XIII- Một Nơi Được Gọi Là Điện Biên Phủ (Phần 3-Hết)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p454

Thêm vào lực lượng chính quy của họ, Việt Minh có hơn 55.000 quân hậu cần và gần 100.000 dân công vận chuyển. Nhiều người trong số những dân công là phụ nữ từ các tỉnh miền Trung Việt Nam vốn là những người phải vượt qua những khu vực bị địch chiếm giữ ở đồng bằng sông Hồng để đến khu vực đang dàn dựng của họ ở gần biên giới Trung Quốc. “Đội quân tóc dài” nầy sau đó mang những phần rời của khẩu pháo và vật dụng chiến tranh khác trên hàng trăm dặm qua địa hình khó khăn đến khu vực xung quanh căn cứ. Mỗi dân công vận chuyển mang trung bình 30 cân Anh (i.e. khoảng 13.6 kg) lương thực dự trữ mười dặm mỗi đêm trên đường mòn lởm chởm của miền núi. Mặc dù hầu hết những hàng tiếp tế bao gồm dầu lửa và đạn dược, cũng có khẩu pháo lớn từ Liên Xô, được mang từng phần rời từ biên giới Trung Quốc tại Lạng Sơn, một khoảng cách hơn 200 miles (i.e. khoảng 322 km).31

Trong những giai đoạn đầu của trận chiến, những người tấn công theo lời khuyên của Trung Quốc sử dụng chiến thuật “sóng người,” nhưng những thương vong chịu tổn hại thì quá nặng nề đến nổi vào cuối tháng Giêng, Bộ tư lệnh tối cao của Việt Nam (theo sự thúc giục của Beijing) đánh giá lại tình hình và quyết định chuyển sang một cách giải quyết thận trọng hơn. Trong quá trình diễn tiến nhiều tuần kế đó, đội quân Việt Minh đào một mạng lưới nhiều trăm dặm những thông hào nông cạn để cho phép họ tiến lên điều đặn nhưng chắc chắn về phía những công sự phòng thủ xa xôi hẻo lánh của Pháp mà không bị lộ diện đối với hỏa lực của kẻ thù. Trong khi đó, một loạt những đường hầm được đào vào trong những sườn núi xung quanh quân trại bị bao vây. Khẩu pháo được mang từng mảnh rời bởi những người khuân vác từ biên giới Trung Quốc và sau đó được lắp ráp tại chỗ được đặt vào bên trong những đường hầm; sau đó nó có thể được di chuyển nhanh chóng giữa các địa điểm, như thế ngăn chận được những tay súng của Pháp trong quân đồn phía dưới từ vị trí thấp nằm trên nguồn pháo kích.32

Lúc đầu, quân dụng, quân tiếp viện được chuyển đến những người phòng thủ bằng không vận, nhưng cuối cùng sân bay ở vùng ngoài căn cứ ngày càng hầu như không thể sử dụng được vì sự việc pháo kích nặng nề bởi đối phương. Những chiếc máy bay hạ cánh trên đường băng để xuống hàng thì gần như ngay lập tức bị phá hủy bởi hàng rào pháo binh của Việt Minh phóng đạn từ những vùng núi xung quanh. Chẳng bao lâu, những phi công Pháp bắt buộc làm chuyến bay vội vàng qua thung lũng và thả xuống quân dụng và đội quân mới bằng dù. Cuối cùng, hỏa lực của Việt Minh càng lúc tập trung dầy đặc đến nổi đội binh tiếp viện đang đi vào qua cách đó thì thường mất mạng trước khi chạm mặt đất.

Khi tình hình trở trở nên nguy hiểm hơn, chính quyền Pháp trong sự tuyệt vọng quay sang Hoa Kỳ cho sự hỗ trợ. Vào giữa tháng Ba, Paris gởi Tướng Paul Ely đến Washington để yêu cầu cuộc không kích của Hoa Kỳ để giải tỏa trại quân Pháp và bảo vệ nó khỏi mối đe dọa sụp đổ. Có một số hỗ trợ ý tưởng từ Đô đốc Arthur Radford, là Chủ tịch của Tham mưu Trưởng Liên hiệp, và từ Phó Tổng thống Richard Nixon,

p455

là người trong một cuộc trò chuyện riêng với Đại sứ Pháp Henri Bonnet vào ngày 28 tháng Tư tuyên bố rằng “ông ta hoàn toàn chia sẻ quan điểm của Đô đốc Radford và rằng ông ta ủng hộ sự can thiệp ào ạt của máy bay Hoa Kỳ để cứu Điện Biên Phủ.” Tuy nhiên, Tổng thống Eisenhower, là người có ý thích về sự tham gia vào những cuộc chiến tranh bằng đường bộ ở châu Á đã bị giảm bớt bởi sự va chạm không phân thắng bại trên bán đảo Triều Tiên, đã do dự mở đầu lực lượng chiến đấu của Hoa Kỳ vào Đông Dương mà không có đảm bảo rằng trận chiến từ nay trở đi sẽ được tiến hành trên cơ bản của nhiều quốc gia, và trên điều kiện là Pháp cuối cùng sẽ hứa hẹn ban nền độc lập hoàn toàn cho tất cả ba nước của Đông Dương. Trong một chuyến đi đến London và Paris, Ngoại trưởng John Foster Dulles tìm thấy rằng không phải Anh cũng không phải Pháp sẽ đồng ý với những điều kiện của Hoa Kỳ; ông Eisenhower từ đó về sau từ chối yêu cầu của hỗ trợ của Pháp cho việc giúp đỡ bằng máy bay, và trong khi tiếp tục thăm dò khả năng can thiệp của Hoa Kỳ, miễn cưỡng đặt những viễn ảnh vào việc đạt được sự dàn xếp thỏa đáng tại bàn hội nghị hòa bình.33

Trong đầu tháng Năm, Việt Minh xâm nhập vào những phòng tuyến bên ngoài của quân trại ở Điện Biên Phủ và bắt đầu pháo kích đồn nhỏ của Pháp trong phạm vi. Theo những nguồn tin Trung Quốc, vào phút cuối, niềm tin của những người hoạch định chiến tranh của Việt Minh bắt đầu dao động khi kết quả về những thương vong nặng nề và mối đe dọa can thiệp của Hoa Kỳ, nhưng với sự khuyến khích mạnh mẽ từ Beijing, họ cuối cùng quyết định xông vào quân trại qua một đánh cuộc cho thắng lợi hoàn toàn. Cuộc tấn công cuối cùng diễn ra vào ngày 06 tháng Năm khi, qua sự mô tả có phần nào vắn tắt của Võ Nguyên Giáp, “những bộ đội của chúng tôi phát động một cuộc tấn công từ mọi hướng, chiếm đóng tổng hành dinh của đối phương và bắt giữ toàn bộ ban tham mưu địch.” Sự bại trận của Pháp đã là hoàn toàn. Nhiều hơn 1.500 người trong số những người phòng thủ đã vong mạng, 4.000 người bị thương, và phần còn lại bị bắt làm tù binh hoặc được liệt kê như là mất tích. Khoảng 70 người tìm cách thoát ra và tìm đường  trở lại những tiền tuyến của Pháp. Những mất mát của Việt Minh thì thậm chí còn nặng hơn, với hơn 25.000 thương vong, trong số những người đó gần 10.000 người bị thiệt mạng trong chiến đấu.34

* * *

Vào ngày 07 tháng Năm, một ngày sau sự đầu hàng cuối cùng của căn cứ Pháp tại Điện Biên Phủ, những cuộc đàm phán hòa bình về việc giải quyết cuộc xung đột Đông Dương mở ra như được lên lịch trình ở Geneva. Tham dự tại cuộc họp là những đại biểu từ Pháp, VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt), Vương quốc Anh, Liên Xô, Trung Quốc, và Hoa Kỳ, cũng như những đại diện từ chính phủ Bảo Đại và từ những chính phủ hoàng gia, bây giờ chính thức được biết đến như là những quốc gia liên hiệp, gồm Cam-pu-chia và Lào. Những lãnh đạo VNDCCH, phản ảnh cảnh báo trước đó của Hồ Chí Minh rằng chiến thắng sẽ không đến dễ dàng, đến dự hội nghị một cách thận trọng, nhưng cảm thấy rằng nó tạo cho một cơ hội cho bước tiến lớn trong cuộc đấu tranh cho sự thống nhất quốc gia toàn vẹn.35

p456

Tại phần khai mạc của hội nghị, đoàn đại biểu Pháp nói rõ những điều kiện của mình về việc hòa giải giải quyết, qua cách kêu gọi việc tái lập tổ chức lực lượng vũ trang của cả hai bên dưới sự giám sát của một hội đồng kiểm soát quốc tế. Phạm Văn Đồng, là Chủ tịch của phái đoàn VNDCCH (như ông ta đã từng giữ ở hội nghị Fontainebleau năm 1946), chấp nhận dự kiến đề nghị của Pháp cho lệnh ngưng bắn trước khi một dàn xếp về những vấn đề chính trị, nhưng trong tất cả các khía cạnh khác về những đòi hỏi của mình (được soạn thảo bởi Bộ Chính trị) khác biệt một cách rõ rệt từ những yêu cầu của của Pháp. Ông ta đòi hỏi sự nhìn nhận quốc tế về chủ quyền và nền độc lập hoàn toàn của tất cả ba nước của Đông Dương, thu hồi tất cả đội quân nước ngoài (có nghĩa là, dĩ nhiên, lực lượng Pháp), và việc tổ chức những cuộc bầu cử tự do được giám sát bởi chính quyền địa phương. Ngoài ra, ông ta đòi hỏi rằng những đại diện của các phong trào cách mạng ở Lào và Cam-pu-chia (được biết đến rộng rãi như là Pathet Lào và Khmer Đỏ, một cách tương ứng) được ngồi vào bàn hội nghị như là những đại diện hợp pháp của nhân dân cả hai nước. Trong một cử chỉ gần như khinh bỉ, ông Đồng đồng ý kiểm tra số thành viên có thể có trong tương lai thuộc Liên hiệp Pháp, được dựa trên ý muốn tự do và sự nhìn nhận về những lợi ích kinh tế và văn hóa của Pháp trong ba nước của Đông Dương.

Paris là không có vị thế chủ động sự mặc cả khó khăn. Những nguồn tin tình báo Pháp công khai dự đoán rằng, trong sự đối mặt cuộc tấn công mạnh mẽ của Việt Minh, Hà Nội có thể sụp đổ. Ý kiến ​​ở Washington thì bi quan như nhau. Tại một cuộc họp báo được đưa ra ở cuộc họp Hội đồng An ninh Quốc gia vào ngày 08 tháng Năm, Giám đốc Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ (CIA = Central Intelligence Agency) Allen Dulles ước tính rằng với 5.000 xe tải, Việt Minh sẽ có thể di chuyển quân lính của họ từ Điện Biên Phủ đến vùng đồng bằng Bắc Bộ trong thời gian hai hoặc ba tuần. Mặc dù lực lượng vũ trang Pháp ở vùng đồng bằng lên đến gần 200.000 người, như được so sánh với 76.000 quân chính quy Việt Minh, lực lượng Pháp bị tệ hại bởi tinh thần xuống thấp và bị vây quanh trong những địa điểm cố định mạnh mẽ bởi dân cư thù nghịch hoặc không quan tâm. Như đối với Quân đội Quốc gia Việt Nam, được tạo ra bởi chính phủ Bảo Đại sau việc ký kết Hiệp Định Elysée, Tướng Navarre gạt bỏ họ như là “đám người lộn xộn.”36

Tuy nhiên, VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt) phải đối mặt với một vấn đề nghiêm trọng của riêng của mình tại Geneva: tâm trạng của những đồng minh mình. Mặc dù những đại diện Việt Minh đã gặp gỡ với các đối tác Trung Quốc và Liên Xô trước khi hội nghị để trình bày rõ ràng một chiến lược đàm phán chung, ngày càng rõ ràng rằng không phải Moscow lẫn Beijing nhiệt tình ủng hộ Việt Minh trong việc tiếp tục cuộc chiến, cũng không phải là họ sẵn sàng ban phát sự ủng hộ bao trùm cho những nhu cầu của Việt Nam. Cả hai, thật ra, có những lợi ích an ninh của riêng mình trong ý tưởng ở Geneva, và đã áy náy để tránh né một cuộc đối đầu có thể có với Hoa Kỳ. Sau khi cuộc cãi lý sơ bộ đầu tiên đi đến kết thúc, rõ ràng là cả vị Ngoại trưởng Liên Xô Vyacheslav Molotov và cả trưởng đại biểu của Trung Quốc ở Geneva, Zhou Enlai,(pc 11)

p457

ủng hộ một thỏa hiệp được dựa trên sự phân chia Việt Nam thành hai vùng tổ chức nhóm riêng biệt, một vùng bị chiếm đóng bởi Việt Minh và vùng khác bởi chính phủ Bảo Đại và những người ủng hộ của mình. Hơn nữa, sau khi lúc đầu ủng hộ quan điểm của Việt Minh về Lào và Cam-pu-chia, vị Ngoại trưởng Zhou tỏ rõ với Phạm Văn Đồng rằng Trung Quốc không ủng hộ sự đòi hỏi của VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt) về việc tham dự những phái đoàn đại biểu của Pathet Lào và Khmer Đỏ như là những đại diện hợp pháp của các dân tộc Lào và Campuchia . Vấn đề đó, ông Zhou cảnh cáo, có thể làm chìm những triển vọng cho việc dàn xếp và dẫn đến sự can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ trong chiến tranh. Tốt hơn, ông ta tin tưởng, nên chấp nhận sự trung lập của cả hai quốc gia dưới những chính phủ hoàng gia hiện có của mình. Như là một sự xui khiến mang đến sự chấp nhận của VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt), ông Zhou đồng ý nhấn mạnh đến sự cần thiết về việc cung cấp lực lượng Pathet Lào với một khu vực tái lập tổ chức nhóm sau khi kết thúc cuộc xung đột. Đối với sự do dự hiển hiện, Phạm Văn Đồng agreed.37

Nhiều năm sau đó, những nguồn tin chính thức của Việt Nam tuyên bố rằng hành vi của Zhou Enlai(pc 11) tại Geneva được thúc đẩy bởi mong muốn của Trung Quốc nhằm đồng hóa Lào và Cam-pu-chia vào trong vùng cầu ảnh hưởng riêng của mình. Mặc dù có rất ít bằng chứng để xác nhận điều này, dường như có khả năng là Beijing xem hai quốc gia này như là rất quan trọng đến những nhu cầu an ninh của riêng mình trong khu vực và do đó có thể không muốn nhìn thấy liên bang Đông Dương được đưa vào hiệu lực. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, có lẽ động cơ thúc đẩy chính là mục tiêu cấp bách hơn về việc ngăn chận sự sụp đổ của những cuộc đàm phán hòa bình và sự có thể trong tương lai về việc thành lập những căn cứ Hoa Kỳ ở cả hai nước. Chắc chắn là trong những điều khoản đó mà ông Zhou thúc giục ông Đồng chấp nhận một thỏa hiệp về vấn đề này, một quan điểm vốn được ủng hộ mạnh mẽ bởi phái đoàn Sô-Viết.

Với vấn đề Lào và Cam-pu-chia được giải quyết, hội nghị tạm thời hoãn nghĩ trong khi những đoàn đại biểu Pháp và VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt) đã chuyển sự chú ý của họ vào những chi tiết được kếp hợp với việc dàn xếp ở Việt Nam. Trong những cuộc hội đàm riêng về quân sự với Pháp, những đại biểu Việt Minh tỏ rõ rằng họ muốn có một lãnh thổ tiếp giáp một vùng tổ chức nhóm lại cho quân lính của họ và những người theo họ gồm cả, trong số những điều khác, toàn bộ đồng bằng sông Hồng, bao gồm Hà Nội và Hải Phòng. (“Chúng tôi phải có Hà Nội, chúng ta phải có những lối ra,” một nhà đàm phán cấp cao của Việt Minh nói). Pháp miễn cưỡng thừa nhận sự mất mát Hà Nội, nhưng ngụ ý rằng nếu là trường hợp như thế, họ sẽ muốn trong sự đổi lại là không có bàn tay nào nhúng vào miền Nam và ít nhất một vùng đất tạm thời ở miền Bắc để hoàn tất việc di tản những quân lính và thường dân từ đồng bằng.

Cuộc tranh luận như thế bắt đầu xoay quanh vào đường phân chia giữa hai vùng tái lập tổ chức, và làm cách nào sự thỏa thuận tổng thể sẽ được thi hành. Lúc đầu, Phạm Văn Đồng đòi hỏi một đường được vẽ ở Vĩ tuyến Mười Ba,

p458

trong khi Pháp đưa ra một đường ranh ngay phía nam đồng bằng sông Hồng, xa nhiều hơn đến miền Bắc. Nhằm khống chế sự thỏa thuận, những đại biểu của VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt) chỉ muốn quyền giám sát địa phương, trong khi Pháp (được ủng hộ bởi Hoa Kỳ) kêu gọi cho việc tạo ra một hội đồng kiểm soát quốc tế dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc.

* * *

Trong khi những đoàn đại biểu Pháp và VNDCCH ở Geneva tranh cãi trên những chi tiết này, Zhou Enlai(pc 11) rời khỏi bằng máy bay đến Beijing để tham khảo ý kiến ​​với Mao Trạch Đông và những lãnh đạo khác của chính phủ. Trên đường đi, ông ta thực hiện một điểm dừng ngắn ở Ấn Độ, nơi mà ông ta quyến dụ sự ủng hộ của Thủ tướng Jawaharlal Nehru cho những vị thế của Trung Quốc tại hội nghị. Để trấn an ông Nehru, vốn là người ngày càng lo lắng về sự có thể rằng tất cả quốc gia của Đông Dương chẳng bao lâu có thể đi đến dưới sự cai trị của Cộng sản (và theo cách đó rơi vào sự thống trị của Trung Quốc), ông Zhou hứa rằng tất cả đội quân Việt Minh sẽ được rút khỏi Lào và Cam-pu-chia, và rằng cả hai nước sẽ được phép có những chính phủ độc lập qua sự lựa chọn riêng của họ. Như đối với tình hình ở Việt Nam, ông ta bảo đảm với nhà lãnh đạo Ấn Độ rằng VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt) sẽ tôn trọng bất kỳ sự phân chia trong tương lai của Việt Nam thành hai vùng riêng biệt, sau khi tuyên bố rằng cộng sản chủ nghĩa thì “không phải dành cho xuất cảng.” Trong một thông cáo được ban hành sau hàng loạt những cuộc họp, hai nhà lãnh đạo khẳng định lại sự ủng hộ của họ đối với khái niệm về năm nguyên tắc chung sống hòa bình như là một nền tảng thích hợp cho những quan hệ quốc tế trong phạm vi Á châu và khắp thế giới.38

Sau cuộc dừng chân ngắn ở Rangoon, nơi mà ông ta trao đổi quan điểm tương tự với Thủ tướng Miến Điện U Nu, Zhou Enlai(pc 11) trở lại Beijing, và sau đó đi thẳng đến Liuzhou (i.e. Liễu Châu), trụ sở chính một thời của Zhang Fakui (i.e. Trương Phát Khuê) ở miền Nam Trung Quốc, nơi ông ta gặp gỡ với Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Cuộc họp đón nhận ít tính công khai. Một bài tường thuật trên báo được phát hành sau này bởi Cơ quan Tin tức Trung Quốc Mới chỉ nói rằng “Thủ tướng Zhou Enlai và Chủ tịch Hồ Chí Minh có một sự trao đổi hoàn toàn vể quan điểm ở hội nghị Geneva, vấn đề về việc khôi phục nền hòa bình ở Đông Dương, và những vấn đề liên hệ.” Theo những nguồn tin được phát hành gần đây của Trung Quốc, tuy nhiên, ông Zhou thành công thuyết phục ông Hồ về sự cần thiết đạt được một dàn xếp thỏa hiệp ở Geneva để tránh sự can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ trong chiến tranh. Hai nhà lãnh đạo đồng ý về Vĩ tuyến Mười Sáu như là đường phân chia có thể chấp nhận được giữa hai vùng tái lập tổ chức. Họ đồng ý xa hơn nữa về sự chấp nhận thành lập một chính phủ không-Cộng-sản ở Lào và Cam-pu-chia, quy ước rằng một vùng tái lập tổ chức nhỏ nhoi được để dành cho Pathet Lào. Họ cũng tán thành phát hành một tuyên bố chung rằng những quan hệ trong tương lai giữa ba nước nước của Đông Dương

p459

sẽ được chi phối bởi năm nguyên tắc hòa bình, cùng tồn tại chung. Đổi lại, Zhou Enlai(pc 11) hứa hẹn sự ủng hộ tiếp tục của Trung Quốc và hỗ trợ cho VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt). Trong những thỏa thuận viện trợ được ký kết ở Beijing vào ngày 07 tháng Bảy, Trung Quốc cam kết cho sự gia tăng đáng kể về trao đổi thương mại và viện trợ kinh tế. Những nguồn tin chính thức ở Việt Nam thì ngắn gọn về việc báo cáo những kết quả của cuộc họp. Tờ báo Đảng là Nhân Dân lưu ý một cách khó hiểu rằng “việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương không thể được quyết định một cách đơn phương bởi một bên.”39

Sau những tham khảo ý kiến ​​ngắn ngủi ở Beijing, Zhou Enlai trở lại Geneva, nơi mà những người tham gia hội nghị đúc kết những vấn đề còn lại; hiệp ước được ký kết vào sáng sớm ngày 21 tháng Bảy 1954. Hiệp ước này sẽ được giám sát bởi một Hội đồng Kiểm soát Quốc tế, được cấu thành gồm Ấn Độ, Gia Nã Đại, và Ba Lan. Một tuyên bố không ràng buộc về chính trị được kèm theo lệnh ngưng bắn kêu gọi những tham vấn ý kiến giữa các chính phủ trong hai vùng tái lập tổ chức, và những cuộc bầu cử quốc gia nhằm thống nhất đất nước được tổ chức trong hai năm. Điểm gắn bó cuối cùng là một thỏa thuận thành lập đường phân chia giữa hai vùng tái lập tổ chức ở Vĩ tuyến Mười Bảy. Khi Phạm Văn Đồng dường như miễn cưỡng chấp nhận thỏa hiệp, ông Zhou lập luận rằng nên cho Thủ tướng Pháp Pierre Mendes-France một cách giữ thể diện là một giá nhỏ để trả cho việc có được sự ra đi cuối cùng của đội quân Pháp. “Đối với việc rút lui cuối cùng của Pháp”, ông Zhou hứa hẹn, “tất cả Việt Nam sẽ là của anh bạn.”40

Từ quan điểm của Hồ Chí Minh và những cộng sự viên của mình, tuy nhiên, có một vài sự việc diễn biến đáng ngại ngay sau khi kết thúc hội nghị. Chính quyền Eisenhower đã từng quan sát quá trình diễn tiến của những cuộc đàm phán ở Geneva với những mối nghi ngại và đã quyết định không chấp nhận những điều khoản về sự dàn xếp trừ khi ít nhất một phần của Việt Nam trong tương lai vẫn được bảo đảm dưới một chính phủ không-Cộng-sản. Bởi vì điều khoản cho việc thống nhất cuối cùng của toàn thể đất nước bằng những cuộc bầu cử quốc gia được tổ chức vào năm 1956 mở ra khả năng của một chiến thắng hoàn toàn của Cộng Sản, Washington chỉ ra rằng nó sẽ không đưa ra sự chấp thuận của nó đối với một tuyên bố chính trị, nó cũng sẽ không cam kết chính mình ủng hộ chính bản văn Hiệp định Geneva. Phái đoàn đại biểu của Bảo Đại nghe theo và từ chối tán thành lời tuyên bố chính trị, bằng cách lập luận rằng quyết định phân chia đất nước đã từng được thực hiện bởi quyền lực thực dân và chống lại ý muốn của dân Việt Nam. Một vài ngày sau khi kết thúc hội nghị, Ngoại trưởng John Foster Dulles công bố tại cuộc họp báo rằng Hoa Kỳ bây giờ sẽ bắt đầu tạo những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của những quốc gia không-Cộng-sản của miền Nam Việt Nam, Lào, và Cam-pu-chia. Điều đó khó là một điềm tốt cho những triển vọng của những cuộc bầu cử quốc gia trong tương lai.

p460

Nhiều nhà quan sát tại hội nghị ghi nhận một thái độ cay đắng trong phái đoàn VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt) trên sự phản bội được cáo buộc về những lợi ích của Việt Nam bởi Trung Quốc và Liên Xô. Trong hồi tưởng của mình, nhà ngoại giao Trung Quốc Wang Bingnan (i.e. Vương Bình Nam) sau đó nhận xét rằng một số thành viên trong đoàn “hy vọng sẽ thống nhất toàn bộ Việt Nam với một nước cờ.”41

Sự cay đắng thì rõ ràng không giới hạn đối với những đại biểu Việt Nam ở Geneva, nhưng cũng được phản ảnh bên trong Việt Nam. Tâm trạng thì hiển nhiên đủ nghiêm trọng để bắt lấy sự chú ý của Hồ Chí Minh. Trong một báo cáo chính trị cho Ủy ban Trung ương của ĐLĐVN(pc 04) một ít ngày trước khi việc ký kết cuối cùng của Hiệp định Geneva, ông ta chỉ ra rằng

một số người, bị say sưa với những chiến thắng lặp lại của chúng ta, muốn chiến đấu tiếp tục bằng bất cứ giá nào, đến sự kết thúc, họ chỉ thấy những cái cây, không phải cả khu rừng; với sự chú ý của họ tập trung về việc rút lui của lực lượng Pháp họ thất bại để phát hiện ra những mưu đồ của họ; họ nhìn thấy người Pháp nhưng không thấy người Mỹ; họ ham thích về hoạt động quân sự và xem nhẹ về ngoại giao. Họ không biết rằng chúng ta đang đấu tranh trong những hội nghị quốc tế cũng như trên những chiến trường nhằm mục đích đạt được mục tiêu của chúng ta.

Những người như thế, ông ta tranh luận, “muốn những kết quả nhanh chóng, không biết rằng cuộc đấu tranh cho hòa bình là một cuộc đấu tranh khó khăn và phức tạp.” Điều gì họ thất bại nhìn thấy là ba quốc gia đã thực sự thực hiện những bước tiến to lớn trong cuộc đấu tranh của họ để có được nền độc lập toàn vẹn của tất cả các nước của Đông Dương. Bây giờ, tuy nhiên, một chiến lược mới thì cần thiết, bởi vì Hoa Kỳ quyết định phá hoại những triển vọng cho hòa bình và biện minh cho sự can thiệp trong tương lai của mình trong cuộc xung đột ở Đông Dương. Trong những hoàn cảnh mới, khẩu hiệu cũ về “kháng chiến đến cùng,” phải được thay thế bằng một cái mới: “Hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ.” Một chính sách như thế sẽ giúp cô lập Hoa Kỳ (mà bây giờ đã trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương) trên sân khấu của thế giới và giúp để đánh bại những mưu đồ bất chính của nó.

Hồ Chí Minh thừa nhận rằng cái giá cho nền hòa bình là sự phân chia của Việt Nam. Tuy nhiên, việc thành lập lại những vùng tái lập tổ chức, ông ta khẳng định, không có nghĩa là sự phân vùng của đất nước, nhưng chỉ là một biện pháp tạm thời:

Do việc phân định ranh giới và việc trao đổi của những vùng, một vài khu vực tự do trước đây sẽ tạm thời bị chiếm đóng bởi kẻ thù; những cư dân của họ sẽ không hài lòng; một số người có thể trở thành nạn nhân cho sự chán nản và cho sự lừa dối của đối phương. Chúng ta nên tỏ rõ đối với những đồng bào của chúng ta rằng những gian nan mà họ sắp sửa chịu đựng vì những lợi ích của các lợi ích của cả đất nước, vì những lợi ích dài hạn của chúng ta,

p461

sẽ là một sự nghiệp vinh quang và họ sẽ có được lòng biết ơn của cả dân tộc.

Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự ủng hộ của những dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh hứa hẹn, nền độc lập toàn vẹn và sự thống nhất quốc gia chắc chắn sẽ được hoàn thành.42

Qua sự kêu gọi những cộng sự viên của mình trong Đảng chấp nhận một dàn xếp qua thương thuyết của cuộc chiến mà qua đó thì ít đáng kể hơn so với thắng lợi hoàn toàn, Hồ Chí Minh chắc chắn đang làm theo lời khuyên của Zhou Enlai,(pc 11) là người đã từng thúc giục một bước như thế trong suốt cuộc họp thượng đỉnh của họ ở Liuzhou(pc 14) trong một vài ngày trước đây. Tuy nhiên, ý muốn của ông ta chấp nhận một nền hòa bình thỏa hiệp trên đường đến mục tiêu cuối cùng của mình thì gợi nhớ về quan điểm của ông ta vào những dịp trước đó, đáng chú ý là vào cuối cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương. Hồ Chí Minh nhìn nhận rằng nền độc lập của quốc gia và sự thống nhất cho dân tộc Việt Nam không có thể đạt được trong sự cô lập, nhưng phải được đạt trong một bối cảnh của những thay đổi phức tạp đang diễn ra trên sân khấu của thế giới.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ LlVcP : Lực lượng Viễn chinh Pháp.
pc 02_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 03_ ĐCSĐD : Đảng Cộng sản Đông Dương.
pc 04_ ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt Nam.

pc 05_ “Cọp Mã Lai” : có thể lại thêm một lầm lỗi của tác giả; đúng ra là “Hùm xám Cai Lậy,” là vị thủ tướng thuộc chính quyền Quốc gia miền Nam Việt Nam dưới thời Bảo Đại từ tháng 6 năm 1952 đến tháng 12 năm 1953.
Nguyễn Văn Tâm sinh tại Tây Ninh, xuất thân từ một thầy giáo dạy trường Tây Ninh, sau được chuyển qua ngạch hành chính với chức vụ đốc phủ với khả năng viết và nói tiếng Pháp rất thành thạo và lưu loát.
Trong giai đoạn làm quận trưởng quận Cai Lậy khoảng những năm 1930 và đặc biệt là 1940-1941, khi khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra, Nguyễn Văn Tâm tỏ ra cứng rắn và thẳng tay đàn áp những người Cộng sản cách mạng, nên Cộng sản đặt cho biệt danh “Cọp Cai Lậy” hay “Hùm xám Cai Lậy.” Tháng 9 năm 1945, sau khi đám Cộng sản ở Nam Bộ nhảy ra giành lấy chính quyền sau khi Nhật tuyên bố bại trận, ông ta bị tổ chức Thanh niên Tiền phong (gồm các thủ lĩnh Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Nha sĩ Nguyễn Văn Thủ, Luật sư Thái Văn Lung, Bác sĩ Hồ Văn Nhựt… và các sinh viên Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Trần Bửu Kiếm) bắt ở Chợ Đệm, bị chặt ngón tay trỏ và bị tống giam. Nhưng sau đó, quân Pháp nổ súng chiếm lại Sài Gòn. Ông Tâm được quân Pháp cứu ra trong một trận tảo thanh do đại tá Nhật Massu chỉ huy vào tháng 9 năm 1945.
Tuy nhiên vùng Chợ Đệm thuộc quyền kiểm soát của Nguyễn Văn Trấn, có mệnh danh là “Hung thần Chợ Đệm” dưới quyền Xứ ủy Nam Kỳ Trần Văn Giàu có tiếng là “Sát thủ Máu lạnh” của Nam Bộ, nên có giả thuyết cho rằng Ông Tâm bị Nguyễn Văn Trấn bắt giữ và chặt ngón tay nhưng không dám thủ tiêu vì muốn dùng ông ta như lá bùa hộ mạng và cũng để trao đổi với Pháp.

pc 06_ QđGpNd : Quân đội Giải phóng Nhân dân.
pc 07_ Bài diễn văn trước Chính quyền Liên bang : là một bài diễn văn hàng năm được trình bày bởi Tổng thống Hoa Kỳ trước Quốc Hội Hoa Kỳ. Bài diễn văn không chỉ báo cáo về tình hình quốc gia mà còn cho phép những vị Tổng thống phác thảo chương trình nghị sự lập pháp của họ (mà qua đó họ cần sự hợp tác của Quốc hội) và những quyền ưu tiên cấp quốc gia của họ.

pc 08_ Formosa : là tên của hòn đảo Đài Loan. Ngoài ra có những tên khác nhau cho hòn đảo Đài Loan đang dùng ngày nay, sau khi được tìm thấy nguồn gốc từ những nhà thám hiểm hoặc những nhà lãnh đạo qua từng thời kỳ cụ thể. Tên trước đây là “Formosa” có dấu thời gian từ năm 1544, khi những thủy thủ Bồ Đào Nha nhìn thấy hòn đảo chính của Đài Loan và đặt tên nó là Ilha Formosa, mà nó có nghĩa là “hòn đảo tuyệt đẹp.” Vào đầu thế kỷ 17, Công ty Đông Ấn Hà Lan thành lập một trạm thương mại tại bến Cảng Zeelandia (thời kỳ hiện đại gọi là cảng An Bình (Anping), ở Đài Nam (Tainan)) trên một cù lao ven biển được gọi là “Tayouan” theo ngôn ngữ Siraya địa phương; tên này sau đó được mở rộng cho toàn bộ hòn đảo như là “Đài Loan” (Taiwan). Trong lịch sử, người Nhật gọi Đài Loan là Chính quyền Takasago hoặc Takasago.

pc 09_ NATO : (North Atlantic Treaty Organization) Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương; tiếng Pháp là Organisation du Traité de l’Atlantique Nord (OTAN), còn được gọi là Liên Minh (Bắc) Đại Tây Dương, một liên minh quân sự liên kết chính phủ dựa trên Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương mà nó đã được ký kết vào ngày 04 tháng Tư năm 1949. Tổ chức tạo thành một hệ thống phòng thủ tập thể mà trong qua đó những nước thành viên của nó đồng ý để bảo vệ lẫn nhau trong đáp ứng đối với một cuộc tấn công bởi bất kỳ đảng phái nào bên ngoài. Trụ sở chính của NATO ở thủ đô Brussels, Bỉ, một trong 28 quốc gia thành viên trên khắp Bắc Mỹ và châu Âu, những nước mới nhất trong đó, là Albania và Croatia, được gia nhập vào tháng Tư năm 2009. Thêm 22 quốc gia tham gia trong Quan hệ Đối tác vì Hòa bình của NATO, với 15 quốc gia khác được tham gia trong những chương trình đối thoại được thể chế hóa. Việc chi tiêu cho quân sự được tổng hợp của tất cả những thành viên NATO chiếm hơn 70% việc chi tiêu quốc phòng của thế giới.

pc 10_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.
pc 11_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 12_ CHNDTH : Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
pc 13_ Wei Guoqing : Vi Quốc Thanh.
pc 14_ Liuzhou : huyện Liễu Châu.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s