XII- Hổ và Voi (Phần 2)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p411

mặc dù tầm xa của mình đã bị hạn chế. Khi đội đối phương rớt lại phía sau, những người chơi thường chiếm lợi thế của sự di chuyển hạn chế của ông ta và nhúng banh ngay trên luới, lúc đó ông Hồ reo cười lên, “Anh bạn thực sự nắm được tôi ở đó!” Khi họ bị buộc phải băng qua một con sông hoặc suối, nhóm ở gần ông ta, đặc biệt là nếu dòng nước mạnh mẽ; Không vì thế, ông ta nói chung là có thể theo kịp, và một người đào ngũ tuyên bố với những người phỏng vấn của Pháp rằng Hồ Chí Minh có nhiều khả năng hơn để chịu đựng sự khó khăn so với hầu hết những cộng sự viên trẻ hơn của mình, nhiều người trong số họ chịu khốn khổ định kỳ vì bệnh sốt rét hoặc những bệnh suy nhược khác. Có một lần, ông Hồ nhận xét: “Tôi giống như một máy bay bằng cánh quạt cũ kỷ, trong khi tất cả các bạn là những chiếc phản lực.”15

Cuối cùng, hoàn cảnh sinh sống của họ bắt đầu cải thiện. Xung quanh nơi cư trú của Hồ Chí Minh không chỉ có những luống hoa và dàn dây leo rau cải, mà còn là một sân đánh bóng chuyền chính thức hơn, và một thanh sắt ngang được cố định cho thể dục. Ông Hồ và những cộng sự viên của mình mua dụng cụ âm nhạc từ những người lân cận trong khu căn cứ, và đôi khi mời những người dân làng tham gia với họ trong một buổi chiều tối giải trí. Ông Hồ giảng dạy những người khách viếng của mình về văn hóa của các dân tộc vùng đồng bằng và đôi khi cung cấp cho họ những thuốc men để trị bệnh. Nhưng sau đó, vào mùa thu năm 1947, Chiến dịch Léa buộc ông Hồ và những đồng minh của mình di chuyển tiếp tục.

* * *

Sau khi cuộc tấn công mùa thu, sự xung đột được giải quyết biến thành điều gì mà một quan sát viên quân sự Pháp mô tả như là một “cuộc chiến đình trệ.” Thiếu phương tiện để tiếp tục những hoạt động tấn công, ông Valluy giới hạn chính mình vào những cố gắng khiêm tốn hơn ở vùng đồng bằng. Thời gian trì hoãn này cung cấp cho Việt Minh một cơ hội để tạo ra một vùng giải phóng ở miền Trung Việt Nam, một khu vực mang đặc tính của đất cát nghèo nàn và tiềm năng cách mạng đáng kể vốn trải rộng hơn 200 dặm từ thành phố Hội An đến Mũi Đại Lãnh, như thế phân chia đất nước gần như thành hai. Ở miền Nam, Pháp thì trong tình trạng sung mãn hơn, kể từ khi những đơn vị Việt Minh có một khoảng cách đáng kể từ trụ sở chính và gần như hoàn toàn mất những liên lạc với các cộng sự viên của họ. Đối với lực lượng của Nguyễn Bình từng bị đuổi sâu hơn vào những đầm lầy và những dãy núi, những đơn vị Pháp cố gắng để cô lập kẻ thù của họ bởi các hoạt động bình định mạnh mẽ.

Việt Minh cũng gặp phải sự phản đối tích cực ở miền Nam từ những nhóm quốc gia là những người đang trở nên ngày càng tích cực trong việc tìm kiếm tạo ra một “lực lượng thứ ba” không-Cộng-sản như là một sự lựa chọn thay thế giữa Việt Minh và Pháp. Trong những điều kiện này, sự thất bại của Chiến dịch Léa hầu mang lại một kết thúc chắc chắn đối với sự đề kháng chiến làm chuyển sự chú ý của nhiều người quốc gia đến đấu trường chính trị, và đến Bảo Đại.

p412

Vào tháng Mười Hai, cựu hoàng đế gặp gỡ với Emile Bollaert trên một tàu tuần dương của Pháp trong môi trường xung quanh hình ảnh tuyệt đẹp của Vịnh Hạ Long, là nơi có cuộc gặp gỡ đầu tiên của Hồ Chí Minh với Thierry d’Argenlieu. Tuy nhiên, kết quả của những cuộc đàm phán thật là ít ỏi, khi ông Bollaert từ chối làm rõ ràng về những quyền hạn mà chúng sẽ được quy định cho một nhà nước Việt Nam trong tương lai. Lúc kết thúc cuộc họp, Bảo Đại miễn cưỡng đồng ý ký tên vào một communiqué (i.e. thông cáo) chung, nhưng ông ta nhanh chóng chối bỏ hành động dưới những lời chỉ trích từ những người quốc gia dân quân trong Mặt trận Thống nhất Dân tộc được thành lập gần đây. Vào tháng Ba năm 1948, Bảo Đại gặp gỡ với những đại diện của mặt trận ở Hồng Kông và đồng ý thành lập một chính phủ lâm thời được dẫn đầu bởi Tướng Nguyễn Văn Xuân, một người gốc miền Nam vốn đã từng nhận lấy quốc tịch Pháp, như là một mánh khoé để tạo thêm quyền lực cho chính mình trong những cuộc đàm phán trong tương lai với Pháp. Sau một vài do dự, ông Bollaert đồng ý nhìn nhận chính phủ lâm thời mới của Bảo Đại như là một thành viên tương tác trong việc thương thuyết.

Vào tháng sáu, những cuộc đàm phán được nối lại ở Vịnh Hạ Long và cuối cùng hai bên đạt được sự thỏa thuận về sự hình thành của một Nhà nước Liên hiệp mới của Việt Nam dựa trên nguyên tắc của nền độc lập và thống nhất Việt Nam trong phạm vi Liên hiệp Pháp. Tuy nhiên, ý nghĩa chính xác của chữ “độc lập” và những quyền hạn cụ thể được giao cho chính phủ mới theo kế hoạch ​​vẫn còn chưa được dàn xếp. Thêm vào đó, không có dấu hiệu rõ ràng nào như là làm cách nào sự hình thành của chính phủ mới không-Cộng-sản có thể giúp đỡ mang lại sự chấm dứt cuộc xung đột với VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) của Hồ Chí Minh. Một giải pháp cho sự rối rắm ở Đông Dương dường như xa vời hơn bao giờ hết.

Đối với người Pháp, tuy nhiên, một trong những động cơ chính để dự vào những cuộc thương thuyết với Bảo Đại là để quyến rủ Hoa Kỳ vào trong việc cung cấp viện trợ quân sự và kinh tế trong cuộc chiến chống lại Việt Minh. Những thái độ ở Washington quả thật đang chuyển động theo chiều hướng thuận lợi, từ quan điểm của Paris. Mặc dù chính quyền Truman đã từng bực tức về sự thất bại của Pháp giải quyết vấn đề Đông Dương, điều đó trở nên ngày càng quan tâm đến mối đe dọa đang phát triển của chủ nghĩa Cộng sản ở châu Á, một mối quan tâm mà nó phản ảnh không chỉ những thắng lợi của Cộng sản đối với đội quân Quốc Dân ở phía bắc Trung Quốc mà còn làm xấu đi những quan hệ với Moscow. Vào mùa hè năm 1948, vị Ngoại trưởng George Marshall chỉ thị những quan chức ngoại giao Hoa Kỳ ở châu Á rằng không có việc gì sẽ bỏ qua chưa hoàn thành trong sự cố gắng làm mạnh thêm “những nhóm quốc gia thực sự” ở Đông Dương qua sự trả giá bằng những người Cộng sản.

Mặc dù những quan chức Hoa Kỳ có ít lòng tin vào Bảo Đại (hầu hết họ xem ông ta như là một kẻ ăn chơi vốn thiếu tấm lòng cho cuộc đối đầu chính trị), họ hoan nghênh việc ký kết hiệp ước Vịnh Hạ Long như là một “bước về tiến về phía trước.” Khi những cuộc thương thuyết chậm lại, họ cảnh cáo Paris rằng nó phải đối mặt với sự lựa chọn nghiệt ngã

p413

giữa sự thống nhất thật sự ban cho và nền độc lập đối với dân Việt Nam trong phạm vị Liên hiệp Pháp hoặc đánh mất hết cả Đông Dương. Nếu nước Pháp tiến hành qua những cam kết uớm thử ​​của nó, Washington biết rằng những nó có thể xem xét lại chính sách đang có của nó về việc giam giữ viện trợ kinh tế trực tiếp cho chính quyền Pháp ở Đông Dương.

Đối với hoàn cảnh ở đó ngày càng ảm đạm, vào tháng Giêng năm 1949 chính quyền Pháp cuối cùng bằng lòng với đòi hỏi của Bảo Đại là thuộc địa Nam Bộ được được bao gồm trong Nhà nước Liên hiệp Việt Nam được hoạch định. Sự nhượng bộ phá vỡ chướng ngại, và vào ngày 09 tháng Ba năm 1949, trong một buổi lễ được tổ chức tại Cung điện Elysée ở Paris, những đại diện của hai bên ký kết một hiệp ước qua đó Pháp nhìn nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam trong phạm vi Liên hiệp Pháp, theo sự phê chuẩn chính thức của hiệp ước bởi Quốc hội Pháp. Nhà nước mới sẽ được trao quyền để điều hành những công việc bang giao của nó, để kiểm soát tài chính của nó, và để tạo ra một Quân đội Quốc gia Việt Nam. Những trở ngại pháp lý duy nhất đối với nền độc lập là những hạn chế vốn bị áp đặt bởi vai trò thành viên trong Liên hiệp Pháp và tình hình chiến tranh hiện nay ở Đông Dương. Khi vỡ ra là, những hạn chế này quả thật lớn lao.

* * *

Vào tháng Giêng năm 1948, Ủy ban Thường vụ, phản ảnh sự tự tin của nó rằng hoàn cảnh đang chuyển đổi một cách không thể ngăn được theo hướng thuận lợi cho cách mạng, chính thức ban lệnh cho sự kết thúc giai đoạn đầu của cuộc rút lui và mở ra giai đoạn quân bình. Lực lượng Việt Minh lúc bấy giờ sẽ bắt đầu những trận chiến khơi màu với đối phương. Như là một phần của cách bắt đầu giải quyết mới của họ, lãnh đạo Đảng bấy giờ ban lệnh rằng những cố gắng được gia tăng hơn nên diễn ra để tổ chức quần chúng ở nước Lào và Cam-pu-chia láng giềng hầu góp phần tích cực vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Bằng cách mở rộng lãnh vực những hoạt động cách mạng khắp lãnh thổ Đông Dương, một chiến lược gia Việt Minh hy vọng sẽ phân chia lực lượng Pháp và khiến cho họ ngày càng dễ bị tấn công. Theo một tài liệu của Đảng được viết vào tháng Tám năm 1948, nếu sông Rhine được xem như là hàng phòng ngự đầu tiên của dân Anh cho Vương quốc Anh trong Thế Chiến thứ II, sông Mekong sẽ phục vụ cùng mục đích cho người Việt Nam. Như Trường Chinh đặt nó trong một bài báo được viết vào năm 1947, “Nếu kẻ thù tấn công chúng ta từ trên cao, chúng ta sẽ tấn công đối phương từ bên dưới. Nếu hắn ta tấn công chúng ta ở miền bắc, chúng ta sẽ đáp trả ở miền Trung hoặc miền Nam Việt Nam, hoặc ở Cam-pu-chia hoặc Lào. Nếu kẻ thù xâm nhập vào một trong những căn cứ lãnh thổ của chúng ta, chúng ta sẽ ngay lập tức đánh mạnh ở bụng hoặc lưng của hắn… cắt đôi chân của hắn ta [và] phá hủy những con đường của hắn.”16

Những gián điệp của Đảng đã từng hoạt động ở nước Lào và Cam-pu-chia láng giềng kể từ năm 1935, khi ĐCSĐD(pc 05) tổ chức Đại hội quốc gia đầu tiên của nó ở Macao

p414

–đáp ứng đến niềm tin của Moscow rằng những cuộc cách mạng trong tất cả ba nước ở Đông Dương nên được liên kết với nhau– và kêu gọi cho việc tạo ra trong tương lai một liên bang Đông Dương dưới sự hướng dẫn của Việt Nam mà qua đó sẽ tương tự như Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Sô-Viết. Tuy nhiên những cố gắng để xây dựng những chi bộ của ĐCSĐD trong số giới công nhân thành thị (nhiều người trong số họ thuộc nguồn gốc Việt hoặc Hoa) trong hai nước này đã đạt được chỉ một thành công tối thiểu cho đến khi sau khi Thế Chiến thứ II, khi lực lượng quốc gia địa phương tạo ra những tổ chức mới –được biết đến như là phong trào Issara Lào(pc 06) (i.e. Lào Tự do) và Issarak Khmer(pc 07) (i.e. Khờ-me Độc lập), một cách tương ứng– nhằm thúc đẩy cuộc đấu tranh nền độc lập quốc gia. Khi cuộc xung đột Pháp-Việt Minh đang diễn ra vào đầu năm 1947, những cán bộ Đảng ở Lào và Cam-pu-chia được lệnh thiết lập liên lạc với những tổ chức này và đặt chúng vững chắc dưới sự hướng dẫn của Việt Nam. Những cán bộ được chỉ thị cẩn thận, tuy nhiên, để tránh hạ mình trong các giao dịch của họ với Lào và các dân tộc Khmer và để nhận ra sự nhạy cảm của họ đối với những dấu hiệu mới chóm về sự thống trị của Việt Nam.17

Đám mây duy nhất trong bầu trời đang sáng nầy là mối nguy hiểm ngày càng phát triển qua sự can thiệp của Hoa Kỳ trong cuộc xung đột Đông Dương. Mặc dù Hoa Kỳ từ chối xem xét sự cung ứng để chu cấp viện trợ trực tiếp cho đến khi Paris chính thức phê chuẩn Hiệp định Elysée, một áp lực đối với việc tham gia của Hoa Kỳ vào chiến tranh đang phát triển. Nếu điều đó sẽ phải xảy ra, Việt Minh sẽ trong tình trạng rất thật là cần có một ông chủ đỡ đầu mạnh mẽ. Đối với Moscow dường như không quan tâm đến hoàn cảnh lâm nguy của Việt Minh, ông Hồ và những cộng sự viên mình chỉ có một lựa chọn duy nhất để chống nước cờ đầu tiên của Pháp hướng về Washington. Họ sẽ quay sang Trung Quốc.

Kể từ khi kết thúc Thế Chiến thứ II, những lãnh đạo của ĐCSĐD(pc 05) có chút liên lạc với những đối tác của họ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Vào mùa xuân năm 1947, sự liên lạc qua vô tuyến điện được thành lập với trụ sở Cộng sản ở Yan’an (i.e. Diên An) và Zhou Enlai (i.e. Chu Ân Lai) và Hồ Chí Minh đảm nhận trách nhiệm trao đổi thông tin giữa hai đảng phái và tìm cách cung cấp sự hỗ trợ lẫn nhau. Những liên lạc cũng đã diễn ra giữa những đơn vị Việt Minh và những phần tử của ĐCSTQ(pc 08) đang hoạt động ở các tỉnh tiếp giáp biên giới, và trong một vài trường hợp hai bên có thể hợp tác trong những chiến dịch chung chống Pháp. Theo một nguồn tin của Pháp vào thời điểm nào đó vào năm 1946, Cộng sản dọc theo biên giới tạo ra một đơn vị doanh Trung-Việt (được gọi là Trung đoàn Độc lập) nhằm dự vào cuộc chiến du kích chống lại chính quyền Pháp trong khu vực. Nhóm này hoạt động đặc biệt là trong số dân tộc thiểu số Nùng địa phương và những dân tộc thiểu số Thái trên cả hai mặt của vùng biên giới. Lúc đầu, tuy nhiên, những lãnh đạo Việt Minh dường như giữ lấy những quan hệ như thế được hạn chế để tránh những việc phức tạp trong những mối quan hệ của họ với những phần tử quốc gia địa phương.18

p415

Lúc thủy triều của cuộc Nội chiến Trung Quốc bắt đầu chuyển đổi đáng kể hướng về những người Cộng sản vào năm 1948, những đơn vị của Quân đội Nhân dân Giải phóng trở nên tích cực hoạt động hơn dọc theo biên giới và tham gia ngày càng gia tăng trong những chiến dịch địa phương qua sự hợp tác với các đơn vị Việt Minh. Sự mở rộng quyền lực Cộng sản vào trong miền Nam Trung Quốc gây nên sự lo lắng cho Pháp, và vào tháng Ba, Tướng Salan, là người gần đây đã thay thế Tướng Valluy như là vị Tư lệnh của LlVcP,(pc 03) đề nghị hành động tích cực để khôi phục quyền kiểm soát của Pháp trên khu vực biên giới trước khi cuộc chiến thắng được thúc đẩy của lực lượng Cộng sản ở Trung Quốc.

Nhằm thực hiện những chiến dịch mới ở Việt Bắc, ông Salan yêu cầu một sự gia tăng đáng kể trong kích thước của lực lượng Pháp. Những kiến nghị của ông ta, tuy nhiên, mang lấy sự chỉ trích ngấm ngầm thiếu hành động của chính phủ, và vào tháng Tư, ông ta được thay thế bởi Tướng Blaizot theo về lý lẽ rằng ông ta còn quá trẻ và thiếu kinh nghiệm quân sự thích hợp. Trên chuyến đến Đông Dương của mình, ông Blaizot đề nghị một cuộc rút lui chiến thuật từ biên giới để tăng cường lực lượng Pháp ở đồng bằng phía Bắc trong việc chuẩn bị cho một cuộc tấn công lớn vào Việt Bắc. Cao ủy Leon Pignon (ông Bollaert cũng đã được thay thế) đồng ý, nhưng kém lạc quan về quân cuộc tấn công quân sự được hoạch định của ông Blaizot.

Nhằm hòa hợp những khác biệt của hai người, Paris gởi Tướng Revers trên chuyến đi kiểm tra vào tháng Năm năm 1949. Ông Revers có ý phê phán về chiến lược hiện có trong cả hai lãnh vực chính trị và quân sự, qua cách bày tỏ sự nghi ngờ về khả năng đứng vững của chính phủ tham nhũng của Bảo Đại và đề nghị rằng vai trò lãnh đạo qua cố gắng của Pháp được đặt trong một ủy viên hội đồng cao cấp có cả quyền lực chính trị và cả quân sự. Nhưng ông ta cũng là bi quan về khả năng của một giải pháp quân sự, nắm giữ quan điểm rằng cách tốt nhất mà có thể đạt được là cải thiện tình hình cho cuộc dàn xếp có thương lượng. Để thúc đẩy một kết quả như thế, ông ta đề nghị một cố gắng để tăng cường sức mạnh vào tình hình ở Bắc Bộ cho đến khi Hoa Kỳ có thể được thuyết phục để mở đầu lực lượng của riêng mình. Đối với một chính sách có được hiệu quả như thế, biên giới cần được giữ kiên cố, nhưng lực lượng Pháp thì không đủ để bảo đảm cho toàn khu vực. Như là một cách lấp khoảng trống tạm thời, ông Revers đề nghị rằng việc bảo vệ biên giới được dựa trên khu vực phía đông trải dài từ Móng Cái đến Thất Khê. Phần còn lại của vùng biên giới sẽ được di tản.

Đối với sự suy yếu vị thế của Pháp và sự xuất hiện của những đơn vị đầu tiên của Quân đội Giải phóng Nhân dân (QđGpNd) ở biên giới, những viễn ảnh của Việt Nam bắt đầu tốt hơn. Vào đầu năm 1949, những du kích Việt Minh phát động những cuộc tấn công dọc theo khu vực biên giới. Những nguồn tin tình báo Pháp báo cáo rằng những chiến dịch đã từng được phối hợp với các đơn vị Trung Quốc ở mặt bắc biên giới. Một báo cáo cho rằng có một lần vào cuối tháng Ba, những đơn vị QđGpNd chiếm đóng ngắn hạn thành phố Móng Cái và sau đó rút lui trở lại bên kia biên giới.

p416

Một báo cáo khác trình bày rằng vào tháng Tư, Võ Nguyên Giáp đã ký một hiệp ước tạm thời với những đại diện Trung Cộng tại Jingxi (i.e. huyện Tĩnh Tây) kêu gọi sự hợp tác và hòa hợp của hai quân lực ở khu vực biên giới. Theo một nguồn tin ngoại giao Mỹ, tháng đó đài phát thanh của Việt Minh thông báo rằng những đơn vị của QđGpNd(pc 09) đã đến khu vực biên giới và đang thực sự cung cấp “sự trợ giúp quan trọng” cho Việt Minh.19

Đến mùa xuân năm 1949, lực lượng Trung Cộng đang vượt qua sông Yangtze (i.e. Dương Tử) vào trong miền Nam Trung Quốc và đang chuẩn bị thành lập một chế độ mới ở Bắc Kinh. Chiang Kai-shek(pc 02) đang chuẩn bị di tản chính phủ mình đến hòn đảo Đài Loan. Đối với những lãnh đạo Việt Minh, viễn ảnh của một Trung Quốc thân thiện ở biên giới phía bắc của Đông Dương tạo ra sự lạc quan rằng một cuộc tổng tấn công đang chờ đợi lâu dài của họ có thể ở trong tầm tay. Tình báo Pháp báo cáo rằng một cuộc họp chính của những nhà lãnh đạo Việt Minh, bao gồm Hồ Chí Minh, được tổ chức vào tháng Tư gần Vinh đã từng đánh giá tình hình, ông Hồ tuyên bố rằng mặc dù sự gia tăng trong lực lượng Pháp sẽ tạo ra những vấn đề, một cuộc tổng tấn công thì có thể với sự viện trợ của Trung Quốc. Trong việc chuẩn bị cho tình huống đó, một cuộc họp quyết định để khởi đầu những chuẩn bị nhằm mở ra một mặt trận tiền phương dọc theo biên giới để tạo sự thuận tiện tiếp xúc với QdGpNd(pc 09).20

Tất cả điều này, dĩ nhiên, là tin tức tốt cho Việt Minh. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh chắc chắn ý thức rằng bất kỳ sự gắn bó chặt chẽ không che giấu của phong trào ông ta với Trung Cộng có thể làm phá hỏng những mối quan hệ với những người ôn hòa Việt Nam và tạo ra một động cơ thúc đẩy quan trọng cho sự tham gia của Hoa Kỳ vào trong cuộc chiến ở bên phía Pháp. Trong một cố gắng làm giảm bớt những nghi ngờ như thế, ông ta thường kỳ phủ nhận rằng chính phủ của mình sẽ gắn liền vận mệnh với chế độ mới ở Trung Quốc. Vào tháng Ba năm 1949, ông ta gián tiếp phủ nhận sự tồn tại của một hiệp ước với Trung Quốc như là “một tin đồn của thuộc địa.” Tháng sau, ông ta nói với nhà báo Mỹ trong một cuộc phỏng vấn nơi nào đó ở Việt Bắc là nền độc lập sẽ đến qua những cố gắng của riêng VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) và bác bỏ lời cáo buộc về “sự thống trị của Cộng sản” qua Việt Minh như là “một tuyên truyền thuần túy đế quốc Pháp.” Trong một tuyên bố vào tháng Tám, ông ta thừa nhận rằng có một số điểm tương đồng giữa “dân chủ mới” của Mao Zedong (i.e. Mao Trạch Đông) và những chính sách của chính phủ của mình, tuy nhiên, ông ta nói thêm, nền “Dân chủ Mới của Trung Quốc là của người Trung Quốc, chúng tôi là người Việt Nam.”21

Sự quyết định của Pháp nhìn nhận Nhà nước Liên hiệp của Bảo Đại như là một chính phủ hợp pháp duy nhất ở Việt Nam được tượng trưng cho một thách thức được thêm vào, vì nó có thể kết thúc những nghi ngờ của Washington về những ý định của Pháp và thúc đẩy sự tham gia trực tiếp của Hoa Kỳ vào trong cuộc chiến Pháp-Việt Minh. Vào tháng Sáu năm 1949, trong một cố gắng để gây ảnh hưởng đến quá trình của những sự kiện ở Paris, ông Hồ cho biết trong một cuộc phỏng vấn với một nhà báo Indonesia rằng

p417

Việt Minh có thể sẵn sàng thương thuyết với Pháp về điều kiện độc lập và thống nhất quốc gia. Nhưng chiến thắng cuối cùng của Cộng sản ở Trung Quốc vào mùa hè năm đó chắc chắn thúc đẩy nhiều lãnh đạo Đảng rằng thắng lợi hoàn toàn có thể đạt được bằng phương cách quân sự, như thế làm giảm sự cần thiết tìm kiếm sự dàn xếp qua thương thuyết. Vào ngày 09 tháng Bảy, Phạm Ngọc Thạch, bây giờ phục vụ như là một đại diện của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) cho miền Nam Việt Nam, lên án Bảo Đại như là “một con rối qua sự trả công của những kẻ xâm lược” và nói với một nhà báo Pháp rằng những thành công gần đây của quân đội Trung Quốc báo trước sự chấm dứt những lần khó khăn cho Việt Minh. Vào cuối tháng, những nguồn tin tình báo Pháp báo cáo rằng Võ Nguyên Giáp đã ra lệnh những chuẩn bị cho việc chuyển sang giai đoạn cuối cùng của cuộc tổng tấn công.22

Vào giữa tháng Tám, một cuộc họp bí mật của Hội đồng Bộ trưởng VNDCCH (Bắc Việt) quyết định thực hiện một yêu cầu chính thức đến chính phủ mới của Trung Quốc cho sự viện trợ trong cuộc chiến chống Pháp. Hồ Chí Minh chọn lựa hai đại diện để đi đến Bắc Kinh chúc mừng Mao Zedong(pc 11) về chiến thắng của ông ta trên lực lượng của Chiang Kai-shek.(pc 02) Chiến thắng đó, ông Hồ tuyên bố trong một thông điệp cho nhà lãnh đạo Trung Quốc, như là khuyến khích những dân tộc Á châu khác và đặc biệt là những đồng bào của riêng mình qua những cố gắng tự giải thoát khỏi ách thống trị của chế độ thực dân. Ngay sau đó, ông Hồ quyết định thực hiện chuyến thăm cá nhân đến Trung Quốc hầu truyền đạt yêu cầu của mình cho mối quan hệ chặt chẽ với những lãnh đạo mới ở Beijing (i.e. Bắc kinh).23

Hai đại biểu Việt Nam đến Beijing vào giữa tháng Mười và hội ý với những quan chức Trung Quốc. Họ đã đến vào một thời điểm tế nhị. Chính phủ mới của Trung Quốc vừa mới được thành lập tại một cuộc họp quần chúng được tổ chức ở quảng trường Thiên An Môn của Beijing vào ngày 01 tháng Mười và trong quá trình quyết định vai trò trong tương lai của riêng nó trên thế giới. Mặc dù Mao Zedong(pc 11) đã thực sự tuyên bố rằng một Trung Quốc mới sẽ “có khuynh hướng về một bên” trong những quan hệ của nó với phe Sô-Viết, mức độ nghiêng về phía Moscow vẫn chưa được quyết định, khi một cuộc họp trực tiếp giữa Stalin và Mao đã chưa từng không xảy ra. Trong khi những quan hệ với Hoa Kỳ đã gây căng thẳng trong những tháng gần đây, những đại diện ngoại giao của Hoa Kỳ vẫn còn ở Trung Quốc, và vẫn có một hy vọng giữa một số quan chức ở Washington –nếu không phải ở Beijing– mà sự cắt đứt bang giao có thể tránh được.

Biệu hiện đầu tiên của quần chúng về thái độ của chính phủ mới của Trung Quốc đối với cuộc xung đột ở Đông Dương đến trong tháng Mười Một, khi Liu Shaoqi (i.e. Lưu Thiếu Kỳ), người quen biết của Hồ Chí Minh từ những ngày ở Canton (i.e. Quảng Châu) vốn là người lúc bấy giờ được xếp hạng thứ hai đối với Mao Zedong trong hệ thống cấp bực của Đảng, đưa ra bài phát biểu quan trọng tại Đại hội công đoàn giao thương quốc tế được tổ chức ở Beijing. Trong bài diễn văn được thông báo rộng rãi này, ông Liu tuyên bố rằng chính phủ Trung Quốc sẽ cung cấp

p418

viện trợ tích cực cho những phong trào giải phóng dân tộc ở những nơi khác thuộc châu Á. Ông ta đặc biệt nhắc đến những cuộc đấu tranh ở Đông Dương và Mã-Lai-Á, nơi mà những du kích Cộng sản đã từng phát động một phong trào kháng chiến chống lại chính quyền thuộc địa Anh. Trong một bài phát biểu thứ hai sau đó trong tháng, ông Liu kêu gọi dân Trung Quốc ban sự ủng hộ tích cực của họ cho những dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa châu Á và châu Úc. Đến thời gian đó, tất cả những chính phủ khác của Cộng sản trên thế giới đã thừa nhận sự nhìn nhận bang giao đối với chính phủ mới ở Beijing. Vào tháng Mười, một bài viết của Trường Chinh trên tờ báo Sự Thật của ĐCSĐD(pc 05) chúc mừng chính phủ mới của Mao Zedong.(pc 11) Tác giả tuyên bố rằng chiến thắng của Cộng sản ở Trung Quốc tượng trưng một thắng lợi cho tất cả các dân tộc yêu chuộng hoà bình và dân chủ trên thế giới, đặc biệt là cho các dân tộc thuộc địa trong thế giới hiện đang chiến đấu chống lại lực lượng đế quốc toàn cầu. Beijing phản ứng vào ngày 25 tháng Mười Một với một tuyên bố có phần nào vắn tắt và ngắn gọn rằng Trung Quốc và Việt Nam thì “trên những tuyến tiền phương trong đội tiên phong của cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc.”24

Vào tháng Mười Hai năm 1949, VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) tổ chức hội nghị quốc gia công đoàn giao thương đầu tiên của riêng mình ở Việt Bắc. Trong quá trình của cuộc họp, được tổ chức trong căn phòng rộng của hội nghị dưới những bức chân dung khổng lồ của Stalin, Mao, và Hồ Chí Minh, 200 đại biểu được triệu tập lắng nghe khi Trường Chinh tuyên bố sự liên kết tư tưởng hệ và chính trị của VNDCCH (Bắc Việt) với chế độ mới ở Trung Quốc. Trong một bức thư được đọc to lên tại cuộc họp, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng giai cấp công nhân phải là lực lượng hàng đầu trong nước. Nghị quyết cuối cùng của hội nghị chúc mừng dân Trung Quốc, mà cuộc chiến thắng của họ “chuyển đổi sự cân bằng lực lượng đối với phe dân chủ.”25

Vào giữa tháng mười hai, Mao Zedong(pc 11) đến Moscow để dàn xếp mối quan hệ với Liên Xô. Rõ ràng là không có đủ thời gian cho những lãnh đạo Trung Quốc quyết định về sự  đáp ứng đối với yêu cầu của Việt Minh trước khi cuộc khởi hành của Mao đến Liên Xô, nhưng vào một thời điểm nào đó trong giữa tháng Mười Hai, Liu Shaoqi(pc 12) nói với Luo Guibo, một sĩ quan quân sự được giao chức Tham mưu Trưởng của QđGpNd,(pc 09) là ông ta được gởi đến Đông Dương để gặp gỡ với Hồ Chí Minh và những quan chức khác của Việt Nam. Nhiệm vụ của ông ta, ông Liu giải thích, sẽ là ba phần: cảm ơn dân Việt Nam cho sự hỗ trợ của họ trong suốt cuộc nội chiến Trung Quốc; khôi phục những liên lạc thông thường giữa hai đảng phái; và có được thông tin về tình hình ở Đông Dương. Sau một thời gian ở lại ba tháng, ông Luo được chỉ thị trở về Trung Quốc để báo cáo những gì tìm thấy được của mình.26

Vào ngày 24 tháng Mười Hai, một tuần sau chuyến khởi hành của Mao đến Liên Xô, Liu Shaoqi triệu tập một cuộc họp của Bộ Chính trị thuộc Ủy ban Trung ương để phân tích tình hình ở Đông Dương và xây dựng một chính sách. Bất kỳ một quyết định cung cấp viện trợ cho Việt Minh sẽ không phải là không có phí tổn,

p419

kể từ khi chính phủ Pháp đã chưa quyết định liệu có nên ban sự nhìn nhận bang giao cho Trung Quốc mới và rõ ràng sẽ bị xúc phạm nếu Beijing quyết định nhìn nhận Việt Minh. Ngày hôm sau, qua cách hành động thay mặt Chủ tịch Mao, ông Liu thông báo với những lãnh đạo Việt Nam bằng điện tín rằng chính phủ Trung Quốc được chuẩn bị để gởi một đội ngũ giúp VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) đánh giá nhu cầu của nó. Ông ta cũng mời Việt Nam cử một đoàn đại biểu chính thức để thảo luận về vấn đề ở Beijing.

Một vài ngày sau đó, ông Liu nhận được trả lời từ Đông Dương chấp nhận lời mời. Hồ Chí Minh đã đánh giá tình hình với nội các của mình vào giữa tháng Mười Hai và đã thực sự kết luận rằng chiến thắng của lực lượng Mao mở ra những triển vọng tươi sáng cho cách mạng Việt Nam. So sánh chiến thắng của Cộng Sản trên vùng trung thổ đối với trò chơi cờ vua mà qua đó “bên phe đỏ” đã giành được một thắng lợi đáng phục, ông Hồ dự đoán rằng một Trung Quốc mới sẽ cung cấp sự hỗ trợ đáng kể cho Việt Nam và kêu gọi những chuẩn bị được tăng cường cho cuộc tổng tấn công sắp đến.

Đến lúc những quan chức Bắc Kinh nhận được thông điệp củaViệt Nam, đoàn đại biểu của những quan chức Việt Nam đã thực sự cuốc bộ đến Trung Quốc. Không được biết gì đối với những chủ khách của họ, là những người đã được thông báo rằng thành viên cao cấp của phái đoàn sẽ là Trần Đăng Ninh, một ủy viên dự khuyết ở bộ tham mưu của Việt Minh, người lãnh đạo thực sự của phái đoàn VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) chính là Hồ Chí Minh. Để tránh thu hút sự chú ý của lực lượng an ninh Pháp, sự tham gia của ông Hồ được giữ bí mật; thật ra, chỉ có hai thành viên của đoàn tùy tùng của ông ta nhận biết về sự hiện diện của mình. Sau khi rời khỏi đồn nhỏ Việt Minh ở tỉnh Tuyên Quang vào ngày 30 tháng Mười Hai, nhóm băng qua biên giới bằng chân. Ông Hồ mặc bộ đồ ka-ki quen thuộc của mình, theo phong cách của Sun Yat-sen (i.e. Tôn Dật Tiên), và đi dưới cái tên Ding. Vào ngày 16 tháng Giêng năm 1950, nhóm đến được Jingxi.(pc 10) Được tháp tùng bởi sự hộ tống của QđGpNd,(pc 09) họ tiếp tục đến Nanning (i.e. Nam Ninh), nơi mà họ gặp gỡ với những quan chức Trung Quốc và được thông báo rằng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc (CHNDTH) vừa mới đồng ý ban sự nhìn nhận bang giao cho VNDCCH (Bắc Việt). Thông báo của Trung Quốc được thực hiện vào ngày 18 tháng Giêng, bốn ngày sau đó những nguồn tin của Việt Minh ở Bangkok đã tuyên bố rằng VNDCCH là một chính phủ hợp pháp duy nhất ở Việt Nam. Sau một lúc nghĩ mệt, ông Hồ và những đồng chí của mình lên xe lửa đến thành phố cảng Wuhan (i.e. Vũ Hán) trên sông Yangtze(pc 13).27

Một vài ngày sau đó, đoàn đại biểu đến được Beijing, nơi mà ông Hồ gặp đồng chí cũ của mình là Hoàng Văn Hoan, vốn là người đã đến từ châu Âu quá muộn không thể bước vào Đại hội công đoàn giao thương vào tháng Mười Một. Trung Quốc đã cố gắng gìn giữ chuyến đi của đoàn đại biểu Việt Nam bí mật, nhưng những nguồn tin tình báo Tây phương đã thực sự biết về điều đó. Chẳng bao lâu sự việc được tường trình trên báo chí Tây phương.

p420

Liu Shaoqi(pc 12) đã chuẩn bị cho những cuộc đàm phán sắp tới bằng cách chỉ định một ủy ban được đứng đầu bởi Tướng Zhu De (i.e. Chu Đức), đồng chí trong quân ngũ lâu năm của Mao và bây giờ là Phó Chủ tịch của các chính phủ và là người chỉ huy của QđGpNd,(pc 09) giải quyết những vấn đề quân sự mà chắc chắn sẽ được nêu lên trong những cuộc họp với Việt Nam. Đồng thời, ông ta thông báo cho Mao Zedong(pc 11) ở Moscow về chuyến đến của ông Hồ. Mao đánh điện đáp lại rằng yêu cầu ông Liu những chuyển lời thăm hỏi nồng ấm của ông ta đến Hồ Chí Minh và chúc mừng VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) về việc tham gia phe xã hội chủ nghĩa.

Tại Bắc Kinh, ông Hồ được cho những tiện nghi ăn ở tại Zhongnanhai (i.e. Trung Nam Hải), một biệt thự lộng lẫy ở khu phía tây của hoàng cung nơi mà Mao Zedongđã chiếm lấy làm nơi cư ngụ riêng của mình. Nó cũng phục vụ như là chỗ họp của Bộ Chính trị Trung Quốc. Ông Liu chính thức thông báo cho người khách của mình rằng Trung Quốc đã quyết định ban sự nhìn nhận bang giao với VNDCCH, trong khi ghi nhận thẳng thừng rằng những lãnh đạo Trung Quốc dự kiến ​​sẽ phải trả cái giá trong những quan hệ của họ với Pháp. Tại một bữa tiệc cho đoàn đại biểu được tham dự bởi nhiều lãnh đạo Trung Quốc, ông Liu đưa ra đề nghị đến Đại sứ Sô-Viết Roshin rằng Hồ Chí Minh nên đích nhân đến Moscow để hội ý với Stalin và trình bày cho ông ta bằng bài tường thuật về tình hình hiện tại ở Đông Dương. Khi Stalin ra tín hiệu chấp thuận của mình bằng điện tín, ông Hồ và cộng sự viên của mình là Trần Đăng Ninh rời khỏi cùng với Zhou Enlai(pc 14) đến Moscow vào ngày 03 tháng Hai. Hoàng Văn Hoan vẫn ở lại Beijing để thực hiện những chuẩn bị mở ra một tòa đại sứ mới của Việt Nam.28

* * *

Kể từ khi kết thúc Thế Chiến thứ II, sự quan tâm của Sô-Viết đến số phận của cách mạng Việt Nam đã từng là trong tình trạng sút kém. Qua một bài phát biểu được thông cáo rộng rãi vào tháng Chín năm 1947, người thay mặt Stalin, Andrey Zhdanov, đã công bố sự ủng hộ của Sô-Viết cho cuộc đấu tranh của các dân tộc bị thuộc địa áp bức chống lại những kẻ bốc lột thuộc chủ nghĩa đế quốc của họ, bằng cách ngụ ý rằng lực lượng tư sản dân tộc đang đấu tranh cho nền độc lập tại những khu vực thuộc địa được xem thuận lợi ở Moscow. Tuy nhiên, vào đầu năm 1948, chính sách của Sô-Viết đã cứng rắng hơn, khi những đảng Cộng sản trong những xã hội Á châu được chỉ thị phá vỡ những liên minh tạm thời của họ với các tổ chức quốc gia và cố gắng để nắm lấy quyền lực của riêng mình. Chính sách đó, rõ ràng được truyền ra tại hội nghị của những tổ chức thanh niên được tổ chức tại thủ đô Calcutta (i.e thuộc Ấn Độ), đã từng là một thảm họa, bởi dẫn đến kết quả qua sự đàn áp cuộc nổi dậy của Cộng sản ở Đông Ấn thuộc Hòa Lan và sự trục xuất những đảng phái Cộng sản từ các mặt trận thống nhất bởi những đối thủ quốc gia của họ trên khắp khu vực Đông Nam Á.

Sự thù nghịch không thỏa hiệp mới nhất của Moscow đối với những đảng phái tư sản quốc gia –một việc gợi nhớ đến thái độ của tâm trạng phe phái vào đầu những năm 1930s– là sự phản ảnh quan điểm của riêng Stalin về chủ đề, một thái độ được gây nên sâu sắc hơn bởi sự thất bại của ĐCSTQ –mặt trận thống nhất của Quốc Dân Đảng trong suốt thập niên 1920s.

p421

Theo những người bạn tâm tình, Stalin đã từng nuôi dưỡng những sự nghi ngờ về tính chính thống tư tưởng hệ của riêng Hồ Chí Minh trong nhiều năm và trở nên đáng ngờ một cách đặc biệt khi ông Hồ đã tìm cách thiết lập mối quan hệ với Hoa Kỳ trong những tháng ngay sau Chiến tranh Thái Bình Dương. Stalin cũng gián tiếp không hài lòng khi ĐCSĐD(pc 05) chính thức tự bãi bỏ vào tháng Mười Một năm 1945. Hai năm sau, khi Moscow ban sự nhìn nhận bang giao cho việc đấu tranh của nước Cộng hòa Indonesia mới của ông Sukarno,(pc 15) nó đã không nhìn nhận VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), có lẽ vì những những nghi ngờ rằng Việt Minh sẽ chiến thắng trong cuộc đấu tranh của họ chống lại chính quyền Pháp.

Trong những năm đầu của cuộc xung đột Pháp-Việt Minh, sau đó, Việt Nam dường như không có tiếp xúc trực tiếp với Liên Xô, mặc dù đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp vốn đến Đông Dương vào năm 1949 có thể đã được gởi theo những mệnh lệnh của Moscow để đánh giá tình hình. Trong bất cứ trường hợp nào, vào cuối tháng Tám năm đó ông Hồ gởi một bức thư cho Stalin, cám ơn ông ta cho sự ủng hộ của Sô-Viết đối với ĐCSTQ trong suốt cuộc nội chiến và cho sự hỗ trợ đến Liên đoàn Giao Thương Thế giới.29

Sự hoài nghi của Stalin về ông Hồ và những triển vọng của Việt Minh thì rõ ràng qua sự bày tỏ trong suốt chuyến thăm của ông Hồ đến Moscow. Theo Nikita Khrushchev, Stalin đối xử nhà cách mạng Việt Nam với sự khinh miệt không giấu diếm trong suốt chuyến thăm. Vào ngày thứ hai hoặc thứ ba sau chuyến đến của ông Hồ, khi những quan chức Liên Xô sắp xếp cuộc họp với Stalin, thái độ của Stalin đối với người khách của mình là, theo những lời của Khrushchev, “tấn công, tức điên lên.” Khi Stalin và Mao Zedong(pc 11) cuối cùng ký hiệp ước liên minh vào ngày 14, tháng Hai năm 1950, Hồ Chí Minh tham dự tại buổi lễ và đưa ra dự kiến rằng Stalin nên ký một thỏa thuận tương tự với đất nước mình. Stalin trả lời rằng điều này thì không thể xảy ra, vì ông Hồ ở Moscow qua một nhiệm vụ bí mật. Khi ông Hồ –chắc chắn trong lời nói đùa– cho rằng ông được bay quanh Moscow bằng một máy bay trực thăng và sau đó đáp xuống một phi trường trong sự công khai hợp lý, Stalin trả lời: “Oh, anh bạn Đông phương. Anh bạn có những tưởng tượng phong phú đến thế.” Hồ Chí Minh sử dụng tất cả những thủ đoạn quen thuộc của mình để giành sự ủng hộ của người chủ khách cộc cằn của mình. Vào lúc kết thúc một cuộc họp, ông ta đã yêu cầu Stalin tặng chữ ký trên một ấn bản của tạp chí Liên Xô Đang Xây dựng. Theo Khrushchev, Stalin đã phản ứng qua “cách không tin, bệnh hoạn đặc thù” của ông ta, ký tặng trên tạp chí nhưng kế tiếp sau đó bảo những cận vệ riêng của mình rằng ông ta đã bất cẩn trong việc ký tên vào nó và ra chỉ thị cho họ lấy lại nó. Kế đó, sau khi họ lấy nó lại, Stalin nói đùa với bạn bè: “Ông ta vẫn đang tìm kiếm tạp chí đó, nhưng ông ta không thể tìm thấy nó.”30

Stalin, tuy nhiên, cuối cùng đã thừa nhận một trong những yêu cầu của Hồ Chí Minh. Vào ngày 30 tháng Giêng năm 1950, Moscow đã chính thức công bố sự nhìn nhận bang giao của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) như là một chính phủ hợp pháp duy nhất của Việt Nam. Nhưng những nghi ngờ của những nhà lãnh đạo Sô-Viết về quan điểm tư tưởng hệ không chính thống của Hồ Chí Minh vẫn chưa không giảm bớt.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 02_ Chiang Kai-shek : Tưởng Giới Thạch.
pc 03_ LlVcP : Lực lượng Viễn chinh Pháp.

pc 04_ Madagascar : Mã Đảo là một quốc đảo nằm ở Ấn Độ Dương ngoài bờ biển đông …(xin xem phần trước).

pc 05_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.
pc 06_ Issara Lào : (“Lào Tự do”) là một phong trào quốc gia không-Cộng-sản, chống Pháp được thành lập vào năm 1945 bởi Hoàng tử Phetsarath. Phong trào ngắn ngủi này xuất hiện sau khi sự bại trận của Nhật trong Thế Chiến thứ II và trở thành chính phủ Lào trước khi sự trở lại của Pháp. Nó nhắm vào mục đích ngăn chặn Pháp từ việc khôi phục sự kiểm soát của họ đối trên Lào. Nhóm tan rã vào năm 1949.

pc 07_ Khmer Issarak : (“Khmer Độc lập “) là một phong trào chính trị của phe Khmer quốc gia chống Pháp được thành lập vào năm 1945 với sự tiếp tay của chính phủ Thái Lan. Nó tìm cách trục xuất chính quyền thuộc địa Pháp từ Cam-pu-chia, và thiết lập một nhà nước độc lập Khmer.
Những tư tưởng hệ chính trị khác nhau rộng rãi trong phạm vi phong trào dẫn đến sự phá vỡ cuối cùng của nó, với nhiều người trong số những nhân vật của nó đang tiếp tục tham gia trong cuộc Nội chiến Cam-pu-chia.

pc 08_ ĐCSTQ : Đảng Cộng sản Trung Quốc.
pc 09_ QđGpNd : Quân đội Giải phóng Nhân dân.
pc 10_ Jingxi : huyện Tĩnh Tây.
pc 11_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.
pc 12_ Liu Shaoqi : Lưu Thiếu Kỳ.
pc 13_ Yangtze : Dương Tử.
pc 14_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.

pc 15_ Sukarno : (6/06/1901–21/06/1970). Ông ta là vị  lãnh đạo cuộc đấu tranh của đất nước ông ta vì nền độc lập từ Hà Lan và là vị Tổng thống đầu tiên của Indonesia từ 1945-1967. Ông Sukarno đã bị tước danh hiệu Tổng thống của mình bởi MPRS –Hội đồng Tham vấn Nhân dân của Cộng hòa Indonesia, ngày 12 tháng Ba 1967 trong một phiên họp được chủ trì bởi cựu đồng minh của ông ta là Nasution. Sau đó, ông ta bị thay thế bởi một trong những tướng lãnh của mình, Suharto, và vẫn còn bị quản thúc tại gia cho đến khi ông ta qua đời.
Một phiên bản bán chính thức của những sự kiện của 1965-1966 tuyên bố rằng Chủ tịch Aidit của Đảng Cộng sản Indonesia (PKI) tổ chức những vụ ám sát sáu vị tướng, sử dụng những người có thiện cảm với Cộng sản trong quân đội, để bảo đảm vị trí của PKI trong trường hợp mất khả năng đáng sợ của Sukarno, vốn bị đột quỵ nhẹ vào ngày 04 tháng Tám, 1965. Sau sự sụp đổ của ông Suharto vào năm 1998, một số trong những đối thủ của ông ta đưa ra lý thuyết rằng ông Suharto điều khiển những vụ ám sát để loại bỏ những đối thủ tiềm năng cho chức tổng thống.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s