XI- Sự Tái Thiết và Đề Kháng (Phần 5-Hết)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p389

để báo cho ông ta về khả năng phục vụ như là người đứng đầu một chính phủ mới. Ông d’Argenlieu chỉ thị Tướng Jean-Etienne Valluy vào giữa tháng Mười tấn công một cách nhanh chóng trong tình huống mà những cuộc thương thuyết bị phá vỡ.

Đối với sự đe dọa của chiến tranh lúc bấy giờ sắp xảy ra, những lãnh đạo Đảng gia tăng thêm những cố gắng của họ để tạo dựng sự sẵn sàng của lực lượng vũ trang của họ. Một trong những nhu cầu chính của họ là có được những vũ khí hiện đại; trong suốt mùa thu năm 1946, chính phủ bắt đầu chuyển lậu súng vào trong nước này bằng đường biển từ Trung Quốc, kể từ khi biên giới đất liền đã bị phong tỏa một cách hiệu quả bởi người Pháp. Hải Phòng là một trong những bến cảng chính của lối vào cho matériel (i.e. nguyên liệu) được nhập lậu. Như là một điểm lối vào chính cho tất cả hàng hóa được nhập cảng vào trong VNDCCH (pc 02) (Bắc Việt), thành phố là, trên thực tế, trọng tâm của những cuộc thảo luận Pháp-Việt trong hàng tháng. Người Pháp đã đưa ra vấn đề của hải quan nhiều lần trong suốt các cuộc đàm phán tại Fontainebleau, kể từ khi thuế nhập cảng tạo thành một tỷ lệ phần trăm cao của tổng doanh thu ở thuộc địa Đông Dương. Nhưng nan đề đã không được giải quyết, và hiệp ước modus vivendi(pc 21) chỉ đơn thuần nói rằng vấn đề sẽ cần nghiên cứu thêm. Ở Sài Gòn, ông d’Argenlieu đã thiếu kiên nhẫn trước sự thất bại để giải quyết vấn đề, và vào ngay ngày mà thỏa thuận tạm thời được ký kết ở Paris, ông ta ra lệnh cho ông Morlière nắm quyền kiểm soát hải quan từ Việt Nam vào lúc cơ hội sớm nhất của mình.

Trong đầu tháng Mười, lực lượng quân đội Pháp cuối cùng đã thực sự chiếm cơ sở hải quan tại Hải Phòng và trục xuất những quản trị viên Việt Nam. Trước khi sự kiện kết thúc, Quốc hội của VNDCCH (Bắc Việt) phản đối hành động này, khẳng định chủ quyền của Việt Nam kiểm soát tất cả những vấn đề có liên quan đến những thứ thuế của nhà hải quan. Trong thời điểm này, tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất vẫn là khả năng của chính phủ sử dụng thành phố Hải Phòng như một điểm lối vào cho những vũ khí được mua ở nước ngoài. Vào ngày 20 tháng Mười Một, tàu Hải quân của Pháp bắt giữ một thuyền vận chuyển của Trung Quốc đang mang hàng xăng dầu lậu thuế được cho là dành cho lực lượng vũ trang Việt Nam. Trong khi thuyền vận chuyển đang được kéo vào trong bến cảng, đội dân quân Việt Nam địa phương trên bờ bắn vào người Pháp, vốn là những người ngay lập tức phản ứng; việc chiến đấu lan ra nhanh chóng khắp thành phố. Lệnh ngưng bắn được đạt đến, nhưng hai ngày sau đó ông Valluy ra lệnh cho vị chỉ huy lực lượng Pháp ở Hải Phòng chiếm hết quyền lực trên thành phố và khôi phục an ninh trật tự. Vào ngày thứ 23, Đại tá Pháp Dèbes ban hành một tối hậu thư cho lực lượng Việt Nam chuyển khỏi khu nhà người Hoa của thành phố và bỏ xuống khí giới của họ. Khi lực lượng Việt Nam không trả lời, ông ta ra lệnh pháo kích khu nhà này của thành phố, giết chết hàng trăm thường dân. Sau đó, khoảng 2.000 quân Pháp đã xông vào khu vực, trong khi pháo binh của họ dập vào những phân khu nhỏ lân cận của thành phố để hóa giải vô hiệu phe phe đối lập. Tuy nhiên, người Pháp gánh chịu hỏa lực nặng nề từ lực lượng phòng vệ của Việt Nam, và cuộc chiến đấu trong thành phố tiếp tục trong nhiều ngày, cho đến khi lính Việt Minh cuối cùng từ bỏ trận chiến vào ngày 28 tháng Chín.64

p390

* * *

Biến cố tại Hải Phòng làm rung chuyển chính quyền Truman từ tính thờ ơ của nó nhìn về tình hình ở Đông Dương. Qua bức điện từ Hà Nội trong cùng một ngày, vị Lãnh sự Hoa Kỳ James O’Sullivan báo cáo rằng mặc dù Việt Nam đã khai hỏa trước, lực lượng Pháp đã gây nên biến cố bởi thái độ độc đoán của họ. Ở Paris, Đại sứ Caffery được chỉ thị ghi tên những người Mỹ bất hạnh qua tình hình cho những quan chức Pháp. Nhưng sự bực tức nầy đối với người Pháp được giảm đi bởi sự lo lắng đang trỗi lên trên cục diện chính phủ của Hồ Chí Minh bị cáo buộc là Cộng sản. Vào cuối tháng Mười Một, Đại sứ quán Mỹ ở Paris báo cáo rằng người Pháp đã có “bằng chứng đích thực” rằng ông Hồ đã từng nhận ý kiến và chỉ thị từ Moscow. Từ Sài Gòn, vị Lãnh sự Mỹ Charles Reed cảnh cáo rằng nếu Nam Bộ rơi vào Việt Minh, họ sẽ sớm bắt đầu tung ra công tác tuyên truyền và những hoạt động khủng bố ở Cam-pu-chia và Lào láng giềng, một mối nguy hiểm mà ông Reed đề nghị, đáng là một “sự chú rất kỹ lưỡng.” Đây chính là sự bày tỏ đầu tiên của một quan chức Hoa Kỳ về điều gì sẽ trở nên được biết đến như là “lý thuyết con bài domino.(pc 23)65

Vào cuối tháng Mười, Bộ Ngoại giao gởi Abbot Low Moffat, Giám đốc của Phòng Nội vụ Đông Nam Á, đến Đông Dương để đánh giá tình hình toàn diện và báo cáo về bản chất cơ bản của chính phủ Hà Nội. Ông Moffat là một người ủng hộ thẳng thắn trong Bộ Ngoại giao về nguyên nhân độc lập Việt Nam, và ông ta được hướng dẫn để bảo đảm Hồ Chí Minh rằng Hoa Kỳ ủng hộ những điều khoản của hiệp ước ngày 6 tháng Ba và cảm thông đối với sự cố gắng của chính phủ của ông Hồ “để đạt được quyền tự chủ lớn hơn trong khuôn khổ của những thể chế dân chủ.” Tuy nhiên, ông Moffat cũng được yêu cầu để cảnh cáo Hồ không sử dụng vũ lực để tìm kiếm những mục đích của mình, và thúc giục ông ta chấp nhận một giải pháp thỏa hiệp về danh phận Nam Bộ. Như là một phương cách khuyên can những lãnh đạo Việt Nam từ hành động thiếu khôn ngoan, ông Moffat bảo đảm với họ rằng chính phủ Pháp đã từng cam kết tuân thủ theo hiệp ước Ho-Sainteny và không có ý định khôi phục chính quyền thực dân trên Đông Dương.

Ông Moffat đến Sài Gòn vào ngày 03 tháng Mười Hai, và sau những cuộc thảo luận với các quan chức Pháp, đi đến Hà Nội vào ngày thứ bảy. Vị Lãnh sự O’Sullivan đã báo cáo rằng ông Hồ cảm thấy “đơn độc một cách tuyệt vọng” và đề nghị rằng sự quảng bá cho chuyến thăm viếng sắp đến của ông Moffat có thể làm mạnh thêm vị thế của Tổng thống đối với những đối thủ của mình. Mặc dù ông Hồ bị bệnh trầm trọng (có lẽ từ sự tái phát bệnh lao của ông ta), ông ta mời ông Moffat đến Dinh Bắc cho một cuộc thảo luận. Trong cuộc trò chuyện, ông Hồ cố gắng trấn an người khách viếng mình rằng mục tiêu chính của ông ta không phải là chủ nghĩa Cộng sản, nhưng là nền độc lập. Như là một điều xui khiến cho sự ủng hộ của Hoa Kỳ, ông ta lặp đi lặp lại lời đề nghị trước đó của ông về căn cứ hải quân Hoa Kỳ ở vịnh Cam Ranh.

p391

Ông Moflat, tuy nhiên, đã đến mà không có hướng dẫn nào vào thời điểm đó, như ông ta mô tả sự kiện đó nhiều năm sau đó trong buổi điều trần trước Quốc hội, ông ta “thực sự không thể nói bất cứ điều gì”, và cuộc trò chuyện kết thúc mà không có bất kỳ kết quả cụ thể nào. Ông Moffat đã thực sự bày tỏ thái độ hoài nghi của ông ta rằng Hoa Kỳ có bất kỳ quan tâm đến vịnh Cam Ranh và lưu ý rằng Hoa Kỳ không thể tham gia vào những quan hệ ngoại giao với Việt Nam cho đến khi danh phận của Việt Nam đã được quyết định trong các cuộc đàm phán với Pháp.

Sau khi ông Moffat đến Đông Dương, Bộ Ngoại giao đã phát thảo những hướng dẫn xa hơn cho ông ta để đánh giá sức mạnh tương đối của những phần tử Cộng sản và không-Cộng-sản trong chính phủ Việt Nam. Bộ Ngoại giao gởi một điện thư đến Sài Gòn cho biết rằng sự xuất hiện tại Hà Nội của một chính phủ được thống trị bởi những người Cộng sản và có chiều hướng về phía Liên Xô sẽ là “một kết quả sẽ xảy ra ít mong muốn.” Khi vỡ lẽ ra, ông Moffat không nhận được điện thư đó cho đến khi ông đang rời khỏi Đông Dương, nhưng trong báo cáo của ông ta về cuộc trò chuyện của mình với Hồ Chí Minh, ông ta đã thực sự đưa ra sự đánh giá của riêng mình trên cán cân lực lượng hiện thời ở Hà Nội. Chính phủ Việt Nam, ông ta cảm thấy, thì dưới sự kiểm soát của những người cộng sản và có thể qua tiếp xúc trực tiếp với cả Moscow và ĐCSTQ.(pc 24)Đồng thời, ông ta cảm nhận một sự chia rẽ giữa những phần tử tương ôn hòa và giáo điều chung quanh Hồ Chí Minh và những phe cứng rắn, như Võ Nguyên Giáp, vốn là người mang lòng hận thù tim gan đối với người Pháp. Ông Moffat kết luận rằng trong thời gian hiện tại một số chừng mực nào đó về sự hiện diện của Pháp thì không tránh khỏi, không chỉ là một phương cách hạn chế ảnh hưởng của Liên Xô, mà còn là để bảo vệ khu vực từ một cuộc xâm lược có thể của Trung Quốc. Vì thế, ông ta đề nghị Hoa Kỳ ủng hộ cho sự dàn xếp trước khi những triển vọng cho một kết quả thỏa đáng cho người Pháp xấu đi hơn nữa.

Sự quan sát của ông Moffat mà những người thuộc nhóm ôn hòa và phe cứng rắn trong chính phủ có những sự khác biệt nghiêm trọng, được lập lại trong những lời bình luận của những nhà quan sát ngoại quốc khác ở  Hà Nội. Nhà báo người Pháp Philippe Devillers cũng báo cáo một bộ phận trong giới lãnh đạo Việt Minh giữa ông Hồ và những thành phần có tính chất quân sự hơn như là ông Giáp và Hoàng Quốc Việt, bản thân ông Hồ thường van nài Pháp và những quan chức Tây phương khác ủng hộ những cố gắng của ông ta chống lại những đối thủ mình. Những người hoài nghi cười nhạo những báo cáo như thế, tuyên bố rằng ông Hồ vận dụng những tin đồn nầy nhằm mục đích giành lấy những vùng nhượng bộ khỏi người Pháp. Mặc dù cuộc tranh luận đã không được giải quyết, một bằng chứng hiện hữu cho thấy rằng trong khi một số thành viên của Đảng rõ ràng là cứng đầu đối với ý muốn của những người lãnh đạo của họ để đạt được một thỏa hiệp, một Hồ Chí Minh lanh trí sử dụng một cách khéo léo những sự khác biệt như thế để lợi dụng những nỗi sợ hãi của những kẻ thù mình. Như đối với nhận xét của ông Moffat về khả năng ảnh hưởng của Liên Xô trên VNDCCH(pc 02)(Bắc Việt), những liên kết giữa Moscow và ĐCSĐD(pc 01) đã hầu như không còn tồn tại kể từ khi bắt đầu Thế Chiến thứ II, và ông Hồ và những cộng sự viên mình

p392

bị hạn chế học hỏi về quan điểm của Liên Xô chỉ qua những đối tác của họ trong ĐCSP.66

Mối lo ngại qua sự đe dọa bị cáo buộc về chủ nghĩa cộng sản trong khu vực đã bất ngờ nổi lên như là một sức mạnh chính trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, khi cuộc nội chiến ở Trung Quốc hun nóng lên. Giống như nhiều chuyên gia Đông Nam Á, ông Moffat ngày càng lo ngại rằng sự sợ hãi về chủ nghĩa Cộng sản đang dẫn đến chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ lánh xa sự ủng hộ truyền thống của nó cho những khát vọng dân tộc trong khu vực, và ông ta đã nói lên những mối quan tâm đó trong Bộ Ngoại giao. Tuy nhiên, đối với sự kinh ngạc của ông Moffat, điều thực tế là báo cáo của ông ta đã từng nhắc đến bản chất Cộng sản của chính phủ ở Hà Nội vốn đã gây nên ảnh hưởng ở Washington. Trong một thông tư được gởi cho cơ quan Hoa Kỳ trên khắp thế giới vào ngày 17 tháng Mười Hai, Bộ nhắc lại những lời phê bình của ông ​​Moffat về bản chất Cộng sản của chính phủ Việt Nam và kết luận rằng sự hiện diện của Pháp trong khu vực thì quan trọng, “không chỉ như là [một] liều thuốc giải độc đối với ảnh hưởng của Liên Xô, mà còn để bảo vệ Việt Nam và Đông Nam Á từ chủ nghĩa đế quốc của Trung Quốc trong tương lai.”67

* * *

Ông d’Argenlieu đến Pháp vào ngày 13 tháng Mười Một để tìm kiếm thêm lực lượng cho một chiến dịch ngăn ngừa trước như có thể chống lại lực lượng Việt Minh ở phía bắc, nhưng khi ông ta phát hiện qua chuyến đi đến Paris của ông, chính phủ Pháp vẫn chưa sẵn sàng từ bỏ một giải pháp chính trị. Những cuộc bầu cử quốc gia vừa trả lại đa số cánh tả và Georges Bidault đang chuẩn bị từ chức qua sự ủng hộ một chính phủ được dẫn đầu bởi những người Xã hội. Ông Bidault hứa với ông d’Argenlieu rằng quân tiếp viện sẽ cuối cùng được làm cho sẵn sàng để dùng, nhưng ông ta cảnh cáo rằng Đông Dương không thể được bảo toàn chỉ bằng vũ lực. Những hướng dẫn xa hơn, ông ta nói, phải chờ đợi sự hình thành của một chính phủ mới. Để chuyển tải thông điệp của mình, Paris một lần nữa nhờ đến Jean Sainteny như là một trong số ít quan chức Pháp là người có lẽ vẫn có thể ngăn chặn sự trôi dạt về phía chiến tranh. Được bổ nhiệm làm Thống đốc với quyền hạn của đặc sứ ủy nhiệm toàn quyền để thay thế Tướng Morlière, ông Sainteny rời khỏi Paris đến Nam Bộ vào ngày 23 tháng Mười Một, một vài giờ sau biến cố Hải Phòng. Sau một vài ngày ở Sài Gòn (theo yêu cầu của ông Valluy, là người muốn miễn thứ ông ta khỏi có trách nhiệm cho Hải Phòng), ông ta đến Hà Nội vào ngày 02 tháng Mười Hai. Trong túi ông ta là những hướng dẫn từ ông d’Argenlieu, vốn vẫn còn ở Paris:

Danh dự quân đội đã từng được cứu, uy tín của Pháp được phục hồi và nâng cao, đó sẽ là một chính sách sai lầm để áp đặt những điều kiện lộn xộn quá đáng.
Từ nay trở đi điều cần thiết là không nên đi quá xa trong việc cưỡng buộc Hồ Chí Minh và chính phủ của ông ta dùng đến biện pháp tuyệt vọng. Vì lý do này

p393

Tôi xem như là non nớt và không thích hợp việc xếp đặt lại của bạn trong sự thay thế toàn bộ chính phủ, vì nó sẽ được hiểu như là một sự khiêu khích có chủ ý biệu hiện sự trở lại với những phương pháp mạnh mẽ.

Những hướng dẫn đó đã được làm vững chắc hơn bởi ông Valluy, là người cố gắng thuyết phục ông Sainteny làm hết sức mình để tăng cường lực lượng ôn hòa nhằm tạo những điều kiện cho những cuộc thương thuyết. Có lẽ, ông Valluy nhận xét, ông Hồ không muốn có chiến tranh.

Do bệnh yếu, Hồ Chí Minh đã không gặp ông Sainteny tại phi trường, nhưng tiếp nhận ông ta ngày hôm sau. Đội quân mới của Pháp vừa mới đến bến cảng Đà Nẵng trong sự mâu thuẫn đối với hiệp ước giữa Pháp và Việt Nam, do đó khơi dậy những nghi ngờ rằng người Pháp đang có kế hoạch tấn công. Nhưng ông Hồ đã được thông báo về tình hình chính trị đang thay đổi ở Pháp bởi Hoàng Minh Giám, là người đã khuyên ông ta hòa giải tạm thời nhằm mục đích chờ đợi sự hình thành của một chính phủ mới ở đó. Theo ông Sainteny, ông ta và ông Hồ không tiến hành những cuộc thảo luận hệ trọng, nhưng tự hạn chế đến việc thảo luận sức khỏe của ông Hồ và chuyến đi về nhà từ Paris của ông ta. Ông Sainteny không có thông tin liên lạc hơn nữa từ ông Hồ trong nhiều ngày sau đó, đưa đến ông ta tự hỏi liệu vị Chủ tịch vẫn còn giữ được quyền tự do hành động trong việc quyết định chính sách cho chính phủ của ông ta. Trong suốt khoảng thời gian này, ông Sainteny không nhận được hướng dẫn nào thêm từ Paris, và do đó không thể tiến hành những cuộc thương thuyết hệ trọng ngay cả khi Hồ Chí Minh muốn ông ta bắt đầu. Trong khi ông Sainteny đang chờ đợi, một chính phủ mới dưới quyền người lãnh đạo Đảng Xã hội Léon Blum nhậm chức.68

Một chủ đề mà ông Hồ và ông Sainteny rõ ràng đã thực sự thảo luận là thành phần của chính phủ mới của Việt Nam. Ông Sainteny yêu cầu việc loại bỏ những người cấp tiến từ nội các, và ông ta ghi lại cảm tưởng của mình rằng chính ông Hồ muốn tránh một sự tuyệt giao. Tuy nhiên, ông ta nói, khó có thể nói bao nhiêu ảnh hưởng mà Hồ Chí Minh vẫn vận dụng trên những cộng sự viên mình. Ông Sainteny nói với ông O’Sullivan rằng Paris không có sự phản đối nào đối với sự duy trì chức vụ của ông Hồ, nhưng rắng trừ khi những phần tử cấp tiến từ chức, người Pháp được chuẩn bị để thực hiện “hành động cảnh sát ” để lấy họ ra. Nhưng ông Sainteny thừa nhận rằng những triển vọng về tách biệt ông Hồ ra khỏi những dân quân trong Đảng thì mỏng manh. Ông ta bày tỏ niềm hy vọng rằng bất kỳ hành động cảnh sát nào của Pháp có thể là một thành công nhanh chóng, nhưng ông O’Sullivan thí nghi ngờ, sau khi báo cáo đến Washington rằng “Hành động để giải thoát đất nước [của] Việt Minh sẽ, tôi lo sợ, vượt hơn một cách rất xa công việc của cảnh sát và sẽ mất nhiều thời gian hơn là ngắn mà ông Sainteny nhìn thấy trước.”69

* * *

Vào giữa tháng Mười Hai, Hồ Chí Minh đã gởi một thông điệp đến Thủ tướng Blum mà qua đó ông ta đề nghị những ý tưởng cụ thể hầu làm giảm bớt những căng thẳng ngày càng tăng giữa hai nước. Nhưng ông Hồ và những cộng sự viên mình không có ý tin tưởng vào một giải pháp chính trị.

p394

Ông đã tham khảo ý kiến ​​với Võ Nguyên Giáp và những lãnh đạo quân sự khác về nhu cầu để thực hiện những chuẩn bị cho chiến tranh. Vào tháng Mười, Ủy ban Trung ương của ĐCSĐD,(pc 01) hiện nay đang hoạt động hoàn toàn trong bí mật, đã thành lập một Ủy ban Quân sự Trung ương mới để cung cấp vai trò lãnh đạo của Đảng trên lực lượng vũ trang. những ủy viên Đảng đã được giao cho những vị trí chủ chốt trong quân đội và những ủy ban Đảng được thành lập trong các quân khu khác nhau. Toàn bộ hoạt động được đặt dưới sự chỉ huy của một sĩ quan đầy hứa hẹn có tên là Văn Tiến Dũng, sau này được nổi tiếng như là người chỉ huy cuộc tấn công cuối cùng vào Sài Gòn trong mùa xuân năm 1975.

Trong suốt mùa thu, những sự chuẩn bị về quân gia tăng hơn. Quân đội, bây giờ được đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã được mở rộng. Theo những nguồn tin Pháp, vào cuối mùa hè Việt Minh đã tổ chức 35 bộ binh, ba trung đoàn pháo binh, với một lực lượng tổng cộng khoảng 60.000 quân, thêm vào hơn 12.000 đang chiến đấu ở Nam Bộ. Số thành viên trong lực lượng dân quân địa phương và những đơn vị du kích đã đạt được gần một triệu. Những làng mạc dưới sự kiểm soát của chính phủ khắp cả nước được hướng dẫn để thực hiện những chuẩn bị cho việc tự vệ như là “những làng chiến đấu.” Những vũ khí, tuy nhiên, vẫn trong tình trạng cung cấp thiếu hụt (theo một nguồn tin Pháp, Việt Nam có khoảng 35.000 khẩu súng trường, 1.000 vũ khí tự động, và 55 khẩu đại bác), vì thế một cố gắng lớn được cam kết để thành lập những xưởng vũ khí ở các khu vực an toàn của Bắc Việt. Được thông báo bởi Võ Nguyên Giáp rằng Hà Nội có thể được giữ lấy chỉ khoảng một tháng, ông Hồ ra lệnh những cuộc chuẩn bị cho một trụ sở chính của khu căn cứ mới tại Tân Trào, một chỗ của điểm tấn công cho cuộc Cách mạng Tháng Tám.70

Sau biến cố kiện ở Hải Phòng, tình hình trở nên thậm chí cấp bách hơn, và một ủy ban đặc biệt của Đảng bắt đầu lên kế hoạch cho việc bảo vệ Hà Nội, nhằm mục đích cho phép thời gian cho việc di tản chính phủ vào trong dãy núi gần đó. Có một ít đội quân chính phủ tại Dinh Bắc và tại một trại quân gần đó, nhưng hầu hết sức mạnh quân đội Việt Nam trong khu vực được đặt tại những vùng ngoài của thủ đô. Để bù đắp, đã có gần 10.000 dân quân chiến đấu và những đội thanh niên tấn công ở ngay trong thành phố. Được cấu thành bởi những người ủng hộ trẻ nhiệt tình nhất của cách mạng, những nhóm này được trang bị chủ yếu bằng những vũ khí tự chế và đeo những phù hiệu hình vuông với một ngôi sao vàng rực ở giữa. Được dàn trận chống lại họ như là những đối thủ tiềm năng là nhiều ngàn lính Lê dương Pháp, hầu hết đóng trong Thành Nội; phần còn lại được phân tán tại những địa điểm khác, như là bệnh viện Dồn Thủy (i.e. bệnh viện quân sự sau nầy), Dinh thự của cựu Toàn quyền (i.e. Bắc Bộ Phủ), trạm xe lửa, Ngân hàng Đông Dương, cầu Paul Doumer (i.e. cầu Long Biên sau nầy), và ở mặt phía đông dòng sông, phi trường Gia Lâm.

p395

Khi sự kiện phòng thủ thành phố đang tiếp tục diễn ra (Ủy ban Quốc gia Việt Minh kêu gọi những chuẩn bị như thế hàng ngày trên báo Cứu Quốc), những cơ quan chính phủ đã được chuyển lén lút từng cái một đến những địa điểm được chuẩn bị bên ngoài thành phố. Bên trong thủ đô, đội quân chính phủ bắt đầu dựng lên các rào chắn, và đội quân Pháp phản ứng bằng cách tăng cường những phòng thủ của riêng mình. Vào ngày 06 tháng Mười Hai, Hồ Chí Minh van nài công khai đến lực lượng Pháp rút quân của họ về những vị trí mà họ giữ lấy trước ngày 20 tháng Mười Một, nhưng ông ta không nhận được câu trả lời. Trong một cuộc phỏng vấn với một nhà báo Pháp ngày hôm sau, ông ta nhấn mạnh rằng chính phủ Việt Nam hy vọng tránh khỏi chiến tranh, mà nó có thể áp đặt sự đau khổ khủng khiếp trên cả hai quốc gia. “Nhưng nếu chiến tranh được áp đặt lên chúng tôi,” ông ta nói, “chúng tôi sẽ chiến đấu hơn là từ bỏ những quyền tự do của chúng tôi.”71

* * *

Vào thời gian này, tuy nhiên, Tướng Valluy đã kết luận rằng Hồ Chí Minh không có ý định loại bỏ những phần tử cấp tiến từ chính phủ mình, và ông ta van nài Paris bật đèn xanh cho phép dùng đến hành động kiên quyết ngay sau khi quân tiếp viện đến, cảnh cáo rằng việc trì hoãn quá cuối năm có thể là thảm họa đối với vận may của Pháp ở Đông Dương. Tuy nhiên, Thủ tướng mới, Léon Blum, thì do dự dùng đến hành động quân sự, ngày 12 tháng Mười Hai, ông ta công bố ý định của mình để giải quyết sự tranh chấp Đông Dương bằng những cách mà chúng sẽ ban cho nền độc lập Việt Nam. Ba ngày sau đó, Hồ Chí Minh đưa ông Sainteny một thông điệp cho nhà lãnh đạo mới của Pháp, với những lời đề nghị cụ thể về làm cách nào giải quyết tranh chấp. Ông Sainteny gởi nó bằng điện tín đến Sài Gòn, yêu cầu nó được chuyển đến Paris.72

Có hay không những lãnh đạo Việt Nam bám lấy bất kỳ hy vọng rằng sự hình thành của một chính phủ Xã hội ở Paris có thể dẫn đến việc dàn xếp chính trị thì không chắc chắn. Theo lời tường thuật của riêng Võ Nguyên Giáp, ông ta tuyên bố một cách khẳng định rằng mặc dù một số công bố của ông Blum thì tiến bộ trong bản chất, ông ta thực sự là một công cụ của Hoa Kỳ và của những lợi ích kinh doanh của Pháp, và là một đối thủ hiến dâng của ĐCSP.(pc 15) Như để xác nhận những nghi ngờ của ông Giáp, ông Blum từ chối chọn lựa bất kỳ người Cộng sản nào cho nội các mới của mình, trong khi tái phê chuẩn Thierry d’Argenlieu như là Cao ủy cho Đông Dương. Mặt khác, một cuộc họp nội các được kêu gọi để thảo luận về yêu cầu của ông d’Argenlieu cho quân tiếp viện và hành động quân sự cấp bách chống lại người Việt Nam không đạt được quyết định nào về một trong hai vấn đề, và Bidault cảnh cáo ông Valluy trong một thông tư rằng ông ta không nên dựa vào quân tiếp viện và nên cố gắng đối phó với tình hình mà không cần đến bạo động.

Ông Valluy, là người chia sẻ quyết tâm của ông d’Argenlieu hầu duy trì sự hiện diện của Pháp ở Đông Dương, đã quyết định rằng điều cần thiết để khích động một sự tuyệt giao với Hà Nội nhằm mục đích khởi đầu chiến sự và trình bày cho Paris bằng  fait accompli (i.e. một việc đã rồi).

p396

Vào ngày 16 tháng Mười Hai, ông ta ra lệnh cho Tướng Morlière (là người tiếp tục thực hiện nhiệm vụ quân sự ở miền Bắc Việt Nam sau chuyến trở lại của ông Sainteny) phá hủy những rào chắn được dựng lên bởi các đơn vị Việt Minh trong thành phố. Khi thông điệp của Hồ Chí Minh cho ông Blum đến Sài Gòn, ông Valluy thêm vào lời chú thích chua cay của riêng mình, cảnh cáo rằng đó sẽ là một điều nguy hiểm để trì hoãn hành động quân sự cho đến khi năm mới. Điện thư không đến Paris cho đến ngày thứ mười chín. Đến lúc đó thì quá trễ.73

Vào ngày 17 tháng Mười Hai, những xe bọc thép của Pháp mạo hiểm vào trong những đường phố của Hà Nội để phá hủy những công sự tạm thời được dựng lên bởi những đơn vị Việt Minh trong những ngày trước, trong khi lính Lê dương nằm dọc những con đường từ Thành Nội đến cầu Paul Doumer,(pc 25) trên đường đến phi trường. Lực lượng dân quân Việt Nam không phản ứng gì, vì vậy vào sáng hôm sau, chính quyền Pháp đã ban hành một tối hậu thư rằng không có vật cản cần phải được dựng lên trên những con đường của thành phố. Một tối hậu thư thứ hai được ban hành chiều hôm đó tuyên bố rằng, bắt đầu từ ngày thứ 20, những đơn vị quân đội Pháp sẽ chịu  trách nhiệm về an ninh công cộng khắp thủ đô. Đáp lại, vào chiều tối đó những đơn vị Việt Nam bắt đầu đóng tất cả tuyến đường vào trong thành phố từ những vùng ngoại ô. Sáng hôm sau, một tối hậu thư thứ ba từ chính quyền Pháp yêu cầu rằng chính phủ Việt Nam chấm dứt tất cả những chuẩn bị cho chiến tranh, giải tán tất cả những đơn vị dân quân, và bàn giao an ninh trong khu vực thủ đô cho chính quyền Pháp.

Đối với dân Việt Nam, tình hình làm nhớ lại một cách đáng sợ về những sự kiện tháng trước, khi Đại tá Dèbes đã ban hành những đòi hỏi tương tự trước khi vụ thả bom Hải Phòng. Vào buổi sáng ngày 18 tháng Mười Hai, Hồ Chí Minh ban hành một chỉ thị để phát động những chuẩn bị cho cuộc tấn công vào những cơ sở Pháp ngày hôm sau. Đồng thời, sợ rằng thông điệp của mình có thể không đạt đến Thủ tướng Blum, ông ta gởi một bức điện tín trực tiếp tới Paris. Sáng hôm sau, ông ta viết một bức thư ngắn đến Jean Sainteny, và trao nó cho Cố vấn Chính sách Đối ngoại của mình, Hoàng Minh Giám, để truyền đi: “Tình hình đã trở nên căng thẳng hơn một ít ngày cuối nầy. Điều này thì rất đáng tiếc. Trong khi chờ quyết định từ Pari, tôi hy vọng rằng, cùng với ông Giám, sẽ tìm thấy một giải pháp nhằm mục đích cải thiện bầu không khí hiện tại.”74

Với giọng điệu gần như vắn tắt của bức thư, dường như rất nghi ngờ rằng Hồ Chí Minh mong đợi một phản ứng hữu ích. Thực ra, ông Sainteny đã vửa mới gởi cho Hồ Chí Minh một thông điệp dài hơn cùng buỗi sáng, phàn nàn về những sự khiêu khích của Việt Nam vốn đã dẫn đến cái chết hoặc thương vong của nhiều thường dân Pháp và yêu cầu rằng những thủ phạm bị trừng phạt ngay lập tức. Ông Sainteny, là người dường như đã được báo cho biết về quyết định của ông Valluy nhằm khích động một cuộc xung đột, đã từ chối gặp ông Giám, bằng cách nói rằng ông ta sẽ tiếp nhận được ông Giám vào buỗi sáng mai.75

Được thông báo bởi bí thư của mình, ông Vũ Kỳ, rằng ông Sainteny đã từ chối tiếp kiến

p397

Hoàng Minh Giám, ông Hồ soạn thảo một chỉ thị kêu gọi cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Đảng. Ngay sau đó, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, và Võ Nguyên Giáp gặp gỡ với Hồ Chí Minh, là người tuyên bố rằng trong những hoàn cảnh hiện tại, đó là điều không thể xảy ra để thực hiện những nhượng bộ xa hơn nữa. Những cộng sự viên của ông ta đồng ý về sự cần thiết để huy động toàn bộ đất nước tiến hành một cuộc chiến tranh kháng chiến trường kỳ chống Pháp. Trường Chinh được giao trách nhiệm soạn thảo bản tuyên bố kêu gọi cho một cuộc chiến tranh “kháng chiến toàn quốc” (toàn diện kháng chiến), trong khi ông Giáp được hướng dẫn để chuẩn bị nhằm mục đích khởi đầu chiến sự. Nhóm sau đó xem xét lời kêu gọi gởi cho quần chúng mà Hồ Chí Minh đã soạn thảo chiều hôm đó và đề nghị một vài thay đổi trong cách dùng từ. Sau khi định thời gian cho cuộc tấn công lúc tám tối hôm đó, cuộc họp chấm dứt.76

Đầu buỗi chiều tối trong ngày, 19 tháng Mười Hai, Jean Sainteny chuẩn bị rời khỏi văn phòng về nhà riêng của mình. Giống như mọi người khác trong thành phố, ông ta nhận thức về những căng thẳng đang trỗi lên, và dự kiến chiến sự sẽ nổ ra giữa hai bên vào bất cứ lúc nào. Một gián điệp đã cảnh cáo ông ta rằng một cuộc tấn công của Việt Nam thì sắp xảy ra. Nhưng khi đồng hồ tại bệnh viện Yersin (i.e. bệnh viện Việt Đức sau nầy) gõ tám tíếng, ông ta đưa ra nhận xét với một cộng sự viên, “Rõ ràng không phải là tối nay. Tôi sẽ về nhà.” Vừa khi ông Sainteny bước vào xe mình, ông ta nghe một tiếng nổ bị hãm lại, và những con đường ngay lập tức rơi vào bóng tối. Ông Sainteny vội vã về nhà mình và leo vào trong một chiếc xe bọc thép mà Tướng Morlière đã gởi đi để chở ông ta đến Thành Nội. Trên đường đi, tuy nhiên, chiếc xe đụng phải mìn, và ông Sainteny bị thương nặng. Trong hai giờ kế đó, ông ta nằm
chảy máu trên đường phố, được bao quanh bởi xác chết và những người bạn đang chờ chết.77

Theo kế hoạch của họ, dân quân Việt Nam đã mở chiến dịch của họ bằng một cuộc tấn công bất ngờ vào nhà máy điện thành phố. Sau đó, những đơn vị lực lượng dân quân phát động những cuộc tấn công vào các cơ sở của Pháp khắp thành phố, trong khi những toán khủng bố đi lang thang qua khu người Âu châu tấn công những thường dân. Ông Giáp có ba sư đoàn lực lượng chính quy gần trường đua ở vùng ngoại ô phía tây nam thành phố và bên cạnh Le Grand Lac (bây giờ là Hồ Tây), nhưng ông ta quyết định không sử dụng chúng khi chưa đúng lúc.

Lực lượng Pháp bị bất ngờ bởi quy mô của những cuộc tấn công, nhưng vào chiều tối muộn, quân Pháp đã bắt đầu thiết lập sự kiểm soát của họ trên những phần trung tâm của Hà Nội. Một đơn vị Pháp tấn công Dinh Bắc, và Hồ Chí Minh khó có thể trốn thoát một cách gián tiếp. Chiến tranh Đông Dương Dầu tiên đã bắt đầu.

* * *

Những sự kiện vốn xảy ra ở Hà Nội vào ngày 19 tháng Mười Hai, làm dấy lên sự phẫn nộ ở Pháp, nơi mà nhiều người xem nó như là một cuộc tấn công vô cớ của Việt Nam vào những cơ sở và thường dân Pháp ở Đông Dương.

p398

Nhưng xem xét kỹ hơn vào bằng chứng cho thấy rằng vai trò của Pháp trong việc khinh suất cuộc xung đột là đáng kể. Mặc dù chính phủ ở Paris đã từng do dự có biện pháp quyết định mà nó có thể dẫn đến chiến tranh, những đại diện Pháp ở Đông Dương tự ý quyết định những vấn đề. Việc quyết định khích động sự tuyệt giao của Tướng Valluy được dựa trên ít nhất một phần nào về sự đánh giá của ông ta rằng Hồ Chí Minh không có thể, hoặc sẽ không, có hành động gì để kiểm soát những phần tử cấp tiến trong chính phủ mình. Nếu như vậy, ông ta suy tính, chiến tranh thì không thể tránh khỏi và đó là điều cần thiết để hành động trước khi những khả năng quân sự Pháp trong khu vực bắt đầu bị suy yếu. Tối hậu thư của ông ta vào ngày 17 tháng Mười Hai yêu cầu rằng VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt) giao lại tất cả nhiệm vụ an ninh trong thành phố cho chính quyền Pháp, rõ ràng đã được tính toán để khích động phản ứng.

Có phải chăng Hồ Chí Minh chân thành trong cố gắng mình để tránh một cuộc xung đột, hoặc là những cuộc vận động của ông ta được mưu tính chỉ là để hoãn lại ngày đang đếm để cho phép Hà Nội thực hiện những chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc đấu tranh quân sự? Đó là điều không cần thiết để chọn lựa giữa những cách nầy. Như là một đệ tử của Sun Tzu (i.e. Tôn Tử) nhà chiến lược quân sự Trung Quốc vào thế kỷ thứ tư, ông Hồ tin tưởng rằng chiến thắng hay nhất là một chiến thắng mà nó có thể được thắng mà không cần sử dụng lực lượng quân sự. Để có được một mục đích mà không cần bạo lực, trong số những phương pháp hiệu quả nhất là  (một lần nữa theo Sun Tzu) việc sử dụng ngoại giao và kỹ thuật tuyên truyền để phân chia đối phương và làm giảm khả năng của nó. Vào ngày 19 tháng Mười Hai, ông Hồ và các cộng sự viên mình đã kết luận rằng việc thỏa hiệp xa hơn nữa thì không thể xảy ra. Sự việc đã trở nên cần thiết để quyết định vấn đề trên chiến trường.78

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.
pc 02_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 03_ trung đội : gồm khoảng 26–55 người.
pc 04_ đại đội : gồm khoảng 80–225 người.
pc 05_ Lu Han : Lư Hán.
pc 06_ Chiang Kai-shek : Tưởng Giới Thạch.
pc 07_ Văn Miếu :  là một đền thờ Khổng Tử ở Hà Nội, nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long trước đây thuộc miền Bắc Việt Nam. Ngôi đền được xây dựng vào năm 1070 thời vua Lý Nhân Tông. Trong đền có Quốc Tử Giám quốc gia, là trường đại học đầu tiên của Việt Nam;  nó được thành lập nhằm giáo dục các con cháu của quan chức, quý tộc, hoàng gia và các thành viên khác của tầng lớp thượng lưu. Trường đại học vẫn còn mở cửa 1076–1779. Năm 1802, Chúa Nguyễn thành lập Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế, nơi mà họ thành lập một học viện đế quốc mới theo cách nhìn những người Cộng sản, đó cũng là nơi ông Hồ từng trải qua gần 2 năm học theo viện cậu ấm của quan chức triều đình.

pc 08_ VNQDĐ : Việt Nam Quốc dân Đảng.
pc 09_ Zhang Fakui : Trương Phát Khuê.
pc 10_ Chongqing : thành phố Trùng Khánh.
pc 11_ Normandy : là một khu vực địa lý tương ứng với vùng Đất Bá tước Normandy (Dutchy of Normandy). Lãnh thổ lục địa bao gồm 30.627 km² và hình thành nên một phần trội của Normandy và khoảng 5% lãnh thổ của Pháp. Nó được phân chia cho những mục đích hành chính thành hai khu vực : Phần dưới Normandy và Phần trên Normandy. Trong cuộc Thế Chiến thứ II, những cuộc đổ bộ ngày D trên những bãi biển Normandy dưới mật danh Chiến dịch Chúa tể, bắt đầu kéo dài Trận chiến Normandy mà nó tạo nên kết quả trong cuộc Giải phóng Paris, sự phục hồi của Cộng hoà Pháp, và là một bước ngoặt quan trọng trong chiến tranh.

pc 12_ CDvClHK : Cục Dịch vụ Chiến lược Hoa Kỳ (OSS: U.S. Office of Strategic Services).
pc 13_ Alsace-Lorraine :  là một lãnh thổ được tạo ra bởi Đế chế Đức vào năm 1871 sau khi sáp nhập hầu hết các khu vực Alsace Moselle của Lorraine sau chiến thắng của nó trong Pháp-Phổ chiến tranh. Lãnh thổ Alsace-Lorraine đế chế được tạo nên bằng 93% của dân Alsace (7% còn lại là Pháp) và 26% của dân Lorraine (74% còn lại là Pháp). Vì những lý do lịch sử, những bố trí pháp lý cụ thể vẫn được áp dụng trên lãnh thổ qua hình thức pháp luật địa phương. Về sự liên quan đến tình trạng pháp lý đặc biệt, kể từ khi sự trao trả của nó cho Pháp theo sau Thế Chiến thứ I, lãnh thổ đã được nhắc đến theo tính cách hành chính như là Alsace-Moselle.

Sau khi Pháp bị đánh bại vào mùa xuân năm 1940, Alsace và Moselle không bao giờ được chính thức sáp nhập vào Đức, tuy nhiên chúng được quản lý từ Berlin cho đến khi cuộc bại trận của Đức vào năm 1945, khi đó chúng được trở lại Pháp.

pc 14_ Separatist Basques : dường như tác giả dùng từ khá sai lầm qua danh từ ly khai vì vào thời điểm ông Hồ ở nhà người chị hay em gì đó của ông Sainteny, đó là thời kỳ của chính phủ Cộng hòa Tự trị Basque thuộc đảng PNV, không phải là thành phần được gọi là nhóm ly khai Basques như là đảng ETA khởi đầu từ năm 1959 mãi sau nầy.
Vào năm 1936, một phần chính của các nhóm dân chủ Tin Lành PNV đứng về phía Cộng hòa Tây Ban Nha Đệ nhị trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Sự hứa hẹn về quyền tự chủ được đáng giá trên những sự khác biệt về ý thức hệ, đặc biệt là trên vấn đề tôn giáo, và PNV quyết định ủng hộ chính phủ Cộng hòa hợp pháp, bao gồm thành viên của Mặt trận Quần chúng. Quyền tự chủ được ban cho vào tháng Muời năm 1936. Một chính phủ Cộng hòa Tự trị Basque được tạo ra, với José Antonio Agirre (PNV) như là vị Lehendakari (i.e. Chủ tịch) và những vị bộ trưởng từ nhóm PNV và các đảng phái cộng hòa khác (chủ yếu là những đảng phái cánh tả Tây Ban Nha).
Tuy nhiên, vào năm 1937, khoảng nửa chừng cuộc chiến tranh, quân đội Basque, sau đó dưới sự kiểm soát của Chính phủ Tự trị Basque đầu hàng trong một hành động được qua trung gian bởi nhà thờ Basque và Vatican ở Santoña (sau nầy được biết đến như là Phản quốc Santoña) cho những đồng minh Ý của Tướng Franco của chính phủ Basque trên điều kiện là kỷ nghệ nặng và nền kinh tế của Basque không được đụng vào. Trong suốt Thế Chiến thứ II, chính phủ lưu vong PNV cố gắng gia nhập Đồng Minh và định cư ở New York để được sự nhìn nhận và ủng hộ của Mỹ, nhưng ngay sau khi chiến tranh kết thúc, ông Franco trở thành một đồng minh của Mỹ trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh, làm mất đi bất kỳ cơ hội nào của đảng PNV cho quyền lực ở quốc gia Basque.
Vào năm 1959, một thanh niên thuộc quốc gia chủ  nghĩa thành lập một nhóm ly khai tên ETA, mà nó chẳng bao lâu ứng dụng đường lối chính trị cách mạng thuộc học thuyết Marx trong những năm 1960s. Được cảm hứng từ những phong trào như thế của Castro ở Cuba và Hồ Chí Minh ở Việt Nam, nhóm nhắm vào mục tiêu thành lập một quốc gia Basque độc lập xã hội chủ nghĩa qua bạo lực và tống tiền. Những vũ ám sát được xác nhận đầu tiên của ETA xảy ra vào năm 1968, từ đó về sau qua việc ứng dụng bạo lực, giết người được bao gồm, như là một chính sách (lý thuyết về hành động-đàn áp-hành động. Ở một mức độ ý thức hệ, thay vì chủng tộc, tổ chức nhấn mạnh tầm quan trọng về ngôn ngữ và phong tục. ETA là tổ chức chính của Phong trào Giải phóng Quốc gia Basque và là nhóm tham gia quan trọng nhất trong cuộc xung đột Basque. ETA tuyên bố ngừng bắn vào năm 1989, 1996, 1998 và 2006, nhưng sau đó đã phá vỡ chúng. Tuy nhiên, vào ngày 05 tháng Chín năm 2010, ETA tuyên bố một lệnh ngừng bắn mới vốn vẫn còn hiệu lực –hơn nữa, ngày 20 tháng Mười năm 2011 ETA tuyên bố “dứt khoát chấm dứt hoạt động vũ trang.”
Khi Tây Ban Nha lại nổi lên như một nền dân chủ vào năm 1978, quyền tự chủ được khôi phục cho dân Basques, là những người đạt được một mức độ tự-chính phủ mà không có tiền lệ trong lịch sử hiện đại Basque. Như vậy, dựa trên fueros (i.e. những điều khoản và điều lệ hợp pháp) và Điều lệ Tự chủ, Basques có cơ quan cảnh sát của họ và quản lý tài chánh công chúng của riêng họ với hầu như không có sự can thiệp nào từ chính quyền trung ương của Tây Ban Nha. Cộng đồng Tự trị Basque đã được dẫn dắt bởi đảng dân chủ dân tộc Tin Lành PNV kể từ khi nó được phục hồi vào đầu những năm 1980s cho đến năm 2009 khi đảng PSE đắc cử. Ở vùng Navarre , chủ nghĩa dân tộc Basque đã thất bại có được quyền kiểm soát của chính phủ thuộc Cộng đồng Tự trị, được cai trị bởi đảng UPN thường với sự hỗ trợ của đảng PSN, nhưng những đảng phái quốc gia Basque điều hành nhiều hội đồng nhỏ và trung bình. Mặc dù Pháp là một nhà nước tập trung, đảng quốc gia Basque duy trì một sự hiện diện trong một số thành phố qua các cuộc bầu cử địa phương.
Quốc gia Basque (tiếng Basque : Herria Euskal) là cái tên được gọi cho ngôi nhà của người Basque ở phía tây dãy núi Pyrenees vốn trải dài biên giới giữa Pháp và Tây Ban Nha trên bờ biển Đại Tây Dương. Nó bao gồm các những Cộng đồng Tự trị của Quốc gia Basque và Navarre ở Tây Ban Nha và Quốc gia Bắc Basque ở Pháp. Với 7 tỉnh, 3 tỉnh thuộc Quốc gia Bắc Basque giáp giới Pháp và phần còn lại thuộc Tây Ban Nha về hướng tây và nam.
Mặc dù chúng không nhất thiết phải là những từ đồng nghĩa, khái niệm về một khu vực Basque có nền văn hóa duy nhất nối dài những vùng và những quốc gia khác nhau đã được liên kết chặt chẽ kể từ khi sự khởi đầu của nó bằng những chính sách của chủ nghĩa dân tộc Basque . Như vậy, khu vực được xem là nhà đối với dân Basque (tiếng Basque : Euskaldunak), ngôn ngữ của họ (tiếng Basque : Euskara), văn hóa và truyền thống. Tuy nhiên, khu vực thì không đồng nhất về ngôn ngữ hoặc cũng không về văn hóa, và rất là mang tính chất Basqueness của những miền của nó, chẳng hạn như là miền nam Navarre, vẫn còn tranh cãi.

pc 15_ ĐCSP : Đảng Cộng sản Pháp.
pc 16_ Trotsky : Leon Trotsky là một nhà cách mạng và lý thuyết Mác-xít người Nga, nhà chính trị Sô-Viết và là người sáng lập và lãnh đạo đầu tiên của Hồng quân. Như là một người đứng đầu Đệ tứ Quốc tế Cộng sản, Trotsky tiếp tục trong tình trạng lưu vong ở Mexico để phản đối việc cơ cấu quan liêu của chủ thuyết Stalin ở Liên Xô, vốn là người thành lập Đệ tam Quốc tế Cộng sản cực đoan. Những tư tưởng của Trotsky hình thành cơ bản cho chủ thuyết Trotsky, một trường phái lớn của tư tưởng Mác-xít mà nó chống lại những lý thuyết của chủ thuyết Stalin. Sau cùng anh ta ta bị ám sát ở Mexico vào ngày 13 tháng Ba, 1928 bởi sát thủ Ramón Mercader, một mật vụ gốc Tây Ban Nha của Sô-Viết. Anh ta ta là một trong thiểu số nhân vật chính trị Sô-Viết những người mà không bao giờ được phục hồi danh dự bởi chính phủ của Mikhail Gorbachev. Nhưng cuối cùng anh ta đã được trả lại danh dự vào năm 2001.

pc 17_ Le Figaro : là một tờ báo hàng ngày của Pháp được thành lập vào năm 1826 và được phát hành ở Paris. Nó đã từng được rất tôn trọng rộng rãi ở Pháp sau Thế Chiến thứ II. Biên tập của nó thuộc phe bảo thủ . Le Figaro là tờ báo lớn thứ hai thuộc cấp quốc gia của Pháp sau tờ Aujourd’hui en France (i.e. Hàng ngày ở Pháp) và trước tờ Le Monde (i.e. Thế giới), nhưng một số tờ báo khu vực có số lưu hành lớn hơn. Nó là một trong ba tờ báo kỷ lục của Pháp của, cùng với tờ báo chuyên về xã hội-tự do Le MondeLibération (i.e. Giải phóng), và là tờ báo vẫn còn tồn tại lâu đời nhất ở Pháp.

pc 18_ Trường Trung học Albert Sarraut : (Lycée Albert Sarraut) là một trong những trường trung học nổi tiếng nhất ở Đông Dương, được thành lập từ năm 1919 tại Hà Nội, giải thể năm 1965.
Vào năm 1913, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut đã ra quyết định nâng bậc trường Paul Bert từ Collège lên bậc Lycée để thành lập một trường trung học toàn phần như các trường ở chính quốc với đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học tại Hà Nội. Trường có nhiệm vụ thu nhận học sinh người Pháp và cả học sinh là con em các quan chức cao cấp người Việt Nam, người Miên, người Lào, và trong đó không ít những cán bộ Cộng sản là con em của giai cấp giàu sang, ưu tú.

pc 19_ Đại lộ Champs-Élysées : là một đường phố ở Paris, Pháp. Với những rạp chiếu phim, quán cà phê, cửa hàng đặc biệt sang trọng và những cây hạt dẻ ngựa được tỉa cành, Avenue des Champs-Élysées là một trong những đường phố nổi tiếng nhất và một trong các dải đất đắt tiền nhất về bất động sản trên thế giới. Nhiều đài tưởng niệm Pháp cũng nằm trên con đường, bao gồm Arc de Triomphe (i. e. Khải Hoàn Môn) và Place de la Concorde (Công trường Concorde). Cái tên theo nghĩa Pháp là Elysian Fields, nơi của những người chết được ban hồng ân trong thần thoại Hy Lạp. Đại lộ Champs-Élysées được biết đến như là một “đại lộ đẹp nhất trên thế giới,” La plus belle avenue du Monde bằng tiếng Pháp.
Đại lộ cũng là nơi tổ chức những sự kiện, lễ hội quan trọng của Paris, như Duyệt binh ngày 14 tháng 7, chặng cuối của cuộc đua xe đạp Tour de France, địa điểm các cuộc ăn mừng, chào đón năm mới… Nhiều đường phố nổi tiếng khác được so sánh với Champs-Élysées, như đại lộ Benjamin Franklin ở tiểu bang Philadelphia, Hoa Kỳ hay Paseo de la Reforma ở Thành phố Mexico.

pc 20_ PtDcDt : Phong trào Dân chủ Dân tộc (MRP: Mouvement Républicain Populaire).

pc 21_ Modus vivendi : là nhóm chữ tiếng Latin mang nghĩa là một thỏa thuận giữa những người có ý kiến khác nhau, trong cách mà họ đồng ý để không đồng ý.

Modus có nghĩa là cách thức, phương cách , Vivendi có nghĩa là về sự sống. Hợp chung lại, cách sống, ngụ ý là một chỗ ở giữa các bên đang tranh chấp cho phép cuộc sống đi vào. Nó thường được mô tả những cuộc hòa giải chính thức và tạm thời trong các vấn đề chính trị. Có thể được hiểu là một hiệp-ước-bất-đồng

pc 22_ Bastille Day : là ngày Quốc khánh Pháp, được tổ chức vào ngày 14 tháng 7 mỗi năm. Ở Pháp, nó được chính thức gọi là La Fête Nationale (Lễ Kỷ niệm Quốc gia) và thông thường gọi là Le quatorze Juilet(Ngàythứ mười bốn tháng Bảy).

pc 23_ Lý thuyết con bài domino : là một lý thuyết trong suốt thập kỷ 1950s đến 1980s, được thúc đẩy vào những thời điểm bởi chính phủ Hoa Kỳ, mà họ suy đoán rằng nếu một nhà nước trong khu vực chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản, sau đó những nước xung quanh sẽ theo sau trong hiệu ứng con bài domino. Lý thuyết con bài domino được sử dụng bởi những chính quyền tiếp nối của Hoa Kỳ trong suốt thời gian Chiến tranh Lạnh để biện minh cho sự cần thiết cho sự can thiệp của Mỹ trên khắp thế giới.
Đề cập đến Cộng sản ở Đông Dương, Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower đưa lý thuyết thành những lời trong suốt cuộc họp báo ngày 7 tháng Tư năm 1954:
“Cuối cùng, bạn có những xem xét rộng lớn hơn mà có thể theo sau điều gì mà bạn sẽ gọi là nguyên tắc của “con bài domino đang ngã”. Bạn có hàng những con bài domino thiết lập, bạn gõ lên trên con bài đầu tiên, và điều gì sẽ xảy ra cho con bài sau cùng là một điều chắc chắn rằng nó sẽ sụp đổ rất nhanh. Vì vậy, bạn có thể có một khởi đầu của sự tan rã mà nó sẽ có những ảnh hưởng sâu sắc nhất.”

pc 24_ ĐCSTQ : Đảng Cộng sản Trung Quốc.
pc 25_ Cầu Paul Doumer : Cầu Long Biên.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s