XII- Hổ và Voi (Phần 3-Hết)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p422

Những nguồn tài liệu của Việt Nam vẫn kể lại câu chuyện (có thể, nhưng không chắc chắn, ngụy tạo) rằng tại một cuộc họp giữa hai người được tổ chức vào năm 1952, Stalin chỉ vào hai chiếc ghế trong phòng họp và bày tỏ: “Đồng chí Hồ Chí Minh, có hai cái ghế ở đây, một cái dành cho dân tộc chủ nghĩa và một cho quốc tế chủ nghĩa. Trên cái nào bạn ước muốn ngồi?” Ông Hồ trả lời, “Đồng chí Stalin, tôi muốn ngồi cả hai ghế.”31

Tại sao Stalin quyết định ban sự nhìn nhận bang giao cho VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), mặc dù có những thái độ ngầm biểu lộ sự hạn chế tán thành của mình về ĐCSĐD(pc 05) và người lãnh đạo của nó? Theo những nguồn tài liệu Trung Quốc, những động thái của Stalin có thể có liên quan đến cuộc đàm phán đang diễn ra của mình với Mao Zedong.(pc 11) Mao đã đến Moscow quyết định giải quyết xong một hiệp ước mới với Liên Xô mà nó loại bỏ một số đặc quyền xuyên biên giới mà Liên Xô chiếm hữu ở Trung Quốc được cho phép bởi Hội nghị Thượng đỉnh Đồng Minh tại Yalta(pc 16) tháng 2 năm 1945. Stalin ước muốn giữ lại những quyền đó vì những lý do an ninh, nhưng ông ta sợ rằng qua cuộc trả đũa, Trung Quốc có thể quyết định đối ước trực tiếp với Hoa Kỳ. Chính đó vì vậy là điều quan trọng đối với Stalin để đảm bảo rằng chính sách bang giao của Trung Quốc ở châu Á sẽ là cơ bản thích hợp để đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ bị gây thù nghịch, như thế ngăn ngừa một liên minh có thể có giữa Beijing-Washington. Tại những cuộc họp giữa ba người ở Moscow, Stalin do đó khuyến khích Mao đi đầu trong việc thúc đẩy cuộc cách mạng ở châu Á. Liên Xô, ông ta hứa với Hồ Chí Minh, sẵn sàng giúp Việt Nam tất cả như nó có thể, nhưng Trung Quốc phải đóng vai trò nổi bật trong việc chỉ đạo cuộc đấu tranh. “Đối với Việt Nam chúng tôi cảm thấy mối quan tâm tương ứng như chúng tôi làm cho Trung Quốc,” ông ta nói với ông Hồ. “Từ bây giờ trở đi, anh bạn có thể tin cậy vào sự trợ giúp của chúng tôi, đặc biệt là bây giờ sau cuộc chiến đối kháng, những vật dụng dư thừa của chúng tôi có nhiều, và chúng tôi sẽ gởi chúng đến bạn qua Trung Quốc. Nhưng vì những giới hạn của hoàn cảnh thiên nhiên, điều đó sẽ chủ yếu là Trung Quốc giúp đỡ bạn. Cái gì Trung Quốc thiếu, chúng tôi sẽ cung cấp.” Mao sau đó bảo đảm với Hồ Chí Minh, “Bất kỳ cái gì  Trung Quốc có và Việt Nam cần, chúng tôi sẽ cung cấp.”32

Vào ngày 17 tháng Hai, ông Hồ theo Mao Zedong(pc 11) và Zhou Enlai(pc 14) trên chuyến xe lửa dài qua Siberia trở lại Beijing. Cũng giống như Hồ Chí Minh, Mao đã thu được ít nhất một phần về điều gì đó mà ông ta mong muốn từ Moscow. Hiệp ước mới giữa Trung-Xô loại bỏ một số trong những yếu tố nhục nhã hơn trong thỏa thuận Yalta, và Moscow hứa sẽ cung cấp sự hỗ trợ kinh tế. Nhưng những gì đạt được như thế thì khó kiếm được: Mao sau đó thông báo cho những cộng sự viên rằng “nhận được một vài cái gì đó từ Stalin thì như lấy miếng thịt từ miệng con cọp.”

Xe lửa được kéo vào trong Bắc Kinh vào ngày 03 tháng Ba. Mao tổ chức một bữa tiệc khác cho Hồ Chí Minh tại Zhongnanhai,(pc 17) với tất cả các quan chức hàng đầu của Trung Quốc tham dự. Trong những cuộc thương thuyết chính thức, CHNDTH(pc 18) đồng ý cung cấp an ninh tại biên giới và cho phép việc thành lập lãnh sự quán Việt Nam ở những thành phố phía nam của Nanning(pc 19) và Kunming.(pc 20)

p423

Đổi lại, ông Hồ chỉ thị Hoàng Văn Hoan –không bao lâu được giao làm đại sứ đầu tiên của Việt Nam đối với Trung Quốc– rằng trụ sở chính bên ngoài nước của ĐCSĐD sẽ được chuyển từ Thái Lan, nơi mà nó đã từng được đặt từ đầu của cuộc Chiến tranh Pháp-Việt Minh, đến Trung Quốc. Theo những lời phê bình ​​của người đào ngũ, ông Hồ cũng đồng ý cung cấp hướng dẫn cho những đảng phái Cộng sản huynh đệ khắp khu vực, một sự trở lại vai trò mà ông ta đã từng đóng như là một mật vụ Comintern (i.e. Quốc tế cộng sản) trong suốt thời gian đầu những năm 1930s. Vào ngày 11 tháng Ba, ông Hồ và những cộng sự viên mình đến Việt Nam.

Hồ Chí Minh ắt hẵn ít nhất là hài lòng một cách khiêm tốn với những kết quả của chuyến đi mình. Ông ta đã giành được sự nhìn nhận bang giao từ hai nước cầm đầu của xã hội chủ nghĩa, và lời hứa về viện trợ quân sự và kinh tế –tuy bị hạn chế– từ mỗi lãnh vực. Việt Minh sẽ không còn chiến đấu một mình. Đồng thời, Trung Quốc cũng hưởng lợi từ mối quan hệ mới vốn đã được thành lập với Việt Nam. Theo những nguồn tài liệu Trung Quốc, Mao Zedong(pc 11) đã trở nên ngày càng tin rằng chiến tranh với Hoa Kỳ thì không thể tránh khỏi vào lúc sau cùng, và có thể bùng nổ tại bất kỳ điểm lộ diện dọc theo biên giới Trung Quốc. Vì lý do đó, ông ta tin rằng đó là điều quan trọng để chống đỡ những phòng thủ của Trung Quốc, không chỉ ở Hàn Quốc, mà cũng ở Đông Dương.33

* * *

Nếu Hồ Chí Minh, với cám giác nhạy bén của mình đối với những thay đổi trong xu thế quốc tế, lo ngại rằng sự công bố của một mối quan hệ gần gũi hơn giữa chính phủ mình và chế độ mới ở Trung Quốc có thể khiêu khích Hoa Kỳ dự vào việc đóng một vai trò lớn hơn trong cuộc xung đột Đông Dương, những nỗi lo sợ của ông ta chỉ là quá cân nhắc. Thật ra, quyết định của Beijing vào giữa tháng Giêng ban sự nhìn nhận bang giao với VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), được theo sau hai tuần kế đó bởi một thông báo tương tự từ Moscow, có một tác động gây ảnh hưởng sâu sắc trên Washington. Chính quyền Truman đã từng quan sát bằng sự khó chịu đáng kể về những cố gắng sút kém của Pháp khuyến khích những thành phần không-Cộng-sản ở Việt Nam tham gia trong cuộc đấu tranh chống lại Mặt trận Việt Minh phổ biến rộng rãi. Sự quyết định của những nhà lãnh đạo Pháp chọn Bảo Đại là người thay thế của họ cho Hồ Chí Minh như là người đại diện hợp pháp của chủ nghĩa quốc gia Việt Nam, đã làm dấy lên những mối nghi ngại nghiêm trọng trong số nhiều quan chức Mỹ, vốn là những người tiếp tục xem vị hoàng đế trước đây như là thiếu mức độ cần thiết về sự ủng hộ quyết định và phổ biến để phục vụ như là điểm đầu mối cho một nhà nước độc lập mới ở Việt Nam.

Việc ký kết Hiệp định Elysée tháng Ba năm 1949 như thế chỉ nhận được một phản ứng thờ ơ ở Washington. Dean Acheson, là người đã thay thế George C. Marshall như là Ngoại trưởng vào đầu năm 1949, điện tín cho Đại sứ Hoa Kỳ David Bruce ở Paris rằng trong quan điểm của ông ta,

p424

trừ khi chính quyền Pháp trao quyền tự chủ nhiều hơn cho nhà nước Việt Nam non trẻ, họ không có vẻ gì thành công. Có tin những đồn trên báo chí rằng Nhà Trắng đang chuẩn bị tiếp cận Hồ Chí Minh về việc tham gia trong một chính phủ liên hiệp với Bảo Đại. Những báo cáo khác cho biết rằng hai đối thủ Việt Nam đã từng trong sự tiếp xúc bí mật với nhau. Hồ Chí Minh, dĩ nhiên, luôn sẵn sàng lợi dụng những bản tin như thế như là một phương tiện giải giới những kẻ thù của mình. Trong một cuộc phỏng vấn với nhà báo kỳ cựu của Mỹ Harold Isaacs, ông ta tuyên bố rằng ông ta không phải là người Cộng sản. Như đối với VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), nó là, ông ta khẳng định, một chính phủ có cơ sở rộng rãi với những niềm tin dân tộc hợp pháp, và không phải là một chư hầu của Sô-Viết.34

Những báo cáo rằng Washington đang đùa giỡn với ý tưởng về một chế độ liên kết của Hồ-Bảo Đại, tuy nhiên, thì xa ngoài mụch đích. Mặc dù Dean Acheson thì hoài nghi về khả năng của Bảo Đại để phục vụ như là một phát ngôn viên hiệu quả cho các dân tộc Đông Dương, ông ta thậm chí nghi ngờ nhiều hơn về điệu bộ màu mẻ của Hồ Chí của Minh như là một “người Cộng sản quốc gia” dọc theo những đường lối của nhà lãnh đạo Nam Tư Josip Broz Tito, vốn là người gần đây đã bị đẩy ra từ khối Sô-Viết vì các quan điểm độc lập của mình. Cho dù ông Hồ là một người quốc gia hoặc người Cộng sản thì hoàn toàn trừu tượng, ông Acheson lập luận, vì trong những xã hội thuộc địa tất cả những người Cộng sản cũng là những người quốc gia. Một khi họ đã lên nắm quyền, những khuynh hướng Stalin của họ sẽ rõ ràng trở thành bằng chứng.35

Trong suốt nửa cuối năm 1949, Nhà Trắng từ chối những lời cầu xin từ Paris cho sự nhìn nhận bang giao của chế độ Bảo Đại và từ chối cung cấp hỗ trợ cho Pháp trong việc tiến hành cuộc đấu tranh ở Đông Dương, trong khi ngụ ý rằng viện trợ sẽ đến sau nếu Pháp ban nền độc lập thực sự cho nhà nước phụ thuộc mới của nó. Nhưng cuộc tranh luận trên vấn đề trong phạm vi Bộ Ngoại giao thì sôi nổi. Những nhà chuyên môn về Âu châu lập luận về sự nhìn nhận chính phủ Bảo Đại như là một phương tiện dỗ dành Pháp, nhưng những nhà chuyên môn về Á châu lập luận rằng sự nhìn nhận sẽ làm xa lánh lực lượng quốc gia ở Việt Nam và nơi khác. Vào tháng Sáu, ông Acheson cố gắng một cách miễn cưỡng để thuyết phục Paris ban cho những nhượng bộ xa hơn nữa, nhưng sau vị Đại sứ Bruce mạnh mẽ than phiền rằng hành động như vậy chắc chắn sẽ gây rắc rối cho Pháp, ông Acheson (vốn là một nhà chuyên môn về Âu châu qua sự đào tạo và bản năng) thối lui, qua việc chỉ thị Bruce một cách đơn giản là tường trình đến Pháp rằng những hành động của Hoa Kỳ trong tương lai sẽ phụ thuộc vào việc thực hiện Hiệp định Elysée. Chỉ một vài quan chức Hoa Kỳ tiếp tục lên tiếng chống lại việc ứng dụng một giải pháp Bảo Đại. Raymond Fosdick, cựu Chủ tịch của Tổ chức Rockefeller và một thành viên hàng đầu của một ủy ban đặc biệt cố vấn cho chính quyền Truman về chính sách châu Á, cảnh cáo rằng cuộc thử nghiệm về Bảo Đại đã kết liễu và rằng chính Hiệp định Elysée là “một doanh nghiệp tồi tàn” và “một sự thay thế rẻ tiền” cho nền độc lập.

p425

Mặc dù ông Fosdick thừa nhận rằng Hồ Chí Minh là một sự lựa chọn thay thế không hấp dẫn, ông ta lập luận rằng ông Hồ là một yếu tố khó thể đoán trước bởi vì những mối quan hệ phức tạp giữa Trung Quốc và Việt Nam, mà qua đó “vào lúc cuối cùng sẽ là thuận lợi nhiều hơn cho chúng ta so với bây giờ dường như có thể xảy ra.” 36

Cái nhìn của ông Fosdick, tuy nhiên, có ít sự tán đồng trong thành phố nơi mà vấn đề của chủ nghĩa cộng sản bấy giờ ngày càng được nhìn thấy trong những màu sắc ảm đạm của Chiến tranh Lạnh. Sự hình thành của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc mới vào ngày 01 tháng Mười năm 1949, thêm dầu vào ngọn lửa của những lời chỉ trích quốc hội rằng chính quyền Truman không có chính sách để chống lại sự mở rộng xa hơn nữa của “thủy triều đỏ” ở châu Á. Trong suốt những tháng cuối trong năm, Washington băn khoăn và trì hoãn một quyết định về vấn đề, chống lại áp lực Pháp để quyết tâm vào cuộc đấu tranh ở Đông Dương và hy vọng một cách hão huyền rằng Paris cuối cùng sẽ ban quyền tự chủ nhiều hơn cho chế độ mới của Bảo Đại.

Tuy nhiên, việc phê chuẩn chính thức của Hiệp Định Elysée bởi Quốc hội ở Paris vào ngày 29 tháng Giêng, 1950, được kết hợp với những báo cáo (nhiều phần trong số đó được cung cấp bởi Pháp) về sự gia tăng hỗ trợ của Trung Quốc cho Việt Minh, thay đổi sự cân bằng. Vào đầu tháng Hai, Nhà Trắng quyết định ban sự nhìn nhận bang giao cho chính quyền Bảo Đại. Nghị ước này được nhanh chóng chấp thuận bởi nội các và được ký bởi tổng thống. Vương quốc Anh và một số trong những quốc gia khác cùng theo sau trong thời gian ngắn, bất chấp những cố gắng vất vả của những nhà ngoại giao Hoa Kỳ, hầu hết những chính phủ ở châu Á từ chối không theo sau sự dẫn dắt của họ. Ngay sau đó, Nhà Trắng phê duyệt lời van nài từ Paris cho viện trợ quân sự trong cuộc chiến đấu chống lại thủy triều đỏ ở châu Á. Vào ngày 10 Tháng Ba, ông Truman phê duyệt một khoản trợ cấp $15 triệu trong viện trợ quân sự cho Đông Dương, và thêm $10 triệu cho Thái Lan. Những kế hoạch được phát động để gởi các hội đồng cố vấn đến Đông Dương hầu quyết định cách tốt nhất để quản trị chương trình.

* * *

Nhóm liên lạc của Trung Quốc được dẫn đầu bởi Luo Guibo đến biên giới Việt Nam vào ngày 26 tháng Hai, 1950. Họ được chào đón bởi Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Thái, Tham mưu Trưởng của ông Giáp, là người dẫn họ đến trụ sở chính của Việt Minh ở trung tâm Việt Bắc. Ở đó, họ được gặp bởi Tổng Bí thư Trường Chinh, vốn là người chịu trách nhiệm về đảng phái qua sự vắng mặt của Hồ Chí Minh ở Trung Quốc và Liên Xô.37

Ba tuần sau chuyến khởi hành của ông Hồ đến Trung Quốc vào cuối tháng Mười Hai năm 1949, Trường Chinh đã triệu tập một buổi họp dài của những nhà lãnh đạo quân sự và dân sự để thảo luận về những kế hoạch cho cuộc tổng tấn công sắp đến. Những văn bản được phát hành vào lúc kết thúc cuộc họp, được biết đến trong những lịch sử Đảng như là Hội nghị Toàn quốc Lần thứ ba

p426

tràn đầy với lòng tin tưởng trong những triển vọng cho một chiến thắng cuối cùng. Trong bài phát biểu chủ yếu cho hội nghị, Trường Chinh đã tuyên bố rằng, với việc tạo ra một Trung Quốc mới, “chúng ta không còn bị bao vây; một con đường đến thế giới đã được mở ra cho Việt Nam. Chúng ta bây giờ có một đồng minh lớn và mạnh mẽ ở phía chúng ta.” Nhằm chuẩn bị cho các cuộc tổng tấn công sắp tới, vào ngày 21 tháng Hai những lãnh đạo Đảng kêu gọi việc tổng huy động về nguồn nhân lực với khẩu hiệu “Tất cả cho mặt trận, tất cả cho chiến tranh nhân dân, tất cả cho chiến thắng.”

Không có nghi ngờ gì rằng sự xuất hiện của QđGpNd(pc 09) trên biên giới Trung-Việt thay đổi sự cân bằng cơ bản trong cuộc xung đột Pháp-Việt Minh. Ở mức tối thiểu, Trung Quốc hiện nay cung cấp một nơi trú ẩn an toàn hơn cho các đơn vị Việt Minh trong trường hợp họ cần trốn chạy khỏi những cuộc tấn công của đối phương. Quan trọng không kém, sự hiện diện của một lực lượng thù nghịch mạnh mẽ ở biên giới phía bắc của Đông Dương hứa hẹn hành động như là một cản trở đối với Pháp trong việc tìm kiếm mở rộng những cố gắng của họ chống lại lực lượng phiến loạn đang hoạt động ở Việt Bắc. Ở mức tối đa, tình hình mới mở ra khả năng lý thú về sự chuyển đổi cho một chiến lược tích cực hơn hầu đánh bại lực lượng thực dân và đạt được chiến thắng khắp toàn bộ đất nước.

Tuy nhiên, trong báo cáo của Trường Chinh tại Hội nghị Toàn quốc Lần thứ ba, ông ta thừa nhận rằng một số người trong Đảng thì hoài nghi rằng hoàn cảnh đã chín muồi cho bước tiến đến giai đoạn thứ ba, và thậm chí ngụ ý rằng bản thân ông ta có thể là một trong những người hoài nghi. Ông Chinh cảnh cáo rằng chiến dịch thì không giống như tạo nên kết quả trong một chiến thắng nhanh chóng, và cảnh cáo rằng sự can thiệp của Vương quốc Anh hay Hoa Kỳ có thể dẫn đến sự đối kháng gia tăng của Pháp hoặc đến sự xuất hiện của một chính phủ bảo thủ hơn ở Paris. Đồng thời, ông ta báo động những đồng chí của mình về một thực tế rằng sự hỗ trợ của Trung Quốc không bảo đảm thành công của Việt Minh và khuyên bảo Đảng rằng Đảng vẫn phải chủ yếu dựa vào những cố gắng riêng của mình để mang về chiến thắng.38

Những cuộc tranh luận nội bộ của Đảng tại hội nghị được phản ảnh trong một phân tích dài về tình hình được viết bởi Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp. Ông Giáp thừa nhận rằng người Pháp vẫn giữ được ưu thế quân sự khắp Đông Dương như là một khối, nhưng ông ta dám chắc rằng sự vượt trội về đạo đức và sự lãnh đạo chiến lược của lực lượng cách mạng, kết hợp với tình hình quốc tế ngày càng thuận lợi (sự ám chỉ rõ ràng đến việc nhìn nhận bang giao và lời hứa ủng hộ quân sự từ Liên Xô và Trung Quốc), tất cả sẽ thực hiện những đóng góp vào một chiến thắng quyết định. Ông Giáp giải thích rằng cuộc tấn công sẽ không nhất thiết phải mang hình thức của một chiến dịch duy nhất, nhưng có thể bao gồm một loạt các cuộc tấn công được phát động trong nhiều khu vực Đông Dương cùng một lúc, do đó dẫn đến một sự chuyển đổi dần dần cán cân quân bình lực lượng về hướng thuận lợi cho Vietminh.39

Trong suốt vài tháng tới, Trung Quốc bắt đầu cung cấp dụng cụ quân sự cho VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), trong khi một Nhóm Cố vấn Quân sự Trung Quốc

p427

dưới quyền Tướng Wei Guoqing đến trụ sở chính của Việt Minh để huấn luyện những cán bộ và cung cấp ý kiến về chiến lược và chiến thuật. Trước khi chuyến khởi hành của họ từ Beijing, những thành viên của nhóm cố vấn được đưa ra trước khán giả với những nhà lãnh đạo Trung Quốc, là những người thông báo cho họ rằng nhiệm vụ của họ ở Việt Nam có “sự quan trọng toàn cầu.” Nếu kẻ thù không được đuổi ra khỏi Đông Dương và chủ nghĩa đế quốc giữ lại chỗ dựa của nó ở đó, Liu Shaoqi(pc 12) cảnh cáo những thính giả của mình, tình hình đối với Trung Quốc có thể trở nên khó khăn hơn và phức tạp hơn.

Những đơn vị lực lượng chính đầu tiên của Việt Nam đến tỉnh Yunnan (i.e. Vân Nam) cho sự huấn luyện vào tháng Tư. Vật dụng chiến tranh, phần lớn của nó là những vũ khí tịch thu được của Nhật hoặc sản xuất của Hoa Kỳ, đến bằng đường bộ hoặc bằng đường biển từ cảng Yulin,(pc 21) trên bờ biển phía nam của đảo Hainan (i.e. Hải Nam). Qua hiệp ước hỗ tương, không cung cấp sự can thiệp trực tiếp của Trung Quốc trong cuộc xung đột trừ khi sự sinh tồn thực sự của Việt Minh bị đe dọa. Theo yêu cầu của Beijing, tất cả những dàn xếp được giữ bí mật để tránh việc gây trầm trọng hơn những mối quan hệ của Trung Quốc với Pháp. Những biện pháp phòng ngừa như thế vỡ ra là vô ích, tuy nhiên, khi chính quyền Pháp được tóm tắt đầy đủ về chuyến đi của Hồ Chí Minh và những kết quả theo sau của nó.40

Đến cuối mùa xuân, những viện huấn luyện cho đội quân Việt Minh đã được thành lập tại các địa điểm khác nhau ở phía nam Trung Quốc. Hầu hết những chương trình kéo dài ba tháng và được quản trị bởi các cán bộ của Đội quân Thứ hai của QđGpNd.(pc 09) Đến tháng Chín năm 1950, khoảng 20.000 binh lính Việt Minh đã được trang bị và huấn luyện ở phía nam Trung Quốc; khi trở về, nhiều người trong số họ được kết hợp vào trong Sư đoàn 308 Việt Minh mới được thành lập. Hai trường học cho những cán bộ chính trị được mở ra tại thủ phủ Nanning(pc 19) và thành phố Kaiyuan (i.e. Khai Viễn) ở tỉnh Yunnan(pc 22) cho một khóa học đào tạo sáu tháng. Những cố vấn cao cấp của Trung Quốc như là Luo Guibo và Wei Guoqing thường xuyên tham dự cuộc họp quan trọng của ban lãnh đạo Đảng Việt Nam.41

Mối quan hệ mới với Trung Quốc được định mệnh hóa để có những hậu quả to lớn cho quá trình diễn biến trong tương lai của cách mạng Việt Nam. Mặc dù lúc bấy giờ có hơn 160.000 quân đang phục vụ theo lệnh Việt Minh (một lực lượng có tổng số chỉ hơi ít hơn so với kẻ thù), họ được trang bị nghèo nàn và gần như hoàn toàn thiếu những khả năng hậu cần hoặc sự hỗ trợ pháo binh. Lần đầu tiên trong lịch sử ngắn ngủi của mình, VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) bây giờ có một cam kết về sự hỗ trợ đáng kể từ một người biếu tặng mạnh mẽ bên ngoài. Lời hứa về những vũ khí, cố vấn, và những chiến liệu khác cung cấp một cơ bản cho sự chuyển đổi trong chiến lược chiến tranh đến giai đoạn thứ ba theo dự đoán của chiến tranh nhân dân –cuộc tổng phản công.

Những lãnh đạo Việt Nam không giấu diếm gì về tầm quan trọng của mối quan hệ mới. Trong một cuộc phỏng vấn với nhà báo Hoa Kỳ Andrew Roth vào tháng Tám, Hồ Chí Minh bỏ đi sự dè dặt trước đây của ông ta về ảnh hưởng của Trung Quốc và nhận xét rằng phong trào giải phóng Việt Nam đã thay đổi chiến thuật của nó và hiện tại được chuẩn bị để ứng dụng mô hình Trung Quốc.

p428

Thể như là để nhấn mạnh quan điểm của mình, một chiến dịch bây giờ được phát động khắp  Việt Bắc để học hỏi kinh nghiệm của ĐCSTQ(pc 08) trong những cuộc chiến chống Nhật và Chiang Kai-shek;(pc 02) những tài liệu và vật dụng huấn luyện được dịch sang tiếng Việt và được phân phối cho những cán bộ và quân lính khắp khu vực. Những buổi học tập được tổ chức định kỳ để khuyến khích những người tham dự hầu tiếp thu mô hình Trung Quốc và đặt những ý tưởng của nó vào trong thực hành ở Đông Dương.

Những lời tuyên bố công cộng của những nguồn tin Việt Minh liên quan đến sự thích đáng bất ngờ của mô hình Trung Quốc là một điều gì không trung thực, bởi vì, như chúng ta đã thấy, những lãnh đạo Đảng từ lâu đã tìm cách rút ra những bài học hữu ích từ cuộc cách mạng Trung Quốc. Một trong những lời tuyên bố chính thức đầu tiên của Hồ Chí Minh sau sự bùng nổ chiến tranh vào tháng Mười Hai năm 1946 đã từng đưa ra để thông báo rằng những lãnh đạo Việt Minh sẽ theo mô hình học thuyết Mao về chiến tranh nhân dân trong cuộc đấu tranh của họ cho thắng lợi. Đầu năm sau, Trường Chinh đã trước tác một cuốn sách nhỏ được gọi là Cuộc Kháng chiến Sẽ thắng Lợi, qua đó nó rút tỉa phần lớn từ những bài viết của riêng Mao Zedong(pc 11) về chiến tranh du kích trong suốt hai thập kỷ qua. Ông Chinh rõ ràng đã viết cuốn sách nhỏ với sự chấp thuận của toàn thể ban lãnh đạo Đảng, và bút danh cách mạng mà ông ta đã chọn (“Trường Chinh”) là một biểu hiện rõ ràng về sự ngưỡng mộ của mình cho cuộc cách mạng Trung Quốc. Tuy nhiên, ông Chinh thì cẩn thận chỉ ra rằng một số yếu tố của mô hình Trung Quốc không vượt qua những ranh giới quốc gia. Bởi vì Việt Nam thì nhỏ hơn trong lãnh thổ và hoàn toàn dưới sự thống trị thuộc địa, Việt Minh không có thể hy vọng xây dựng một khu căn cứ rộng lớn được giải phóng tương tự như căn cứ được xây dựng bởi ĐCSTQ ở phía bắc Trung Quốc trong suốt cuộc chiến chống Nhật. Họ cũng không có thể chịu bỏ qua tầm quan trọng của những bước khởi đầu ​​bang giao, một công cụ vốn đã đóng một dù chỉ là vai trò hạn chế trong cuộc đấu tranh cho quyền lực của Cộng sản ở Trung Quốc. Tuy nhiên, những lãnh đạo Việt Minh rõ ràng cảm thấy rằng mô hình Trung Quốc đã thực sự có giá trị quan trọng trong cuộc đấu tranh chống Pháp của họ, và họ hiện thời sẵn sàng cho đội ngũ cố vấn Trung Quốc một cơ hội để hỗ trợ họ trong việc biểu hiện những cố gắng của họ hiệu quả hơn.

Nhưng chẳng bao lâu rõ ràng là ảnh hưởng của Trung Quốc không bị giới hạn đối với phạm vi của những hoạt động quân sự, nhưng sẽ bao gồm những chính sách trong nước và cũng như bản chất của tổ chức Đảng. Ngay sau khi chuyến đến Việt Bắc của Luo Guibo vào cuối tháng Hai, ông ta đã nắm giữ vai trò lãnh đạo của đội ngũ cố vấn dân sự Trung Quốc để hỗ trợ Việt Nam trong việc tổ chức lại đảng phái và chính phủ của họ dọc theo những đường lối của Trung Quốc. Kể từ Hội nghị Toàn thể lần Thứ tám, được tổ chức tại Pác-Bó vào tháng Năm năm 1941, những lãnh đạo Đảng đã quy định một ưu tiên cao hơn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc chống lại lực lượng chủ nghĩa đế quốc so với cuộc đấu tranh chống lại lực lượng phong kiến ​​bên trong đất nước,

p429

như thế việc trở lại mô hình của học thuyết Lenin mà Hồ Chí Minh đã mang lại cho châu Á vào thập niên 1920s. Theo kế hoạch này, cách mạng Việt Nam đã được chia thành hai giai đoạn, giai đoạn đầu tiên để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, và giai đoạn thứ hai để thực hiện việc biến dạng thành chủ nghĩa xã hội. Trong suốt giai đoạn đầu tiên, vai trò chính của ĐCSĐD(pc 05) trong phạm vi cách mạng Việt Nam được ngụy trang nhằm mục đích tránh né việc gây oán hận những phần tử ôn hòa bên trong nước và việc khích động sự can thiệp từ lực lượng phản động nước ngoài. Chính là tầm nhìn này mà nó đã tạo ra nét đặc trưng cho chính sách của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) sau cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, và trong suốt ba năm đầu tiên của cuộc xung đột Pháp-Việt Minh.

Bấy giờ, với chiến thắng của lực lượng Cộng sản ở đại lục Trung Quốc và những triển vọng đang vươn cao cho chiến thắng trên Pháp, những lãnh đạo Đảng chuyển hướng tới một chiến lược mới được dựa trên mô hình Trung Quốc, qua đó vai trò lãnh đạo của Đảng trên phong trào được công khai thừa nhận, trong khi giai đoạn đầu tiên của công cuộc giải phóng dân tộc sẽ tiến triển mà không có một đường lối phân chia cứng nhắc vào trong giai đoạn thứ hai của cuộc cách mạng xã hội. Quá trình đang diễn ra tại Hội nghị Quốc gia lần Thứ ba vào cuối tháng Giêng năm 1950, khi những lãnh đạo Đảng quyết định đặt chú trọng nhiều hơn vào những vấn đề giai cấp trong mặt trận thống nhất và phát động những chuẩn bị khởi đầu để mang Đảng Cộng sản trở lại vào trong sự công khai. Những hành động như vậy sẽ tạo thuận lợi cho sự nhận diện gần gũi hơn giữa VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) và những thành viên khác của các cộng đồng xã hội chủ nghĩa, bao gồm chính phủ mới của Trung Quốc và những đảng phái “dân chủ của nhân dân” ở Đông Âu; nhưng điều đó sẽ làm phức tạp những cố gắng để đạt được sự dàn xếp qua thương thuyết và để ngăn chặn Hoa Kỳ không bước vào cuộc xung đột ở phía bên Pháp. Trong suốt vài tháng tới, những lãnh đạo Đảng khai mạc một chiến dịch lớn để giới thiệu những người đi theo của họ về những ý tưởng và thực hành của những người Cộng sản Trung Quốc và lãnh đạo của họ, Chủ tịch Mao Zedong.42

Đến một mức độ nào là sự chuyển đổi trọng yếu nầy trong sự tập trung được thông qua với sự chấp thuận của Hồ Chí Minh? Ông Hồ đã từng được rõ ràng nhận diện với công thức hai-giai-đoạn dần dần từng bước hơn kể từ giữa thập niên 1920s, và chắc chắn là công cụ trong việc mang lại sự ứng dụng của nó tại Hội nghị Toàn thể lần Thứ tám năm 1941. Chính sách mới sẽ không chỉ hạn chế khả năng của ông ta vận dụng tình hình quốc tế cho lợi thế mình, mà cũng sẽ dẫn đến một mức độ về sự phụ thuộc vào sự giám hộ của Trung Quốc mà ông Hồ đã thành công chống lại trong quá khứ.

Hơn nữa, điều kỳ lạ là Hội nghị Toàn quốc lần Thứ ba định mệnh đã được tổ chức trong sự vắng mặt của ông Hồ. Có thể có những nghi ngờ ngày càng tăng –cả trong phong trào Cộng sản quốc tế và giữa các cộng sự viên cấp cao của ông ta– về cam kết của ông ta đối với những nguyên tắc chính thống của chủ nghĩa Marx-Lenin như được tuyên truyền bởi Moscow và Beijing vào cuối những năm 1940s. Trong suốt mùa đông của 1949-1950, có một loạt bài báo

p430

–nhiều bài trong số đó thừa nhận được dựa trên những nhận xét của những người đào ngũ– về có ảnh hưởng mà Hồ Chí Minh đã bị thay thế bởi Trường Chinh như là người lãnh đạo phong trào Cộng sản Việt Nam theo mệnh lệnh của Stalin, hoặc thậm chí rằng ông ta đã được chính thức công bố là một kẻ dị giáo bởi vì ông ta đã từ chối phục tùng đường lối của Moscow. Khi nhân vật Cộng sản Pháp Leo Figueres đến Việt Bắc cho một chuyến thăm vào tháng Ba năm 1950, người ta đồn đại rộng rãi rằng ông ta đã được gởi đi không phải chỉ nhằm khôi phục những liên lạc của từng đảng phái với ĐCSĐD,(pc 05) mà còn nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khôi phục ĐCSĐD như là đội quân tiên phong của cách mạng Việt Nam.43

Tuy nhiên, mặc dù Hồ Chí Minh có thể đã chấp nhận đường lối mới bằng một vài do dự, ông ta chắc chắn nhận ra rằng sự ủng hộ đang phát triển của Hoa Kỳ cho Pháp không còn có thể tránh được, và rằng mối quan hệ chặt chẽ hơn với Moscow và Beijing tiêu biểu cho một cơ hội tốt nhất cho cuộc chiến thắng của Việt Minh ở Đông Dương. Trong bất kỳ trường hợp nào, ông ta thích nghi chính mình đối với những thực tế mới và tìm cách sử dụng chúng cho lợi thế của mình. Trong một thông điệp của ông ta đến những lãnh đạo Trung Quốc trong suốt thời gian còn lại trong năm, ông Hồ thì thái quá trong lời khen ngợi của mình về chính phủ mới ở Beijing và ban lãnh đạo khôn ngoan của nó, cho thấy mạnh mẽ rằng chính phủ và Đảng của ông ta sẽ theo sau mô hình Trung Quốc. Đến lúc bấy giờ, dĩ nhiên, ông ta đã trở thành một bậc thầy về nghệ thuật tâng bốc những nhà hảo tâm của mình bằng cách ngụ ý rằng lời khuyên và kinh nghiệm của họ sẽ được mang vào lòng trong một Việt Nam mới. Thí dụ, có lẽ không phải là tình cờ mà vào mùa thu năm 1950, lần đầu tiên, ông ta bắt đầu để ca tụng những lợi ích của nông nghiệp tập thể hóa cho sự thịnh vượng trong tương lai của một Việt Nam độc lập.44

* * *

Khi những nhà chiến lược của Đảng đã kết luận vào mùa xuân năm 1949, một trong những điều kiện tiên quyết rất quan trọng cho một cuộc tổng tấn công thành công là mở ra khu vực biên giới cho sự kiểm soát của Việt Minh, như thế tạo điều kiện cho lực lượng cách mạng có được sự tiếp cận dễ dàng đến những ủng hộ vật dụng từ Trung Quốc. Tướng Blaizot đã thực sự làm cho nhiệm vụ của ông Giáp dễ dàng hơn qua việc kêu gọi cuộc rút quân của Pháp từ những vị trí lộ diện dọc theo biên giới phía bắc của tỉnh Lạng Sơn, trong khi đặt cơ bản chiến lược trong tương lai về sự kiểm soát khu vực từ Lạng Sơn đến Vịnh Bắc Bộ. Vào mùa hè năm 1950, tuy nhiên, kế hoạch của ông Blaizot đã chưa được chính thức khai triển thực hiện, và hàng loạt những đồn trú biên giới bị cô lập của Pháp được kéo dài ra dọc theo Quốc lộ 4 từ bờ biển tại Móng Cái đến thủ phủ huyện Cao Bằng.

Chính quyền Pháp sẽ sớm có lý do để hối tiếc về sự trì hoãn của họ. Vào tháng Tư năm 1949, những lãnh đạo Đảng trước tiên đã quyết định tập trung sự chú ý chủ yếu của họ trên phần đất phía tây của vùng biên giới, nơi mà sự hiện diện của quân đội Pháp thì không đáng kể. Vào tháng Bảy năm 1950, tuy nhiên,

p431

Ủy ban Thường vụ Đảng quyết định chuyển đổi sự tập trung của mình vào khu vực phía đông, qua đó dễ tiếp cận hơn đến đồng bằng sông Hồng và những tuyến đường giao thông chính vào trong Trung Quốc. Như ông Hồ nhận xét với những cộng sự viên của mình vào thời điểm đó, nó thì “dễ dàng chống giữ trong suốt cuộc rút lui, dễ dàng tấn công trong suốt cuộc tấn công.” Võ Nguyên Giáp được đặt trách nhiệm về việc chỉ huy cuộc tấn công, và Tướng Chen Geng, một nhà ngoại giao có tài dàn xếp những chuyện rắc rối được tôn trọng rộng rãi cho những hoạt động quân sự của QđGpNd(pc 09) trong suốt cuộc Nội Chiến Trung Quốc, được lệnh đi đến Việt Bắc để giúp những lãnh đạo Việt Minh lên kế hoạch cho chiến dịch. Khi ông Giáp đến thăm Hồ Chí Minh, bấy giờ cư ngụ một lần nữa tại căn cứ cách mạng cũ của mình tại Tân Trào, ông Hồ ám chỉ đến tầm quan trọng của chiến thắng. “Chiến dịch sắp tới,” ông ta nói, “thì vô cùng quan trọng. Chúng ta không được thua!” Ông Hồ hứa sẽ đích thân đi đến biên giới để quan sát chiến dịch. Tướng Chen Geng được mời đi cùng với ông ta.45

Vào giữa tháng chín, những đơn vị Việt Minh phát động một loạt các cuộc tấn công sắc bén vào những cơ sở lộ diện của Pháp khắp khu vực biên giới. Khi những đồ trú của Pháp tại Đông Khê bị tấn công bởi 8.000 quân Việt Minh, những nguồn tin tình báo Pháp báo cáo một cách ngại rằng kẻ thù bây giờ sở hữu súng chống tăng bazookas, súng cối, và súng trường không giựt, và có thể tập trung lực lượng của nó vào sức mạnh trung đoàn trong lần đầu tiên. Bị bắt phải bởi yếu tố bất ngờ ở cường độ của cuộc tấn công, lực lượng Pháp bị đẩy vào tình trạng lộn xộn, và lực lượng rút lui bỏ lại phía sau hàng trăm người chết và bị thương, cũng như hơn 10.000 tấn đạn dược. Một lực lượng dự bị của Pháp được gởi lên phía bắc từ Cao Bằng để giải cứu những đồng đội bị bao vây của họ bị tàn sát cũng tương tự như thế. Tướng Marcel Carpentier, vị chỉ huy của đội quân Pháp trong khu vực, đột nhiên ra lệnh từ bỏ tất cả những đồn trú khác ở biên giới, ngoại trừ thị trấn ven biển Móng Cái.

Ở Hà Nội, Cao ủy Leon Pignon đang ngày càng tăng thêm hoài nghi về sự xét đoán của Tướng Carpentier (thái độ của ông Carpentier qua nhận xét của ông Pignon với một nhà ngoại giao Hoa Kỳ, là “quá thụ động và phòng thủ… đến nổi những trình độ chuyên môn của ông ta về vai trò lãnh đạo quân sự tối cao phải được đặt câu hỏi”), và vào cuối năm vị Tướng bị thay thế.46 Tuy nhiên, sự thay đổi vai trò chỉ huy xảy ra quá muộn. Đến cuối chiến dịch biên giới vào cuối tháng Mười, cuộc tấn công đã mở ra một khu vực phía rộng lớn ở phía bắc đồng bằng sông Hồng cho sự thống trị gần như hoàn toàn của Việt Minh. Những quan chức Pháp hoảng sợ đã ra lệnh di tản những người được bảo hộ của Pháp khỏi Hà Nội, và cảnh cáo Paris rằng hơn một nửa dân số của thành phố bây giờ có thiện cảm với Việt Minh. Đối với khu vực biên giới dưới sự kiểm soát của kẻ thù, chính quyền Pháp không thể còn tự lừa dối mình lâu hơn rằng có bất kỳ khả năng nào về một thắng lợi hoàn toàn trong chiến tranh.

Cảm giác hoảng sợ về tình hình quân sự không giới hạn đối với người Pháp.

p432

Donald Heath, là người vừa mới đến Sài Gòn như là trưởng đặc phái viên của Hoa Kỳ cho Tiểu bang Liên hiệp, cảnh cáo rằng tình hình ở Bắc Bộ thì nguy hiểm. Toàn bộ khu vực phía bắc, ngoại trừ hành lang Hà Nội-Hải Phòng, phải được xóa bỏ, ông ta báo cáo, ngay cả trong trường hợp không có sự can thiệp của Trung Quốc, mà qua đó ông ta mô tả như là dường như không có. Như đối với chính phủ Việt Nam mới ở Sài Gòn dưới quyền Quốc trưởng Bảo Đại, ông Heath tuyên bố rằng nó sở hữu không phải là tính hoạt năng cũng như không phải là lòng tin tưởng của dư luận. Bảo Đại chính mình thiếu cả về lòng nhiệt tình và cả bí quyết về vai trò lãnh đạo. Tùy viên quân sự Mỹ, tuy nhiên, cân nhắc bằng một ghi chú điềm tĩnh, dự đoán rằng sẽ không có cuộc xâm lược của Trung Quốc trừ khi Việt Minh gặp phải những thất bại đảo ngược nghiêm trọng.47

Những cố vấn Trung Quốc được mật thiết dự vào việc lên kế hoạch và việc tiến hành cuộc tấn công biên giới, một vai trò mà nó sẽ trở thành chủ đề tranh cãi giữa hai đồng minh theo sau cuộc kết thúc Chiến tranh Việt Nam. Những nguồn tài liệu Việt Nam tin là nhờ Võ Nguyên Giáp và những chiến lược gia quân sự khác của Việt Minh với sự phối hợp chiến dịch. Theo Hoàng Văn Hoan, tuy nhiên, chính là Tướng Chen Geng vốn là người tham vấn cho Hồ Chí Minh mở các cuộc tấn công vào Đông Khê hơn là Cao Bằng, một trí vững chắc vốn được bảo vệ một cách mạnh mẽ bởi lực lượng Pháp. Cao Bằng, ông Chen gián tiếp đưa ý kiến cho lực lượng Việt Nam, nên được đặt dưới sự bao vây và được chiếm đóng sau đó. Hồ Chí Minh đồng ý với lời khuyên, và phụ trách chiến dịch từ đồn trú chỉ huy ở vùng núi phía trên thị trấn. Với sự đồng ý của ông ta, những cố vấn Trung Quốc được đặt trong tất cả những đơn vị Việt Minh ở cấp tiểu đoàn và trở lên. Lời tuyên bố rằng gần đây đã bị phản đối bởi chính bản thân Tướng Võ Nguyên Giáp, vốn là người khẳng định rằng ông ta đã đạt đến quyết định tấn công Đông Khê hơn là Cao Bằng một cách không phụ thuộc, và rằng cả Hồ Chí Minh và cả Chen Geng đã đưa ra sự chấp thuận của họ về kế hoạch.

Có hay không một sự thật về cuộc tranh luận, sau khi chiến dịch kết thúc, Chen Geng trở về Trung Quốc và được giao nhiệm vụ chỉ huy những đơn vị của QđGpNd(pc 09) đang hoạt động ở Hàn Quốc. Trước khi chuyến khởi hành của ông ta từ Việt Bắc, ông ta gởi những lời bình luận chi tiết về cách thực hiện trên chiến trường của Việt Minh lên những cấp trên của mình ở Trung Quốc. Ông Chen báo cáo lên những cấp trên Trung Quốc của mình, đội quân Việt Minh thiếu kỷ luật và kinh nghiệm chiến trường và chưa sẵn sàng tham dự vào những hoạt động chủ yếu, trong khi những người chỉ huy của họ không có mối quan tâm đầy đủ cho phúc lợi của quân lính họ và miễn cưỡng báo cáo tin tức xấu lên những cấp trên của họ.48

Những nhà chiến lược Việt Minh thì hài lòng với sự thành công của chiến dịch biên giới 1950 (Hồ Chí Minh gián tiếp nói rằng nó đã từng là một thắng lợi lớn hơn điều ông ta mong đợi), một kết quả mà nó khuyến khích một số người trong họ lập luận rằng nó có thể được sử dụng như là một bệ phóng cho cuộc ​​tổng tấn công được dự kiến lâu dài vào trung tâm đồng bằng sông Hồng.

p433

Mặc dù một số lãnh đạo Đảng vẫn còn hoài nghi rằng lực lượng cách mạng được chuẩn bị cho một cuộc đối đầu lớn với kẻ thù (chính ông Hồ khuyên một trong những người chỉ huy cứng đầu của mình rằng một cuộc tấn công to lớn, giống như sự mang thai của người phụ nữ, phải chờ đợi thời gian thích hợp của nó), một sự đồng thuận nổi lên rằng trong tình hình nhiều thuận lợi hơn được mang lại qua cuộc tấn công biên giới thành công, một cuộc tấn công mới để mang về thắng lợi hoàn toàn có một cơ hội hợp lý cho sự thành công. Trong suốt hai tháng cuối cùng của năm 1950, những người hoạch địch của Việt Minh, với sự hợp sức của những cố vấn Trung Quốc của họ, xem xét lại lần cuối cùng về những kế hoạch cho chiến dịch năm sau. Tại một hội nghị chung được tổ chức vào tháng Mười Hai, những đại diện Trung Quốc đồng ý cung cấp dụng cụ thích hợp để cho phép Việt Minh tổ chức lại lực lượng của họ thành những đơn vị lớn hơn có khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh của phong trào chống lại những kẻ thù của họ.

Kế hoạch của ông Giáp là tấn công liên tiếp tại ba vị trí tách biệt trên những vùng rìa của đồng bằng sông Hồng: ở Vĩnh Yên, một thị trấn buôn bán ỡ phía tây bắc thủ đô, ngay hướng nam của Núi Tam Đảo bí ẩn; ở Mao Khê, trên cạnh phía đông của đồng bằng không xa từ Hải Phòng; và cuối cùng ở những điểm khác nhau trên sông Đáy trực nam từ Hà Nội. Nếu những cuộc tấn công địa phương hóa nầy tại các điểm lộ diện trong những phòng thủ của Pháp thì  thành công, giai đoạn tiếp theo có thể bắt đầu, một cuộc tấn công lớn để mở ra tuyến đường đến khu vực thủ đô. Đài phát thanh của Việt Minh lạc quan dự đoán rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ ở Hà Nội trong những ngày nghỉ Tết. Nếu những chiến lược gia của Đảng thì đúng trong những dự đoán lạc quan của họ, một kết thúc chiến tranh thì gần đến.49

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 02_ Chiang Kai-shek : Tưởng Giới Thạch.
pc 03_ LlVcP : Lực lượng Viễn chinh Pháp.

pc 04_ Madagascar : Mã Đảo là một quốc đảo nằm ở Ấn Độ Dương ngoài bờ biển đông nam của châu Phi. Quốc gia bao gồm hòn đảo của Madagascar ( hòn đảo lớn thứ tư trên thế giới)
Cho đến cuối thế kỷ 18, hòn đảo Madagascar đã được cai trị bởi một tập hợp nhiều quyền lức hỗn tạp bị phân mảnh của những liên minh xã hội-chính trị đang chuyển hướng. Bắt đầu từ đầu thế kỷ 19, phần lớn hải đảo được thống nhất và được cai trị như là Vương quốc Madagascar bởi một loạt giới quý tộc Merina. Chế độ quân chủ sụp đổ khi hòn đảo bị chinh phục và bị lôi cuốn vào trong đế quốc thực dân Pháp vào năm 1896, từ sự kiến đó hòn đảo có được độc lập vào năm 1960. Nhà nước tự trị của Madagascar từ đó đã trải qua bốn giai đoạn lập hiến to lớn, được gọi tên là nước Cộng hòa. Từ năm 1992, quốc gia đã chính thức được cai trị như là một nước dân chủ lập hiến từ thủ đô của nó ở Antananarivo, được gọi là Cộng hòa Madagascar.

pc 05_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.
pc 06_ Issara Lào : (“Lào Tự do”) là một phong trào quốc gia không-Cộng-sản, chống Pháp được thành lập vào năm 1945 bởi Hoàng tử Phetsarath. Phong trào ngắn ngủi này xuất hiện sau khi sự bại trận của Nhật trong Thế Chiến thứ II và trở thành chính phủ Lào trước khi sự trở lại của Pháp. Nó nhắm vào mục đích ngăn chặn Pháp từ việc khôi phục sự kiểm soát của họ đối trên Lào. Nhóm tan rã vào năm 1949.

pc 07_ Khmer Issarak : (“Khmer Độc lập “) là một phong trào chính trị của phe Khmer quốc gia chống Pháp được thành lập vào năm 1945 với sự tiếp tay của chính phủ Thái Lan. Nó tìm cách trục xuất chính quyền thuộc địa Pháp từ Cam-pu-chia, và thiết lập một nhà nước độc lập Khmer.
Những tư tưởng hệ chính trị khác nhau rộng rãi trong phạm vi phong trào dẫn đến sự phá vỡ cuối cùng của nó, với nhiều người trong số những nhân vật của nó đang tiếp tục tham gia trong cuộc Nội chiến Cam-pu-chia.

pc 08_ ĐCSTQ : Đảng Cộng sản Trung Quốc.
pc 09_ QđGpNd : Quân đội Giải phóng Nhân dân.
pc 10_ Jingxi : huyện Tĩnh Tây.
pc 11_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.
pc 12_ Liu Shaoqi : Lưu Thiếu Kỳ.
pc 13_ Yangtze : Dương Tử.
pc 14_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.

pc 15_ Sukarno : (6/06/1901–21/06/1970). Ông ta là vị lãnh đạo cuộc đấu tranh của đất nước ông ta vì nền độc lập từ Hà Lan và là vị Tổng thống đầu tiên của Indonesia từ 1945-1967. Ông Sukarno đã bị tước danh hiệu Tổng thống của mình bởi MPRS –Hội đồng Tham vấn Nhân dân của Cộng hòa Indonesia, ngày 12 tháng Ba 1967 trong một phiên họp được chủ trì bởi cựu đồng minh của ông ta là Nasution. Sau đó, ông ta bị thay thế bởi một trong những tướng lãnh của mình, Suharto, và vẫn còn bị quản thúc tại gia cho đến khi ông ta qua đời.
Một phiên bản bán chính thức của những sự kiện của 1965-1966 tuyên bố rằng Chủ tịch Aidit của Đảng Cộng sản Indonesia (PKI) tổ chức những vụ ám sát sáu vị tướng, sử dụng những người có thiện cảm với Cộng sản trong quân đội, để bảo đảm vị trí của PKI trong trường hợp mất khả năng đáng sợ của Sukarno, vốn bị đột quỵ nhẹ vào ngày 04 tháng Tám, 1965. Sau sự sụp đổ của ông Suharto vào năm 1998, một số trong những đối thủ của ông ta đưa ra lý thuyết rằng ông Suharto điều khiển những vụ ám sát để loại bỏ những đối thủ tiềm năng cho chức tổng thống.

pc 16_ Yalta : là một thành phố nghỉ mát ở Crimea, miền Nam Ukraine, trên bờ biển phía bắc của Biển Đen, bị tiếm dụng bởi Vladimir Lenin vào năm 1920. Các tầng lớp cao cấp của Liên Xô cũng đã đến Yalta, nhà độc tài Joseph Stalin từng sử dụng Dinh thự Massandra là nơi nghỉ hè của mình.

Theo sau sự giải thể của Liên Xô vào năm 1991, Yalta đã từng vật lộn về mặt kinh tế. Nhiều người trong giới giàu có nouveaux bắt đầu đi đến những nơi nghỉ mát khác ở châu Âu, bây giờ họ có tự do và tiền bạc để đi du lịch; ngược lại, sự bần cùng hóa của nhiều công dân Sô- Viết cũ có nghĩa rằng họ không có thể có đủ khả năng cung ứng đi đến Yalta.

pc 17_ Zhongnanhai : Trung Nam Hải.
pc 18_ CHNDTH : Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
pc 19_ Nanning : thủ phủ Nam Ninh.
pc 20_ Kunming : quận Côn Minh.
pc 21_ Port of Yulin : là cảng ở thành phố Sanya (i.e. Ngọc Lâm), thuộc đảo Hainan (i.e. Hải Nam). Sau nầy là Căn cứ Hải quân Yulin (cũng không chính thức được gọi là căn cứ hải quân Sanya) đặt tại Sanya, thành phố cực nam của Trung Quốc trên đảo Hainan. Căn cứ Yulin ban đầu được phục vụ chủ yếu như là một cơ sở tàu ngầm thông thường, nằm trên bờ phía đông của vịnh Yulin. Trong những năm gần đây (2012), căn cứ hải quân đã mở rộng sang vịnh Yalong gần đó, nơi mà căn cứ của một hạm đội mặt biển chính và căn cứ tàu ngầm nguyên tử được đặt. Căn cứ hải quân là một trong những căn cứ quan trọng nhất của Hạm đội Biển Đông của Hải quân thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, đặt vị trí chiến lược gần với quần đảo Hoàng Sa (Paracel) (Xisha : Tây Sa) và quần đảo Trường Sa (Spratly) (Namsha : Nam Sa) đang tranh chấp ở Biển Đông (South China Sea : Biển Nam Trung Hoa), cũng như sự vận chuyển đến đất liền từ ​​eo biển Malacca.

pc 22_ Yunnan : tỉnh Vân Nam.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s