XIII- Một Nơi Được Gọi Là Điện Biên Phủ (Phần 2)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p444

Tuy nhiên, hầu hết những nhà quan sát báo cáo rằng số lượng lớn của cư dân địa phương tiếp tục ủng hộ Việt Minh, nếu chỉ vì (i.e. có thể có những lý do khác cho…) những cố gắng của số người đó bảo đảm nền độc lập từ Pháp.13

Khi chiến tranh leo thang, việc tuyển mộ và việc cung cấp lương thực đặt ra những vấn đề khó khăn đang gia tăng. Lúc bấy giờ, nguồn nhân lực từ những khu vực đô thị đã thực chất cạn kiệt, khi bộ máy Việt Minh ở những thành phố lớn hầu như đã bị phá hủy, và những nhà hoạch định của Đảng buộc phải sử dụng các phương pháp hung hăng hơn để có được lao động và những người đến tuổi đi lính ở nông thôn. Có những báo cáo chưa được xác nhận rằng một số nông dân đã di cư đến những khu vực khác để tránh các nhiệm vụ như vậy. Trong khi đó, trong những năm đầu của cuộc xung đột, những đóng góp về ngũ cốc từ giới nông dân đã được bỏ ra, về nguyên tắc, trên cơ bản tự nguyện, hiện thời chế độ cảm thấy bắt buộc phải đánh thuế nông nghiệp 15% trên thu hoạch hàng năm.

Một trong những vấn đề khó khăn gặp phải trong việc nài xin trợ giúp và sự ủng hộ từ dân cư nông thôn là nhiều nông dân không quan tâm đến cuộc đấu tranh, bởi vì họ không thể nhìn thấy nó ảnh hưởng đến họ như thế nào. Những biện pháp đã từng được dùng đến vào cuối những năm 1940s để giảm những phần tiền thuê đất và lãi suất cho vay và để phân phối lại đất của những người hợp tác cho người nghèo, nhưng họ đạt được chỉ là những kết quả hạn chế, và nhiều chủ đất cảm thấy đủ an toàn để bỏ qua những chỉ thị của Việt Minh hoặc để cung cấp sự ủng hộ cho Pháp, trong một vài trường hợp ngay cả trong những khu vực được kiểm soát bởi cách mạng.

Đến thời điểm Đại hội Đảng toàn Quốc lần Thứ hai vào đầu năm 1951, vấn đề đã trở nên đủ nghiêm trọng để đòi hỏi hành động, và Ủy ban Trung ương thông qua một số biện pháp tu sửa nhỏ. Nhưng hành động quyết định tiếp tục bị cản trở bởi chiến lược đang tồn tại về việc tìm kiếm một mặt trận thống nhất rộng nhất như có thể chống lại kẻ thù chung đế quốc. Mặc dù phương pháp giải quyết được xác định trước tiên bởi Hồ Chí Minh, thậm chí Trường Chinh trong báo cáo của mình cho Đại hội đã thừa nhận rằng nhiệm vụ chính cho thời điểm này là đánh bại chủ nghĩa đế quốc. Mặc dù sứ mệnh chống phong kiến thì rất quan trọng và “phải được thực hiện cùng một lúc như là sứ mệnh chống đế quốc,” ông ta nói, nó phải diễn ra “từng bước” để duy trì đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh chung. Như kết quả là, chính phủ tiếp tục kiềm giữ việc tịch thu tất cả và phân phối lại đất đai có chủ quyền của toàn bộ giai cấp địa chủ. Đến năm 1952, tuy nhiên, những lãnh đạo Đảng có ảnh hưởng bắt đầu tranh luận rằng những biện pháp cơ bản hơn được cần đến để giành lấy lòng trung thành của giới nghèo nàn ở nông thôn.

Vào tháng Giêng năm 1953, những chỉ thị mới được công bố. Dựa vào rất nhiều kinh nghiệm của Trung Quốc ở đỉnh cao của cuộc Nội chiến Trung Quốc, kế hoạch kêu gọi những nhát chém quyết liệt vào những phần tiền thuê đất và thu giữ tất cả những đất trồng trong tay địa chủ không hợp tác tích cực trong nỗ lực chiến tranh. Tòa án cải cách ruộng đất được hình thành gồm những nông dân cấp tiến được thành lập ở cấp thôn làng để thực hiện một cuộc khảo sát về những đất chiếm hữu trong làng cho việc phân phối lại trong tương lai.

p445

Những phiên họp chỉ trích công khai gợi nhớ đến những phiên họp “nói cay đắng” (i.e. đấu tố) được thiết lập ở Trung Quốc được tổ chức trong những làng giải phóng để khuyến khích giới nghèo chỉ trích những hành vi bạo ngược bị cáo buộc của các thành phần giàu có trong cộng đồng địa phương. Trong một vài trường hợp, những người hoạt động của Việt Minh, bị thôi thúc liên tục bởi những cố vấn Trung Quốc của họ, tiến hành một cách gián tiếp cuộc hành hình ngay lập tức những cá nhân bị xét xử có tội về “những tội ác chống lại nhân dân.” Như tác giả Dương Vân Mai Elliott đã từng mô tả quá trình qua lời tường thuật thu hút của riêng kinh nghiệm gia đình mình trong suốt cuộc xung đột, những cán bộ cải cách ruộng đất sẽ bắt giữ những địa chủ vốn bị buộc tội về việc từng áp bức giới nghèo. Sau đó:

họ xét xử những địa chủ nhà trong một phiên tòa hề bất chấp luật lệ, được dàn dựng một cách cẩn thận để làm cho nó trông giống như đó là ý muốn của người dân. Khoảng một tá nông dân nghèo vốn đã từng chịu khổ nhất và vốn nuôi dưỡng lòng hận thù sâu đậm nhất đối với những địa chủ, được chọn lựa và huấn luyện riêng trước để đấu tố họ tại phiên xử này. Trong khi những nông dân này lần lượt tố cáo những địa chủ ở trước tòa án này, những nông dân nghèo khác được gài vào trong khán giả sẽ hét to “Đả đảo địa chủ !” nhằm làm mạnh thêm bầu không khí thù nghịch. Nếu bản án là cái chết, những địa chủ sẽ bị hành hình ngay tại chỗ. Nếu bản án là phạt tù, họ sẽ được dẫn đi khỏi. Tài sản của những địa chủ được xét là phạm những tội ác –bao gồm đất đai, nhà cửa, súc vật kéo xe, kéo cày, và những dụng cụ– sẽ bị tịch thu và phân phối trong số những nông dân cần nhất.14

Những lãnh đạo đảng hy vọng rằng các biện pháp như thế sẽ nâng cao lòng nhiệt tình của giới nông dân nghèo và khuyến khích sự tham gia của họ trong nỗ lực chiến tranh. Vào ngày 04 tháng Sáu năm 1953, Đài phát thanh Việt Minh phát sóng một lá thư được cho là được gởi từ một phụ nữ nông dân cho Hồ Chí Minh:

Trong suốt sự thống trị của Pháp, những đứa con của tôi và tôi thiếu gạo để nuôi sống bản thân và quần áo để che phủ mình. Các con tôi phải đi làm thuê và tôi tiếp tục sống từ ngày này qua ngày khác bằng cách thu thập khoai lang và bằng cách đào đất tìm những rễ cây… Vào cuối năm 1952, giới nông dân bắt đầu cuộc đấu tranh chống lại những địa chủ bẩn thỉu và lọc lừa… Chính là nhờ ông mà chúng tôi hiện tại có một cuộc sống thoải mái đến như thế và chúng tôi sẽ không bao giờ quên điều đó.15

Đối với những thành phần quân sự, tuy nhiên, những biện pháp như vậy vẫn không đầy đủ, bởi vì số lượng của những nông dân không có đất ở các vùng giải phóng, mặc dù đang giảm xuống một cách đều đặn, tạo thành lên đến 15% dân số. Tại cuộc hội nghị quốc gia về nông nghiệp được tổ chức vào tháng Mười,

p446

Trường Chinh đề ra một chính sách khó khăn hơn và đệ trình dự thảo về luật cải cách ruộng đất mới mà nó sẽ dẫn đến việc tịch thu đất đai và tài sản của hầu như toàn bộ giai cấp địa chủ.

Thái độ của Hồ Chí Minh đối với một kiến nghị chưa từng bao giờ rõ ràng hoàn toàn, mặc dù có khả năng rằng ông ta đã lập luận chống lại bất kỳ chương trình cải cách ruộng đất nào mà nó sẽ quá nghiêm ngặt đến nổi nó sẽ làm xa lánh những thành phần ôn hòa khắp cả nước. Trong bất kỳ trường hợp nào, nhu cầu nhân lực của cuộc cách mạng cuối cùng đã thắng thế. Trong một bài phát biểu cho Quốc hội của VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt) một ít tuần sau hội nghị nông nghiệp Tháng Mười Một, ông Hồ thừa nhận rằng trong những năm qua những chính sách của chính phủ đã quá ham muốn quan điểm của giai cấp địa chủ và không đủ sự quan tâm về giới nông dân. Tháng sau, một luật mới về cải cách ruộng đất ra lệnh thực thi về những điều lệ giảm những phần tiền thuê, trong khi mở rộng việc tịch thu những đất chiếm hữu đối với toàn bộ giai cấp địa chủ. Những địa chủ được phân loại như là giới tiến bộ về mặt chính trị sẽ được bù đắp cho sự mất mát của họ bằng những trái phiếu của chính phủ, nhưng sẽ vẫn bị ép buộc từ bỏ tất cả đất nông nghiệp vượt quá số lượng cần đến cho đời sống cá nhân của họ. Những người bị kết án thực hành chuyên chế sẽ bị trừng phạt. Mục đích của pháp luật mới không chỉ để giành lấy sự ủng hộ của nông dân, mà còn phá hủy quyền lực kéo dài của giới quý tộc ở những khu vực nông thôn. Trong khi chương trình bao gồm những quy định về việc cải tạo những thành phần địa chủ không được xem là phạm những tội ác chống lại nhân dân, trong thực tế những quy định như thế thường bị bỏ qua bởi những cán bộ đầy nhiệt thành ở cấp thôn làng. Lần đầu tiên kể từ khi cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh vào năm 1930-1931, Đảng đã quyết định để thả ra bóng ma của chiến tranh giai cấp ở vùng nông thôn.16

Vào tháng Giêng năm 1953, Dwight D. Eisenhower bước vào Nhà Trắng như là vị Tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ. Ông “Ike” (i.e. tên vị Tổng thống được đọc tắt) đã vận động trên một nền tảng vốn kêu gọi cho “sự dẹp bỏ chủ nghĩa cộng sản,” và những thành viên hàng đầu của Đảng Cộng hòa của ông ta đã bị phê bình vì sự mất mát của Trung Quốc và sự bế tắc ở Hàn Quốc vốn tượng trưng cho di sản Á châu của người tiền nhiệm thuộc phe Dân chủ của ông ta. Trong bài diễn văn trước Chính quyền Liên bang(pc 07) của mình được đọc vào đầu tháng Hai, ông Eisenhower không nói nhiều về Đông Dương, chỉ đơn giản lưu ý rằng cuộc Chiến tranh Triều Tiên là “một phần của một cuộc tấn công tương tự có tính toán mà kẻ xâm lược đồng thời đang tạo áp lực ở Đông Dương và Mã-Lai-Á, và của tình hình chiến lược vốn hiển nhiên bao trùm hòn đảo Formosa(pc 08) và lực lượng Trung Hoa Dân Quốc ở đó.”17 Nhưng trong suốt những cuộc hội đàm được tổ chức với Thủ tướng Pháp René Mayer đang thăm viếng tại Nhà Trắng vào cuối tháng Ba, vị Quốc trưởng Điều hành mới chỉ ra rằng ông ta sẽ sẵn sàng tăng viện trợ quân sự Hoa Kỳ cho Pháp, nhưng trừ khi Pháp cho thấy ý muốn áp dụng cách giải quyết hăng hái hơn trong việc tìm kiếm thắng lợi hoàn toàn ở Đông Dương.

p447

Pháp, tuy nhiên, đã từ lâu xóa bỏ bất cứ ý định như thế. Vừa vào đầu tháng Mười Hai năm 1949, Tướng Carpentier đã cảnh cáo Tổng thống Vincent Auriol rằng điều tốt nhất mà có thể mang hy vọng đến là một giải pháp chính trị. Việc rút quân của Pháp từ vùng biên giới vào năm sau đó phản ảnh sự chấp nhận ngầm về viễn ảnh ảm đạm của ông Carpentier, và mặc dù công việc được giao của Tướng de Lattre de Tassigny là chỉ huy lực lượng Pháp ở Đông Dương vào cuối năm 1950 dẫn đến những hy vọng ngắn ngủi cho một thắng lợi trên lực lượng của chủ nghĩa cộng sản trong vùng, sau khi chuyến rời khỏi của ông ta và sự thay thế bởi Tướng Satan một năm sau đó những Tướng Pháp và những nhà chính trị như nhau bắt phải tìm kiếm một sự dàn xếp chính trị.

Để nhận được trợ giúp của Hoa Kỳ trong việc cải thiện vị thế quân đội của Pháp trước khi cuộc hòa giải qua thương thuyết, tuy nhiên, đó là điều cần thiết cho Pháp để cung cấp những bảo đảm rằng họ quả thật sẽ ứng dụng cách giải quyết hăng hái hơn ở Đông Dương. Nhiệm vụ về việc thuyết phục Nhà Trắng để gia tăng viện trợ quân sự của Hoa Kỳ rơi vào vị Tổng tư lệnh mới được bổ nhiệm của LlVcP,(pc 01) Tướng Henri Navarre. Sau đó vị Tham mưu trưởng của lực lượng NATO(pc 09) Pháp ở châu Âu, ông Navarre thì không phải là cách chọn lựa đầu tiên của Washington như là một thay thế cho ông Salan, kể từ khi ông ta mang lấy cho mình một tiếng tăm vì sự thận trọng và thậm chí không quyết đoán. Sau cuộc nhậm chức của mình, ông Navarre cố gắng xoa dịu những nghi ngờ như thế bằng cách ứng dụng một chiến lược đầy tham vọng (được biết đến rộng rãi như là Kế hoạch Navarre) nhằm nắm lấy sự khởi đầu ​​trong việc chiến đấu ở Đông Dương.

Mánh khóe của ông Mayer dường như để ứng dụng một lập trường hiếu chiến ở Đông Dương chỉ hạn chế sự thành công ở Washington, nơi mà mối nghi ngờ về những ý định của Pháp hiện thời trở thành thói quen. Vào đầu tháng Tám năm 1953, một bài viết trong tạp chí Life (i.e. Cuộc sống) chỉ trích một cách gay gắt về cố gắng của Pháp ở Đông Dương và khẳng định rằng chiến tranh là “tất cả nhưng bị mất hết.” Tuy nhiên chính quyền mới ở Washington cảm thấy rằng Pháp không có nhiều lựa chọn. Một cách bất đắc dĩ, những Tham mưu trưởng Liên hợp đưa ra sự chấp thuận của họ đối với Kế hoạch Navarre, và trong tháng Chín, chính quyền Eisenhower ký một hiệp ước viện trợ mới cho việc gia tăng viện trợ của Hoa Kỳ cho  LlVcP.(pc 01) Dự đoán ở Paris, tuy nhiên, thì xa rời từ sự hứa hẹn. Vị Bộ trưởng quốc phòng của riêng ông Mayer, René Pleven, cảnh cáo rằng kế hoạch của ông Navarre thì không thực tế, và vào tháng Bảy, Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Paris báo cáo rằng chính phủ Pháp đã từ chối yêu cầu của vị Tướng về 12 tiểu đoàn, mà chúng sẽ đáng lý ra được chuyển vào Đông Dương từ châu Âu. Sự ủng hộ lan rộng ở Pháp cho cuộc chiến hiện tại đang nhanh chóng tan đi, và khi tin tức về hiệp ước viện trợ được công bố ở Paris vào ngày 29 tháng Chín, những nhà phê bình buộc tội rằng máu người Pháp được trao đổi cho những đồng dollar của Mỹ.18

Kế hoạch Navarre không được lên lịch trình để ​​bắt đầu hiệu lực cho đến khi mùa xuân và hè năm 1954. Trong khi đó, lực lượng Pháp sẽ ứng dụng một chính sách phòng thủ,

p448

trong khi chống đỡ những vị trí của họ ở đồng bằng sông Hồng và những khu vực quan trọng khác của đất nước. Một trong những khu vực đó là phía tây bắc xa xôi, khu vực vốn đã bị chiếm đóng bởi những đơn vị Việt Minh vào mùa thu năm 1952 như là một điểm làm bàn đạp cho những cuộc tấn công của họ vào Lào. Vào tháng Mười Một năm 1953, trong việc đáp ứng một mệnh lệnh từ Paris nhằm bảo vệ thủ đô Lào Luang Prabang từ mối đe dọa đối phương, ông Navarre quyết định chiếm công sự ở Điện Biên Phủ, là thủ phủ của một huyện nhỏ trong vùng thung lũng miền núi xa xôi của Việt Nam gần biên giới Lào, như là một phương tiện cho việc phá vỡ những liên kết của Việt Minh với Trung Lào và Bắc Lào. Thị trấn trước đây đã từng bị vây chiếm bởi Việt Minh trong suốt cuộc tấn công của họ ở khu vực tây bắc. Bấy giờ những lính dù Pháp hạ xuống vùng thung lũng để chiếm nó lại.

Trong khi Tướng Navarre đang cố gắng đưa những giai đoạn đầu tiên của chiến lược riêng mình vào hiệu lực, những chiến lược gia của Việt Minh đã soạn thảo kế hoạch của họ về những hoạt động cho chiến dịch năm 1953. Tại một cuộc họp của Ủy ban Trung ương được tổ chức vào đầu năm, những nhà hoạch định của Đảng đã quyết định tránh cuộc đối đầu công khai với lực lượng đối phương trong một tương lai gần, trong khi tiếp tục tìm kiếm để xác định những vị trí dễ bị tổn thương trong lá chắn phòng thủ của đối phương, đặc biệt là ở Lào, Cam-pu-chia, và phía tây bắc xa xôi. Chiến lược này đã không thay đổi trong suốt quá trình diễn biến trong năm, thậm chí sau khi ngày càng rõ ràng rằng ông Navarre đã quyết định tập trung lực lượng của riêng mình ở đồng bằng sông Hồng nhằm làm giảm mối đe dọa của Việt Minh đối với khu vực xung quanh Hà Nội. Võ Nguyên Giáp đã đưa ra một chiến dịch to lớn ở vùng đồng bằng với mục tiêu cuối cùng là việc vây chiếm Hà Nội và Hải Phòng, nhưng những cố vấn Trung Quốc tranh luận cho một chiến lược thận trọng hơn được tập trung vào phía tây bắc miền núi. Hồ Chí Minh ủng hộ đề nghị của Trung Quốc, và Bộ Chính trị phê duyệt nó vào tháng Chín. Kế hoạch này được lên lịch trình để được xác nhận tại cuộc họp của Ủy ban Quân sự Trung ương của ĐLĐVN(pc 04) được tổ chức vào tháng Mười Một.19

Tin tức về sự chiếm đóng của Pháp ở Điện Biên Phủ đến trụ sở Việt Minh ngay khi những người chỉ huy quân sự đang chuẩn bị trình bày cho Ủy ban Quân sự Trung ương những kế hoạch của họ cho một cuộc tấn công vào đồn trú của Pháp ở Lai Châu, là một căn cứ quân sự bị cô lập của Pháp trong dãy núi khoảng ba mươi dặm thẳng đến phía bắc Điện Biên Phủ. Đối với ban lãnh đạo của Việt Minh, nước cờ thí quân của ông Navarre mở ra những khả năng đầy hứa hẹn, cũng như những rủi ro. Mặc dù việc chiếm giữ Điện Biên Phủ của Pháp đặt ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với những liên kết thông tin liên lạc của họ với Bắc Lào, việc tái chiếm của Việt Minh ở căn cứ đó có thể có một tác động đáng kể đến tinh thần của Pháp và bắt đầu giai đoạn cho những cuộc tiến quân xa hơn nữa trong suốt năm sắp đến. Khu vực cũng hiến cho một số lợi thế chiến lược. Nằm cách xa hơn 200 dặm từ Hà Nội, khu vực đó sẽ tiêu biểu cho một vấn đề nghiêm trọng đối với Pháp trong những cố gắng của họ để cung cấp quân dụng và quân tiếp viện.

Mặt khác, nếu một cuộc tấn công ở Điện Biên Phủ sắp sửa được phát động,

p449

đây sẽ là lần đầu tiên mà Việt Minh đã cố gắng tiến hành một cuộc tấn công trực diện vào một căn cứ được phòng vệ mạnh mẽ bởi lực lượng Pháp. Tuy nhiên, nó được nằm trong một thung lũng núi và đủ gần đối với biên giới Trung Quốc và đối với trụ sở chính của Việt Minh ở Việt Bắc để cho phép sự vận chuyển với những số lượng đáng kể vật dụng Trung Quốc. Sau cuộc thảo luận kỹ lưỡng về những lựa chọn và bằng sự khuyến khích bày tỏ ra từ những cố vấn Trung Quốc và những cấp trên của họ ở Beijing, vào ngày 6 tháng Mười Hai, những lãnh đạo Đảng quyết định chuyển đổi trọng tâm của những cố gắng của họ trong chiến dịch năm 1954 đến Điện Biên Phủ. Trong suốt thời gian còn lại trong năm, những lãnh đạo Việt Minh bắt đầu xâm nhập ba sư đoàn lực lượng chính mới được tổ chức vào trong các ngọn núi xung quanh thị trấn, trong khi những đơn vị khác tiến vào trong Bắc Lào để đánh lạc hướng và buộc Pháp để phân tán lực lượng của họ.20

* * *

Tại sao những lãnh đạo Trung Quốc đột nhiên quyết định thúc giục những đồng minh Việt Minh của họ dự vào điều gì vốn được hứa hẹn sẽ là một cuộc đối đầu quan trọng với Pháp? Sau hết, việc quyết định để mở cuộc tấn công vào Điện Biên Phủ sẽ đòi hỏi sự gia tăng đáng kể về số lượng và chất lượng hỗ trợ của Trung Quốc; một giải pháp để thành công sẽ là khả năng của pháo binh Việt Minh hầu làm giảm hoặc thậm chí chận đứng Pháp từ việc đưa quân tiếp viện và quân dụng vào trong khu vực khi cuộc chiến đấu căng thẳng hơn mặc dù Beijing đã từng đang cung cấp sự hỗ trợ cho Việt Minh trong cuộc đấu tranh của họ cho quyền lực trong ba năm và chắc chắn nhìn thấy những mối lợi trong việc đáp ứng nghĩa vụ quốc tế của Trung Quốc cũng như bảo vệ vùng biên giới dễ bị tổn thương ở phía Nam của nó chống lại sự kiểm soát của đế quốc, trong những tháng gần đây những lãnh đạo Trung Quốc đã bắt đầu chuyển đổi trọng tâm của tư duy họ. Vào tháng Bảy, lệnh ngừng bắn đã bắt đầu có hiệu lực trên bán đảo Triều Tiên. Chi phí cho sự can thiệp của QđGpNd(pc 06) ở Hàn Quốc đã từng lên cao, và bây giờ có những dấu hiệu mà qua đó những lãnh đạo Trung Quốc đã quyết định tìm kiếm những quan hệ được cải thiện với Tây phương nhằm mục đích làm giảm mối đe dọa của những cuộc xung đột trong tương lai và cho phép chính phủ chuyển các tài nguyên khan hiếm đến một kế hoạch mới năm năm. Trong môi trường mới, tầm nhìn ngày tận thế của Mao Zedong(pc 10) về một cuộc chiến không thể tránh khỏi với chủ nghĩa đế quốc ở châu Á làm tiêu lực lượng của mình. Trong một cuộc phỏng vấn vào ngày 24 tháng Tám, Thủ tướng Trung Quốc và là Bộ trưởng Ngoại giao Zhou Enlai(pc 11)  tuyên bố rằng “những câu hỏi khác” có thể được thảo luận trong sự kết nối với một hội nghị hòa bình có thể xảy ra nhằm mang lại một kết thúc chắc chắn cho cuộc xung đột ở Hàn Quốc. Vào tháng Mười Hai, ông ta đã đề cập với những thành viên của phái đoàn Ấn Độ một ý tưởng về một hiệp ước hỗ tương dựa trên điều mà cuối cùng đi đến cái gì được biết như là “năm nguyên tắc chung sống hòa bình” giữa các quốc gia. Washington đã phản ứng bằng một tín hiệu khôn khéo của riêng nó khi Ngoại trưởng John Foster Dulles, trong một bài phát biểu cho Quân đoàn Mỹ vào đầu tháng Chín ngụ ý rằng Hoa Kỳ

p450

sẵn sàng xem xét một thỏa thuận qua thương thuyết để mang lại sự chấm dứt cuộc xung đột ở Đông Dương.21

Sự quan tâm trong việc mang lại sự chấm dứt cuộc xung đột Đông Dương cũng đang trỗi lên ở Moscow. Thủ tướng mới của Sô-Viết Georgy Malenkov, là người đã nổi lên như là một nhân vật khống chế trên bối cảnh sau cái chết của Joseph Stalin vào tháng Ba, có những lý do mạnh mẽ để tìm kiếm những mối quan hệ được cải thiện với Tây phương, bao gồm ngân sách quốc phòng đang chớm phát triển mà qua đó nó làm lệch hướng nguồn tài chánh khan hiếm từ những dự án kinh tế cần thiết. Vào cuối tháng Chín, Liên Xô đề nghị việc triệu tập một hội nghị năm-quyền-lực nhắm đến mục đích làm giảm những căng thẳng quốc tế. Một vài ngày sau đó, Trung Quốc đành làm theo Liên Xô.

Việc chiếm đóng Điện Biên Phủ của Pháp, sau đó, xảy ra ngay khi những lãnh đạo Trung Quốc (như những đối tác Sô-Viết của họ) đang đưa ra quyết định phát động cuộc tấn công hòa bình để mang lại một sự hòa giải qua thương thuyết ở Đông Dương, và sự giảm thiểu trong những căng thẳng giữa CHNDTH(pc12) và Hoa Kỳ. Chiến thắng của Việt Minh ở Điện Biên Phủ có thể dẫn đến những căng thẳng được gia tăng thêm trong khu vực, sau khi quyến rũ Hoa Kỳ can thiệp một cách trực tiếp. Mặt khác, nó cũng có thể kích thích cảm tính chống chiến tranh ở Pháp và thiết lập giai đoạn cho một thỏa thuận hòa bình mà qua đó sẽ tạo thuận lợi cho Việt Minh, và cũng cho những lợi ích của Trung Quốc. Đối với Beijing, cuộc đánh bạc nầy thì đáng chơi liều.22

Trong khi Hồ Chí Minh và những cộng sự viên của mình chắc chắn biết ơn đến Trung Quốc vì việc ban cho sự hỗ trợ được gia tăng thêm đối với chiến dịch được hoạch định của họ ở phía tây bắc, sự phản ứng ở trụ sở Việt Minh đối với trận mưa dông quan tâm được bày tỏ ở những thủ đô lớn trên thế giới cho một hòa bình qua thương thuyết ở Đông Dương ắt hẵn là thận trọng. Trong những tháng mở đầu của chiến tranh, khi lực lượng Việt Minh hiển nhiên yếu hơn so với lực lượng của những đối thủ của họ, ông Hồ đã không mệt mỏi thúc đẩy động cơ của cuộc dàn xếp thỏa hiệp. Khi tình hình trên chiến trường được cải thiện, và ngày càng rõ ràng rằng Pháp không còn tìm kiếm một thắng lợi hoàn toàn, tuy nhiên, có khả năng rằng lòng nhiệt tình trong số những lãnh đạo Việt Minh đối với một thỏa hiệp như thế bị khước từ. Trong lời bình luận với nhân vật Cộng sản Pháp Leo Figueres đang đến thăm vào tháng Ba năm 1950, Hồ nhấn mạnh rằng mặc dù những lãnh đạo Đảng tuân theo cuộc hòa giải qua thương thuyết, họ không sẵn sàng có những nhượng bộ lớn. Trường Chinh thì thậm chí thù nghịch hơn. Trong bài diễn thuyết vào ngày kỷ niệm lần thừ sáu của sự thành lập VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt) được đưa ra vào tháng Chín năm 1951, Trường Chinh cảnh cáo rằng VNDCCH không nên bị quyến dụ vào trong những cuộc thương thuyết và khẳng định rằng đó là điều cần thiết để “trừ tiệt mọi ảo tưởng kẻ cơ hội về những cuộc thương thuyết hòa bình với kẻ thù.” Khi Paris gởi đi những người thăm dò về một thỏa thuận thỏa hiệp vào cuối năm 1952, họ bị lờ đi bởi VNDCCH. Vừa vào cuối tháng Chín năm 1953, cơ quan tin tức Sô-Viết Tass báo cáo rằng

p451

trong một bài phát biểu vào dịp kỷ niệm lần thứ tám của sự hình thành VNDCCH, Hồ Chí Minh đã tuyên bố rằng hòa bình có thể xảy đến chỉ như là kết quả của chiến thắng.23

Một vài tuần sau đó, tuy nhiên, những lãnh đạo Đảng Việt Nam quyết định nghe theo dự kiến đề nghị của Moscow và Beijing để tìm kiếm một hoà giải chính trị. Trong cuộc phỏng vấn được tổ chức vào ngày 20 tháng Mười với một phóng viên từ tạp chí Thụy Điển Expressen, ông Hồ tuyên bố rằng chính phủ ông ta sẵn sàng tham dự hội nghị quốc tế để mang lại một hòa giải hòa bình ở Đông Dương. “Nếu chính phủ Pháp muốn có một hiệp ước đình chiến và giải quyết vấn đề Việt Nam bằng phương cách của những cuộc thương thuyết,” ông ta tuyên bố, “người dân và chính phủ của nước Cộng hoà Dân chủ chủ nghĩa Việt Nam sẵn sàng xem xét những dự kiến đề nghị của Pháp.” Cuộc phỏng vấn được tường thuật rộng rãi trong báo chí thế giới. Ngay sau đó, Beijing quyết tâm dứt khoát sự thỏa thuận của mình trong một bài xã luận trên báo Nhân dân Hàng ngày. Theo một nguồn tin ngoại giao của Hoa Kỳ ở Sài Gòn, sự bày tỏ ý muốn của ông Hồ về những cuộc đàm phán hòa bình gây ra “sự khó hiểu, sửng sốt, và lo sợ hiện rõ” trong số người Việt Nam không-Cộng-sản ở Saigon.24

Từng là một người thực tế, Hồ Chí Minh nhận thức được rằng việc hòa giải qua thương thuyết là một trong những lựa chọn để mang lại sự kết thúc chiến tranh. Quyết định của Hoa Kỳ vào tháng Bảy năm 1953 để tìm kiếm sự kết thúc cho cuộc xung đột ở Hàn Quốc là một dấu hiệu an ủi rằng đế quốc đang sẵn sàng ban cho những nhượng bộ khi họ đối mặt với những khó khăn lớn; tin tức đã chắc chắn làm dấy lên những hy vọng trong phạm vi phong trào Việt Minh mà qua đó một kết quả tương tự có thể đạt được ở Đông Dương. Nhưng trong một bài phát biểu cho một nhóm trí thức ở Việt Bắc một vài tuần sau đó, ông Hồ đã cảnh báo khán giả của mình rằng không nên có ảo tưởng rằng hòa bình sẽ đến dễ dàng. Giống như Mỹ, Pháp sẽ không sẵn sàng để ban cho những nhượng bộ lớn tại bàn hội nghị hòa bình trừ khi họ bị đánh bại trên chiến trường. Kẻ thù, ông ta cảnh báo, “đang cố gắng đánh lừa chúng ta bằng cách thả mồi trong nước; nếu chúng ta vội vàng ùa vào như một đàn cá và quên cảnh giác để bảo vệ chính mình, họ sẽ dễ dàng đánh bại chúng ta.” Vì vậy điều quan trọng là cảnh giác và tiếp tục cuộc đấu tranh, ngay cả khi Hoa Kỳ sẽ quyết định bước vào cuộc xung đột.25

Dưới những hoàn cảnh, ngay cả khi ông ta bày tỏ ý muốn mãnh liệt của mình tham gia những cuộc đàm phán hòa bình, ông Hồ phải ắt hẵn cảm thấy một vài nghi ngại, như ông ta chỉ ra cho những cộng sự viên trong một cuộc họp được tổ chức vào tháng Mười Một, những điều kiện cho một chiến thắng toàn vẹn thì không hoàn toàn chín muồi. Đồng thời, thái độ của Liên Xô và Trung Quốc là một nguồn quan tâm. Sự ủng hộ của Sô-Viết cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam đã từng luôn luôn là không sốt sắng, và như thế có lẽ không nhiều mong đợi ​​từ Moscow.

p452

Tuy nhiên sự hỗ trợ vững chắc từ CHNDTH(pc 12) là một hợp thành rất quan trọng trong chiến lược Việt Minh, và bất kỳ sự biểu lộ nào mà Beijing đang chuẩn bị thỏa hiệp trên vấn đề vì những lợi ích quốc gia của riêng mình sẽ làm sâu dậm thêm những đường nét lo lắng trên trán ông Hồ và những cộng sự viên của ông ta ở Việt Bắc.26

Mặt khác, Hồ Chí Minh nhận thức được rằng Việt Minh là không có vị thế để tiếp tục cuộc đấu tranh lâu dài của họ mà không cần sự chống lưng toàn diện của Trung Quốc. Điều đó sẽ không phải là lần đầu tiên mà ông đã từng chấp nhận sự cần thiết của một sự thỏa hiệp nhằm mục đích chiến đấu lần nữa vào một ngày khác. Về phần họ, Moscow và Beijing hầu như không cần sự đóng góp của Việt Nam nhằm theo đuổi nhu cầu an ninh quốc gia của họ. Tại một hội nghị được tổ chức tại Berlin đầu năm 1954, những đại biểu cho những cường quốc chính đạt được thỏa thuận rằng một hội nghị quốc tế nên được triệu tập tại Geneva vào tháng Tư để thảo luận về các vấn đề liên quan đến hòa bình thế giới. Phần lớn đối với sự bối rối của chính quyền Eisenhower, Đông Dương, cùng với tình hình ở Hàn Quốc, được đặt trên bàn hội nghị để thảo luận. Vào tháng ba, một phái đoàn VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt) đi đến Beijing để tham khảo ý kiến ​​với những quan chức Trung Quốc về việc cố gằng tìm ra một chiến lược chung tại Geneva. Ngay sau đó, một phái đoàn Việt Nam được dẫn đầu bởi Hồ Chí Minh đến thăm Bejing và Moscow để trình bày rõ ràng một chiến lược đàm phán chung với những lãnh đạo Sô-Viết và Trung Quốc. Dựa vào lời khuyên của họ về kinh nghiệm được rút ra từ những cuộc thương thuyết với Hoa Kỳ nhằm mang lại sự kết thúc cuộc xung đột ở Hàn Quốc, Trung Quốc cảnh cáo Việt Nam là nên “thực tế” trong những kỳ vọng của họ tại Geneva.27

* * *

Hai ngày sau khi sự công bố của hội nghị sắp tới tại Geneva, những nguồn tin tình báo Pháp biết được rằng những đơn vị Việt Minh ở thượng Lào đang tiến về phía đông theo hướng Điện Biên Phủ. Mặc dù những hoạt động của Việt Nam đang xảy ra trong những khu vực khác –ở Nam Bộ, ở Tây Nguyên, ở Lào, và ở hành lang Hà Nội-Hải Phòng– vào đầu tháng Ba, những tài liệu bị bắt được tiết lộ cho chính quyền Pháp rằng một cuộc tấn công lớn của Việt Minh vào phía tây bắc sắp xảy ra và rằng nó sẽ được đồng bộ hóa với những cuộc thương thuyết sắp tới ở Geneva. Có thêm những dấu hiệu cho thấy rằng sự hỗ trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Minh đã từng gia tăng một cách đáng kể, như thế mở ra những viễn ảnh chiến thắng của Việt Minh.

Vào dịp này, những nguồn tin tình báo Pháp thì chính xác. Bắt đầu vào tháng Mười Hai, những đơn vị Việt Minh dần dần tụ tập ở những vùng núi xung quanh căn cứ Pháp tại Điện Biên Phủ, trong khi hàng ngàn phu khuân vác dân sự được huy động để vận chuyển đạn dược và những phần rời của khẩu pháo nặng từ biên giới Trung Quốc vào trong khu vực. Như một người tham gia sau này kể lại điều đó cho một nhà báo Mỹ:

p453

Chúng tôi phải vượt qua những vùng núi và rừng rậm, di chuyển vào ban đêm và ngủ ban ngày để tránh cuộc ném bom của đối phương. Chúng tôi đôi khi ngủ trong những hố cá nhân nhỏ, hoặc kế ngay đường mòn. Mỗi ngưới chúng tôi mang súng trường, đạn dược, và những quả lựu đạn và những gói đồ của chúng tôi chứa một tấm mền, lưới chống muỗi, và bộ quần áo để thay đổi. Mỗi chúng tôi có phần tiếp tế gạo cho một tuần, mà qua đó chúng tôi thêm đầy lại ở những kho dự trữ dọc trên đường. Chúng tôi ăn những loại rau xanh, măng tre mà chúng tôi hái trong rừng, và thỉnh thoảng những dân làng sẽ cho chúng tôi một chút thịt. Tôi từng sống với Việt Minh trong chín năm từ đó, và tôi quen thuộc với việc đó.28

Điều cần thiết để mang lại những điều kiện chiến trường thuận lợi là nhận ra một hòa giải  hòa bình tốt đẹp tại bàn hội nghị, việc trợ giúp quân sự của Trung Quốc tăng lên đáng kể trong nhiều tháng tới. Theo những nguồn tin Trung Quốc, nhiều hơn 200 xe tải, 10.000 thùng dầu, hơn 100 khẩu pháo, 60.000 đạn pháo, 3.000 cây súng và khoảng 1.700 tấn ngũ cốc được vận chuyển cho lực lượng Việt Nam được chôn vùi xung quanh Điện Biên Phủ. Để khuyến khích những cố vấn Trung Quốc ở Đông Dương tìm kiếm một chiến thắng lớn, Zhou Enlai(pc 11) gởi thông điệp sau đây: “Nhằm mục đích mang lại một chiến thắng trong lãnh vực ngoại giao, chúng ta có lẽ cần phải xem xét liệu chúng ta có thể đạt được một số chiến thắng gây ấn tượng sâu sắc ở Việt Nam như là đã xảy ra trước khi hiệp ước đình chiến ở Hàn Quốc.” Hồ Chí Minh, đối với người nầy, không cần thuyết phục. Trong một bức thư cho Võ Nguyên Giáp vào tháng Mười Hai, Zhou Enlai tuyên bố: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không chỉ về quân sự, mà còn về chính trị không chỉ vì những lý do trong nước, mà cũng còn vì những lý do quốc tế. Vì vậy, tất cả nhân dân chúng tôi, tất cả lực lượng vũ trang của chúng tôi, Đảng và toàn thể Đảng phải hoàn toàn đoàn kết để hoàn tất công việc.”29

Đối với ông Hồ và những cộng sự viên mình, câu hỏi bây giờ đã trở thành không phải là nên hay không, nhưng là làm cách nào, để tấn công đồn trú Pháp. Một Võ Nguyên Giáp thận trọng mới tranh luận cho một kế hoạch mà nó sẽ có thể làm hao mòn kẻ thù, qua việc sử dụng pháo binh mình để phá hủy đường băng nhỏ ở vùng thung lũng và cắt đứt nguồn cung cấp của Pháp. Đội quân Việt Minh có thể sau đó dần dần vô hiệu hóa hỏa lực Pháp và vây chiếm những trú điểm mạnh mẽ của kẻ thù dọc theo chu vi căn cứ từng cái một. Theo những nguồn tin Việt Nam, Tướng Wei Guoqing (i.e. Vi Quốc Thanh), cố vấn cao cấp của Trung Quốc, tranh luận cho cách giải quyết khác, qua cách ủng hộ cuộc tấn chóp nhoáng dựa trên chiến thuật “biển người” vốn đã từng được sử dụng với hiệu quả ban đầu của những đơn vị QđGpNd(pc 06) chống lại đội quân Liên Hiệp Quốc ở Triều Tiên.30

Cuộc tấn công đầu tiên của Việt Minh vào Điện Biên Phủ được phát động vào giữa tháng Giêng. Việt Minh đã từng tìm cách qui tụ tổng số 33 tiểu đoàn của quân đội chính quy, qua sự cấu thành gần 50.000 chiến sĩ, ở những vùng núi xung quanh căn cứ. Họ đối đầu với kẻ thù có số khoảng 16.000 người.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ LlVcP : Lực lượng Viễn chinh Pháp.
pc 02_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 03_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.
pc 04_ ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt Nam.
pc 05_ “Cọp Mã Lai” : có thể lại thêm một lầm lỗi của tác giả; đúng ra là “Hùm xám Cai Lậy,” …(xin xem phần trước).

pc 06_ QđGpNd : Quân đội Giải phóng Nhân dân.
pc 07_ Bài diễn văn trước Chính quyền Liên bang : là một bài diễn văn hàng năm được trình bày bởi Tổng thống Hoa Kỳ trước Quốc Hội Hoa Kỳ. Bài diễn văn không chỉ báo cáo về tình hình quốc gia mà còn cho phép những vị Tổng thống phác thảo chương trình nghị sự lập pháp của họ (mà qua đó họ cần sự hợp tác của Quốc hội) và những quyền ưu tiên cấp quốc gia của họ.

pc 08_ Formosa : là tên của hòn đảo Đài Loan. Ngoài ra có những tên khác nhau cho hòn đảo Đài Loan đang dùng ngày nay, sau khi được tìm thấy nguồn gốc từ những nhà thám hiểm hoặc những nhà lãnh đạo qua từng thời kỳ cụ thể. Tên trước đây là “Formosa” có dấu thời gian từ năm 1544, khi những thủy thủ Bồ Đào Nha nhìn thấy hòn đảo chính của Đài Loan và đặt tên nó là Ilha Formosa, mà nó có nghĩa là “hòn đảo tuyệt đẹp.” Vào đầu thế kỷ 17, Công ty Đông Ấn Hà Lan thành lập một trạm thương mại tại bến Cảng Zeelandia (thời kỳ hiện đại gọi là cảng An Bình (Anping), ở Đài Nam (Tainan)) trên một cù lao ven biển được gọi là “Tayouan” theo ngôn ngữ Siraya địa phương; tên này sau đó được mở rộng cho toàn bộ hòn đảo như là “Đài Loan” (Taiwan). Trong lịch sử, người Nhật gọi Đài Loan là Chính quyền Takasago hoặc Takasago.

pc 09_ NATO : (North Atlantic Treaty Organization) Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương; tiếng Pháp là Organisation du Traité de l’Atlantique Nord (OTAN), còn được gọi là Liên Minh (Bắc) Đại Tây Dương, một liên minh quân sự liên kết chính phủ dựa trên Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương mà nó đã được ký kết vào ngày 04 tháng Tư năm 1949. Tổ chức tạo thành một hệ thống phòng thủ tập thể mà trong qua đó những nước thành viên của nó đồng ý để bảo vệ lẫn nhau trong đáp ứng đối với một cuộc tấn công bởi bất kỳ đảng phái nào bên ngoài. Trụ sở chính của NATO ở thủ đô Brussels, Bỉ, một trong 28 quốc gia thành viên trên khắp Bắc Mỹ và châu Âu, những nước mới nhất trong đó, là Albania và Croatia, được gia nhập vào tháng Tư năm 2009. Thêm 22 quốc gia tham gia trong Quan hệ Đối tác vì Hòa bình của NATO, với 15 quốc gia khác được tham gia trong những chương trình đối thoại được thể chế hóa. Việc chi tiêu cho quân sự được tổng hợp của tất cả những thành viên NATO chiếm hơn 70% việc chi tiêu quốc phòng của thế giới.

pc 10_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.
pc 11_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 12_ CHNDTH : Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
pc 13_ Wei Guoqing : Vi Quốc Thanh.
pc 14_ Liuzhou : huyện Liễu Châu.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s