XI- Sự Tái Thiết và Đề Kháng (Phần 1)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p346

XI- SỰ TÁI THIẾT và ĐỀ KHÁNG

Trong hai tháng theo sau sự kết thúc Chiến tranh Thái Bình Dương, tình hình ở Hà Nội tuột một cách đầy hiểm họa gần đến thiên tai hơn. Hoàn cảnh nguy ngập đặt một sự căng thẳng nghiêm trọng trên Hồ Chí Minh, và vị trí của ông ta như là một người lãnh đạo của Đảng và chính phủ. Trong khi những người nhiệt tình trong ĐCSĐD(pc 01) kêu gọi cho hành động quyết liệt để đè bẹp những nhóm đối thủ, ông Hồ tranh luận không mệt mỏi cho một chính sách hòa hợp và những cuộc thương thuyết với mục tiêu cuối cùng của sự phân chia và cô lập những kẻ chống đối của Đảng. Mặc dù nhiều người Việt kêu gọi một thái độ thù nghịch kiên quyết đối với sự trở lại của Pháp ở miền Bắc, ông ta báo hiệu một sự sẵn sàng chấp nhận một sự hiện diện của Pháp –với điều kiện là họ đến như là những người bạn, và không phải như là những người chinh phục.

Cùng lúc mà chính quyền Hà Nội đang tìm kiếm giải pháp chính trị, thì nó bắt đầu chuẩn bị cho cuộc chiến. Những cố gắng sôi nổi được thực hiện nhằm tổ chức các đơn vị tự vệ và du kích trên khắp các tỉnh miền Bắc và miền Trung. Trong suốt mùa thu, những đơn vị dân quân, được ca ngợi bởi Hồ Chí Minh như là “bức tường sắt của Tổ quốc,” được tổ chức gần như ở mỗi làng, ấp, đường phố, và hảng xưởng khắp những khu vực đó dưới chính quyền VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt). Trong một vài trường hợp, những đơn vị bao gồm chỉ một hoặc hai trung đội;(pc 03) ở những nơi khác, nhiều trung đội được tổ chức thành những đại đội.(pc 04) Ở Hà Nội, lực lượng dân quân tự vệ trên thực tế bao gồm tất cả những thanh niên trong thành phố và lên đến hàng chục ngàn. Tất cả những đơn vị như thế được đặt dưới thẩm quyền của các quan chức Đảng địa phương và được cung cấp huấn luyện quân sự bởi chính phủ, nhưng họ được tạo nên để tự chủ trong điều kiện về thực phẩm và dụng cụ. Cốt lõi của lực lượng địa phương của chính phủ thành hình từ những quân đoàn xung kích được lựa chọn từ các cấp bậc của Hiệp hội Thanh niên Cứu quốc gia và bao gồm chủ yếu là giới công nhân và học sinh. Họ được vũ trang bởi Bộ Quốc phòng, đóng quân tại những địa điểm được quy định, và trải qua cuộc đào tạo tại

p347

học viện quân sự mới được thành lập gọi là Trường Đào tạo Tự Vệ Hồ Chí Minh.

Nhưng trung tâm của cố gắng quốc phòng của chính phủ tập trung vào Lực lượng Cảnh sát Quốc phòng quốc gia, các đổi tên thành Quân đội Giải phóng Việt Nam. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đảng, quân đội đã được bao gồm các tiểu đoàn, các công ty, và các trung đội. Để cung cấp đào tạo, một anti-Viện đào tạo Nhật Bản đã được thành lập ở Việt Bắc, trước khi Cách mạng tháng Tám đã được chuyển đổi thành Trường Chính trị-quân sự Việt Nam, mặc dù nó đã được ngụy trang như là một chương trình đào tạo cho cán bộ để xoa dịu lệnh Trung Quốc chiếm đóng. Trong những tháng sau khi kết thúc chiến tranh, quân đội đã được tăng cường bằng cách nhập ngũ của cựu sĩ quan và binh lính từ Lực lượng Cảnh sát dân sự. Sức mạnh của nó, bao gồm cả những đơn vị phục vụ ở phía nam, đã được ước tính khoảng 80.000 troops.1

Một trong những vấn đề quân sự chính của chính phủ là tình trạng thiếu vũ khí. Chính phủ đã có thể đặt tay của mình trên một loạt các vũ khí, một số họ có niên đại thế kỷ trước, và đã thu được một vài mìn chống tăng và súng máy từ đầu hàng các lực lượng Nhật Bản. Tuy nhiên, nhiều đơn vị chỉ được trang bị gậy, giáo, hoặcflintlocks nguyên thủy do thợ rèn địa phương. Trong một cố gắng tuyệt vọng để có được vũ khí mới, Hồ Chí Minh miễn cưỡng đồng ý một kế hoạch để huy động tiền từ dân số nói chung cho việc mua vũ khí. Trong những gì đã được dán nhãn “tuần lễ vàng” ở phần cuối cùng của tháng Chín, dân số của các tỉnh phía Bắc đã được khuyến khích tặng đồ trang sức vàng và các vật có giá trị khác để cung cấp cho chính phủ bằng nguồn vốn quý giá để mua vũ khí từ các lực lượng chiếm đóng.

Theo Archimedes Patti, Hồ Chí Minh không phải là đặc biệt nhiệt tình về các kế hoạch để thu hút vốn từ dân chúng nói chung, tin rằng người nghèo sẽ hy sinh của nhiệm vụ yêu nước trong khi những người giàu có sẽ cho chỉ số lượng thẻ. Nỗi sợ của mình đã được chứng minh rõ ràng, kể từ khi tương đối ít được cung cấp bởi các cư dân giàu có ở phía bắc, và thành phố Hồ “cảm thấy như một kẻ phản bội” để cho “toàn bộ trò hề” diễn ra. Cuối cùng, nội các đã quyết định đánh thuế trên các sản phẩm thực phẩm. Khi một chính phủ chính thức đề cập đến khả năng đánh thuế thịt gà, vịt, trâu nước, “Công dân” Vĩnh Thụy không thể cưỡng lại thêm, đầu tiên phá vỡ ra cười là Hồ Chí Minh.2

“Bạn đã quên thịt chó.”Để bổ sung nguồn lực ít ỏi của mình, chính phủ đưa ra một ổ đĩa để có được hoặc sản xuất vũ khí bổ sung. Thợ rèn làng sử dụng giả mạo của họ để sản xuất spears và scimitars đơn vị tự vệ làng. Trẻ em đã được huy động để thu thập sắt phế liệu, trong khi người lớn đóng góp đồ dùng gia đình, chẳng hạn như khay đồng và chảo, hoặcp348thậm chí điều để thờ phượng, như lư hương và bình đựng di cốt, tất cả được chuyển đổi thành cánh tay. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không mệt mỏi chỉ ra rằng các loại vũ khí chính của lực lượng vũ trang mới là sự hỗ trợ của người dân. Trong chuyến thăm trung tâm đào tạo trên toàn khu vực Hà Nội, ông giảng dạy khán giả của mình về tầm quan trọng của hành xử một cách chính xác đối với dân số nói chung, trích dẫn các nhà thơ Trung Quốc Lu Khuynh: “rõ ràng khinh bỉ một ngàn vận động viên, uốn nhẹ nhàng để phục vụ như một con ngựa trẻ em.”

* * *

Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh rằng chìa khóa để đảm bảo sự sống còn của quốc gia là thêm chính trị và ngoại giao hơn là quân sự theo lẽ tự nhiên. Nếu lực lượng chiếm đóng Trung Quốc có thể được xoa dịu, ông bày tỏ sự tin tưởng rằng mối đe dọa từ những đảng phái quốc gia đối thủ có thể bị uốn cong. Và nếu đó là trường hợp, chính phủ Hà Nội có thể có thể phô bày một mặt trận thống nhất trong sự chống đối việc trở lại có thể có của người Pháp đến miền Bắc. Nan đề là những vị chỉ huy Lu Han (i.e. Lư Hán) và Xiao Wen của Trung Quốc không đặc biệt có cảm tình với Việt Minh, nhưng có khuynh hướng ủng hộ những người quốc gia. Áp lực mà họ áp dụng để mở rộng thành phần nội các được gia tăng hơn qua cuộc viếng thăm của Tham mưu trưởng của Chiang Kai-shek (i.e. Tưởng Giới Thạch), Tướng He Yingqin, đến Hà Nội vào giữa tháng Mười. Thông điệp của vị Tướng cho những vị chỉ huy Trung Quốc thì đơn giản và trực tiếp: Hãy làm giảm ảnh hưởng của những người Cộng sản ở Đông Dương.

Về vấn đề tín hiệu gì có thể được xem là sự sẵn sàng làm việc của chính phủ ông ta với những phần tử quốc gia –thậm chí cả những người tỏ ra công khai thù nghịch với chủ nghĩa cộng sản– ông Hồ ra lệnh phóng thích khỏi nơi giam giữ chính thức của Ngô Đình Diệm, một chính trị gia vốn đã từng bị giam giữ một thời gian ngắn bởi chính quyền Việt Minh. Là con trai của một quan chức triều đình yêu nước nổi tiếng ở Huế, ông Diệm đã từng phục vụ như là Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong nội các của Bảo Đại trước khi Thế Chiến thứ II, nhưng từ chức trong sự phản đối về việc thất bại của người Pháp ban Bảo Đại thẩm quyền đầy đủ. Là một người Công giáo nhiệt thành, ông Diệm công khai thù ghét những người Cộng sản, một thái độ mà chắc chắn được gia tăng thêm khi một trong năm anh em của ông ta, Ngô Đình Khôi, bị xử tử bởi Việt Minh trong suốt cuộc Cách mạng Tháng Tám.

Sự quyết định phóng thích ông Diệm của ông Hồ (ông ta đã từng bị giữ lại ở Bắc Bộ phủ hơn là trong tù) làm dấy lên mối quan tâm trong số một vài cộng sự viên của ông ta, bao gồm một người bạn cũ từ những ngày ở Paris, Bùi Lâm. Nhưng khi ông Lâm phàn nàn, ông Hồ trả lời rằng việc hành hình ông Diệm sẽ chỉ làm hoen ố tiếng tăm của vai trò người cha lừng lẫy của mình. Trong bất kỳ trường hợp nào, ông ta nói thêm, người Pháp luôn luôn có thể tìm một người nào khác để thay thế ông Diệm, vì vậy đó là điều hợp lý hầu tìm kiếm sự ủng hộ của nhiều người như có thể.

p349

Hồ Chí Minh có thể đã được thúc đẩy một phần bởi khát vọng giành lấy sự ủng hộ từ cộng đồng Công giáo, nhiều người của họ là trong số lớp người có học vấn và giàu có nhất trong nước. Ông ta đã bổ nhiệm một người Công giáo vào nội các của mình và có lần tham dự những buỗi lễ Công giáo ở Hà Nội. Tuy nhiên, ông ta cũng gởi những tín hiệu hòa hợp đến các nhóm khác, bằng cách thăm viếng những đại diện của các dân tộc miền núi và dự phần trong lễ kỷ niệm ngày sinh Khổng Tử tại Văn Miếu (pc 07) ở Hà Nội. 3

Hồ Chí Minh cũng được dùng những quyền lực của mình thuyết phục và vận động trong các giao dịch của mình với Trung Quốc, lợi dụng sự tranh tài giữa những vị chỉ huy quân sự khác nhau của Trung Quốc ở Đông Dương. Dưới áp lực từ Tướng Xiao Wen, bắt đầu vào cuối tháng Mười ông Hồ mở những cuộc đàm phán bí mật với những nhà lãnh đạo của các đảng phái quốc gia khác nhau, không-Cộng-sản, như là Nguyễn Hải Thần, vị “lãnh tụ tối cao” mới được nhậm chức của đảng Đại Việt, cũng như với những đại diện của VNQDĐ(pc 08) và Đồng Minh Hội. Tuy nhiên, những cuộc thương thuyết gây ra tệ hại với những khó khăn từ lúc đầu, như Đồng Minh Hội đòi hỏi sự hình thành của một chính phủ toàn hoàn mới, trong đó sẽ bao gồm nhiều Bộ trưởng nội các không-Việt-Minh, một sự thay đổi về tên của Mặt trận Việt Minh, và việc chấp nhận dùng lá cờ quốc gia mới. Một số trong những cộng sự viên của Hồ Chí Minh đặt câu hỏi về sự khôn ngoan của việc thương thuyết với những đối thủ cay đắng của Đảng, nhưng ông Hồ trấn an họ rằng đó chỉ là những mục đích chiến thuật. Như một trong những người theo ông ta viết về điều đó:

Trong cuộc gặp gỡ của chúng tôi với những gián điệp của Việt Quốc [VNQDĐ] trong sự có mặt của người đại diện của Chiang Kai-shek,(pc 06) tôi là người ủng hộ về việc giải quyết cấp bách của họ. Một ngày nọ, trong diễn tiến một phiên họp thông tin, tôi hỏi ông ta: “Kính thưa Bác, tại sao chúng ta cho phép bọn phản bội và sát thủ này tồn tại? Với lệnh của Bác, chúng tôi sẽ tiêu diệt họ trong khoảng một đêm.”
Bác mỉm cười, và chỉ vào văn phòng của mình, quay sang hỏi chúng tôi: “Giả sử rằng một con chuột chạy vào căn phòng này. Anh bạn sẽ ném đá hay cố gắng bẫy hay đuổi nó?”
“Nếu chúng ta ném đá, chúng ta sẽ có nguy cơ phá hủy những đồ vật quí giá trong phòng.”
“Điều đó thì giống đối với những phần tử phản cách mạng,” Bác nói.
“Một mình họ, họ không có gì để sợ, nhưng họ có những ông chủ. Để hoàn thành một nhiệm vụ lớn, chúng ta phải biết làm cách nào nhìn về phía trước.”4

Hồ Chí Minh từ chối hầu hết những đòi hỏi của nhóm người quốc gia, nhưng vào ngày 11 tháng Mười Một, Đảng Cộng sản Đông Dương làm giật mình những người quan sát địa phương bằng cách đột ngột thông báo sự giải thể của riêng mình và sự hình thành qua sự thay thế của một hội mớilà Hội Nghiên cứu Học thuyết Marx ở Đông Dương,

p350

mà nó có thể cho là sẽ không tích cực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng thế giới. Những nguồn tài liệu của Đảng giải thích rằng động thái được thúc đẩy bởi mong muốn chứng minh sự sẵn sàng của Đảng để đặt những nhu cầu quốc gia trên những nhu cầu về đấu tranh giai cấp và những lợi ích chung của nhân dân trên những những lợi ích của Đảng. Khi vỡ ra, hành động đó không làm giảm tính chất đối kháng giữa những tổ chức chính trị ở thủ đô. Ngày hôm sau, một cuộc đụng độ gay gắt giữa những người ủng hộ của Việt Minh và những người quốc gia ở trước Nhà hát Thành phố để lại một chục người bị giết.

Giá trị quyết định của sự tuyên truyền giữa dân Việt không nên đánh giá thấp, nhưng chắc chắn mong muốn chính yếu là để xoa dịu chính quyền chiếm đóng Trung Quốc và mang lại một hiệp ước thỏa thuận với những đảng phái dân tộc. Như những nguồn tài liệu của Đảng ở Hà Nội sẽ xác nhận nhiều năm sau đó, ĐCSĐD(pc 01) không thực sự giải thể, nhưng chỉ rút lui vào trong sự bí ấn, nơi mà nó tiếp tục thống trị những quyết định chính trị cho nhiều năm tiếp theo cho đến khi sự xuất hiện của nó dưới một cái tên vào năm 1951. Tuy nhiên, những nguồn tin nội bộ xác nhận rằng quyết định đó là một cuộc tranh cãi và làm dấy lên sự phản đối đáng kể trong Đảng từ những người đặt những lợi ích tầng lớp lên trên những lợi ích quốc gia. Điều đó chắc chắn gây nên mối quan tâm giữa những đảng phái Cộng sản khác. Sau khi quyết định được công bố, những Đảng viên hàng đầu đã được gởi đến các vùng địa phương khác nhau để giải thích điều đó cho các số thành viên.5

Mặc dù giải thể của ĐCSĐD(pc 01) đã gây việc cằn nhằn trong hàng ngũ và nhướng lông mày trong những đảng phái anh em khắp thế giới, động thái này đã thực sự phục vụ để bôi trơn những cuộc đàm phán hòa bình. Qua những hướng dẫn từ Zhang Fakui (i.e. Trương Phát Khuê), ngày 19 tháng Mười Một, Tướng Xiao Wen tài trợ một cuộc họp giữa những đại diện của chính phủ Hà Nội và các thành viên của những đảng phái quốc gia. Những đảng phái đồng ý trên nguyên tắc về sự hình thành của một chính phủ liên minh rộng rãi được cấu thành từ những thành viên của nhiều đảng phái. Họ cũng đồng ý ban hành một cương lĩnh chung, nhằm thống nhất tất cả những đơn vị quân sự dưới quyền chỉ huy của chính phủ, và triệu tập một hội nghị quân sự để thảo luận về cách tốt nhất nhằm giúp đỡ những đồng bào bị vây ở miền Nam.

Một vài ngày sau đó, Ủy ban Trung ương Đảng họp bí mật để đánh giá về tình hình chung và giải thích chính sách hiện tại. Một cách chính xác điều gì diễn ra tại cuộc họp đã không bao giờ được tiết lộ, nhưng những quyết định đạt được tại hội nghị nằm trong một nghị quyết được ban hành gần vào lúc chấm dứt. Được mang tiêu đề “Kháng chiến và Tái thiết,” nghị quyết phân tích nhiều mâu thuẫn mà lúc bấy giờ đang nổi lên giữa các nước Đồng minh chiến thắng và vẽ ra một đường lối để vận dụng các nước Đồng minh nhằm chiếm lấy lợi thế của cách mạng Việt Nam. Lúc bấy giờ, nghị quyết kết luận, cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đang chuẩn bị hợp tác với Pháp trong việc trao trả Đông Dương cho chủ quyền của Pháp. Trước khi đồng ý rút lui lực lượng của nó, tuy nhiên,

p351

chính phủ Quốc Dân Đảng ở Chongqing (i.e. Trùng Khánh) chắc chắn sẽ tìm cách đòi hỏi bắt buộc một số điều khoản nhượng bộ từ Pháp. Theo như một mức nào đó mà Hoa Kỳ quan tâm, sự thù nghịch của nó đối với nền độc lập Việt Nam bây giờ đã bị lột mặt nạ:.

“Mặc dù Hoa Kỳ vẫn đang nói chuyện về sự trung lập của nó ở Đông Dương, Hoa Kỳ đã bí mật giúp Pháp rồi để cho Pháp mượn tàu gởi quân vào Đông Dương. Một mặt, Hoa Kỳ muốn cạnh tranh với Vương quốc Anh và Pháp vì những lợi thế ở Đông Dương và Đông Nam Á; mặt khác, thì cũng muốn hợp tác với Vương quốc Anh và Pháp trong việc thiết lập một liên minh để bao vây Liên Xô và do đó có thể sẵn sàng hy sinh một số lợi ích của nó ở Đông Nam Á.”

Trong những trường hợp này, nghị quyết kết luận, trong đấu trường trong nước, Đảng phải hành động như thế nào đó để phân chia phe đối lập. Trong ngoại giao, nó phải giảm thiểu những kẻ thù của nó và tăng tối đa những người bạn của mình, đặc biệt là Trung Quốc, là những người xem chính phủ Hà Nội như là lực lượng duy nhất có thể giúp họ nhận ra những mục tiêu riêng của họ về việc đánh đuổi chế độ thuộc địa châu Âu từ bên ngoài những biên giới phía nam của họ. Pháp vẫn là kẻ thù chính, nhưng nó cũng có thể được vận dụng. Có khả năng là, thí dụ, người Pháp có thể quyết định thừa nhận nền độc lập dân tộc nhằm mục đích giữ thể diện trên đấu trường quốc tế và bảo vệ quyền lợi kinh tế của họ ở Đông Dương. Nếu vậy, những người lãnh đạo Đảng kết luận, họ nên chuẩn bị thực hiện những nhượng bộ cần thiết trong lĩnh vực kinh tế nhằm mục đích tìm kiếm nền độc lập.6

Hiệp ước ngày 19 tháng Mười Một đã đề ra chỉ là những đại cương chung của một chính phủ liên minh, với những chi tiết được bàn thảo trong những cuộc đàm phán xa hơn nữa. Trong khi đó, tất cả các nhóm từ nay được kêu gọi ngưng lại những cuộc tấn công qua lại của họ vào nhau và đoàn kết chống lại kẻ thù chung. Tuy nhiên, những cuộc thương thuyết kéo dài trong nhiều tuần không có kết quả. Lúc đầu, những người quốc gia đòi hỏi chức vụ Chủ tịch và sáu ghế trong nội các. Hồ Chí Minh từ chối lời đề nghị và đưa ra ba vị trí trong nội cát, ngoài việc thành lập một nhóm cố vấn chính trị được điều hành bởi Nguyễn Hải Thần. Điều đó lần lượt bị khước từ bởi những người quốc gia. Khi các cuộc đàm phán tiếp tục, những căng thẳng dâng lên và tạp chí của VNQDĐ là Việt Nam gia tăng tốc độ những cuộc tấn công bằng bài viết về chính phủ. Chính phủ trả đủa lại. Võ Nguyên Giáp sau này nhớ lại rằng có một lần ông ta và người cộng sự viên huy động những đơn vị dân quân và những thành viên của Hội Cứu Quốc địa phương, ra lệnh cho họ ăn mặc thường phục và trang bị họ bằng những khí giới, và sau đó đưa họ đến đường Hàng Đậu để phá vỡ những nhà hoạt động quốc gia

p352

vốn là những người đi phát những truyền đơn ở trung tâm khu chợ trong khu vực người Hoa của thành phố. Có một vụ ẩu đả ngắn trước khi những người đi theo của ông Giáp ném những tờ truyền đơn xuống đất và những người quốc gia bỏ trốn. Sau một biến cố khác như vậy, Hồ Chí Minh được gọi đến trụ sở chính của Trung Quốc và bị cho một bài học nghiêm khắc.7

Một trong những trở ngại vấp phải trong các cuộc thương thuyết là sự kiện mà qua đó một nghị định của chính phủ được ban hành ngày 08 tháng Chín đã kêu gọi cho những cuộc tổng tuyển cử trong hai tháng để chọn lựa một quốc hội mới. Sau cuộc họp vào ngày 19 tháng Mười Một, chính phủ tuyên bố rằng những cuộc bầu cử sẽ được tổ chức vào ngày 23 tháng Mười Hai, nhưng những đại diện của các đảng phái quốc gia khiếu nại rằng điều này không cho họ đủ thời gian để chuẩn bị. Tướng Xiao Wen, theo những hướng dẫn của Zhang Fakui,(pc 09) bước vào để phá sự bế tắc, và vào ngày 19 tháng Mười Hai, một hiệp ước được tìm ra, bằng cách trì hoãn những cuộc bầu cử trong mười lăm ngày, cho đến đầu tháng Giêng, và lập ra những điều khoản cho việc tạo ra một chính phủ liên minh lâm thời mới được thành lập vào ngày 01 tháng Giêng năm 1946. Theo một communiqué (i.e. thông cáo) được ban hành vào cuối cuộc họp, VNQDĐ(pc 08) được bảo đảm năm mươi ghế và Đồng Minh Hội hai mươi ghế trong quốc hội tương lai, bất kể những kết quả của cuộc đầu phiếu. Hồ Chí Minh được đề cử là Chủ tịch và Nguyễn Hải Thần phó chủ tịch. Nội các được tạo thành từ hai thành viên của Mặt trận Việt Minh, cùng với hai người từ trong mỗi VNQDĐ, Đảng Dân chủ, Đồng Minh Hội, và hai nhà độc lập. Việt Minh và những người quốc gia sau đó đồng ý ngưng lại những cuộc tấn công qua lại của họ và giải quyết những sự khác biệt qua những thương thuyết.

Quyết định thành lập một chính phủ liên minh làm dấy lên một cơn bão lửa của cuộc tranh luận trong Đảng và Mặt trận Việt Minh. Khi nghe rằng Nguyễn Hải Thần được chỉ định một vị trí cao cấp trong chính phủ, một cán bộ nói lên mối quan tâm của mình trực tiếp đến Hồ Chí Minh, là người có những quan hệ với ông Thần vốn đã từng gây căng thẳng kể từ những năm 1920s. “Phân bón thì bẩn, phải không?” ông Hồ trả lời. “Nhưng nếu nó tốt cho những cây lúa, anh bạn sẽ từ chối sử dụng nó không?” Khi một số trong những cộng sự viên của ông ta đặt câu hỏi về những quyết định bảo đảm 70 ghế cho phe đối lập, bằng cách chỉ ra rằng sự khác biệt giữa Việt Minh và những đối thủ của họ như là giữa lửa và nước, ông Hồ (luôn có sẵn một ẩn dụ) tán thành, nhưng chỉ ra rằng nếu nước được đặt trên lửa, nó sẽ sôi và sau đó có thể được uống một cách an toàn.”8

Vào ngày 01 tháng Giêng, chính phủ mới được trình diện cho người dân trong một buổi lễ được tổ chức tại Nhà hát Thành phố. Trong một bài nói chuyện được phát biểu từ ban công, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi sự đoàn kết quốc gia và công bố cương lĩnh của chính phủ, mà nó kêu gọi những cuộc bầu cử quốc gia trên những nguyên tắc dân chủ và sự thống nhất của các lực lượng vũ trang khác nhau dưới sự chỉ huy của chính phủ. Trong bài diễn thuyết của mình, Nguyễn Hải Thần

p353

chấp nhận một phần trách nhiệm cho sự chậm trễ trong việc đạt được sự hợp nhất quốc gia và hứa sẽ hợp tác trong việc chống lại sự chiếm cứ của Pháp ở miền Nam.

Những cuộc bầu cử quốc gia được tổ chức như được lịch trình ​​vào ngày 06 tháng Giêng, lần đầu tiên trong lịch sử đất nước. Mặc dù có một ít biến cố nhỏ, đối với hầu hết sự kiện những cuộc bầu cử thì an lành. Theo ông Võ Nguyên Giáp, 90% những người đủ tư cách ở miền Nam đầu phiếu, mặc dù cuộc bầu cử được tổ chức chỉ trong những khu vực được kiểm soát bởi lực lượng Việt Minh. Những nguồn tin của Việt Minh tuyên bố chiến thắng sau khi những ứng cử viên của họ nhận được số phần trăm được báo cáo là 97 trong số phiếu quần chúng. Những kết quả như thế sẽ mang lại cho Việt Minh 300 ghế trong hội đồng nhưng, như được hứa, 70 ghế được giao cho phe đối phương.9

Chính Hồ Chí Minh ra tranh cử ở khu vực đầu phiếu Hà Nội. Những người cộng sự viên đã đề nghị rằng như một vị Chủ tịch ông ta nên được miễn ra tranh cử trong ở cấp khu vực, và chỉ đơn giản được đưa ra như là một ứng cử viên duy nhất cho cả nước, nhưng ông Hồ từ chối. Theo số thống kê của chính phủ, ông ta nhận được 98,4% số phiếu bầu trong cuộc bầu cử được tổ chức trong khu vực bầu cử Hà Nội của mình.

* * *

Hồ Chí Minh đã hy vọng rằng sự hình thành của một liên minh mới của chính phủ sẽ có thể cho phép ông ta phơi bày mặt trận thống nhất đối với người Pháp. Như chúng ta đã thấy, trong cuộc họp của nó vào cuối tháng Mười, Ủy ban Trung ương của ĐCSĐD(pc 01) bày tỏ hy vọng rằng Paris có thể được thuyết phục để ban nền độc lập dân tộc cho người Việt Nam trong việc đổi lấy nhượng bộ về kinh tế.

Cho dù Paris sẽ tuân theo giải pháp như vậy, tuy nhiên, là một câu hỏi bỏ trống. Tổng thống Pháp Charles de Gaulle không có ý thương thuyết cho đến khi ông đã phục hồi thẩm quyền của Pháp ở Đông Dương. Trong một lá thư cho Tướng Leclerc đề ngày 25 tháng Chín, ông ta nói theo cách hống hách đặc trưng của mình: “Nhiệm vụ của bạn là tái lập chủ quyền của Pháp ở Hà Nội và tôi ngạc nhiên rằng bạn chưa làm như thế.” Tuy nhiên, những đại diện Pháp ở Đông Dương dường như có phần nào thực tế hơn. Sau cuộc họp với ông Hồ vào cuối tháng Chín, Léon Pignon và Tướng Alessandri đã mô tả ông ta như là “một cá tính mạnh mẽ và đáng tôn trọng”, trong khi Jean Cédile đã điện thư từ Sài Gòn rằng một phe phái ôn hòa trong chính phủ chịu trách nhiệm vấn để hòa giải, và vì thế đó là điều đáng nói đến. Vào ngày 10 tháng Mười, Paris điện thư ông Alessandri để mở những cuộc đàm phán với chính phủ Hà Nội “về tất cả vấn đề của Đông Dương.”10

Jean Sainteny đã trở lại Hà Nội hai ngày trước đó. Ông ta đã đi đến Ấn Độ vào tháng Chín để gặp Đô đốc Thierry d’Argenlieu,

p354

Cao ủy chưa chính thức của ông de Gaulle. Ông Sainteny, có vị trí như là đặc sứ toàn quyền của Pháp trong những cuộc thương thuyết về Đông Dương, chưa từng bao giờ được chính thức hoá, đã được cho từ chức, nhưng ông d’Argenlieu yêu cầu ông ta trở lại Đông Dương với đầy đủ quyền hạn để thương thuyết thay mặt mình. Vì vậy, ông Sainteny trở lại Hà Nội với danh hiệu chính thức của Ủy Viên Cộng hoà Bắc Bộ và Bắc An Nam, và chọn nơi ngụ tại Ngân hàng Đông Dương.”11

Ông Sainteny gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên vào giữa tháng Mười. Mặc dù một nhà đàm phán cứng cỏi và thấm nhuần sâu xa như với ý nghĩa của câu tiếng Pháp amour propre (i.e. lòng tự  trọng) (ông ta sau này trở nên nổi bật trong giới ngân hàng quốc tế), một Sainteny phong nhã thực sự ưu thích Hồ Chí Minh và cảm thấy rằng, nơi trái tim, ông Hồ là người Pháp sành điệu. Ông ta được tháp tùng bởi cố vấn chính trị của mình, ông Pignon, một quan chức thuộc địa chuyên nghiệp vốn đã từng phục vụ ở Đông Dương trước Thế Chiến thứ II và không thể hủy bỏ cam kết khôi phục chủ quyền của Pháp. Ông Hồ được gia nhập bởi Bộ trưởng Bộ Văn hóa Hoàng Minh Giám. Chỉ thị của ông Sainteny là có được thỏa thuận của ông Hồ cho sự trở lại Bắc Bộ của lực lượng quân sự Pháp, nơi vào khoảng 30.000 công dân Pháp vẫn định cư, trong sự trao đổi cho sự cam kết của Pháp mang lại việc ra đi của đội quân chiếm đóng của Trung Quốc. Tướng Leclerc đã có ở Nam Bộ một quân lực khoảng 8.000 người, trong đội hình của Sư đoàn Thiết giáp Thứ hai có uy tín, vốn đã từng đóng một vai trò quan trọng trong việc chiếm lấy Normandy(pc 11) từ Đức.

Nhiệm vụ của ông Sainteny chắc chắn là một công việc tế nhị. Một cuộc xâm lược hoàn toàn sẽ gặp phải sự đối kháng gay gắt, không chỉ từ Việt Minh, mà còn từ đội quân chiếm đóng Trung Quốc, là những người đang thực hiện việc giải giới của 30.000 người Nhật với một sự thiếu quân đáng báo động khẩn cấp. Ông Sainteny do đó cần không chỉ để trấn an Hồ Chí Minh về ý định của Pháp, mà còn để đạt được sự dàn xếp với vị chỉ huy chiếm đóng Trung Quốc. Sau khi đưa ra những thực tế này, ông Sainteny mạnh mẽ khuyến cáo chính phủ mình chống lại việc sử dụng vũ lực: “Nếu chúng ta cố gắng phục hồi của chính phủ Pháp ở Bắc Kỳ bằng vũ lực,” ông cảnh cáo, “chúng ta phải được chuẩn bị hầu va chạm với sức đề kháng mạnh mẽ.” 12

Như ông ta sớm ngày càng nhận thức, ông Sainteny đã có một số lợi thế của riêng mình. Lực lượng quân sự Việt Minh vẫn yếu đuối đáng thương, và ông Hồ rất cần sự hỗ trợ của Pháp để tống khứ Trung Quốc. Đồng thời, không nước nào trong cả hai cường quốc chính của Đồng Minh, Liên Xô và Hoa Kỳ, đã thể hiện sự quan tâm qua những diễn tiến. Moscow thì bận tâm với tình hình chính trị đầy hứa hẹn ở Pháp, nơi mà Đảng Cộng sản Pháp dường như sắp sửa lên nắm quyền, và đã không phiền đến gởi một đại diện hoặc thậm chí một nhà quan sát đến Hà Nội. Washington, ngày càng quan tâm đến những triển vọng về sự thống trị của Liên Xô sau chiến tranh trên khắp Đông Âu,

p355

thì lo sợ về những triển vọng của một chính phủ cánh tả tại Paris và cố gắng trấn an người Pháp rằng nó không có tư tưởng về việc chống sự lại trở lại Đông Dương của họ.

Hồ Chí Minh để tâm đến những yếu tố này trong những cuộc hội đàm với ông Sainteny. Ngay từ đầu, ông ta thẳng thắng dẹp mối nghi ngờ trong việc bày tỏ vị thế mà, mặc dù mục tiêu dài hạn của mình là đạt được nền độc lập dân tộc toàn vẹn cho đất nước mình, ông ta sẵn sàng chấp nhận một sự sắp xếp vốn sẽ không mang lại điều đó trong nhiều năm. Trong lúc này, ông ta giải thích, chính phủ của ông ta sẵn sàng chấp nhận sự hiện diện của Pháp ở miền Bắc Việt Nam và số thành viên trong Liên hiệp Pháp, miễn là Paris đồng ý về mục tiêu cuối cùng của nền độc lập.

Tuy nhiên, những cuộc đàm phán không diễn tiến dễ dàng. Vấn đề là một phần câu hỏi về ngữ nghĩa học, mặc dù có những vấn đề thực sự bị đe dọa. Ông Hồ và những cố vấn của mình nhấn mạnh trên sự bao gồm điều khoản “độc lập” trong bất kỳ văn kiện cuối cùng, một điều khoản vốn đã bị chống lại một cách kiên quyết bởi chính phủ de Gaulle trở lại Paris. Trên chuyến trở lại Sài Gòn sau khi hội đàm với vị Tư lệnh của Bộ Chỉ huy Đông Nam Á (SEAC: Southeast Asia Command) Mountbatten tại Tích Lan, Tướng Leclerc cố gắng thu hẹp khoảng cách bằng cách đề nghị Paris sự khả dĩ về việc đưa ra một hình thức danh phận tự trị đối với Đông Dương sau chiến tranh (thuật ngữ tiếng Pháp, ông ta đề nghị là “autonomie”). Tuy nhiên, ông de Gaulle thì cứng rắn: “Nếu tôi nghe chuyện vô lý như vậy, chẳng bao lâu nước Pháp sẽ không còn là đế chế. Xin vui lòng đọc lại bản tuyên ngôn của tôi trong ngày 24 tháng Ba và tuân thủ trung thành với văn bản.” Khi đó vào tháng Mười, Đại sứ quán Mỹ ở Chongqing(pc 10) yêu cầu về bản tuyên ngôn mới về những ý định của Pháp ở Đông Dương, ông de Gaulle trả lời một cách xác nhận: “Điều không thể chấp nhận là chính phủ Pháp bây giờ nên ra một bản tuyên ngôn mới liên quan đến Đông Dương. Bản đó của tháng Ba là đủ. Một sự lặp lại sẽ chỉ làm phức tạp tình hình.”13

Trở ngại chính thứ hai là danh phận tương lai của Nam Bộ. Hồ Chí Minh yêu cầu rằng nó được bao gồm trong những cuộc thương thuyết với các khu vực khác của Bắc Bộ và An Nam, nhưng ông Sainteny, theo những mệnh lệnh từ Paris, khăng khăng rằng là một thuộc địa cũ, danh phận của Nam Bộ phải được xem như là khác biệt so những khu vực khác. Những người dân đang sống ở đó, ông lập luận, nên được cho phép để quyết định vận mệnh của riêng mình.

Những cuộc đàm phán diễn tiến trong nhiều tuần, khi hai bên co ro trong một căn phòng đầy khói thuốc, tranh cãi về ý nghĩa chính xác của những từ ngữ và nhóm chữ tiếng Pháp đặc biệt. Trong khi ông Sainteny hút ống điếu của mình, ông Hồ bập không ngừng những điếu thuốc của Trung Quốc, Mỹ, hoặc hiệu Gauloise có vị nồng của Pháp. Thỉnh thoảng, những cuộc đàm phán bị gián đoạn để cho Hồ Chí Minh có thể tham khảo ý kiến ​​với chính phủ, hoặc với cố vấn tối cao của mình, cựu hoàng Bảo Đại. Những mối quan hệ của Chủ tịch Hồ với “Công dân” Vĩnh Thụy quả thật khó hiểu đối với ông Sainteny và những nhà quan sát khác.

p356

Ông Hồ hay nhắc đến vị cựu hoàng bằng lời lẽ tôn kính, và có lần thậm chí đề nghị rằng cựu hoàng có thể trở thành quốc vương lập hiến của một nước Việt Nam trong tương lai. Một lần ông khiển trách cấp dưới vì nhắc đến Bảo Đại chỉ đơn giản như là “cố vấn”: “Anh bạn có thể xưng với ông ta như là ‘Hoàng thượng,’ như tôi làm,” ông la rầy.14

Như là vị cố vấn tối cao cho chính phủ Hà Nội, Bảo Đại tham gia thường xuyên trong những cuộc họp của nội các, và nhanh chóng tạo nên cảm giác như ở nhà, thậm chí bởi những thành viên của cái gi mà ông ta gọi là “lính canh thời xưa,” một nhóm những người thuộc loại cứng rắn như là Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu, là người đã từng sống ở Liên Xô và trải qua một thời gian đáng kể trong tù. Tại một bữa ăn tối được tổ chức ngay sau khi cuộc hẹn của mình, ông Hồ đã bảo đảm với Bảo Đại rằng “chúng ta sẽ làm việc cùng nhau cho nền độc lập của đất nước mình.” Lúc đầu, Bảo Đại có ấn tượng mạnh mẽ với vóc dáng mảnh dẻ và cách cư xử mềm mại của vị Chủ tịch mới, là người dường như thú vị nhiều về văn học và triết học Trung Quốc hơn là về những vấn đề chính trị, và trông qua và hành động giống như một học giả Nho giáo hoặc một nhà tu khổ hạnh trong làng hơn là một mật vụ Comintern (i.e. Quốc tế Cộng sản) hoặc là người đứng đầu nhà nước. Ông ta so sánh ông Hồ có vẻ ưng ý hơn so với những nhà quốc gia không-Cộng-sản vốn là những người theo những lời của ông ta, là “những con múa rối trong tay người Trung Quốc;” ông Hồ, trong những cuộc thương thuyết của riêng mình với các vị tư lệnh Trung Quốc, tìm cách giữ bình tĩnh. Cuối cùng, tuy nhiên, Bảo Đại nhìn thấy điều gì mà ông ta xem như là vẻ mặt thật của ông Hồ và của chính phủ ông ấy. Khi ông ta nghe nói về việc bắt giữ Phạm Quỳnh cựu thủ tướng của mình, và quan chức Công giáo nổi bật Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm, ông ta đã phản đối Hồ Chí Minh và yêu cầu cho sự phóng thích của họ cùng với những tù nhân chính trị khác. Nhưng ông Hồ bào chữa, bằng cách giải thích rằng nhân dân sẽ không hiểu điều đó. (Như được đề cập trước đó, cả hai cuối cùng bị hành quyết.)

Bảo Đại cuối cùng bắt đầu nghi ngờ rằng ông ta đang được dùng như là một con tốt để cung cấp cho chính phủ vầng hào quang của tính hợp pháp đối với người Mỹ. Vào tháng Mười, khi những căng thẳng giữa Việt Minh và những đối thủ quốc gia của họ bắt đầu nâng lên cao, ông ta được gởi đến tỉnh Thanh Hóa, được cho là vì sự an toàn của riêng mình. Trở lại sau khi sự hình thành của chính phủ liên minh lâm thời vào tháng Giêng, ông ta được bầu như là thành viên của Quốc hội mới. Trong suốt vài tuần kế đó, ông ta gia nhập với Hồ Chí Minh tại những buổi lễ Tết và vào nhiều dịp khác của nhà nước nhằm “trấn an dư luận,” như ông ta diễn đạt như một vị đế vương, “vì sự hiện diện của tôi.”15

* * *

Được trang bị bằng sự phê chuẩn của chính phủ liên minh mới, Hồ Chí Minh tiếp tục những cuộc thương thuyết của mình với ông Sainteny trong những tuần đầu của năm 1946. Lúc đầu, dường như là khoảng cách có lẽ quá rộng để nối nhịp. Điều như thế trong bất kỳ trường hợp nào là mối quan tâm của Kenneth Landon, một nhà ngoại giao Mỹ

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.
pc 02_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 03_ trung đội : gồm khoảng 26–55 người.
pc 04_ đại đội : gồm khoảng 80–225 người.
pc 05_ Lu Han : Lư Hán.
pc 06_ Chiang Kai-shek : Tưởng Giới Thạch.
pc 07_ Văn Miếu : là một đền thờ Khổng Tử ở Hà Nội, nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long trước đây thuộc miền Bắc Việt Nam. Ngôi đền được xây dựng vào năm 1070 thời vua Lý Nhân Tông. Trong đền có Quốc Tử Giám quốc gia, là trường đại học đầu tiên của Việt Nam; nó được thành lập nhằm giáo dục các con cháu của quan chức, quý tộc, hoàng gia và các thành viên khác của tầng lớp thượng lưu. Trường đại học vẫn còn mở cửa 1076–1779. Năm 1802, Chúa Nguyễn thành lập Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế, nơi mà họ thành lập một học viện đế quốc mới theo cách nhìn những người Cộng sản, đó cũng là nơi ông Hồ từng trải qua gần 2 năm học theo viện cậu ấm của quan chức triều đình.

pc 08_ VNQDĐ : Việt Nam Quốc dân Đảng.
pc 09_ Zhang Fakui : Trương Phát Khuê.
pc 10_ Chongqing : thành phố Trùng Khánh.
pc 11_ Normandy : là một khu vực địa lý tương ứng với vùng Đất Bá tước Normandy (Dutchy of Normandy). Lãnh thổ lục địa bao gồm 30.627 km² và hình thành nên một phần trội của Normandy và khoảng 5% lãnh thổ của Pháp. Nó được phân chia cho những mục đích hành chính thành hai khu vực : Phần dưới Normandy và Phần trên Normandy. Trong cuộc Thế Chiến thứ II, những cuộc đổ bộ ngày D trên những bãi biển Normandy dưới mật danh Chiến dịch Chúa tể, bắt đầu kéo dài Trận chiến Normandy mà nó tạo nên kết quả trong cuộc Giải phóng Paris, sự phục hồi của Cộng hoà Pháp, và là một bước ngoặt quan trọng trong chiến tranh.


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s