XII- Hổ và Voi (Phần 1)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p399

XII- HỔ và VOI

Trong cuộc phỏng vấn với phóng viên báo  New York Times David Schoenbrun trong suốt mùa hè năm 1946, Hồ Chí Minh đã cảnh cáo rằng nếu cuộc xung đột theo quy mô toàn diện nổ ra giữa Việt Nam và Pháp, Việt Minh sẽ thu mình trong rừng như một con hổ và sau đó ra khỏi hang của nó vào ban đêm để xé con voi Pháp ra từng mảnh. Điều đó, ông ta nói, là điều gì sẽ mô tả đặc đểm cuộc chiến Đông Dương.

Ông Hồ thì giỏi như lời của ông ta. Khi lực lượng Pháp tham gia vào chiến dịch càn quét ở Hà Nội và những trung tâm kỷ nghệ lớn khác ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam, người cách mạng già nua và những cộng sự viên của mình rời bỏ trụ sở tạm thời của họ vào trong các hang động của tỉnh Hà Đông, một vài dặm về phía nam thủ đô, và lấy nơi trú ẩn tại khu căn cứ cũ thuộc vùng núi ở Tân Trào, ở trung tâm của Việt Bắc, nơi mà họ chuẩn bị cho một cuộc xung đột kéo dài. Với sự khuyến khích của Hồ Chí Minh, lực lượng Việt Nam đã chiếm hữu những yếu tố của mô hình Trung Quốc về chiến tranh nhân dân vào trong chiến lược của riêng mình sớm như vào năm 1941. Vào ngày 22 tháng Mười Hai, chỉ ba ngày sau khi mở ra chiến sự ở thủ đô, chính phủ Việt Nam ban hành lời phát biểu công khai tuyên bố rằng cuộc xung đột sắp tới sẽ diễn ra trong ba giai đoạn. Sự dự báo của lời tuyên bố về một kịch bản làm rõ hơn học thuyết quân sự của Mao Trạch Đông. Trong suốt giai đoạn đầu tiên, lực lượng Việt Nam sẽ vẫn ở thế phòng thủ nhằm mục đích xây dựng sức mạnh của họ trong đồn nhỏ thuộc vùng núi của họ; trong gian đoạn thứ hai, khi sức mạnh của hai bên trở nên gần như tương đương, cuộc cách mạng sẽ bắt đầu nổi lên từ hang ổ của mình cho những cuộc tấn công bất ngờ vào những cơ sở lộ diện của đối phương; và giai đoạn thứ ba sẽ là một cuộc tổng tấn công, khi đó Việt Minh sẽ phát động cuộc tấn công cuối cùng để đuổi lực lượng đối phương vào biển.1

Mặc dù họ rút lui, tuy nhiên, Việt Nam gởi một tín hiệu rõ ràng đến Pháp rằng cuộc đấu tranh sẽ là một cuộc chiến cay đắng. Khi những quan chức chính phủ từ bỏ Hà Nội và bắt đầu trên tuyến đường qua vùng đồng bằng đến tây bắc,

p400

những đơn vị dân quân vẫn còn cố thủ trong các đường phố chật hẹp của khu vực người Hoa đẹp như tranh vẽ, nơi trú ngụ của hơn 30.000 cư dân của thành phố. Ở đây họ quyết liệt chống lại những cố gắng của Pháp để tống họ đi. Tướng Valluy đề nghị một cuộc oanh kích để quét sạch những người tử thủ, nhưng ông Morlière chọn lựa thay vì cho một tiến quân từng đường  phố mà nó có thể khôi phục sự kiểm soát của Pháp trên khu vực mà không gánh phải nguy cơ của sự tàn phá vật chất lớn lao. Chiến dịch thì chậm chạp phải chịu đựng khó khăn và tốn kém với cái giá cho những thương vong của Pháp. Không phải cho đến giữa tháng Giêng năm 1947 đội quân Pháp cuối cùng đến được nơi buôn bán ở rìa phía bắc của khu vực người Hoa, trong khi những đơn vị Việt Minh, được kèm theo bởi phần lớn dân chúng địa phương, rời bỏ khu vực và chạy trốn về phía bắc bên kia sông Hồng. Ngay cả khi những binh sĩ rời khỏi thành phố, những người ủng hộ Việt Minh viết nguệch ngoạc những chữ “Chúng tôi nhất quyết sẽ trở lại” bằng than đá hoặc những gạch vụn trên các bức tường của Thành Nội xưa cũ.2

Trong lời tường thuật của vị Lãnh sự Hoa Kỳ O’Sullivan về cuộc rút đi, ông ta báo cáo với Washington rằng dân Việt Nam đã chiến đấu với sự gợi nhớ về “lòng can đảm và ngoan cố không lường trước được” của dân Nhật trong Chiến tranh Thái Bình Dương. Ông ta ước tính những thương vong của Việt Nam đến hàng trăm. Vào khoảng 100 lính Pháp được liệt kê như là chết, và khoảng 45 thường dân Âu châu bị mất mạng, với 200 người vẫn còn mất tích. Sau khi làm sạch những vùng ngoại ô, đội quân Pháp bắt đầu di chuyển vào trong vùng nông thôn, nơi họ tìm thấy rằng lực lượng Việt Nam đã theo cách giải quyết đốt-cháy-đất để làm giảm sự tiếp cận của đối phương đến thực phẩm dự trữ. Ở những phần khác của đất nước, những đơn vị dân quân Việt Minh tiến hành một hành động trì hoãn tại các khu vực đô thị, trong khi những đơn vị lực-lượng-chính phân tán đến các khu căn cứ ở nông thôn.

Nhưng Hồ Chí Minh dường như chưa sẵn sàng từ bỏ việc tìm kiếm một sự dàn xếp hòa bình. Vào ngay ngày khởi đầu chiến sự, những tờ truyền đơn của Việt Minh xuất hiện trên các đường phố của Hà Nội, thông báo cho “nhân dân Pháp” về sự sẵn sàng của chính phủ của ông ta để sống một cách hòa bình trong phạm vi Liên hiệp Pháp và đổ lỗi sự bùng nổ của chiến tranh cho “những thực dân phản động là những người làm ô nhục cái tên của nước Pháp và là những người tìm cách tách biệt chúng ta trong cuộc chiến khích động” Nếu Pháp chỉ nhìn nhận nền độc lập Việt Nam và sự thống nhất quốc gia, những tờ truyền đơn tuyên bố, một thái độ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc có thể được phục hồi ngay lập tức. Ngày hôm sau, đài phát thanh Việt Minh bắt đầu tung ra những lời kháng cáo theo định kỳ cho sự đổi mới của những cuộc thương thuyết. Vào ngày 23 tháng Mười Hai, ông Hồ viết cho Marius Moutet, Bộ trưởng Lãnh thổ Nước ngoài, và Tướng Henri Leclerc, đề nghị một cuộc họp của những đại diện hai bên. Ông Moutet và ông Leclerc vừa mới rời khỏi Paris với nhiệm vụ tìm-hiểu-thực-tế đến Đông Dương theo yêu cầu của chính phủ Blum mới. Một vài ngày sau đó, ông Hồ chính thức đề nghị một lệnh ngừng bắn và việc tổ chức hội nghị hòa bình mới tại Paris

p401

trong khuôn khổ của hiệp ước Ho-Sainteny trước tháng Ba.3

Nhưng người Pháp thì không hoàn toàn rất nhiệt tình hầu mang chiến sự đến kết thúc. Trong bài diễn văn trước Quốc hội vào ngày 23 tháng Mười Hai, Thủ tướng Léon Blum lặp lại tinh thần đang trỗi lên của chủ nghĩa yêu nước mà nó gây ảnh hưởng đến tất cả những phe phái chính trị ở Pháp qua hậu quả tai hại của cuộc tấn công Việt Nam vào Hà Nội: “Chúng ta đã phải đối mặt,” ông ta tuyên bố “nhiệm vụ đối ứng với bạo lực. Tôi tuyên bố rằng những người vốn đang chiến đấu ở đó, và những cư dân Pháp đang sống ở Đông Dương, và các dân tộc thân thiện, có thể tin tưởng mà không cần dè dặt vào sự cẩn trọng và ý định cương quyết của chính phủ” Trong phần kết thúc, ông Blum để lại một cánh cửa mở ra cho sự dàn xếp hòa bình, khẳng định rằng một khi trật tự đã được phục hồi, ông ta sẽ hành động “đảm nhận một lần nữa với lòng trung thành nhiệm vụ bị gián đoạn, điều đó có nghĩa rằng một tổ chức của Việt Nam tự do trong Liên minh Đông Dương được liên kết tự do với Liên hiệp Pháp. Trước hết, tuy nhiên, trật tự phải được khôi phục.”4

Marius Moutet được mô tả bởi tờ báo Pháp Le Populaire (i.e. Dân Chúng) như là “một sứ giả hòa bình.” Nhưng mặc dù ông Moutet đã được biết nhiều đến như là một người quan sát cảm thông cho cuộc đấu tranh của Việt Nam vì nền độc lập, ông ta cũng chia sẻ cảm giác chung của về sự phẫn nộ của Pháp cho cuộc tấn công bất ngờ ở Hà Nội. Ngay sau khi chuyến đến Sài Gòn của ông ta vào ngày Giáng sinh, ông ta tuyên bố với báo chí rằng “trước khi bất kỳ những cuộc thương thuyết nào, điều cần thiết ngày hôm nay là đạt được một quyết định quân sự. Tôi rất tiếc, nhưng người ta không có thể cam kết mà không bị trừng phạt cho những hành động điên rồ như thế như những hành động được cam kết bởi Việt Minh.” Để nhấn nhà quan điểm của mình, ông Moutet không cần thực hiện cố gắng nào để liên lạc với người cộng sự viên già nua thuộc xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh của ông ta trước khi chuyến trở về Pháp của mình vào đầu tháng Giêng và dành phần lớn thời gian của mình trong các cuộc thảo luận với những quan chức Pháp ở Lào và Cam-pu-chia. Về phần mình, Hồ Chí Minh đã gởi ông Moutet một lá thư vào ngày 03 tháng Giêng với một đóng những văn kiện đề nghị cho việc thực hiện một lệnh ngừng bắn dựa trên những điều kiện trước chiến tranh và việc nối lại những cuộc thương thuyết, nhưng gói văn kiện bị chận giữ bởi chính quyền thực dân Pháp trước khi nó đến vị Bộ trưởng Bộ và bị trả lại.5

Tướng Leclerc chia sẻ niềm tin của ông Moutet rằng một phản ứng mạnh về quân sự đối với cuộc tấn công của Việt Minh là cần thiết trước khi mở ra những cuộc đàm phán hòa bình. Nhưng ông Leclerc cũng tin rằng giải pháp cuối cùng cho cuộc khủng hoảng phải là một giải pháp chính trị, và sự từ chối của ông Moutet gặp gỡ với ông Hồ gây khó khăn cho ông ta. Vào ngày khởi hành của ông ta từ Đông Dương vào ngày 09 tháng Giêng, ông ta lưu ý: “Có quá nhiều người ở đây vốn tưởng tượng rằng một cầu nối giữa Việt Nam và Pháp có thể được xây dựng trên một gò những tử thi.” Trong báo cáo của riêng mình đến chính phủ ở Paris, ông Leclerc lưu ý rằng “một giải pháp phức tạp, mà nó có lẽ sẽ không được nhận thức trong một thời gian nào đó đang đến, không có thể được đặt vào chính trị.” Nước Pháp, ông ta kết luận, không thể dùng vũ lực

p402

để chinh phục một quốc gia của 24 triệu dân vốn được thúc đẩy bởi một ý thức mạnh mẽ về bản sắc dân tộc. Đối với ông Leclerc, câu hỏi quan trọng là làm cách nào thay thế hình thức đang tồn tại của chủ nghĩa dân tộc được dẫn dắt bởi Việt Minh với một hình thức ít độc ác được đại diện bởi những đảng phái chính trị ôn hòa. Trong khi đó, càng mạnh mẽ hơn vị thế quân sự của Pháp trên chiến trường, càng tốt hơn giải pháp cuối cùng.6

Bởi vì quan điểm của ông Leclerc về tình hình trao đổi qua thư từ chung chung với những đáp từ của Léon Blum, khi vị Tướng trở lại Pháp vào giữa tháng Giêng, Thủ tướng báo cho ông ta việc đề bạt trở lại Đông Dương để phục vụ như là vị Tổng tư lệnh và Cao ủy, thay thế Thierry d’Argenlieu, là người có quan điểm thuộc phe cứng rắn bấy giờ được xem rộng rãi như là từng góp phần vào sự bế tắc. Nhưng trước khi ông Leclerc có thể thực hiện quyết định mình, ông Blum được thay thế chức vụ bởi người bạn trong nhóm đảng Xã hội của mình là Paul Ramadier. Ông Ramadier tán thành với chính sách hiện có về việc lập lại trật tự bằng vũ lực, trong khi bày tỏ rõ ràng rằng ông ta sẵn sàng xem xét sự thống nhất cuối cùng của ba miền của Việt Nam thành một nhà nước duy nhất trong Liên hiệp Pháp. Nhưng khi Thủ tướng mới không cam kết chính mình để tăng cường sức mạnh của lực lượng Pháp ở Đông Dương, ông Leclerc –theo lời khuyên của Tướng de Gaulle– quyết định từ chối lời đề bạt cho chức vụ Cao ủy. Để trám vào vị trí, ông Ramadier quay sang Emile Bollaert, là một chính trị gia với quan điểm tự do và có uy tín cao vốn là người không thuộc về bất kỳ trong số những phe phái chính trong Quốc hội. Ông Bollaert được mô tả bởi một nhà ngoại giao Hoa Kỳ như là “có khả năng và nhiệt tình nhưng tương đối không nổi tiếng.”7

* * *

Ông Bollaert đến Đông Dương vào đầu tháng Ba. Khi chuyến đến Sài Gòn của ông ta, ông ta ngay lập tức phải đối mặt với một thách thức từ bên trong trại quân của riêng mình. Dưới sự bảo trợ của ông d’Argenlieu, một động thái đang được tiến hành trong giới thực dân ở Sài Gòn để vượt qua Việt Minh và đi đến một thỏa thuận với Bảo Đại, vị hoàng đế trước đây, vốn hiện đang ở Hong Kong. Lười biếng và tìm kiếm niềm vui theo bản chất, Bảo Đại đã ngưng sử dụng cái tên Vĩnh Thụy của một công dân, tạm thời đánh mất bầu nhiệt huyết của mình cho những công việc quốc gia, và đang tận hưởng những niềm vui về phụ nữ và những cái bàn đánh bạc. Mặc dù những liên lạc đầu tiên của Pháp với vị cựu hoàng đế bây giờ mập mạp thì không kết quả gì, triển vọng của một thỏa thuận với ông ta đang có được những người ủng hộ, ở cả Pháp và cả Đông Dương. Đối với ông Bollaert, tuy nhiên, kế hoạch đặt ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan nghiêm trọng. Việt Minh vẫn có số dân chúng đáng kể ở Việt Nam, nơi mà Hồ Chí Minh được tôn trọng rộng rãi như là một nhà lãnh đạo dân tộc. Trước khi chuyến khởi hành từ Paris, ông Leclerc đã khuyên ông ta nên “thương thuyết bằng bất cứ giá nào.” Nhiều người trong đoàn tùy tùng của ông Bollaert ủng hộ các cuộc đàm phán với Việt Minh,

p403

bao gồm chef de cabinet (i.e. Tổng Thư ký nội cát) của ông ta là Pierre Messmer và cố vấn cá nhân của mình, là một học giả về Đông Dương được tôn trọng Paul Mus. Tuy nhiên, đã có hơn 1.000 lính Pháp chết, mất tích, và cảm xúc trong cộng đồng Pháp ở Đông Dương đến lúc bấy giờ cứng rắn phản đối một thỏa thuận với Việt Minh. Bảo Đại là sự lựa chọn hiển thị duy nhất, nhưng ông ta có thể phục vụ như là một người thay thế cho một Hồ Chí Minh nổi tiếng không? Trong khi vị cựu hoàng đế có một số ủng hộ giữa những người theo truyền thống, nhiều người Việt Nam thì khinh thường ông ta vì lối sống bê tha của mình. Những người khác nghi ngờ khả năng ông ta để đoàn kết những nhóm quốc gia ngang bướng kinh niên, vốn là những người bị chia rẽ một cách thảm hại trên nhiều vấn đề chính trị quan trọng.

Hồ Chí Minh vẫn đang cố gắng duy trì những liên lạc mong manh của mình với Pháp. Vào ngày 23 tháng Tư, một nhân vật không-Cộng-sản Hoàng Minh Giám, là người vào tháng Ba đã được phong chức Bộ trưởng Ngoại giao của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), truyền một thông điệp từ ông Hồ đến ông Bollaert đề nghị lệnh ngừng bắn ngay lập tức và mở lại những cuộc thương thuyết để đạt được một sự hòa giải hòa bình cho cuộc xung đột. Vì nghi ngờ về những ý định của kẻ thù và được bảo đảm bởi các cố vấn của ông ta rằng tình hình quân sự hiện tại trong sự kiểm soát tốt đẹp, ông Bollaert phản đối toàn bộ những điều kiện vốn đòi hỏi sự đầu hàng thực sự của lực lượng Việt Minh trước khi phục hồi hoà bình. Để truyền tải thông điệp đó, ông ta quay sang Paul Mus, là người đã có lần biết đến Hồ Chí Minh. Vào chiều tối ngày 12 tháng Năm, ông Mus tổ chức những cuộc họp bí mật, lần đầu tiên với Hoàng Minh Giám tại một vị trí gần Hà Nội và sau đó với ông Hồ tại một ngôi nhà ở tỉnh phủ Thái Nguyên. Ông Hồ lắng nghe một cách lịch sự từ người khách viếng của mình, nhưng thẳng thừng từ chối những đòi hỏi của Pháp. “Liên hiệp Pháp không có nơi nào cho những kẻ hèn nhát,” ông ta bày tỏ. “Nếu tôi chấp nhận những điều khoản này, tôi sẽ là một.”8

Sự trả lời khinh thường của Pháp đối với đề nghị của Việt Nam cho những cuộc đàm phán hòa bình thì chắc chắn là một điều thất vọng đối với Hồ Chí Minh, là người đã tiếp tục bày tỏ niềm hy vọng rằng chính quyền Pháp cuối cùng sẽ cam chịu sự mất mát những thuộc địa ở Đông Dương của họ. Trong thời điểm này, tuy nhiên, không có một thay thế nào cho sự lựa chọn quân sự. Vào cuối tháng đó, ông ta phát động một lời kêu gọi cho cuộc kháng chiến toàn quốc, tuyên bố rằng người Pháp đã đặt ra những điều kiện không thể chấp nhận được cho hòa bình.

Nhưng ông Hồ tiếp tục theo đuổi khả năng của giải pháp quốc tế cho vấn đề này. Phải thừa nhận rằng, khuynh hướng chung về sự thù nghịch ý thức hệ ngày càng tăng giữa hai khối quyền lực toàn cầu không phải là điềm lành, và Moscow vẫn đang cho thấy ít quan tâm đến cuộc chiến ở Đông Dương xa xôi. Tuy nhiên, vẫn còn một cơ hội mà Hoa Kỳ có thể bị xui khiến đóng một vai trò hữu ích trong việc giải quyết cuộc xung đột. Thật vậy, chính quyền Truman đã từng quan sát những hành động của Pháp kể từ khi mở lại chiến sự ở Đông Dương bằng một vài cảm giác khó chịu nào đó

p404

(mặc dù ông Hồ và những cộng sự viên của mình không có suy luận gì để nhận biết về điều nầy). Một vài ngày sau khi sự bùng nổ của cuộc chiến đấu ở Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao Dean Acheson gọi Đại sứ Pháp Henri Bonnet đến Bộ Ngoại giao và cảnh cáo ông ta rằng tình hình ở Đông Dương đang khích động và, theo quan điểm của Washington, không thể được giải quyết bằng vũ lực. Ông Acheson bảo đảm ông Bonnet rằng Hoa Kỳ không ước muốn can thiệp, nhưng sau đó đưa ra những sự giúp đỡ ích lợi của Washington trong việc đạt được một giải pháp. Paris thẳng thừng từ chối sự đề bạt, khẳng định rằng Pháp sẽ khôi phục trật tự trước khi thiết lập những liên lạc với lực lượng Việt Nam.

Một vài tuần sau đó, Tướng George C. Marshall, vừa trở về từ Trung Quốc, thay thế James Byrnes như là Ngoại trưởng. Kể từ tháng Mười Hai năm 1945, ông Marshall đã thực hiện những chuyến thăm định kỳ đến Chongqing (i.e. Trùng Khánh) tìm cách vá lại tạm thời với nhau một sự dàn xếp hòa bình giữa phe Quốc gia và Trung Cộng mà nó sẽ tạo nên một chính phủ liên minh dưới quyền Chiang Kai-shek (i.e. Tưởng Giới Thạch). Bất chấp những cố gắng như thế, tuy nhiên, cuộc nội chiến nổ ra vào cuối năm 1946. Sau khi xem xét tình hình ở Đông Dương, ông Marshall gởi một điện thư đến Đại sứ Hoa Kỳ Caffery ở Paris –một thông điệp, như là một biểu hiện chính thức đầu tiên về quan điểm trên chủ đề của Washington kể từ khi sự khởi đầu của cuộc xung đột Pháp-Việt Minh, là một kiệt tác của sự mơ hồ. Hoa Kỳ đã từng chính thức nhìn nhận chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, ông Marshal chỉ ra, và không ước muốn can thiệp vào khu vực. Đồng thời, ông ta nói thêm, “chúng tôi không có thể nhắm mắt đối với thực tế rằng có hai mặt [đối với] vấn đề này và rằng những báo cáo của chúng tôi cho thấy cả hai đều thiếu soát [về] sự hiểu biết của Pháp qua bề mặt kia (nhiều hơn ở Sài Gòn so với ở Paris) và sự tồn tại tiếp tục [về một] viễn ảnh thuộc địa lỗi thời, nguy hiểm và những phương pháp trong khu vực.”

Nhưng ông Marshall ngay lập tức làm suy yếu sức mạnh của quan điểm của riêng mình bằng cách nhìn nhận bản chất tiến thoái lưỡng nan của Pháp: “Chúng tôi không đánh mất tầm nhìn [về một] thực tế là Hồ Chí Minh có những kết nối trực tiếp với Cộng sản và điều đó cần nên sáng tỏ là chúng tôi không mấy thú vị gì trong việc nhìn thấy những đế quốc thực dân và chính quyền bị hất cẳng bởi các tổ chức chính trị và triết học phát ra từ và được điều khiển bởi điện Kremlin.” Cuối cùng, ông Marshall không có một giải pháp nào đưa ra, và hài lòng với chính mình bằng sự đề nghị rằng chính quyền Pháp nên theo dõi những cuộc thương thuyết và “khoan hồng” trong việc tìm kiếm một giải pháp. Sự do dự đang khắc khoải một cách rõ ràng của ông Marshall về làm cách nào bắt đấu giải quyết mớ hỗn độn ở Đông Dương được tạo nên một giai điệu mà có thể kéo dài cho đến khi ông Truman rời chức vụ.9

Vào cuối tháng Hai, ông Marshall chỉ thị Lãnh sự James O’Sullivan ở Hà Nội thiết lập liên lạc với các nhà lãnh đạo Việt Nam mà nó sẽ là một cơ hội đang phát sinh. Nó không phải chờ đợi lâu. Vào tháng tư, Phạm Ngọc Thạch, người có lần đứng đầu nhóm Thanh niên Cứu ở Sài Gòn vốn là người gần đây được giao cho chức vụ Phó Bộ trưởng trong chính phủ Hồ Chí Minh,

p405

tiếp xúc với nhiều doanh nhân Mỹ đang sống ờ Thái Lan, cũng như Chuẩn tướng William Law, Phụ tá Tùy viên Quân sự tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Bangkok. Sau khi dự những cuộc hội đàm chính thức với Chuẩn tướng Law, ông Thạch đồng ý để đáp ứng một loạt những câu hỏi được đề ra bằng văn bản bởi ông Law và Edwin F. Stanton, đại sứ Mỹ. Trong đáp từ của ông ta, ông Thạch nhấn mạnh tính chất rộng lớn và phi đảng phái của chính phủ Việt Nam, và sự cam kết của nó cho những mục đích quốc gia hơn là cho những mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội. Chương trình kinh tế của chính phủ, ông ta nhấn mạnh, sẽ “ủng hộ sự phát triển của quyền tự chủ tư bản và kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài cho việc tái thiết đất nước.” Ngay sau đó, ông Thạch đệ trình kháng thư đến người đại diện của cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ ở Thái Lan, đưa ra những nhượng bộ kinh tế đổi lại bằng nhiều loại dụng cụ nông nghiệp và công nghiệp cũng như sự phục hồi những khoản tiền cho vay. Không đề cấp đến vấn đề dàn xếp hòa bình, ông Thạch cảnh cáo rằng Việt Nam được chuẩn bị để tiến hành một cuộc chiến tranh du kích trong sáu năm. Vào khoảng cùng thời gian đó, ông Hồ cho một cuộc phỏng vấn với phóng viên Mỹ mà qua đó ông ta phủ nhận rằng chính phủ của mình được gây cảm hứng bởi những nguyên tắc của học thuyết Marx và cất cao giọng tự hỏi tại sao một giải pháp tương tự đối với điều đó mà nó đã từng được thành công ở Phi Luật Tân và Ấn Độ, thì không có thể ở Đông Dương.10

Ban đầu, thái độ biểu hiện của Việt Nam làm dấy lên một chút ít quan tâm trong số những quan chức Bộ Ngoại giao ở Washington, là những người đã từng ghi chú về việc đề cử một Hoàng Minh Giám ôn hòa như là vị Bộ trưởng Ngoại giao của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) vào tháng Ba. Trong lời bình luận ​​của riêng của mình cho Washington, Đại sứ Stanton nhận xét rằng Phạm Ngọc Thạch –là người đã từng được xem có thiện chí bởi những quan chức Mỹ ở Sài Gòn vào cuối năm 1945– là “một người đàn ông thông minh và rất nhiệt tình đáng kể.” Từ Hà Nội, ông O’Sullivan đề nghị rằng ông ta muốn gặp trực tiếp với ông Thạch ở Bangkok. Mặc dù ông O’Sullivan lên tiếng dè dặt về ông Hồ– mô tả ông ta như là “một nhân vật rất quỷ quyệt”– ông ta lập luận rằng một cuộc trò chuyện không chính thức với ông Thạch có thể ít nhất là cung cấp thông tin hữu ích về bản chất của chính phủ Việt Nam. Ông Marshall gởi điện thư cho sự phê duyệt của mình, thêm vào niềm hy vọng của ông ta rằng một cuộc họp với ông Thạch có thể phát giác ra phạm vi về sự kiểm soát của Cộng sản trên chính phủ Việt Nam và “mức độ chịu phụ thuộc vào Moscow như mong đợi bởi những nhà lãnh đạo Cộng sản.” Tuy nhiên, cuộc họp không bao giờ xảy ra. Vào ngày 07 tháng Năm, ông Stanton thông báo cho cơ sở hành chính rằng ông Thạch đã bất ngờ rời khỏi Bangkok. Hai ngày sau đó, ông Marshall chỉ thị ông O’Sullivan bỏ những kế hoạch của mình đến thăm Bangkok, diện dẫn rằng việc rời khỏi của ông Thạch và những lo ngại của Hoa Kỳ về phản ứng có thể xảy ra của Pháp đối với cuộc họp được hoạch định.

Nhưng biến cố không hoàn toàn kết thúc. Vào ngày 8 tháng Năm, một thông điệp từ Hoàng Minh Giám chính thức kêu gọi Hoa Kỳ cho sự nhìn nhận bang giao của chính phủ mình,

p406

tuyên bố rằng đó là một động thái như thế “sẽ làm tăng uy tín và ảnh hưởng của Hoa Kỳ… và thiết lập hòa bình ở Đông Nam Á.” Phạm Ngọc Thạch, lúc bấy giờ ở Hà Nội, theo liền sau với một thông điệp thứ hai, yêu cầu sự hỗ trợ chính trị, kinh tế, văn hóa và yêu cầu rằng Washington làm trung gian để điều đình cuộc xung đột Pháp-Việt Minh nhằm mục đích mang lại sự hòa giải. Khi những sáng kiến ​​mới nầy đưa đến sự chú ý của Ngoại trưởng Marshall, ông ta yêu cầu những nhà ngoại giao mình ở Paris, Sài Gòn và Hà Nội cho sự đánh giá của họ về chính phủ Việt Nam và phạm vi ảnh hưởng của Cộng sản trên vai trò lãnh đạo của nó. Điều gì, ông ta hỏi, là quan điểm thực sự của ông Hồ? Những người được cho là dân quân như Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt sẽ có bao nhiêu quyền lực cho một vai trò trong một chế độ Việt Nam độc lập? Những người quốc gia không-Cộng-sản nghĩ gì về Việt Minh? Họ có hiểu định hướng Cộng sản của Việt Minh không? Họ có thể đối phó với Cộng Sản không? Cuối cùng, VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) có thể được thuyết phục để ban cho “một sự bày tỏ tự do về chính trị một cách hợp lý không?”

Trong đáp lời của ông ta, ông O’Sullivan thì thận trọng, khẳng định rằng mặc dù Cộng sản có ảnh hưởng đáng kể trong chính phủ, điều đó không phải là đầy đủ nhất thiết để đặt đất nước trực tiếp trong phe Liên Xô, “mặc dù sẽ có một sự lôi kéo theo hướng đó.” Ông ta nói bóng gió đến sự miễn cưỡng của Hồ Chí Minh phải thừa nhận ông ta thực sự là Nguyễn Ái Quốc như là một dấu hiệu cho thấy là ông Hồ nhận ra rằng ông phải đối phó với phương Tây. Ông O’Sullivan kết luận rằng ông Hồ đang cố gắng có được viện trợ bất cứ nơi nào ông ta có thể nhận nó và sẽ có khuynh hướng chuyển theo những chính sách của mình đối với bất cứ nguồn hỗ trợ nào đến từ đâu.

Những đáp từ khác thì ít lạc quan hơn. Charles Reed, đối tác của ông O’Sullivan ở Sài Gòn, mô tả Hồ như là “kẻ cơ hội quỷ quyệt” là người “có thể mang lại sự tiến hóa của một nhà nước Cộng sản ngay cả khi phần lớn người Việt không đặc biệt quan tâm đến thông báo của Cộng sản.” Từ Paris, Đại sứ Jefferson Caffery viện ra cách đắc thắng bằng quan điểm của mình. Mặc dù dân Việt Nam nói chung thì không có cảm tình đối với những người Cộng sản, ông ta lên giọng, từ sự nghiệp trong quá khứ của ông Hồ “có thể có chút nghi ngờ nhưng mà ông ta vẫn duy trì kết nối chặt chẽ trong giới Cộng sản.”11

* * *

Sự từ chối những điều khỏan hòa bình của Pháp bởi Việt Minh có lẽ gây ra nổi thất vọng cho ông Bollaert, là người rõ ràng chân thành trong mong muốn của mình cho một hòa giải chính trị của cuộc xung đột, nhưng điều đó không ngăn cản ông ta từ việc theo đuổi những chọn lựa khác. Bộ trưởng Chiến tranh của Pháp Paul Coste-Floret, là người vừa hoàn thành chuyến kiểm tra Đông Dương, tuyên bố, “Không còn có vấn đề quân sự gì ở Đông Dương. Sự thành công của những quân chủng chúng ta thì hoàn tất.” Đối với tình hình chiến tranh hiển hiện trong tầm tay, ông Bollaert bấy giờ bắt đầu xem Việt Minh không phải như là đại diện duy nhất của dân Việt Nam,

p407

nhưng chỉ như là một trong số nhiều nhóm vốn có thể được tiếp xúc trong việc tìm kiếm hòa bình. Phương cách bắt đầu giải quyết mới của ông Bollaert được tạo điều kiện thuận lợi bởi bối cảnh chính trị đang thay đổi ở Pháp, nơi mà Đảng Cộng sản không còn trong khối liên minh đang cầm quyền. Thủ tướng Ramadier hiện tại cần sự ủng hộ của phe ôn hòa và bảo thủ để tồn tại chức vụ. Đối với một giải pháp chính trị ít nhất là tạm thời bị mất uy tín, những ánh mắt bây giờ chuyển sang Tướng Valluy ở Đông Dương, là người đã từng làm mất bất kỳ ảo tưởng lâu dài về sự mong muốn của Hồ Chí Minh cho hòa bình và tin tưởng rằng giải pháp duy nhất cho vấn đề này là một giải pháp quân sự.

Theo ước tính rằng tình hình quân sự thì thuận lợi đối với người Pháp, ông Coste-Floret không hoàn toàn ra khỏi mục đích. Thật ra, những cố gắng của Việt Nam để duy trì sự hàn gắn và sức mạnh trong giai đoạn khởi đầu chiến tranh đã là một sự thất vọng, và lực lượng Việt Minh thì thường xuyên trong tình trạng lộn xộn khi họ phải đối mặt với người Pháp. Trong một vài trường hợp, những đơn vị lực-lượng-chính đã từng bị lạm dụng hoặc quá hung hăng, dẫn đến những thương vong nặng nề. Trong những trường hợp khác, những người chỉ huy của Việt Minh phơi bày sự hiểu biết kém cỏi về những chiến thuật của chiến tranh du kích, đưa đến kết quả qua sự bối rối và việc đào ngũ lan rộng trên chiến trường. Thêm vào vấn đề khó khăn là sự thiếu thốn liên tục của hỏa lực. Đối với hầu hết các miền, những đơn vị Việt Nam bị hạn chế  với những vũ khí được sản xuất tại địa phương, hoặc với những vũ khí được chiếm lấy từ Nhật hay Pháp. Những lãnh đạo Việt Minh cũng có khuynh hướng đánh giá quá cao tầm quan trọng của sự ủng hộ từ tầng lớp quý tộc nông thôn, nhiều người trong số họ từ chối tuyên bố trung thành với sự nghiệp. Và qua việc thất bại thiết lập những quy định nghiêm ngặt kêu gọi cho những gia giảm tiền thuê nhà, họ đánh mất một cơ hội để huy động sự ủng hộ từ giới nông dân nghèo, là những người thường xuyên kéo lê đôi chân mình khi được kêu gọi để phục vụ trong nổ lực chiến tranh.12

Có lòng tin vào sự thành công cuối cùng của lực lượng Pháp trên chiến trường, Tướng Valluy tại hoạch định một cuộc tấn công vào đồn nhỏ của Việt Minh ở Việt Bắc để vây bắt Hồ Chí Minh và giải tán lực lượng nổi dậy. Sau đó và chỉ sau đó, theo cách nhìn của ông Valluy, những cuộc thương thuyết sẽ là thích hợp. Trong khi đó, một cuộc tổng tấn công được phối hợp chính trị đang xảy ra hầu làm giảm sự ủng hộ của quần chúng cho Việt Minh và làm nhục nhuệ khí của những người Việt Nam vốn muốn đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dương.

Một trong những vấn đề khó khăn đối với cách giải quyết của ông Valluy là nó sẽ đòi hỏi sự gia tăng những mức độ lực lượng Pháp ở Đông Dương đến hơn 100.000 quân. Cho đến nay, có ít chống đối công khai ở Pháp đối với cuộc xung đột ở Đông Dương, mà qua đó ắt hẵn dường như đối với hầu hết những nhà quan sát giống như một cuộc cãi lộn ầm ĩ nhỏ trong một góc xa xôi nào đó của thế giới. Chính phủ Pháp, tuy nhiên, tạm thời bận tâm với một cuộc nổi dậy cay đắng chống thực trên hải đảo Madagascar(pc 04) (i.e. Mã Đảo) và sẵn sàng cho ông Valluy chỉ là một phần của điều gì mà ông ta đã yêu cầu. Ông Valluy như thế buộc phải thảo những kế hoạch của mình với ít hơn số lượng tối thiểu của quân lính mà ông ta xem là cần thiết.

p408

Một trong những vấn đề chủ yếu đối với chiến lược của ông Valluys là loại bỏ những hoạt động Việt Minh ở Nam Bộ. Để đạt được mục tiêu của mình, ông ta chỉ định gần một nửa Lực lượng Viễn chinh Pháp (FEF: French Expeditionary Force) đến khu vực đó. Việc chống lại họ sẽ là khoảng 18.000 chính quy Việt Minh dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bình. Khắp Đông Dương, VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) hiện tại khai triển gần 60.000 quân, không kể một số lượng không xác định được của dân quân địa phương và du kích. Mặc dù yếu kém về hỏa lực nhưng linh động trong hoạt động và có được sự ủng hộ địa phương đáng kể, những tiểu đoàn Việt Minh bấy giờ ngày càng có thể tránh né những chiến dịch càn quét của Pháp và chạm trán đối phương tại các điểm của sự chọn lựa của riêng mình. Một thành công thực sự duy nhất cho chính quyền Pháp trong suốt mùa hè năm 1947 là sự thành công về chính trị, khi những chiến thuật khắc nghiệt của Nguyễn Bình làm xa lánh nhiều người trong số những đồng bào của ông ta ở Nam Bộ và đuổi ban lãnh đạo của cả hai giáo phái –Cao Đài và Hòa Hảo– vào trong những quân chủng của French.13

Trong khi đó, ông Bollaert muốn phát động một cuộc tấn công hòa bình mới. Hồ Chí Minh đã gởi một tín hiệu của riêng mình vào tháng Tám đó, qua cách cho xuống những phe cứng rắn như người tổ chức chiến tranh kỳ cựu Tôn Đức Thắng và Võ Nguyên Giáp từ những Bộ về nội vụ và quốc phòng và thay thế họ bằng những người ôn hòa. Nhưng ông Valluy mạnh mẽ không đồng ý với sự sắp xếp thời gian qua cố gắng của ông Bollaert, và cả hai được gọi về Paris cho những cuộc tham vấn. Kết quả là một sự thỏa hiệp. Trong một bài phát biểu được đưa ra gần Hà Nội vào tháng Chín, ông Bollaert có ý muốn đưa ra một Việt Nam thống nhất trong Liên hiệp Pháp, nhưng không nhắc gì đến nền độc lập hoàn toàn. Ông ta không đề cập bằng tên đến đối thủ chính của mình và kêu gọi thay vào đó là “tất cả những nhóm người Việt.” Theo những nhà quan sát Hoa Kỳ, nhiều cư dân Pháp ở Đông Dương hài lòng với bài phát biểu, nhưng người Việt bị “choáng váng.” Vào ngày 15 tháng Chín, Hoàng Minh Giám trình bày phản ứng của chính phủ của mình: Không có tự do nào mà không có sự độc lập hoàn toàn. Ba ngày sau đó, Bảo Đại công khai chấp nhận lời đề nghị của Pháp để thương thuyết thay mặt cho người dân mình. Tuy nhiên, ông ta cũng nhấn mạnh rằng ông ta sẽ không chấp nhận điều gì ít hơn độc lập và thống nhất quốc gia. Một Mặt trận Liên hiệp Quốc gia được thành lập vội vàng hình thành bởi những đại diện của các nhóm quốc gia đa dạng không-Cộng-sản được gặp gỡ ở Hong Kong và từ chối những điều kiện của ông Bollaert. Một phần ngàn qua tin đồn ở Sài Gòn xì xầm với những báo cáo chưa được xác nhận về những tiếp xúc bí mật giữa Bảo Đại và Hồ Chí Minh.

* * *

Vào ngày 07 tháng Mười năm 1947, một cuộc tấn công đang được chờ đợi lâu dài của Pháp vào trong Việt Bắc được phát động. Bởi vì ông Valluy buộc phải hoạt động với đội quân ít hơn mà ông ta đã từng tính trước, ông Valluy thu nhỏ lại những kế hoạch mình. Thay vì bao vây toàn bộ khu vực và sau đó tấn công từ phía bắc cũng như phía nam,

p409

ông ta chọn lựa một chiến dịch nhỏ hơn nhắm vào mục đích vây bắt trái tim của đồn nhỏ Việt Minh và sau đó củng cố sự kiểm soát của Pháp trên thung lũng sông Hồng từ Hà Nội đến biên giới Lào Cai. Tướng Raoul Salan, là người đã từng được đặt vào trách nhiệm của chiến dịch, dự đoán rằng sẽ mất ba tuần để xóa bỏ người đứng đầu của Việt Minh.

Hoạt động Léa, như là một chiến dịch mang lấy danh hiệu, được mở ra với cuộc thả dù ở Bắc Cạn, trên rìa phía bắc của vùng căn cứ Việt Minh. Khu vực được bảo vệ rất nghiêm ngặt, bằng những trái mìn, rào chắn, và bẫy sập bổ sung địa hình vùng núi quanh co. Ông Valluy đã hy vọng vây bắt đồn chỉ huy của Việt Minh trong giai đoạn đầu của chiến dịch, và sau đó bao bọc khu vực trong di chuyển gọng kìm, với những đơn vị thiết giáp hành quân về phía tây vào trong khu vực từ Lạng Sơn, trong khi một nhóm khác sẽ di chuyển vào từ phía bắc. Hai nhóm sẽ thực hiện điểm gặp nhau của họ ở Bắc Cạn.

Đội quân Pháp tiến lên nhanh chóng và chẳng bao lâu tìm ra vị trí trụ sở chính của Việt Minh, nhưng họ không thể bắt lấy Hồ Chí Minh, vốn là người chủ trì cuộc họp tại đồn chỉ huy của mình vào thời điểm của cuộc tấn công. Ngay sau khi họ biết được rằng những lính dù Pháp thì rất gần, ông Hồ, những thành viên của Ủy ban Trung ương, và bộ tổng tham mưu rời đi ngay lập tức. Đối với Chu Văn Tấn, là dân tộc Nùng trong nhóm, đang phục vụ như là người dẫn đường, họ đi suốt ngày trên những đường mòn trơn trượt vì mưa, mỗi người mang trên vai một mình một túi nhỏ quần áo và các nhu yếu, và qua đêm ở một góc nhỏ trong rừng . Họ khởi hành vào sáng hôm sau để tìm một trụ sở mới. Theo học giả Bernard Fall, những người tấn công tìm thấy mẩu thuốc lá đang cháy và thư từ của Hồ Chí Minh sẵn sàng cho chữ ký trên bàn trong một túp lều.

Trong suốt vài ngày tới, những đơn vị Pháp cố gắng loại bỏ bất kỳ sức đề kháng xa hơn nữa trong khu vực, nhưng những cuộc càn quét của họ không gặt hái nhiều tiếp xúc trực tiếp với Việt Minh, là những người đã lẫn mất lặng lẽ vào trong rừng và sau đó bắt đầu quấy rối lực lượng Pháp tại những địa điểm theo sự lựa chọn của riêng họ. Tuy nhiên, ông Salan báo cáo với những cấp trên của mình rằng chiến dịch đã là một thành công, kể từ khi tuyến đường chính đến Trung Quốc qua Cao Bằng trên biên giới phía bắc (phần tiếp xúc cuối cùng còn lại của Việt Minh với thế giới bên ngoài) bị cắt đứt. Hồ Chí Minh lúc bấy giờ hoàn toàn bị cô lập. Tất cả những gì còn lại, tổng quát được khẳng định, là “những đám bị cô lập của những cấp bậc quan trọng khác nhau và dễ dàng đối với những hoạt động đơn giản của cảnh sát.” Đồn nhỏ của Việt Minh, ông ta tuyên bố, thực tế là đã không còn tồn tại.14

Hiếm khi trong biên niên sử của cuộc xung đột Đông Dương từng có một dự đoán quá sai lạc, vì trong thực tế cuộc chiến chỉ mới bắt đầu. Tuy nhiên, không có nghi ngờ rằng Chiến dịch Léa đã đưa đến một kết quả ít nhất là sự tạm thời thoái trào cho Việt Minh, là những người buộc phải giải tán những đơn vị lực-lượng-chính của họ và phân chia chúng thành các đơn vị tuyên truyền vũ trang tương tự như những đơn vị được hình thành vào đêm trước của Cách mạng Tháng Tám.

p410

Trong suốt vài tháng tiếp theo, những nhà lãnh đạo Việt Nam thực hiện những nổ lực sâu sắc để chuẩn bị cho con đường dài phía trước. Những người chỉ huy Việt Minh từ bỏ những cố gắng không thành công của họ tiến hành các chiến thuật thông thường và nắm lấy kỹ thuật chiến tranh du kích. Để tập trung vai trò lãnh đạo ở cấp địa phương, ủy ban kháng chiến và hành chính được thành lập trong mỗi làng được kiểm soát bởi các lực lượng kháng chiến. Mỗi làng được trao trách nhiệm không chỉ để tạo cho sự phòng vệ của riêng mình, mà còn để cung cấp những tân binh đầy hứa hẹn cho lực lượng du kích dưới sự chỉ huy của trung ương.

* * *

Đối với chuyến trở về Việt Bắc của ông Hồ vào cuối tháng Mười Hai năm 1946, Hồ Chí Minh tiếp tục cuộc sống vốn đã dường như đi đến một kết thúc với sự cuộc bầu cử như là Chủ tịch của mình trong suốt cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Ông ta đến khu căn cứ cũ với đoàn tùy tùng của tám người, tạo thành bởi người bảo vệ cá nhân của mình và những người chịu trách nhiệm về sự liên kết với những đơn vị khác và về chuẩn bị thực phẩm. Nhóm dựng lên một túp lều được xây dựng bằng tre và lá tranh vốn được chia ra thành hai phòng. Một phòng được quy định cho việc sử dụng riêng của ông Hồ, trong khi phòng khác phục vụ như là nơi ăn, phòng họp, và chỗ nghĩ cho những cộng sự viên của ông ta. Để bảo vệ chống lại những thú vật hoang dã, họ có được một con chó canh giữ, nhưng nó chẳng bao lâu bị giết và ăn thịt bởi con cọp.

Ông Hồ và những người đồng hành của mình chịu đựng một cuộc sống đơn giản. Những bữa ăn của họ bao gồm một ít gạo được bày biện với rau cải hoang xào. Có lần, họ có thể bổ sung phần ăn ít ỏi của họ với những cục thịt muối nhỏ, xắt lát mỏng và được dùng với ớt. Ông Hồ mô tả điều đó một cách buồn cười như là “conserves du Vietminh” (i.e. sự bảo tồn cho Việt Minh). Đôi khi thực phẩm thì thiếu, và tất cả bị chịu đói. Cuối cùng, nhóm bắt đầu trồng thực phẩm của riêng mình, trồng những cây rau trên những thửa đất bằng phẳng hơn và cây sắn dọc theo những sườn núi. Đến lúc đó, ông Hồ đã chiếm ngụ trong một ngôi nhà hai tầng riêng biệt. Suốt ngày ông ta làm việc ở tầng trệt, nhưng vào ban đêm ông ta ngủ trên tầng cao hơn như là bảo vệ chống lại những thú hoang dã và độ ẩm. Đồ dùng để ngủ của ông ta bao gồm chỉ là một cái mùng lưới muỗi và quần áo của ông. Khi nhóm bắt buộc phải di chuyển (vào cuối thập kỷ này, ông Hồ sống trong ít nhất hai mươi ngôi nhà khác nhau khi ông ta liên tục trốn thoát khỏi sự phát hiện của chính quyền Pháp), họ có thể gói lại và rời khỏi trong vài phút. Ông Hồ mang theo một ít cuốn sách và tài liệu trong một túi nhỏ, trong khi những người đồng hành của mình chịu trách nhiệm cho chiếc máy đánh chữ của mình.

Bất cứ khi nào có thể, Hồ Chí Minh tiếp tục thực hành những bài tập thể dục của mình, cả buổi sáng và cả buổi chiều tối. Ông ta thích thú với bóng chuyền và giao banh bằng một bàn tay chắc chắn,

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 02_ Chiang Kai-shek : Tưởng Giới Thạch.
pc 03_ LlVcP : Lực lượng Viễn chinh Pháp.

pc 04_ Madagascar : Mã Đảo là một quốc đảo nằm ở Ấn Độ Dương ngoài bờ biển đông nam của châu Phi. Quốc gia bao gồm hòn đảo của Madagascar ( hòn đảo lớn thứ tư trên thế giới)
Cho đến cuối thế kỷ 18, hòn đảo Madagascar đã được cai trị bởi một tập hợp nhiều quyền lức hỗn tạp bị phân mảnh của những liên minh xã hội-chính trị đang chuyển hướng. Bắt đầu từ đầu thế kỷ 19, phần lớn hải đảo được thống nhất và được cai trị như là Vương quốc Madagascar bởi một loạt giới quý tộc Merina. Chế độ quân chủ sụp đổ khi hòn đảo bị chinh phục và bị lôi cuốn vào trong đế quốc thực dân Pháp vào năm 1896, từ sự kiến đó hòn đảo có được độc lập vào năm 1960. Nhà nước tự trị của Madagascar từ đó đã trải qua bốn giai đoạn lập hiến to lớn, được gọi tên là nước Cộng hòa. Từ năm 1992, quốc gia đã chính thức được cai trị như là một nước dân chủ lập hiến từ thủ đô của nó ở Antananarivo, được gọi là Cộng hòa Madagascar.

pc 05_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s