự kiểm soát những cơ quan quan trọng trong thành phố và trục xuất Ủy ban miền Nam khỏi trụ sở chính mới nhất của nó ở Tòa Hành Chánh lộng lẩy của Sài Gòn. Trong diễn biến này, nhiều binh lính Việt Nam bị giết hoặc bị bắt làm tù binh. Khi họ thức dậy từ sáng hôm sau, 20.000 cư dân Pháp của thành phố vui mừng khám phá ra rằng thêm một lần nữa, Sài Gòn thì dưới sự kiểm soát của Pháp. Nhiều người tràn xuống những con đường, hành hung người Việt Nam nào họ gặp phải –đàn ông, phụ nữ, và trẻ em– một cách ngẫu nhiên. Hàng trăm, và có lẽ hàng ngàn người, bị thương.

Đại tá Dewey, đại diện cấp cao của Hoa Kỳ ở Sài Gòn, bị kinh hoàng bởi hành động độc đoán của ông Cédile. Một người tốt nghiệp từ đại học Yale và từng là phóng viên cho báo Tin tức Hàng ngày Chicago vốn đã được tuyển dụng bởi CDvClHK(pc 04) vào năm 1943 và phục vụ ở Chiến trường châu Âu, Anh Dewey 28 tuổi là con trai của một cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Paris và nói thạo tiếng Pháp nhưng chia sẻ lòng riêng chống thực của Archimedes Patti ở Hà Nội. Anh Dewey ngay lập tức đi đến trụ sở chính của Anh khiếu nại với ông Gracey, nhưng vị Tổng trưởng từ chối tiếp anh ta. Thật vậy, ông Gracey đổ lỗi phần nhiều trong những rắc rối gần đây ở Sài Gòn trên những hoạt động của phân bộ CDvClHK, mà ông ta dán nhãn là “tính cách phá hoại rành rành,” và yêu cầu rằng anh Dewey rời khỏi Đông Dương càng sớm càng tốt. Nhưng ông ta đã thực sự đồng ý ra lệnh cho quân đội Pháp ra khỏi những đường phố và giao nhiệm vụ duy trì an ninh trật tự hoàn toàn cho người Nhật.28

Cho đến nay, những đại diện Việt Minh ở Sài Gòn đã khẳng định rõ rằng những hành động cực đoan, như là những gì đã xảy ra trong suốt “ngày Chúa nhật hắc ám” vào ngày 02 tháng Chín, thì không phải là một phần của giai đoạn hiện nay của cách mạng Việt Nam và sẽ bị nghiêm trị, nhưng những mệnh lệnh như thế bị bỏ qua khắp nơi. Vào ngày 24 tháng Chín, nhiều trăm người Việt được vũ trang, nhiều người trong số họ bị cáo buộc là thành viên của Cao Đài hoặc Bình Xuyên, một tổ chức tội phạm địa phương vốn điều hành những hoạt động xấu xa ở Sài Gòn, chạy tràn lan qua Cité Hérault,(pc 19)

p336

một khu vực cư trú của Pháp, hô to “những người Âu châu chết đi.” Mặc dù vùng lân cận đúng ra là chịu sự bảo vệ của Nhật, hơn 150 người Âu châu bị tàn sát, nhiều người trong số họ là phụ nữ và trẻ em, trong khi quân đội Nhật đứng gần đó không có sự can thiệp. Một trăm con tin bị dẫn đi, không bao giờ được nhìn thấy một lần nữa. Bạo lực lan tràn vào trong những khu vực nông thôn xung quanh, nơi mà những cuộc bạo loạn của giới nông dân phá hủy nhiều bất động sản, tịch thu và phân phối lại đất đai của những người giàu có, và giết chết nhiều địa chủ.

Lúc bấy giờ, Trần Văn Giàu đã đánh mất sự tự tin trong khả năng của mình để mang lại một sự thỏa hiệp. Lo sợ rằng những đối thủ quốc gia sẽ nắm lấy quyền kiểm soát phong trào, ông ta kêu gọi một cuộc tổng đình công mới và ra lệnh cho những người theo ông di tản khỏi thành phố, mà ông ta giờ đây lên kế hoạch để vây hãm. Những rào chắn được dựng lên để ngăn chận các công dân Pháp rời khỏi Sài Gòn, và để cấm người Việt Nam vào từ bên ngoài. Trong một điện thư cho ông Patti ở Hà Nội, anh Dewey (là người gần đây đã mô tả tình trạng bất ổn ở miền Nam như là một “chiến tranh bằng súng hơi của trẻ con”) báo cáo rằng “Nam Bộ đang bốt cháy,” và nêu lên rằng người Mỹ “nên đứng ngoài Đông Nam Á.” Buổi chiều kế tiếp, trong khi anh Dewey sắp sửa đến phi trường, anh ta bị bắn xả vào xe Jeep của mình tại một trong những rào chắn của Việt Nam trong thành phố, và anh ta bị giết ngay lập tức. Ngay sau đó, trụ sở chính của CDvClHK(pc 04) ở gần đó phải chịu đựng cuộc tấn công của những đơn vị Việt Nam trong nhiều giờ, cho đến khi khu vực được giải tỏa bởi quân Ấn Gurkha của ông Gracey.29

Cái chết của Đại Tá Dewey, người Mỹ đầu tiên bị thiệt mạng trong cuộc cách mạng Việt Nam, gây ra những lời tố cáo lẫn nhau dai dẵng và cay đắng; những lời cáo buộc về sự đổ lỗi được đặt vào từ tất cả các bên. Một cuộc điều tra về biến cố đó do một nhóm CDvClHK địa phương kết luận rằng không có bằng chứng nào về một âm mưu nham hiểm chống lại anh Dewey hoặc dân Mỹ bởi Việt Minh. Thật ra, người Mỹ ở Sài Gòn vào thời điểm đó được thuyết phục rằng dân Việt Nam xem họ như là tách biệt với dân Tây phương khác, và cảm thông hơn đối với những nguyện vọng của dân Việt cho nền độc lập dân tộc. Trách nhiệm một phần cho biến cố được đặt ở chân của Tướng Gracey, vì ông Gracey đã từng từ chối yêu cầu của anh Dewey trương cờ Mỹ trên xe Jeep của mình, bằng cách lập luận rằng như anh ta không phải là một sĩ quan của cấp bậc cần cờ hiệu, anh ta không xứng đáng với đặc quyền. Quả thật có sự không hợp giữa ông Gracey và đội ngũ quân đội Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Những báo cáo của những sĩ quan CDvClHK kết luận rằng biến cố có lẽ là một trường hợp nhận diện nhầm lẫn, đối với quân đội Việt Nam giả định rằng chiếc Jeep đang mang quân đội Pháp. Khi nghe được tin tức từ ông Patti, Hồ Chí Minh sửng sốt mãnh liệt, và sau đó ông ta đã viết một lá thư riêng cho Tổng thống Truman, bày tỏ sự hối tiếc của mình cho biến cố.30

Sự kiện này cũng có những ảnh hưởng tại Bộ Chỉ huy Đông Nam Á.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNGpQ : Việt Nam Giải phóng Quân.
pc 02_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.
pc 03_ Lynching : là một cuộc hành hình ngoài pháp luật được thực hiện bởi một đám đông, thường bằng cách treo cổ, nhưng cũng bằng cách đốt cháy tại cột cây hoặc xử bắn, nhằm mục đích trừng phạt người vi phạm bị cáo buộc, hoặc đe dọa, kiểm soát, hoặc một khác hơn là vận động số đông người. Nó liên quan đến phương tiện khác của sự kiểm soát xã hội vốn phát sinh trong những cộng đồng, như là la hét nỗi đình nỗi đám (charivari), cho cưỡi thanh sắt đường rầy, và tẫm hắc in và phủ lông gà.

pc 04_ CDvClHK : Cục Dịch vụ Chiến lược Hoa Kỳ (OSS: U.S. Office of Strategic Services).
pc 05_ Jingxi : huyện Tĩnh Tây
.
pc 06_ Trotsky : Leon Trotsky là một nhà cách mạng và lý thuyết Mác-xít người Nga, nhà chính trị Sô-Viết và là người sáng lập và lãnh đạo đầu tiên của Hồng quân. Như là một người đứng đầu Đệ tứ Quốc tế Cộng sản, Trotsky tiếp tục trong tình trạng lưu vong ở Mexico để phản đối việc cơ cấu quan liêu của chủ thuyết Stalin ở Liên Xô, vốn là người thành lập Đệ tam Quốc tế Cộng sản cực đoan. Những tư tưởng của Trotsky hình thành cơ bản cho chủ thuyết Trotsky, một trường phái lớn của tư tưởng Mác-xít mà nó chống lại những lý thuyết của chủ thuyết Stalin. Sau cùng ông ta bị ám sát ở Mexico vào ngày 13 tháng Ba, 1928 bởi sát thủ Ramón Mercader, một mật vụ gốc Tây Ban Nha của Sô-Viết. Ông ta là một trong thiểu số nhân vật chính trị Sô-Viết những người mà không bao giờ được phục hồi danh dự bởi chính phủ của Mikhail Gorbachev. Nhưng cuối cùng ông đã được trả lại danh dự vào năm 2001.

pc 07_ Công trường Puginier : đúng ra vào thời điểm đó nơi nầy được gọi là Vườn hoa Pugininer (Le parc Pugininer) được đặt theo tên của giáo sĩ người Pháp Paul-Francois Puginier (1835-1892) vốn là Giám mục địa phận Tây Bắc Bộ và cũng là thành viên của Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris, thuộc dòng La-San (La Salle).
Trước đây, nơi nầy là một khu vực nằm trong phạm vi Hoàng thành Thăng Long. Thời Gia Long, năm 1808, Hoàng thành bị phá vỡ để xây lại một ngôi thành mới nhỏ hơn nhiều để làm trị sở cho Bắc thành. Khu vực Quảng trường Ba Đình ngày nay tương ứng với khu cửa Tây của ngôi thành mới, được Minh Mạng đổi tên là thành Hà Nội vào năm 1831. Khu vực này bấy giờ có một gò đất cao được gọi là núi Khán, hay Khán Sơn.
Giữa thế kỷ 19, do đề nghị của Bố chính Hà Nội Lê Hữu Thanh, Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Thu đã cùng một số quan lại bỏ tiền xây một ngôi nhà ngói trên núi Khán, gọi là Khán Sơn Đình làm chỗ hội họp các văn nhân. Vì vậy, có thời kỳ nơi đây nổi tiếng trong sinh hoạt văn hóa của nhân sĩ Bắc Hà.
Sau khi kiểm soát được toàn bộ Đông Dương, năm 1894, quân Pháp cho phá vỡ toàn bộ thành, chỉ giữ lại cửa Bắc để làm kỷ niệm. Khu vực này được các kiến trúc sư Pháp quy hoạch để xây dựng trung tâm hành chính của Liên bang Đông Dương. Núi Khán bị san bằng. Một vườn hoa nhỏ được xây dựng tại khu vực này, tạo thành một quảng trường rộng lớn được đặt tên là Vườn hoa Pugininer (Le parc Pugininer). Vườn hoa được giới hạn bởi các con đường Avenue de la République, Avenue Brière de l’Isle, Rue Elie Groleau, và Avenue Puginier. Và một vòng xoay nhỏ được xây dựng gần đó cũng được đặt tên là Vòng xoay Pugininer (Rond-point Pugininer). Do hình dáng đặc biệt của vòng xoay mà người dân Hà Nội còn gọi Vườn hoa Pugininer là Công Trường Tròn bao gồm cả Quảng trường Ba Đình ngày nay.
Tại khu vực gần Công trường Tròn, Phủ Toàn quyền được khởi công xây dựng vào năm 1901. Năm 1914, trường sở của Lycée Paul Bert được xây dựng tại vị trí núi Khán trước kia, ngay cạnh Vườn hoa Pugininer.

pc 08_ Zhang Fakui : Trương Phát Khuê.
pc 09_ Lu Han : Lư Hán.
pc 10_ Chiang Kai-shek : Tưởng Giới Thạch.
pc 11_ một triệu : theo đoạn viết trước đó, con số ước lượng khoảng dưới dưới một trăm ngàn người (như trong câu : hàng ngàn người), nhưng theo ông Giáp cho là hàng trăm ngàn rồi thêm lên một triệu người.

pc 12_ CTtCtHK : Cục Thông tin Chiến tranh Hoa Kỳ (OWI: U.S. Office of War Information).
pc 13_ Chongqing : thành phố Trùng Khánh.
pc 14_ Kunming : quận Côn Minh.

pc 15_ Norodom Palace : là Dinh Độc Lập thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của miền Nam trước 1975, và sau đó được gọi là Hội trường Thống nhất.
Hầu hết những vật liệu xây dựng được nhập từ Pháp. Do chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870, việc xây dựng rơi sau lịch trình ấn định và không được hoàn thành cho đến năm 1873. Dinh thự được đặt tên là Dinh thự Norodom theo vị vua thời đó của Cam-pu-chia, Norodom (1834-1904). Đại lộ ở phía trước của cung điện mang cùng tên. Từ 1871-1887, cung điện được sử dụng bởi Thống đốc Nam Bộ ( Gouverneur de la Cochinchine ) người Pháp, vì vậy, nó được nhắc đến như là Dinh thự Thống đốc. Từ 1887-1945, tất cả những Toàn quyền Đông Dương thuộc Pháp sử dụng dinh thự nầy như là nơi cư ngụ và văn phòng của họ. Các văn phòng những Thống đốc Nam Bộ được di dời đến một biệt thự gần đó.

pc 16_ Rue Catinat : đường Tự Do của Sài Gòn trước 1975, và sau nầy được gọi là đường Đồng Khởi.

pc 17_ Gurkha : Gorkha hoặc Ghurka là một cộng đồng dân tộc từ Nepal. Tên của họ xuất phát từ các thánh binh Hồi giáo là Guru Gorakhnath (thế kỷ thứ 8).
Gorkhas là dân tộc bản địa chủ yếu từ giữa miền Tây và Đông Nepal. Nổi tiếng với lịch sử của họ và vai trò của họ trong việc thống nhất Nepal hiện đại (trung đội Gorkha, là quân đội hiện đại Nepal), lữ đoàn Gurkhas (quân đội Anh), đội súng Gurkha (quân đội Ấn Độ). Những đơn vị Gurkha được liên kết chặt chẽ với khukuri, một loại dao nhỏ cong về phía trước của dân Nepal có sức mạnh chiến đấu dữ dội. Vị cựu Trưởng tham mưu của quân đội Ấn thuộc Anh, Field Marshal Sam Manekshaw, đã từng nói câu nổi tiếng về Gurkhas: “Nếu một người nói rằng anh ta không sợ chết, anh ta hoặc là nói dối hay là một Gurkha.”

pc 18_ Rangoon : là một thủ đô cũ của Miến Điện (Myanmar), còn được gọi là Yangon (nghĩa đen: “Sự chấm đứt xung đột”).

pc 19_ Cité Hérault : khu vực bao gồm khu Tân Định, Sài Gòn, nơi kiều bào Pháp cư ngụ rất đông.

pc 20_ Cercle Sportif : được viết nguyên chữ là Cercle Sportif Saigon (CSS). Đầu tiên nó là một câu lạc bộ đánh banh tennis cấp quốc gia được thành lập vào khoảng 1896, sau đó phát triển thêm với quán ăn, hồ bơi, thư viện, sân khấu, và ngay cả sân đá banh. Trước kia nó nằm trên 55 đường Hồng Thập Tự, quận 1 sau 1975 tên đường là Nguyễn Thị Minh Khai tại số 55B.

pc 21_ VNQDĐ : Việt Nam Quốc dân Đảng.
pc 22_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s