X- Những Ngày Tháng Tám (Phần 4-Hết)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p337

Những bài báo về tình hình ở Sài Gòn đã làm hư hại tiếng tăm của vai trò người Anh trong lực lượng gìn giữ hòa bình ở Đông Dương. Không hài lòng bởi những sự kiện của cuối tháng Chín, Ngài Mountbatten gặp gỡ với ông Cédile và Tướng Gracey ở Singapore và hướng dẫn họ tìm kiếm một sự ngưng bắn và hòa giải hòa bình về sự tranh chấp lan rộng. Ông ta chỉ trích ông Gracey vì cố gắng áp dụng an ninh trật tự theo cách bừa bãi khắp Đông Dương và vì sự từ chối của ông Gracey đối đải với chính quyền Việt Nam. Nhưng can thiệp của ông Mountbatten có rất ít hiệu quả trong việc làm yếu đi những vị thế được thông qua bởi một trong hai bên. Vào đầu tháng Mười, quân đội Pháp dưới sự chỉ huy của Tướng Henri Leclerc bắt đầu đến Sài Gòn, và một vài ngày sau đó –đối với những cư dân Pháp ở thành phố đang đón mừng tại câu lạc bộ đánh banh Cercle Sportif(pc 20) mới mở ngay phía sau nơi cư ngụ của Toàn quyền– ông Gracey đã ký một hiệp nghị chuyển quyền từ chức vụ chỉ huy công cuộc chiếm đóng của mình cho người Pháp trong tất cả khu vực của Đông Dương về phía nam của vĩ tuyến 16.31

Vào ngày 10 tháng Mười, lực lượng của Trần Văn Giàu tấn công quân đội Pháp và Anh tại phi trường Tân Sơn Nhất và trên những con đường tại những trạm kiểm soát vào thành phố. Trong suốt vài tuần tới, tàn dư của những đơn vị quân sự Việt Minh và những nhóm quốc gia khác chống đối người Pháp bị đẩy ra không cách thể lay chuyển được khỏi khu vực đô thị Sài Gòn. Những cán bộ Việt Minh đang hoạt động dưới quyền chỉ huy của Lê Duẩn, vốn là người đã trải qua những năm chiến tranh trong nhà tù, bí mật gặp gỡ một nơi nào đó ở đồng bằng sông Cửu Long để bắt đầu những công cuộc chuẩn bị cho chiến tranh. Nhưng lực lượng Việt Minh thiếu sức mạnh và kinh nghiệm để đối phó với Pháp, vốn là những người đang đẩy lui theo một cách có phương phức lực lượng Việt Nam ra xa khỏi những vùng ngoại thành và vào trong những đầm lầy và rừng rậm. Trong khi đó, Hoàng Quốc Việt thử mang lại sự thống nhất các đảng phái chính trị khác nhau và hai giáo phái trong thời đại hoàng kim cho một cố gắng phối hợp chống lại người Pháp.

Khi tình hình ở Nam Bộ xấu đi, chính phủ ở Hà Nội đã thực sự làm những gì nó có thể giúp đỡ. Vào ngày 26 tháng Chín, Hồ Chí Minh phát sóng một thông điệp vô tuyến đến những đồng bào của mình ở phía nam, hứa với họ rằng toàn thể đất nước sẽ huy động sức mạnh của nó để tìm kiếm chiến thắng cuối cùng. Ở một số tỉnh thuộc miền Trung Việt Nam, toàn bộ những người trong làng đi vào Nam chiến đấu chống Pháp. Qua cách kín đáo, tuy nhiên, ông Hồ khuyên những cộng sự viên mình nên kiên nhẫn, dẫn chứng những thí dụ trong lịch sử Việt Nam khi chiến thắng cuối cùng đòi hỏi một cuộc chiến kéo dài.32

* * *

Thật vậy, chính phủ mới không có vị thế để đấu một cuộc chiến. Tình hình kinh tế ở phía bắc vẫn còn nghiêm trọng, và mặc dù không có quân đội Pháp đóng quân trong khu vực, những đảng phái quốc gia tiêu biểu sự thách thức ngày càng vang lên. Phía sau họ lờ mờ hiện ra người Trung Quốc.

p338

Phải đối mặt với những mối đe dọa từ mọi phía, Hồ Chí Minh ứng dụng thủ đoạn một cách tuyệt vọng để tìm kiếm ra những đồng minh và cô lập những kẻ thù. Để xoa dịu Lu Han,(pc 09) vị chỉ huy của quân đội chiếm đóng Trung Quốc, ông ta ra lệnh cấp dưới cung cấp cho Lu Han thuốc phiện. Để trang bị một biểu tượng bổ sung về tính hợp pháp cho chính phủ yếu ớt của mình, ông ta yêu cầu cựu hoàng Bảo Đại, lúc bấy giờ là công dân Vĩnh Thụy, phục vụ như là cố vấn chính trị của ông ta. Sau khi đến từ Huế vào ngày 06 tháng Chín, Vĩnh Thụy ngay lập tức gặp gỡ với Hồ Chí Minh, vốn là người bày tỏ sự không chấp thuận của mình về vấn đề áp lực mà đã từng được áp dụng nhằm thuyết phục hoàng đế phải thoái vị. “Trong tư cách cá nhân,” ông Hồ bày tỏ, “Tôi đã nhìn thấy trước rằng ông sẽ vẫn là người đầu nhà nước và tôi sẽ phục vụ như là người đứng đầu chính phủ.” Tại một bữa ăn tối được tổ chức vài ngày sau đó, ông Hồ giao cho ông ta vị trí cố vấn tối cao. Vĩnh Thủy chấp thuận.33

Tuy nhiên, sự thách thức cấp bách đang đè nặng nhất đến từ những người quốc gia tranh đua với Việt Minh. Nguyễn Hải Thần cựu đối thủ của Hồ Chí Minh, bấy giờ là một người từ 70 đến 79 tuổi nhưng vẫn là một thành viên hàng đầu của Minh Đồng Hội, đã từng đang tấn công chính phủ –mà ông ta mô tả như là “Hồ và băng đảng giết người của ông ta”– vì sự sẵn sàng thỏa hiệp của hội với Pháp. Những nhà lãnh đạo Đại Việt cũng tiến vào thành phố trong tháng Chín từ miền Nam Trung Quốc và bắt đầu lên tiếng một thông điệp tương tự trên báo đảng của họ. Mặc dù những cố gắng của ông Hồ nhằm biểu hiện một hình ảnh thân thiện và ôn hòa đến người dân, có rất ít điều mà ông ta có thể làm để giảm bớt sự thù nghịch và sự nghi ngờ của những phần tử quốc gia đối thủ, nhiều người trong số họ đã càng lúc bị thuyết phục bởi kinh nghiệm thời chiến của họ ở miền Nam Trung Quốc rằng sự hợp tác lâu dài với ông Hồ và những cộng sự viên Việt Minh của ông ta thì không thể có. Đối với những lãnh tụ quốc gia, việc chiếm lấy quyền lực đơn phương của Việt Minh ở Hà Nội vào cuối chiến tranh là một bằng chứng phong phú về sự phản bội của ông Hồ và cách xử thế hai mặt. Trong khi những phần tử như thế thiếu sức mạnh chính trị và quân sự để cạnh tranh trực tiếp với Việt Minh –ông Patti ghi lại rằng không ai trong số những nhà lãnh đạo quốc gia dường như có một chương trình kinh tế xã hội để đối phó với tình hình và bị “mất phương hướng một cách vô vọng về chính trị”– họ nắm giữ một lá bài chủ rất quan trọng bằng uy tín của họ với lực lượng chiếm đóng Trung Quốc. Tin tưởng rằng Trung Quốc cuối cùng sẽ buộc phải ủng hộ họ, những người quốc gia như Vũ Hồng Khanh ứng dụng một đường lối cứng rắn trong những cuộc nói chuyện với Việt Minh. Đảng của ông Khanh, VNQDĐ,(pc 21) thiết lập một tờ báo đối lập và một loa phát thanh tại trụ sở chính thuộc trung tâm thành phố của nó, cả hai thứ đó bắt đầu tố cáo “khủng bố đỏ.”34

Nhưng những đối thủ của ông Hồ bị phân chia ra, không chỉ trong số chính bản thân họ mà còn trong những quan hệ của họ với Trung Quốc. Những phần tử kết nối với Minh Đồng Hới đứng về phía Tướng Xiao Wen, là người ngày càng tức giận Hồ Chí Minh vì lập trường độc lập của ông Hồ và bây giờ hy vọng về việc rời khỏi sớm của cả quân đội Nhật và Trung Quốc để mang đến sự xuất hiện của một chính phủ độc lập dưới sự lãnh đạo của những người quốc gia.

p339

Những nhóm khác, như là VNQDĐ và Đại Việt, ủng hộ Lu Han, là những người dự vào cuộc chiếm đóng lâu dài của Trung Quốc như là một phương cách về sự thắt chặc những quan hệ Trung-Việt.

Một số nhà quan sát tuyên bố nhìn thấy những sự phân loại cũng có trong phạm vi quân trại Việt Minh. Theo nhà báo Pháp Philippe Devillers, là người sau đó đã được đăng lên hình ở Hà Nội, có ít nhất ba trại trong chính phủ: một đội bảo vệ bao gồm những người Cộng sản kỳ cựu như Hoàng Quốc Việt, Trần Huy Liệu, và Hồ Tùng Mậu; một nhóm của những thành viên thực dụng hơn vốn đeo đuổi những sự nghiệp hợp pháp trong suốt các năm 1930s, như là Võ Nguyên Giáp, Hoàng Minh Giám, và cha vợ của ông Giáp, Đặng Thái Mai; và một nhóm của những người không-Cộng-sản vốn đã từng tập hợp lại theo sự nghiệp Việt Minh vì những lý do yêu nước. Theo sự giải thích của ông Devillers, Hồ Chí Minh dùng thủ đoạn một cách khéo léo giữa các phe phái, giải quyết vấn đề với những cộng sự viên muốn ứng dụng một đường lối cứng rắn với các đối thủ quốc gia của họ và tranh cãi cho một chính sách hòa hợp. Quan điểm của Hồ Chí Minh có thể được nhìn thấy qua lời bình luận của một công bố Đảng, trong đó nói rằng những đảng phái quốc gia nên được vô hiệu hóa dần dần nhằm mục đích quét sạch ra khỏi lực lượng của họ “từng bước một.” Khi một thành viên của chính phủ ông ta bày tỏ sự phẫn nộ về hành vi của những phần tử quốc gia, ông Hồ khuyên bảo anh ta nên kiên nhẫn, hứa hẹn rằng những vấn đề như vậy sẽ được giải quyết một khi chính phủ vững chắc trong quyền lực. Khi cuộc hùng biện về tất cả những đảng phái trở nên cháy bừng hơn, Hồ Chí Minh buộc phải chuẩn bị gia tăng những biện pháp đề phòng để đảm bảo sự an toàn của mình, bằng cách di chuyển thường xuyên nơi cư trú của mình nhằm mục đích tránh sự tấn công bất ngờ.35

Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, cách tốt nhất để đối phó với những đối thủ quốc gia của Đảng là để xoa dịu chính quyền chiếm đóng Trung Quốc. Chưa có một dấu hiệu cho thấy là khi nào quân đội Trung Quốc sẽ rời khỏi Đông Dương. Vào cuối tháng Chín, Tướng Lu Han đã cho thấy rõ rằng không có lịch trình về sự ra đi của quân đội Trung Quốc. Đến đầu tháng Mười –sau khi một trong những vị chỉ huy yêu thích của Chiang Kai-shek,(pc 10) He Yingqin, đến Hà Nội để đôn đốc Lu Han(pc 09) lập một kế hoạch để kiềm giữ những người Cộng sản Việt Nam không thể củng cố quyền lực– việc rút lui ngay lập tức của họ dường như thậm chí ít có khả năng.

Chính quyền Pháp, tất nhiên, tiêu biểu là một thách thức lớn nhất và chính yếu. Nếu phần còn lại của quân Đồng minh chiến thắng hợp lại với nhau chống Sô-Viết, người Pháp có thể rất yên lành tiếp tục nắm lại chủ quyền ở Đông Dương, và, tuy nhiên đó là điều có thể cảm thấy khó chịu, nó sẽ phải được ít nhất là tạm thời chấp nhận. Vào giữa tháng chín, trong một cố gắng thử xoa dịu kẻ thù tiềm năng, Hồ Chí Minh bắt đầu các cuộc đàm phán bí mật với những đại diện Pháp Tướng Marcel Alessandri và Léon Pignon (Jean Sainteny đã rời khỏi vì những vấn đề tham vấn ở Ấn Độ). Trong những cuộc phỏng vấn với các nhà báo Tây phương, ông Hồ chỉ ra rằng

p340

người Pháp sẽ được chào đón trở lại Đông Dương như là những cố vấn, quy ước rằng họ đến đây như là bè bạn, không phải là những người xâm chiếm.36

Đối với những vị chỉ huy của Trung Quốc việc ủng hộ những đảng phái quốc gia ở miền Bắc và người Anh đang hoạt động rất thân thiết với người Pháp ở miền Nam, Hoa Kỳ tượng trưng cho niềm hy vọng tuyệt vời cuối cùng cho Hồ Chí Minh như là một người đỡ đầu có thể có cho chính phủ ở Hà Nội. Trong suốt cuối hè và đầu thu, ông Hồ thử cố gắng vun bón những liên lạc viên Mỹ của mình, đặc biệt là Archimedes Patti, là người rõ ràng có cảm thông đối với sự nghiệp độc lập Việt Nam cũng là đại diện cao cấp nhất của Mỹ ở Hà Nội. Mặc dù không hài lòng về những cấp trên của mình ở Chongqing,(pc 13) vốn là những người quan tâm đến thái độ ngày càng ưu thích của mình đối với chính phủ Việt Nam mới, ông Patti tiếp tục báo cáo về tình hình ở Đông Dương, và vào đầu tháng Chín, ông ta điện thư rằng mặc dù chính phủ mới rõ ràng là cánh tả, nó dường như trong tình trạng kiểm soát toàn bộ tình hình và chuẩn bị một cách đầy đủ để chống lại sự trở lại của Pháp. Một vài tuần sau đó, ông ta báo cáo về những mục tiêu của những người lãnh đạo Việt Nam, chỉ ra rằng họ có ý định tìm kiếm nền độc lập dân tộc trong mười năm, với Toàn quyền Pháp nhằm phục vụ người Pháp cho đến khi nào như là Chủ tịch nhà nước. Sau khi theo dõi hồ sơ của Mỹ ở Philippines, ông ta báo cáo, chính quyền Việt Nam sẽ thích thú trở thành một nước bảo hộ của Mỹ hơn cho đến khi sự khôi phục nền độc lập hoàn toàn, nhưng họ nhận ra sự vô khả thi về điều đó và sẽ vui lòng chấp nhận tạm thời chính quyền Pháp, miễn là nó có được sự theo dõi thận trọng của Liên Hiệp Quốc.37

Nhưng thái độ của Hoa Kỳ về tình hình ở Đông Dương thì vẫn còn mơ hồ. Một lý do cho sự mơ hồ đó là những sự khác biệt về chính sách giữa những chuyên gia phân tích về châu Âu và những chuyên gia về châu Á tại Bộ Ngoại giao đã bùng lên một lần nữa. Qua những điện thư từ ông Patti và thông tin từ các cơ quan đại diện ngoại giao nơi khác ở châu Á, Washington nhận thức rõ rằng chính phủ Việt Minh là Cộng sản theo một định hướng; những nhà quan sát thân cận biết rằng Hồ Chí Minh chính ông ta quả thật là Nguyễn Ái Quốc một mật vụ dầy dặn của Comintern (i.e. Quốc tế Cộng sản). Những chuyên gia về châu Á đang trở nên ngày càng quan tâm về tình trạng bị lôi cuốn vào chiến tranh ở Đông Dương. Vào ngày 28 tháng Chín, Phụ tá Thư ký cho Nội vụ Viễn Đông John Carter Vincent (sau đó trở thành một trong những nạn nhân nổi bật của cuộc vận động chống-Cộng của Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy) nêu ra vấn đề với Thứ trưởng Dean Acheson, cảnh cáo rằng chính sách “buông-tay” hiện nay về việc không phản đối sự khôi phục chủ quyền của Pháp ở Đông Dương có thể gây nên một tình trạng khủng chính thức, kể từ khi Paris dường như quyết tâm khôi phục thẩm quyền của mình trước khi mở ra những cuộc thương thuyết với chính phủ Việt Nam.

p341

Ông Vincent đề nghị rằng Hoa Kỳ gia nhập với Vương quốc Anh trong việc thành lập một hội đồng để điều tra tình hình ở Đông Dương. Trong khi chờ đợi bản báo cáo cuối cùng, ông ta đề nghị rằng không có thêm quân đội Pháp được ủy quyền đổ bộ ở Đông Dương. Bản báo cáo hội đồng, ông kết luận, có thể trở thành một cơ bản cho những cuộc thảo luận quốc tế giữa các nước liên quan, bao gồm những đại diện thích hợp của “An Nam.” Ông Vincent thừa nhận rằng Paris có lẽ phẫn nộ những đề xướng ​​như vậy, nhưng ông chỉ ra rằng điều này sẽ ít nguy hiểm hơn so với sự bùng nổ của chủ nghĩa dân tộc của An Nam.38

Những chuyên gia về châu Âu ở Bộ Ngoại giao giải quyết vấn đề với sự lập luận như sau. H. Freeman Mathews, Giám đốc của Phòng Nội vụ châu Âu, lập luần rằng điều thích hợp hơn sẽ là để xem liệu người Anh và người Pháp có thể tự giải quyết vấn đề không. Một hội đồng, những chuyên gia về châu Âu lo sợ, có thể dẫn đến một kết quả duy nhất –việc trục xuất Pháp ra khỏi Đông Dương có thể xảy ra. Điều đó cũng có thể khuyến khích Moscow đòi hỏi một vai trò trong khu vực cho Liên Xô. Điều này, người ta cho là, “sẽ xấu hổ cho người Pháp và Tây phương, và xấu chung cho chính dân Đông Dương.” Ông Acheson, qua sự đào tạo và bản năng của một chuyên gia về châu Âu, một đồng ý với ông Mathews, và ông ta bác bỏ hành động đó trừ khi tình hình xấu hơn một cách rõ rệt. Vào ngày 20 tháng Mười, ông Vincent ban hành lời phát biểu chính thức nhắc lại chính sách của Mỹ và tuyên bố rằng Hoa Kỳ đã không đặt câu hỏi về chủ quyền của Pháp và Hà Lan trên những thuộc địa Đông Nam Á của họ, nhưng rằng nó mong mỏi những cường quốc thực dân châu Âu chuẩn bị các dân tộc lệ thuộc của họ về những nhiệm vụ và trách nhiệm của chính quyền tự trị.39

Người Pháp rõ ràng đã không muốn bất kỳ sự can thiệp nào. Vào cuối tháng Mười, một quan chức của Đại sứ quán Pháp ở Washington, D.C., gặp gỡ với ông Abbot Low Moffat nhân viên tham mưu của Bộ Viễn Đông để khiếu nại về bản báo cáo rằng một đại diện từ chính phủ của Hồ Chí Minh đang trên đường đến Washington để thảo luận tình hình với những quan chức Hoa Kỳ. Bất kỳ sự can thiệp nào như thế của Hoa Kỳ, vị quan chức đại sứ quán cảnh cáo, “sẽ được xem là một hành động không thân thiện” bởi chính phủ Pháp.40

Hồ Chí Minh không nhận biết về những sự kiện như thế ở Hoa Kỳ, nhưng ông ta rõ ràng quan tâm đến khuynh hướng trong chính sách Hoa Kỳ. Vào ngày 30 tháng Chín, ngày cuối cùng của ông Patti ở Đông Dương, ông Hồ đã mời ông Patti đến Dinh Bắc cho một cuộc trò chuyện cuối cùng. Trong cuộc tête-a-tête (i.e. hàn huyên tâm sự) sau bữa ăn tối, ông Hồ bày tỏ rằng ông không thể hòa giải được vị thế chính thức của Hoa Kỳ về quyền tự quyết vốn đã được đặt ra tại hội nghị Tehran, Quebec, và Potsdam với chính sách hiện nay về việc đứng sang một bên và cho phép người Anh và Trung Quốc hỗ trợ cho sự trở lại của người Pháp đến Đông Dương. Có phải Hiến chương Đại Tây Dương, ông ta hỏi, không áp dụng cho Việt Nam? Ông Hồ đề nghị sự hình thành một cộng đồng châu Á tương quan bao gồm nhiều sở hữu thuộc địa trong khu vực và được hỗ trợ bởi những chương trình kinh tế và chính trị vì lợi ích chung.

p342

Ông Patti bày tỏ sự cảm thông cá nhân của mình cho cuộc đấu tranh của Việt Nam cho nền độc lập, nhưng nhắc lại chính sách chính thức của Mỹ rằng không đặt câu hỏi về chủ quyền của Pháp cũng không ủng hộ những tham vọng đế quốc của Paris. Khi kết thúc cuộc trò chuyện, ông Hồ kể lại cho người khách viếng của mình về một số sự kiện quan trọng trong cuộc sống của ông ta như là một nhà cách mạng. Sau khi thừa nhận rằng nhiều người Mỹ xem ông như là một “con rối của Moscow,” ông Hồ phủ nhận rằng ông ta là một người Cộng sản theo phán đoán của người Mỹ. Sau khi hoàn trả nợ mình cho Liên Xô với mười lăm năm công tác Đảng, ông bây giờ tự coi mình là một mật vụ tự do. Trong những tháng gần đây, ông ta chỉ ra, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH: Bắc Việt) đã từng nhận được nhiều ủng hộ từ Hoa Kỳ hơn là từ Liên Xô. Tại sao chính phủ phải mắc nợ Moscow?

Khi họ chia tay, Hồ Chí Minh yêu cầu người khách viếng của mình mang theo thông điệp rằng dân Việt Nam sẽ luôn luôn biết ơn cho sự hỗ trợ mà họ nhận được từ Hoa Kỳ và sẽ nhắc nhớ lâu dài Hoa Kỳ như là một người bạn và đồng minh, và rằng cuộc đấu tranh của Mỹ cho nền độc lập sẽ luôn luôn xem như là một tấm gương cho Việt Nam. Một vài tuần sau đó, một lá thư từ Hồ Chí Minh cho Tổng thống Truman được mang đến Kunming(pc 14) bởi một sĩ quan khác trong quân đội Mỹ trở về nước. Nhưng khả năng về bất kỳ sự trợ giúp nào của Hoa Kỳ đang nhanh chóng mờ dần. Những hoạt động của ông Patti đã làm mạnh thêm những nghi ngờ trong số các quan chức Mỹ ở cả Trung Quốc và Hoa Kỳ, và khi người kế nhiệm ông ta điện thư  Washington rằng Hà Nội sẽ chào đón cố gắng của Hoa Kỳ nhằm hòa giải sự tranh chấp, cả lời đề nghị của Hà Nội và cả những lá thư trước đây của ông Hồ đều bị bỏ qua.41

* * *

Vào đầu mùa thu năm 1945, những kết quả trực tiếp của Cách mạng Tháng Tám đã rõ ràng hiện ra trước mắt. VNDCCH(pc 22) kiểm soát miền Bắc, nhưng sự ủng hộ của nó gần như hoàn toàn dựa trên trạng thái phởn phơ được mang đến qua lời hứa về nền độc lập và sự nổi tiếng của vị Chủ tịch bí ẩn của nó, Hồ Chí Minh. Hơn nữa, khu vực này vẫn còn chịu sự chiếm đóng của quân đội Trung Hoa Dân quốc. Ở miền Nam, nơi mà sự ủng hộ của Đảng đã bị suy yếu bởi các cuộc nổi dậy 1940 thất bại và sự tranh đua từ những người quốc gia thì mạnh mẽ hơn đáng kể, chính quyền Pháp đã tìm cách khôi phục thẩm quyền thực dân, mặc dù những người hoạt động Việt Minh đang vật lộn để xây dựng một cơ sở kháng chiến ở nông thôn.

Đối với Hồ Chí Minh, chìa khóa để tháo gỡ cái gút nằm trên sân khấu quốc tế, nơi mà ông ta tin tưởng vào sự hỗ trợ từ lực lượng tiến bộ nhằm ngăn chặn người Pháp từ việc tìm cách khôi phục đế chế thuộc địa của mình. Như là một học viên của cuộc cách mạng hiện đại, ông ta ý thức về những triển vọng cho một làn sóng hậu chiến mở rộng của cách mạng tương tự như cuộc cách mạng vốn đã đưa Bolshevik đến quyền lực vào năm 1917.

p343

Nhưng kinh nghiệm lâu dài cảnh cáo ông ta rằng Stalin chỉ có một sự quan tâm thất thường ở châu Á và không có thể tin tưởng Liên Xô đem hết sức mình đứng bên lực lượng cách mạng ở đó. Nguồn giúp đỡ tiềm năng khác là Hoa Kỳ, nơi mà cảm tình chống-thuộc-địa vẫn còn mạnh mẽ. Tuy nhiên, những triển vọng về sự trợ giúp từ Washington nhất quyết là không chắc chắn. Nếu sự liên minh trong thời chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô sẽ đi đến một kết thúc dưới sự căng thẳng của tình hình sau chiến tranh, Hoa Kỳ có lẽ bị thúc đẩy vào vòng tay của các cường quốc thực dân châu Âu, và Việt Nam có thể trở thành một con tốt trong một cuộc xung đột toàn cầu mới. Trong trường hợp đó, Hồ Chí Minh có thể có chút nghi ngờ như là nơi nào lòng trung thành đầu tiên của ông đặt vào. Ở giai đoạn này trong cuộc cách mạng Việt Nam, kẻ thù chính là Pháp. Trong khi Moscow không thể được tin tưởng cung cấp sự giúp đỡ vững chắc cho cuộc đấu tranh vì độc lập của Việt Nam, có chút nguy cơ rằng Moscow sẽ đến với sự hỗ trợ cho Pháp trong việc tìm cách khôi phục thẩm quyền thực dân ở Đông Dương. Nhưng đối với Washington, có sự sợ hãi về cuộc cách mạng thế giới mà ông ta đã rõ ràng nhấn mạnh trong những bài phát biểu của mình tại hội nghị Tân Trào vào tháng Tám, cùng một ý tưởng hỗ trợ Pháp hay không thì không nghe nói đến.

Tuy nhiên, mặc dù con đường phía trước được trải bằng những trở ngại, bước đầu tiên đã được thực hiện, và một chính phủ Việt Nam độc lập mới được nắm giữ quyền lực mong manh ở Hà Nội. Trong những năm sau đó, Cách mạng Tháng Tám sẽ càng ngày được thổi phòng lên gần như một tầm vóc huyền thoại, như những người viết sử Đảng ở Hà Nội mô tả những sự kiện vào lúc cuối Chiến tranh Thái Bình Dương như là một bằng chứng cho thiên tài của Đảng Cộng sản và lãnh tụ vĩ đại của nó. Chiến lược phía sau cuộc nổi dậy –được mô tả như là một sự kết hợp của cuộc đấu tranh quân sự và chính trị để chiếm lấy quyền lực ở cả khu vực thành thị và nông thôn– trở thành một nguyên bản cho những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong tương lai, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở những phần khác của Thế giới Thứ ba, như là châu Phi, Mỹ Latin, và những phần khác của khu vực Đông Nam Á.

Trong những năm gần đây, quan điểm đó đã đến dưới sự giám sát chặt chẽ từ một số học giả Tây phương, một số người trong họ đã lập luận rằng yếu tố của sự hoạch định bị hạn chế tương đối về điều gì là thiết yếu cho một cuộc nổi dậy quần chúng tự phát. Những người khác dám chắc rằng những sự kiện Tháng Tám không cấu thành một cuộc cách mạng, nhưng chỉ là một coup d’état (i.e. cuộc đảo chánh). Có một vài sự thật trong cả hai sự quan sát, vì có một yếu tố cơ hội trong tất cả những cuộc cách mạng. Lenin có lần lưu ý rằng cuộc cách mạng thì phức tạp nhiều hơn trong lý thuyết so với thực tế; mặc dù tất cả sự hoạch định cẩn thận vốn đã tan biến vào trong những cố gắng của Đảng ở cơ sở miền núi của nó tại Tân Trào, có một hơi hướng riêng biệt của sự tự phát và ngẫu hứng về cuộc khởi dậy vốn bùng nổ vào thời điểm đầu hàng của Nhật cho lực lượng Đồng minh ở châu Á.

p344

Trong nhiều khu vực, những người hoạt động Đảng không liên lạc gì hết với Ủy ban Trung ương ở miền Bắc và bắt buộc phải thực hiện những hành động riêng mình. Và, dĩ nhiên, nạn đói khủng khiếp vốn đã quét qua đất nước trong suốt những tháng cuối cuộc chiến đặt nền tảng cho cơn tức giận của quần chúng mà nó tạo nên một lực đẩy cho Hồ Chí Minh và các đồng chí mình đến chiến thắng.

Những nhận xét như thế, tuy nhiên, sẽ không che đậy chúng ta đối với thực tế là Cách mạng Tháng Tám là một thành tựu phi thường. Cuộc cách mạng không được tiến hành mà không có những nhà cách mạng. Chính là lòng tin của Đảng và ban lãnh đạo của nó vốn có thể nắm lấy cơ hội mà nó vẫy tay thật là quyến rũ vào cuối Chiến tranh Thái Bình Dương. Nơi mà những nhà lãnh đạo khác thuộc quốc gia hài lòng ở lại miền Nam Trung Quốc và đang chờ đợi sự đánh bại Nhật Bản do Đồng Minh, ông Hồ và những cộng sự viên của mình trỗi lên sự thách thức và phơi bày trước thế giới với một fait compli (i.e. việc đã rồi).

Bằng cách mô tả Mặt trận Việt Minh như là một phong trào có cơ sở rộng lớn được trang bị với một cương lĩnh mà nó có thể kêu gọi tất cả lực lượng yêu nước và tiến bộ, ông Hồ không chỉ tìm cách mở rộng lời kêu gọi của nó vượt ra ngoài xa hẵn bộ phận bình thường của những người ủng hộ thuộc Đảng Cộng sản, mà ông ta còn đặt Mặt trận Việt Minh vào vị thế vận động bên ngoài cho sự nhìn nhận bởi Đồng Minh chiến thắng như là tiếng nói hợp pháp của chủ nghĩa quốc gia Việt Nam. Không phải tất cả những cộng sự viên mình cảm thấy thoải mái với hình ảnh ôn hòa đó. Không ít người có nhận xét như Trường Chinh sau nầy ta thán rằng chưa từng có đủ máu đổ trong suốt cuộc Cách mạng Tháng Tám để giũ sạch cho Đảng những kẻ thù mai sau của nó.42

Khuôn mặt ôn hòa đó, rõ ràng, là khuôn mặt của chính Hồ Chí Minh. Về việc tự mình đóng vai như là một hình ảnh ông bác từ vùng nông thôn, “một người yêu nước đơn thuần” trong bộ đồ ka-ki và đôi dép vải màu xanh dương mòn rách, ông Hồ giành được không chỉ là những trái tim của hàng triệu người Việt, mà còn là sự ngưỡng mộ và tôn trọng của những nhà quan sát thân cận, chẳng hạn là những sĩ quan quân sự Hoa Kỳ như Charles Fenn, và Archimedes Patti, và những nhà đàm phán Pháp như Jean Sainteny và Tướng Leclerc. Có, dĩ nhiên, một yếu tố tính toán trong điệu bộ màu mè của Hồ Chí Minh, và đối với một số người thân thiết ông ta thỉnh thoảng lỡ buột miệng là ông ta nhận biết rõ về ngón gian ngoa. Tuy nhiên, chiến thuật là một thành công to lớn, và không có gì ngạc nhiên khi ông ta sẽ ứng dụng ngón đòn quỷ quyệt đó như là một yếu tố rất quan trọng trong kho vũ khí chiến lược của mình cho đến hết cuộc đời còn lại.43

Tuy nhiên, có cũng một nguy cơ trong việc ứng dụng những chiến thuật ôn hòa, vì trong cách làm như thế ông Hồ và các cộng sự viên mình đã nắm lấy quyền lực bằng cách lừa dối. Cương lĩnh của Mặt trận Việt Minh không phải là một kế hoạch chi tiết cho Việt Nam trong tương lai, nhưng chỉ là một điểm khởi đầu. Nếu và khi nào Đảng quyết định phơi bày khuôn mặt thật sự và những mục tiêu của nó với thế giới, nguy cơ vỡ mộng quần chúng sẽ là to lớn. Nhưng Hồ Chí Minh trên hết là một người giáo điều. Như ông ta tuyên bố với nhà báo Hoa Kỳ R. Harold Isaacs trong suốt một cuộc phỏng vấn vào mùa thu năm 1945, “Nền độc lập là một chuyện. Cái gì theo sau sẽ theo.

p345

Nhưng độc lập phải đến trước nếu có chút nào chăng bất cứ điều gì theo sau là chuyện sau này.” Liệu độc lập có thể được duy trì là một câu hỏi khác. “Chúng tôi hiển nhiên đứng một mình”, ông ta bày tỏ với ông Isaacs vào thời điểm chán nản. “Chúng tôi sẽ phải nhờ vào chính mình” Ông ta sẽ cần tất cả sự xảo quyệt của mình để thấy rõ con đường trước mắt.44

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNGpQ : Việt Nam Giải phóng Quân.
pc 02_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.
pc 03_ Lynching : là một cuộc hành hình ngoài pháp luật được thực hiện bởi một đám đông, thường bằng cách treo cổ, nhưng cũng bằng cách đốt cháy tại cột cây hoặc xử bắn, nhằm mục đích trừng phạt người vi phạm bị cáo buộc, hoặc đe dọa, kiểm soát, hoặc một khác hơn là vận động số đông người. Nó liên quan đến phương tiện khác của sự kiểm soát xã hội vốn phát sinh trong những cộng đồng, như là la hét nỗi đình nỗi đám (charivari), cho cưỡi thanh sắt đường rầy, và tẫm hắc in và phủ lông gà.

pc 04_ CDvClHK : Cục Dịch vụ Chiến lược Hoa Kỳ (OSS: U.S. Office of Strategic Services).
pc 05_ Jingxi : huyện Tĩnh Tây
.
pc 06_ Trotsky : Leon Trotsky là một nhà cách mạng và lý thuyết Mác-xít người Nga, nhà chính trị Sô-Viết và là người sáng lập và lãnh đạo đầu tiên của Hồng quân. Như là một người đứng đầu Đệ tứ Quốc tế Cộng sản, Trotsky tiếp tục trong tình trạng lưu vong ở Mexico để phản đối việc cơ cấu quan liêu của chủ thuyết Stalin ở Liên Xô, vốn là người thành lập Đệ tam Quốc tế Cộng sản cực đoan. Những tư tưởng của Trotsky hình thành cơ bản cho chủ thuyết Trotsky, một trường phái lớn của tư tưởng Mác-xít mà nó chống lại những lý thuyết của chủ thuyết Stalin. Sau cùng ông ta bị ám sát ở Mexico vào ngày 13 tháng Ba, 1928 bởi sát thủ Ramón Mercader, một mật vụ gốc Tây Ban Nha của Sô-Viết. Ông ta là một trong thiểu số nhân vật chính trị Sô-Viết những người mà không bao giờ được phục hồi danh dự bởi chính phủ của Mikhail Gorbachev. Nhưng cuối cùng ông đã được trả lại danh dự vào năm 2001.

pc 07_ Công trường Puginier : đúng ra vào thời điểm đó nơi nầy được gọi là Vườn hoa Pugininer (Le parc Pugininer) được đặt theo tên của giáo sĩ người Pháp Paul-Francois Puginier (1835-1892) vốn là Giám mục địa phận Tây Bắc Bộ và cũng là thành viên của Hội Truyền giáo Nước ngoài của Paris, thuộc dòng La-San (La Salle).
Trước đây, nơi nầy là một khu vực nằm trong phạm vi Hoàng thành Thăng Long. Thời Gia Long, năm 1808, Hoàng thành bị phá vỡ để xây lại một ngôi thành mới nhỏ hơn nhiều để làm trị sở cho Bắc thành. Khu vực Quảng trường Ba Đình ngày nay tương ứng với khu cửa Tây của ngôi thành mới, được Minh Mạng đổi tên là thành Hà Nội vào năm 1831. Khu vực này bấy giờ có một gò đất cao được gọi là núi Khán, hay Khán Sơn.
Giữa thế kỷ 19, do đề nghị của Bố chính Hà Nội Lê Hữu Thanh, Tổng đốc Hà Ninh Hoàng Thu đã cùng một số quan lại bỏ tiền xây một ngôi nhà ngói trên núi Khán, gọi là Khán Sơn Đình làm chỗ hội họp các văn nhân. Vì vậy, có thời kỳ nơi đây nổi tiếng trong sinh hoạt văn hóa của nhân sĩ Bắc Hà.
Sau khi kiểm soát được toàn bộ Đông Dương, năm 1894, quân Pháp cho phá vỡ toàn bộ thành, chỉ giữ lại cửa Bắc để làm kỷ niệm. Khu vực này được các kiến trúc sư Pháp quy hoạch để xây dựng trung tâm hành chính của Liên bang Đông Dương. Núi Khán bị san bằng. Một vườn hoa nhỏ được xây dựng tại khu vực này, tạo thành một quảng trường rộng lớn được đặt tên là Vườn hoa Pugininer (Le parc Pugininer). Vườn hoa được giới hạn bởi các con đường Avenue de la République, Avenue Brière de l’Isle, Rue Elie Groleau, và Avenue Puginier. Và một vòng xoay nhỏ được xây dựng gần đó cũng được đặt tên là Vòng xoay Pugininer (Rond-point Pugininer). Do hình dáng đặc biệt của vòng xoay mà người dân Hà Nội còn gọi Vườn hoa Pugininer là Công Trường Tròn bao gồm cả Quảng trường Ba Đình ngày nay.
Tại khu vực gần Công trường Tròn, Phủ Toàn quyền được khởi công xây dựng vào năm 1901. Năm 1914, trường sở của Lycée Paul Bert được xây dựng tại vị trí núi Khán trước kia, ngay cạnh Vườn hoa Pugininer.

pc 08_ Zhang Fakui : Trương Phát Khuê.
pc 09_ Lu Han : Lư Hán.
pc 10_ Chiang Kai-shek : Tưởng Giới Thạch.
pc 11_ một triệu : theo đoạn viết trước đó, con số ước lượng khoảng dưới dưới một trăm ngàn người (như trong câu : hàng ngàn người), nhưng theo ông Giáp cho là hàng trăm ngàn rồi thêm lên một triệu người.

 pc 12_ CTtCtHK : Cục Thông tin Chiến tranh Hoa Kỳ (OWI: U.S. Office of War Information).
pc 13_ Chongqing : thành phố Trùng Khánh.
pc 14_ Kunming : quận Côn Minh.

pc 15_ Norodom Palace : là Dinh Độc Lập thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa của miền Nam trước 1975, và sau đó được gọi là Hội trường Thống nhất.
Hầu hết những vật liệu xây dựng được nhập từ Pháp. Do chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870, việc xây dựng rơi sau lịch trình ấn định và không được hoàn thành cho đến năm 1873. Dinh thự được đặt tên là Dinh thự Norodom theo vị vua thời đó của Cam-pu-chia, Norodom (1834-1904). Đại lộ ở phía trước của cung điện mang cùng tên. Từ 1871-1887, cung điện được sử dụng bởi Thống đốc Nam Bộ ( Gouverneur de la Cochinchine ) người Pháp, vì vậy, nó được nhắc đến như là Dinh thự Thống đốc. Từ 1887-1945, tất cả những Toàn quyền Đông Dương thuộc Pháp sử dụng dinh thự nầy như là nơi cư ngụ và văn phòng của họ. Các văn phòng những Thống đốc Nam Bộ được di dời đến một biệt thự gần đó.

pc 16_ Rue Catinat : đường Tự Do của Sài Gòn trước 1975, và sau nầy được gọi là đường Đồng Khởi.

pc 17_ Gurkha : Gorkha hoặc Ghurka là một cộng đồng dân tộc từ Nepal. Tên của họ xuất phát từ các thánh binh Hồi giáo là Guru Gorakhnath (thế kỷ thứ 8).
Gorkhas là dân tộc bản địa chủ yếu từ giữa miền Tây và Đông Nepal. Nổi tiếng với lịch sử của họ và vai trò của họ trong việc thống nhất Nepal hiện đại (trung đội Gorkha, là  quân đội hiện đại Nepal), lữ đoàn Gurkhas (quân đội Anh), đội súng Gurkha (quân đội Ấn Độ). Những đơn vị Gurkha được liên kết chặt chẽ với khukuri, một loại dao nhỏ cong về phía trước của dân Nepal có sức mạnh chiến đấu dữ dội. Vị cựu Trưởng tham mưu của quân đội Ấn thuộc Anh, Field Marshal Sam Manekshaw, đã từng nói câu nổi tiếng về Gurkhas: “Nếu một người nói rằng anh ta không sợ chết, anh ta hoặc là nói dối hay là một Gurkha.”

pc 18_ Rangoon : là một thủ đô cũ của Miến Điện (Myanmar), còn được gọi là Yangon (nghĩa đen: “Sự chấm đứt xung đột”).

pc 19_ Cité Hérault : khu vực bao gồm khu Tân Định, Sài Gòn, nơi kiều bào Pháp cư ngụ rất đông.

pc 20_ Cercle Sportif : được viết nguyên chữ là Cercle Sportif Saigon (CSS). Đầu tiên nó là một câu lạc bộ đánh banh tennis cấp quốc gia được thành lập vào khoảng 1896, sau đó phát triển thêm với quán ăn, hồ bơi, thư viện, sân khấu, và ngay cả sân đá banh. Trước kia nó nằm trên 55 đường Hồng Thập Tự, quận 1 sau 1975 tên đường là Nguyễn Thị Minh Khai tại số 55B.

pc 21_ VNQDĐ : Việt Nam Quốc dân Đảng.
pc 22_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s