XIV- Giữa Hai Cuộc Chiến (Phần 1)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p462

XIV- GIỮA HAI CUỘC CHIẾN

Vào tháng Mười năm 1954, đội quân Pháp vượt qua cầu Pau Doumer (i.e. cầu Long Biên ngày nay), mà nó trải dài trên mặt nước bùn của sông Hồng, và khởi hành từ thành phố Hà Nội. Trong một buổi lễ ngắn, Đại tá Lefebre d’Argencé, là vị chỉ huy của phân đội Pháp cuối cùng, giao chính quyền thành phố cho trung đoàn thủ đô của Võ Nguyên Giáp. Trong suốt hai tuần trước đó, thành phố có vẽ hầu như trống rỗng, khi hàng ngàn người tị nạn đổ dòng về phía nam, dọc theo Quốc Lộ 5 đến thành phố cảng Hải Phòng. Những con đường Hà Nội thì chết đặc biệt là vào ban đêm, như hầu hết những nhà hàng, quán rượu, và những cửa hàng ở trung tâm thành phố bị đóng cửa.

Ngày hôm sau, thành phố trở lại với cuộc sống, khi dân cư địa phương chúc mửng sự xuất hiện của những người cai trị mới của họ. Đó là một dịp lễ hội. Những đường phố được đắp lên bằng những lá cờ và khẩu hiệu chào mừng Đảng và chính phủ; những cuộc diễn hành có tổ chức, được cấu thành gồm những trẻ em và đoàn đại biểu đại diện cho tính đa dạng của các nhóm xã hội và hiệp hội, diễn ra trước những đám đông lớn và nhiệt tình của những người đứng xem được tập trung ở phía trước Dinh thự Toàn quyền và trong công viên bên cạnh Bắc phủ Bộ, vốn đã có lần từng phục vụ như là trụ sở hành chính của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt). Vào ngày 11 tháng Mười, những đơn vị Việt Minh mang súng máy và những đội pháo nhẹ bắt đầu đổ vào trong thành phố, nơi mà họ được chào đón bằng những tiếng hô to “độc lập” từ những đám đông tụ tập. Ở giữa họ là những thành viên của chính phủ Hồ Chí Minh, nhiều người trong số họ đang đặt chân vào thủ đô cho lần đầu tiên trong gần tám năm.

Hồ Chí Minh tự đến thành phố một cách lặng lẽ trong thời điểm nào đó vào hoặc sau ngày 12 tháng Mười, nhưng có không có cổng khải hoàng hoặc lễ mửng để đánh dấu một dịp, và xuất hiện trước công chúng đầu tiên của ông đã không xảy ra cho đến khi chuyến ghé đến của Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru, vào ngày thứ mười bảy. Trong một bài xã luận xuất hiện trên một tờ báo địa phương vào ngày hôm sau, ông Hồ giải thích rằng ông ta không muốn lãng phí thời gian của những đồng hương mình trong sự chào đón công cộng. “Tình yêu hỗ tương của chúng ta,” ông ta nhận xét, “không phụ thuộc vào bề ngoài.”

p463

Sự phát triển của nền kinh tế và tiến trình hướng tới việc thống nhất đất nước, ông ta giải thích, thì quan trọng hơn so với buỗi lễ nghi.

Nhưng Hồ Chí Chí Minh đã thực sự gặp gỡ với một nhóm nhỏ những quan chức thành phố của Đảng tại một buổi lễ nhỏ vào ngày 16 tháng Mười. Trong bài phát biểu ngắn gọn vào dịp đó, ông ta lưu ý rằng sẽ có nhiều khó khăn để vượt qua, nhưng rằng họ có thể dần dần giải quyết nếu mọi người hợp tác và tuân theo pháp luật của nhà cầm quyền mới. Chính phủ mới đó, ông tuyên bố, đại diện cho ý chí của nhân dân, và nó sẽ tự lãnh chịu lời chỉ trích quần chúng. Trong thực tế nó dường như là thế. Những cán bộ được hướng dẫn cẩn thận để cư xử đúng cách với dân cư địa phương, trong khi những học sinh và giáo viên được khuyến khích tiếp tục tham dự những lớp học của họ, và các thương gia tiếp tục bán hàng hóa của họ ở thành phố được giải phóng. Những người nước ngoài được khuyến khích ở lại và tiếp tục trong các ngành nghề của họ. Chính ông Hồ vào một bệnh viện để điều trị. Sau khi được ra khỏi, ông ta từ chối lời đề nghị của một cộng tác viên mình để sống trong Dinh thự Toàn quyền, mà ông ta xem là quá kiêu căng đối với ý thích của mình, và quyết định chọn nơi cư trú ở căn nhà nhỏ của một người làm vườn trên đất vườn của dinh thự. Tuy nhiên, tòa nhà chính được đổi tên thành Phủ Chủ tịch, trong danh dự cho những vai trò mới của nó.1

Trong tư cách tập quán của mình, Hồ Chí Minh ứng dụng cách xử sự hòa giải trong những giao dịch của mình với thế giới bên ngoài. Trong những cuộc thảo luận với ông Nehru, ông ta tán thành năm nguyên tắc chung sống hòa bình(pc 02)mà ông Nehru và Thủ tướng Trung Quốc Zhou Enlai (i.e. Chu Ân Lai) gần đây đã từng khẳng định tại cuộc họp của họ vào tháng Sáu, và ông ta bảo đảm với khách viếng của mình rằng Việt Nam mới sẽ duy trì những mối quan hệ đúng đắn với những chính phủ hoàng gia ở Lào và Cam-pu-chia. Vào ngày 18 tháng Mười, ông ta gặp gỡ với Jean Sainteny, vừa trở lại Hà Nội theo yêu cầu của Thủ tướng Pierre Mendes-France để đại diện cho những quyền lợi của Pháp ở nước VNDCCCH(pc 01) (Bắc Việt). Ông Sainteny báo cáo cho Paris rằng ông Hồ đã bày tỏ ý muốn giữ lại sự hiện hữu về văn hóa và kinh tế của Pháp ở miền Bắc Việt Nam và thiết lập những liên lạc bang giao với những quốc gia không-Cộng-sản khác. Ông Hồ khẳng định xa hơn rằng ông ta không phải là một người nô lệ cho những thành phần theo đường lối cứng rắn trong Đảng mình. Trong cuộc phỏng vấn với một nhà báo vào đầu tháng Mười Một, tuy nhiên, ông Hồ nhấn mạnh rằng từ đây về sau những mối quan hệ của Pháp-VNDCCH phải là trên một nền tảng ngang nhau.2

Tuy nhiên, bất chấp sự bảo đảm của Hồ Chí Minh, một đội ngũ nhỏ của những người Âu châu và Mỹ ở Hà Nội bị theo dõi một cách chặt chẽ, và những hoạt động của họ bị ngăn cấm một cách kịch liệt. Ngược lại đối với một ông Hồ nhìn chung là thoải mái và niềm nở, nhiều người trong số những cán bộ của chế độ mới là, theo thẩm định của Jean Sainteny, “những người lúc nào cũng hối hả bận rộn lăng xăng, tổ chức những cuộc họp, những đoàn hợp xướng ca nhạc yêu nước, những kỳ diễn hành tuyên truyền, những buỗi thể dục nhẹ nhàng vào sáng sớm, và vân vân.”

p464

Bị theo dõi chặt chẽ nhất là cộng đồng nhỏ của người Mỹ. Báo chí địa phương, bây giờ dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của Đảng, thì hết sức chỉ trích về Hoa Kỳ, và một lời tuyên bố của ủy ban Việt Minh địa phương vốn đang điều hành chính phủ cho đến khi cơ sở của một chính quyền chính thức đã công bố rắng nó không nhìn nhận tư cách pháp lý của lãnh sự quán Hoa Kỳ ở Hà Nội. Những thái độ chống Mỹ trong số dân cư địa phương được thổi bùng lên bởi chính Hồ Chí Minh, là người tiếp tục viết những bài báo thỉnh thoảng xuất hiện chỉ trích về Hoa Kỳ vốn được phát hành trên những tờ báo địa phương dưới những chữ viết tắt C.B. Trong suốt vài tuần kế tiếp, nhiều thứ ngăn cấm nhỏ nhặt được đặt trên những hoạt động của lãnh sự quán Hoa Kỳ, và nó buộc phải đóng cửa trước cuối năm nay. Sự kiện công khai cuối cùng của nó là một bữa tiệc Lễ Tạ Ơn, được tham dự bởi một số ít nhà ngoại giao phương Tây và những thành viên Hội đồng Kiểm soát Quốc tế vốn đã từng được thành lập như là kết quả của Hiệp định Geneva(pc 04).3

* * *

Vào ngày 03 tháng Mười Một, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập một cuộc họp của Hội đồng Bộ trưởng để xem xét lại những chương trình của chính phủ và bổ nhiệm một ủy ban hành chính mới cho khu vực thủ đô. Hội đồng phải đối mặt với một vài vấn đề khó khăn đang đe dọa. Chiến lược gì nên được ứng dụng để giúp đỡ các tỉnh phía Bắc phục hồi từ tám năm chiến tranh và nhiều thập kỷ của sự chiếm đóng nước ngoài? Có nên chăng VNDCCH,(pc 01) dưới sự hướng dẫn vững chắc của Đảng, di chuyển nhanh chóng để xóa bỏ công trình xây dựng đồ sộ của chính quyền thực dân và bắt đầu đặt những nền tảng của một xã hội theo chủ nghĩa xã hội trong tương lai, hoặc nó nên di chuyển về phía trước một cách từ từ và dần dần qua giai đoạn chuyển tiếp trong cố gắng nhằm trấn an những người ôn hòa, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao tiêu chuẩn tổng quát về sinh sống của thường dân? Có thể nào chế độ giành được sự ủng hộ của giới nghèo ở nông thôn và thành thị trong khi cùng lúc xoa dịu những thành phần giàu có không? Cuối cùng, VNDCCH nên đối phó thế nào với vấn đề tái thống nhất đất nước và việc thực hiện Hiệp định Geneva?(pc 04)

Trong một ý nghĩa nào đó, câu hỏi đầu tiên có thể đã được trả lời rồi. Đối với Hồ Chí Minh và những cộng tác viên của mình, có nhiều tiền lệ cho một chính sách thận trọng. Sau khi kết thúc Nội Chiến ở Nga Sô-Viết vào năm 1920, Lenin đã từng khuyến khích sự tiếp tục tạm thời về doanh nghiệp tư nhân nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và việc hiện đại hóa công nghệ. Chính sách đó không đi đến sự kết thúc nào mãi cho đến năm 1928, khi Stalin giới thiệu một chương trình kêu gọi quốc hữu hóa công nghiệp và tập thể hóa nông nghiệp. Trung Quốc đã từng theo sau một con đường tương tự như sau việc nắm lấy quyền lực của Trung Cộng vào năm 1949, phát động chương trình của riêng mình về “dân chủ mới” để giành lấy sự ủng hộ của những thành phần ôn hòa và đặt nền tảng kinh tế cho sự chuyển đổi theo xã hội chủ nghĩa vào giữa thập niên 1950s.

p465

Một ít ngày trước khi ký kết Hiệp định Geneva,(pc 04) VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) từ căn cứ được giải phóng của nó ở Việt Bắc đã thực sự công bố một sắc lệnh làm sáng tỏ chiến lược trong tương lai sau khi lệnh ngưng bắn được đưa ra. Bản thông báo chứa đựng một chương trình tám điểm vốn được trù tính một cách rõ ràng để trấn an những thương nhân, chuyên gia, quan chức, và những người nước ngoài rằng trong thời gian hiện tại, chính phủ mới sẽ không cố gắng can thiệp vào những hoạt động tư nhân của họ. Nó kêu gọi sự tiếp nhận của chính phủ những doanh nghiệp kinh doanh và những dịch vụ công cộng trước đây được chủ hữu và điều hành bởi đế quốc hoặc bởi “chính quyền bù nhìn” (tức là, chính phủ Bảo Đại). Quyền chủ hữu tư nhân của tất cả những hình thức khác về tài sản sẽ được bảo đảm. Những công chức làm việc cho chế độ cũ sẽ không bị bắt giữ trừ khi họ đã trang bị vũ khí chống lại kháng chiến hoặc cố tình có những hành vi phá hoại chống lại tài sản nhân dân. Tất cả những cảnh binh được chỉ thị ở lại những vị trí công tác của họ và tuân theo những mệnh lệnh trong khi chờ đợi sự thành lập của chính quyền nhân dân. Những sĩ quan trước đây của Quân đội Quốc gia Việt Nam được lệnh phải báo cáo cho những ủy ban quân sự được thành lập bởi chính quyền mới của cách mạng. Những người không muốn làm như thế sẽ “bị trừng phạt một cách ác liệt.” Tự do tôn giáo được bảo đảm cũng như sự an toàn của những người và tài sản của những kiều dân nước ngoài.4

Trong lời kêu gọi cho dân Việt Nam được lưu hành trong tháng Chín, trước việc trở lại Hà Nội của chính phủ, Hồ Chí Minh đã từng lên tiếng về sự hòa hợp hòa giải. “Chúng tôi sẵn sàng,” ông ta nói, “đoàn kết với bất cứ ai từ miền Bắc đến miền Nam chấp nhận hòa bình, thống nhất, độc lập, và dân chủ, bất kể với những người mà họ hợp tác trong quá khứ.” Những quyền của các nhà đầu tư trong và ngoài nước để thực hiện những hoạt động kinh doanh hợp pháp của họ thì được quyền giữ lấy, và tất cả những người vốn đã từng có lần làm việc với kẻ thù, bây giờ muốn làm việc cho nhân dân và quốc gia đều được đón chào.5

Những lãnh đạo Đảng có lý do hữu lý để hòa hợp hòa giải những kẻ thù trước đây của mình. Trong suốt mùa thu, những người lánh nạn tiếp tục đổ dòng về phía nam ra khỏi Hà Nội với hàng ngàn người. Cuối cùng, một tổng số của hơn 800.000 người Việt rời bỏ miền Bắc, nhiều người trong số họ là những Công giáo La Mã vốn là những người được cảnh cáo bởi các linh mục của họ, “Đức Mẹ Đồng Trinh Maria đã di chuyển vào miền Nam. Phải không các bạn?” Một số lượng đáng kể của những người Công giáo có quan hệ gần gũi với Pháp hoặc những chính phủ của Bảo Đại trong khi đó những người vốn không lo sợ rằng những mối nghi ngờ sâu kín về lòng trung thành của họ trên một số trong những quan chức VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) có thể đưa đến kết quả trong sự khủng bố.

Mặc dù cuộc di cư xem như là giúp cho chế độ mới tránh khỏi bị thiệt hại từ một nguồn đối lập có tiềm năng, nó cũng lấy đi từ những tỉnh phía Bắc một tỷ lệ đáng kể những người giàu có, sáng tạo, và siêng năng nhất của tỉnh, kể từ khi những người Công giáo tạo nên một tỷ lệ phần trăm cao trong giai cấp ưu tú của đất nước về thương mại, nghề nghiệp, và trí thức.

p466

Một nhà quan sát ước tính rằng vào tháng Mười năm 1954, chính phủ mới có trong hàng ngũ của nó chỉ được 50 sinh viên tốt nghiệp đại học; không hơn 200 người thêm vào có bằng tốt nghiệp trung học. Hầu hết các nhà máy bị đóng kín cửa, và nhiều người trong số những người chủ đã rời khỏi đất nước. Theo một báo cáo, 29 trong số 30 hảng xưởng thuộc chủ hữu của Pháp ở thành phố cảng Hải Phòng đã bị đóng. Giao thông vận tải là một vấn đề nghiêm trọng. Xăng cho những chiếc xe có động cơ thì trong tình trạng cung cấp thiếu hụt, và những đường sắt không hoạt động.6

Thêm vào đó, phần lớn hệ thống thủy lợi đã bị phá hủy bởi Pháp, và gần như 10 phần trăm đất canh tác ở đồng bằng sông Hồng đã bị bỏ rơi vì cuộc bỏ chạy của dân cư địa phương đến những khu vực đô thị trong những tháng cuối của cuộc chiến tranh (Pháp đã tuyên bố phần lớn khu vực đồng bằng là một vùng lửa cháy tự do, nơi mà lực lượng vũ trang của họ được quyền bắn vào bất cứ thứ gì trong tầm nhìn). Sau đó, vào tháng Mười Hai những cơn lũ lụt thảm họa dọc theo bờ biển miền Trung đưa ra bóng ma nạn đói mới, và giá gạo trong những khu chợ nhanh chóng tăng vọt lên.

Kết quả là, khi VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) bắt đầu thiết lập bộ máy nhà nước trung ương vào đầu tháng Mười Một, nó bắt buộc phải hợp nhất một số trong những bộ ban và những cơ quan hiện có của nó trong khi cố gắng tìm cách sử dụng số nhân viên hành chính còn lại vốn là những người đã từng làm việc cho chế độ Bảo Đại. Ở cấp địa phương, những ủy ban kháng và hành chính vốn đã được thành lập trong suốt Chiến tranh Pháp-Việt Minh, tiếp tục hoạt động, mặc dù việc đề cập đến kháng chiến trong danh hiệu của những ủy ban được bỏ đi hầu phù hợp với tình hình mới. Cuối cùng, tuy nhiên, ủy ban được công bố rằng những cuộc bầu cử cho Hội đồng Nhân dân sẽ sớm được tổ chức ở những cấp địa phương để cung cấp một nền tảng pháp lý vững chắc cho việc thành lập quyền lực quần chúng.7

Trong vài tháng đầu tiên sau khi trở về Hà Nội, ban lãnh đạo của Đảng tự hạn chế để ứng dụng những biện pháp để xây dựng một chính quyền mới của cách mạng, mở rộng nền tảng ủng hộ cho VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), và thành lập một nền tảng vững chắc để từ đó dự vào việc tái thiết kinh tế sau chiến tranh. Phía sau hậu trường, tuy nhiên, có những dấu hiệu rằng những lãnh đạo Đảng đã thực sự bắt đầu tập trung vào tương lai. Vào đầu tháng Chín, Bộ Chính trị đã nhóm họp nhằm soạn thảo chính sách dài hạn. Một khi quyền lực được củng cố ở miền Bắc, Bộc Chính trị kết luận, những chuẩn bị sẽ bắt đầu cho bước tiến lên chủ nghĩa xã hội trong tương lai. Hồ Chí Minh đã thực sự gây sự chú ý của những nhà quan sát dự đoán trong một bài phát biểu vào ngày 02 tháng Chín, khi ông ta đưa ra nhận xét một cách bí ẩn rằng chế độ mới sẽ là tư sản trong hình thức dân chủ, nhưng quyền dân chủ của con người trong sự thỏa đáng.8

* * *

Một trong những lý do chính cho sự quyết định di chuyển chậm rãi về hướng hệ thống xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là sự mong muốn của Đảng nhằm mang lại việc tái thống nhất của hai vùng được hình dung trong lời tuyên bố chính trị được soạn thảo tại Geneva.(pc 04) Nhiều thành viên của phong trào Việt Minh –đáng chú ý là ở miền Nam– đã phải đau đớn thất vọng với những kết quả của hội nghị hòa bình. Những lãnh đạo Đảng chắc chắn chia sẻ sự mất mát tinh thần mà nhiều năm hy sinh đã đưa đến một kết quả chỉ là một phần chiến thắng, nhưng họ có thể tự an ủi mình bằng sự xác tín rằng, vì sự nổi tiếng bao trùm của Hồ Chí Minh và sự không thích hợp chung chung của chính phủ Bảo Đại, những quy định cho cuộc bầu cử quốc gia trong tương lai ở hội nghị Geneva rõ ràng hoạt động cho lợi ích của họ. Một cách để bảo đảm rằng những cuộc bầu cử sẽ thành công như chắc chắn sẽ là thế đối với chính phủ ở miền Bắc hầu phơi bày một khuôn mặt ôn hòa đến thế giới qua những chính sách đối nội, nhằm mục đích tránh xa lánh những thành phần không-Cộng-sản ở miền Nam Việt Nam cũng như những nhà quan sát có lòng quan tâm xung quanh thế giới.

Theo một trong những người tin tưởng của ông ta, Hồ Chí Minh lạc quan rằng những cuộc bầu cử được lên lịch trình ​​sẽ diễn ra, và ông ta có thể đã cảm thấy rằng áp lực của dư luận thế giới sẽ buộc chế độ ở miền Nam tuân theo các điều khoản của hiệp ước. Tuy nhiên, mặc dù những nguồn tin chính thức ở Hà Nội công khai tuyên bố về sự tự tin của họ rằng những quy định về lời tuyên bố chính trị sẽ cuối cùng được ủng hộ, theo một tin riêng một số cộng tác viên của ông Hồ bày tỏ sự hoài nghi của họ. Ngay cả Phạm Văn Đồng, là người đã từng chủ trì đoàn đại biểu VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) ở Geneva(pc 04) và sẽ được bổ nhiệm làm Thủ tướng trong tháng Chín năm 1955, gián tiếp đưa ra nhận xét với một nhà quan sát: “Bạn biết cũng như tôi rằng sẽ không có cuộc bầu cử.” Nếu điều sẽ đó là một trường hợp, Hà Nội sẽ buộc phải tìm kiếm những lựa chọn khác, bao gồm việc trở lại có thể có cho một chiến lược của chiến tranh cách mạng. Trong khi đó, Hồ Chí Minh bắt buộc phải sử dụng những kỹ năng ghê gớm của mình để thuyết phục các cộng tác viên mình cho bản hiệp định một cơ hội thành công.

Trong thời gian này, những lãnh đạo Đảng cố gắng chuẩn bị cho một trong hai sự việc bất ngờ. Theo những ước tính khác nhau, một vài nơi nào đó giữa 50.000 và 90.000 người ủng hộ Việt Minh (nhiều người trong số họ là những đứa con trai và con gái của những cán bộ Đảng đang sống ở miền Nam) đi ra miền Bắc sau hiệp ước, trong khi khoảng 10.000 đến 15.000 người khác, chủ yếu là những cựu chiến binh của phong trào cách mạng, vẫn ở miền Nam tham gia vào các hoạt động pháp lý được kế hoạch để thúc đẩy việc tổ chức các cuộc bầu cử quốc gia. Tuy thế, những người khác rút lui dưới lòng đất để bảo tồn và duy trì bộ máy cách mạng bí mật, trong trường hợp nó cần được tái hoạt động.9

Chắc chắn là có nhiều trở ngại cho việc tổ chức những cuộc bầu cử, và trong số những điều ghê gớm nhất là thái độ của chính phủ mới ở miền Nam.

p468

Vào tháng Sáu năm 1954, trong khi hội nghị Geneva(pc 04) vẫn đang diễn ra, vị Quốc Trưởng Bảo Đại đã phong chức Ngô Đình Diệm, một chính trị gia kỳ cựu vốn là người đã từng bị giam giữ ngắn hạn bởi chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh vào mùa thu năm 1945, như là Thủ tướng mới của ông ta. (Lo sợ cho sự an toàn của mình từ đó về sau, ông Diệm đã đi ẩn một thời gian ngắn tại Đại sứ quán Canada ở Hà Nội.) ông Diệm đã định cư tại Hoa Kỳ vào đầu những năm 1950s, nơi mà ông ta không mệt mỏi tìm cách để giành được sự ủng hộ của chính quyền Eisenhower cho việc trở lại chính trường như là một kết quả. Là một người Công giáo mộ đạo, ông ta trải qua nhiều tháng tại một chủng viện Công giáo ở tiểu bang New Jersey và dường như có một linh cảm gần như là vị cứu tinh về sứ mệnh của riêng mình hầu cứu những đồng bào mình khỏi sự đe dọa của chủ nghĩa cộng sản vô thần.

Sự ủng hộ cho ông Diệm ở Washington, tuy nhiên, bị giới hạn lúc ban đầu, kể từ khi nhiều quan chức Hoa Kỳ xem ông ta như có vẽ thầy tu và không thực tế, thiếu kém về tài năng của nhà chính trị, và tất cả những điều đó cho thấy không phải là một ứng cử viên thực thụ cho vai trò lãnh đạo chính trị. Một quan sát viên Mỹ bác bỏ ông ta một cách khinh bỉ như là một “Đấng cứu thế không có thông điệp.” Không nản lòng, ông Diệm tiếp tục quấy rầy những nhà ngoại giao Hoa Kỳ bằng ý kiến và tìm kiếm sự bảo trợ của những thành viên nổi bật của hệ thống phân cấp Công Giáo ở Hoa Kỳ, bao gồm Đức Hồng Y Francis Spellman và Joseph Kennedy, là vị cựu đại sứ cho thủ đô London (i.e. Luân Đôn).

Theo lời tường thuật của riêng mình, Bảo Đại đã được thúc đẩy để bổ nhiệm Ngô Đình Diệm vì niềm tin của ông ta rằng việc chống cộng đáng tin cậy của ông Diệm có thể kêu gọi đến những chiến binh hờ hững ở Washington. Mặc dù thường được cho rằng chính quyền Eisenhower đóng một vai trò trong sự quyết định, tin tức rõ ràng được đón mửng ở Washington bằng sự kinh ngạc mất tinh thần cũng như một vài thái độ bảo thủ. Nó tạo ra sự nhiệt tình không kém ở Sài Gòn, nơi mà chính phủ Bảo Đại đã thành lập thủ đô mình. Sau khi được nuôi nấng trong một gia đình Công giáo với những quan hệ gần gũi với triều đình ở Huế, ông Diệm được nhận xét bằng nghi ngờ của nhiều nhân vật chính trị kỳ cựu ở miền Nam. Vị Thủ tướng mới đáp lại cảm giác, bằng cách giãi bày với những thành viên thân cận của đoàn tùy tùng của mình rằng ông ta nhận thấy những người miền Nam quá dễ tính không chống lại những người Cộng sản một cách hiệu quả. Không có gì đáng ngạc nhiên, nội các của ông ta được cấu thành cho hầu hết bộ phận là người miền Bắc và người Việt thuộc miền Trung.10

Từ chức vụ mới của mình ở Sài Gòn, ông Diệm đã bày tỏ sự không chấp thuận về những điều khoản của việc dàn xếp được đạt đến ở Geneva(pc 04) vào tháng Bảy, và sau khi kết thúc hội nghị, ông ta ngay lập tức làm sáng tỏ rằng ông ta không có ý định đối phó với những người Cộng Sản. Lực lượng an ninh của chính phủ Sài Gòn bắt đầu quấy rối những người ủng hộ Việt Minh ở miền Nam và đóng cửa các văn phòng của ủy ban mà Việt Minh đã thành lập để thúc đẩy những cuộc bầu cử quốc gia. Ông Diệm kiên quyết không kém trong việc ngăm cấm những giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo, mà những lãnh đạo của họ cho thấy không có nhiều nhiệt tình cho chính phủ Sài Gòn hơn là họ dành cho Việt Minh.

p469

Ông ta cũng tìm cách làm gạn lọc chính phủ mình đối với bất kỳ thành viên được xét là có cảm tình với vị Quốc trưởng Bảo Đại, người mà ông xem thường như là một cộng tác viên của chế độ thuộc địa, hoặc đối với chính những người Pháp.

Hành vi hiếu chiến của ông Diệm trong suốt mùa đông năm 1954-1955 đã làm dấy lên sự lo lắng đáng lưu tâm trong số những quan chức Hoa Kỳ ở Sài Gòn và Washington. Tuy nhiên, đối với hội nghị Geneva(pc 04) vào lúc kết thúc, chính quyền Eisenhower đã thực sự quyết định rằng sự sống còn của một chế độ độc lập và chống-Cộng có thể thành tựu ở miền Nam Việt Nam thì cần thiết để bảo vệ những lợi ích an ninh của Hoa Kỳ trong khu vực. Vào mùa thu năm 1954, Tổng thống Eisenhower cử người bạn mình là Tướng J. Lawton Collins (được biết đến như là “Joe sấm sét” cho những chiến thuật tấn công của mình như là vị Tư lệnh quân đoàn trong Thế Chiến thứ II) như là đặc phái viên riêng của mình để điều hành và phối hợp những hoạt động của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam. Từ Sài Gòn, ông Collins khăng khăng đưa ra ý kiến rằng ông Diệm nên được thay thế bằng một nhân vật hòa hợp hơn vốn là người sẽ dễ chấp nhận đối với Pháp và đối với chính dân miền Nam Việt Nam. Vào đầu mùa xuân năm 1955, Nhà Trắng mau chóng đặt vấn đề suy xét nghiêm túc cho việc lưu ý đến đề nghị của ông Collins. Đến tháng Tư năm 1955, tuy nhiên, ông Diệm đã tìm cách đàn áp phe đối lập bên trong chống quyến cai trị của mình, vì vậy Washington sau đó quyết định cho ông Collins sự ủng hộ vững chắc của nó. Khi ông Eisenhower đưa ra nhận xét với Tướng Collins, tỷ lệ thành công ở miền Nam Việt Nam vừa mới tăng lên từ 10 phần trăm đến 50 phần trăm. Ngay sau đó, ông Diệm công khai bác bỏ lời đề nghị của Hà Nội muốn tổ chức những cuộc thảo luận về những cuộc bầu cử quốc gia trong tương lai.

Ở Washington, tin tức về sự chối thảo luận của Diệm về những cuộc bầu cử quốc gia làm dấy lên những cảm xúc hỗn độn. Một báo cáo gần đây của CIA(pc 05) đã thẳng thắn dự đoán rằng sự thắng lợi cho Việt Minh, không phải chỉ vì sự nổi tiếng toàn quốc của Hồ Chí Minh, mà còn vì ban lãnh đạo của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) ở miền Bắc có nhiều kinh nghiệm về sự huy động chính trị hơn so với chế độ còn non trẻ ở miền Nam; có thể cho là VNDCCH sẽ thực hiện việc sử dụng hữu hiệu về những kỹ thuật của học thuyết Lenin để bảo đảm một cuộc bỏ phiếu thuận lợi trong các khu vực dưới thẩm quyền của nó. Với những việc đáng nhớ về những cuộc bầu cử được dàn dựng và sự những cuộc xét xử thanh trừng vốn đã từng được tổ chức tại những quốc gia bị chiếm đóng bời Sô-Viết ở Đông Âu sau khi kết thúc Thế chiến thứ II vẫn còn sắc nét, những quan chức Hoa Kỳ tin tưởng rằng một đánh giá công bằng về ý muốn quần chúng sẽ không thể được tổ chức ở Việt Nam dưới những hoàn cảnh hiện tại.

Cũng sau đó, một nhận thức phổ biến về Hồ Chí Minh và chế độ của ông ta đã chuyển đổi đáng kể ở Hoa Kỳ trong những năm đầu kể từ khi bắt đầu cuộc xung đột Pháp-Việt Minh. Quan điểm trước đây cho rằng Việt Minh là những người yêu nước quên mình đang đấu tranh nhằm ném bỏ ách thống trị của chế độ thực dân áp bức đã từng được thay thế trong tâm trí quần chúng bằng một hình ảnh ảm đạm hơn về ông Hồ và những cộng tác viên của ông ta như là những mật vụ được cam kết của chủ nghĩa cộng sản quốc tế.

p470

Sau khi kết thúc hội nghị Geneva(pc 04) vào tháng Bảy năm 1954, quan điểm này dường như đã được xác nhận bởi những cảnh được quay phim về hàng ngàn người tị nạn tuyệt vọng đang chạy trốn về miền Nam để tránh những sự khủng khiếp của chế độ kiểu Stalin sắp sửa nắm lấy quyền lực ở Hà Nội.

Không quan tâm về những sự việc diễn biến nầy, chính quyền thì lo lắng về sự sụp đổ chính trị từ sự chối thẳng thắn của Sài Gòn tổ chức những cuộc thảo luận, vốn đã được kêu gọi rõ ràng tại hội nghị Geneva,(pc 04) và tìm kiếm một cuộc vận động chiến thuật mà nó sẽ đổ lỗi cho Hà Nội. Vào giữa mùa xuân năm 1955, những quan chức Hoa Kỳ đến Sài Gòn với đề nghị ​​ rằng ông Diệm nên đồng ý tổ chức những cuộc thảo luận, và sau đó yêu cầu những điều kiện nghiêm ngặt, như là những việc kiểm tra định kỳ bởi các nhóm quan sát bên ngoài, nhằm bảo đảm những cuộc bầu cử tự do. Điều này sẽ đặt chính phủ của ông Diệm trên một cơ sở pháp lý chắc chắn khi những đòi hỏi như thế khó tránh khỏi bị từ chối bởi những người Cộng sản (mà đó là điều gì đã từng xảy ra khi vấn đề đã được nêu lên trong sự chuẩn bị cho những cuộc bầu cử tương tự trong những vùng bị chiếm đóng thuộc Đức).

Nhưng bất chấp sự cảnh cáo của Hoa Kỳ rằng trong việc từ chối thẳng thắn những cuộc bầu cử quốc gia, ông ta sẽ mở ra cho sự chỉ trích vì sự vi phạm Hiệp Định Geneva,(pc 04) ông Diệm từ chối lời đề nghị này. Một số quan chức Hoa Kỳ chấp thuận quyết định, và chính quyền Eisenhower bị đặt vào một vị thế khó xử. Mặc dù nó đã từng từ chối cam kết chính mình đối với những quy định của hiệp ước, Washington đã cho thấy tại hội nghị Geneva rằng “nó sẽ xem bất kỳ sự đổi mới nào về việc gây hấn trong sự vi phạm [hiệp ước] bằng mối quan tâm nghiêm trọng và như là việc đe dọa trầm trọng nền hòa bình và an ninh quốc tế.” Tuy nhiên, có phải chăng Hoa Kỳ sẽ được cho là chính đáng, John Foster Dulles tự hỏi một cách thuật ngữ, trong việc xem xét một cuộc xâm lược miền Nam như là sự vi phạm Hiệp Định Geneva(pc 04) nếu chính ông Diệm đã từ chối tuân theo những điều khoản của chúng? Cuối cùng, tuy nhiên, Washington đi theo ông Diệm. Tại một cuộc họp báo, ông Dulles tuyên bố rằng Hoa Kỳ không có phản đối nào đối với những cuộc bầu cử tự do ở Nam, nhưng Hoa Kỳ đồng ý với Ngô Đình Diệm rằng trong thời gian hiện thời tình hình chưa chín muồi.

Sự thành công của Ngô Đình Diệm trong việc củng cố quyền cai trị của mình ở miền Nam, cùng với quyết định theo sau của Washington cung cấp cho ông ta bằng sự ủng hộ vững chắc, là một ngạc nhiên đột ngột đối với những lãnh đạo Đảng ở Hà Nội, là những người quen với việc xem những đối thủ thuộc chủ nghĩa quốc gia của họ bằng một tiêu chuẩn đánh giá khinh miệt. Trong những cuộc họp của Bộ Chính trị được tổ chức vào cuối năm 1954, Hồ Chí Minh kêu gọi những cộng tác viên mình không nên bi quan hoặc mất kiên nhẫn, nhưng nên đánh giá lại tình hình và biến nó thành lợi thế của họ. Để cô lập Hoa Kỳ và đồng minh của nó ở Sài Gòn, ông ta đề nghị rằng những nhượng bộ về văn hóa và kinh tế nên được thực hiện đối với Pháp bằng một tầm nhìn hướng tới sự chiến thắng trên họ. Tại một phiên họp toàn thể vào tháng Ba, Ủy ban Trung ương chính thức công bố một chính sách mới vốn sẽ đặt ưu tiên cao nhất về việc xây dựng đất nước ở miền Bắc,

p471

trong khi sử dụng ngoại giao để thúc đẩy một giải pháp hòa bình ở miền Nam.11

Ngay cả mặc dù nhiều quan chức VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) đã từng hoài nghi rằng những cuộc bầu cử được kêu gọi ở Geneva(pc 04) sẽ diễn ra, từ chối của ông Diệm tổ chức những cuộc thảo luận chắc chắn gây điên tiết cho Hà Nội. Những lãnh đạo Đảng chỉ có thể hy vọng rằng áp lực từ những đồng minh của mình sẽ tạo nên thay đổi suy nghĩ ở Washington và Sài Gòn. Vào cuối tháng Sáu năm 1955, cùng đi với Tổng Bí thư Trường Chinh và những quan chức VNDCCH khác, Hồ Chí Minh thực hiện chuyến thăm cấp nhà nước đến Beijing. Sau hai tuần ở CHNDTH,(pc 06) trong suốt thời gian đó ông ta tham khảo ý kiến ​​với những quan chức cao cấp và đến thăm Vạn Lý Trường Thành, phái đoàn rời khỏi qua ngã Ngoại Mông đến Moscow.

Thật không may cho VNDCCH, tình hình ở Trung Quốc và Liên Xô thì không đặc biệt dẫn đến cho một chuyến đi thành công. Trong những tháng theo sau sự kết thúc hội nghị Geneva,(pc 04) cả Beijing và Moscow vẫn còn tập trung vào việc cải thiện những quan hệ với Hoa Kỳ và việc giảm bớt mối đe dọa tiềm năng của một cuộc xung đột chính yếu về ý thức hệ với những quốc gia tư bản chủ nghĩa. Ở Beijing, những chuẩn bị đang diễn ra cho một loạt những cuộc đàm phán cấp lãnh sự với các nhà ngoại giao Hoa Kỳ tại Geneva; Trung Quốc hy vọng những điều này cuối cùng sẽ dẫn để sự chấm dứt đối với lệnh cấm vận của Hoa Kỳ và sự giải quyết cuộc xung đột trên Đài Loan. Ở Moscow, ban lãnh đạo mới của Khrushchev thì tích cực thúc đẩy đường lối mới của Liên Xô về sự chung sống hòa bình nhằm ổn định tình hình ở châu Âu và giảm bớt những căng thẳng về Chiến tranh Lạnh với Hoa Kỳ. Đối với những lãnh đạo Đảng trong cả hai nước, bất kỳ một sự đổi mới về cuộc tranh chấp trên Việt Nam sẽ là một trở ngại cho sự thực hiện những mục tiêu lớn hơn của họ ở nơi nào khác trên thế giới.

Việc tiếp nhận ở cả hai thủ đô đối với sự van nài của Hồ Chí Minh cho sự ủng hộ về vấn đề của những cuộc bầu cử quốc gia thì nhạt nhẽo một cách quyết đoán như thế. Trong một thông cáo về quan điểm được ban hành về cuộc khởi hành của phái đoàn đại biểu Việt Nam từ Beijing, tuy nhiên Trung Quốc thực sự hứa hẹn ủng hộ vị thế của Hà Nội về những cuộc thảo luận, và Thủ tướng Zhou Enlai(pc 03) đồng ý gởi một bức thư phản đối đến Vương quốc Anh và Liên Xô, là những đồng Chủ tịch của Hội nghị Geneva.(pc 04) Ông Hồ ít có thành công ở Moscow, nơi vốn ủng hộ cho vị thế VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) là một pro forma (i.e. Latin –như là một vấn đề hình thức) trong hoàn cảnh tốt nhất. Những lãnh đạo Liên Xô thêm vào sự xúc phạm đến tổn hại qua việc ngụ ý rằng họ vẫn nuôi dưỡng những nghi ngờ còn kéo dài về tính chính thống của các nhãn hiệu học thuyết Marx-Lenin được thực hành ở Hà Nội. Ngoại trưởng Molotov đồng ý nhận lấy vấn đề về việc triệu tập lại hội nghị Geneva với Ngoại trưởng Anh Anthony Eden, nhưng khi ông Eden từ chối lời đề nghị, ông Molotov thì mặc nhận ngầm một cách đáng ngạc nhiên. Vấn đề không chính thức được nêu lên tại cuộc họp của những lãnh đạo Bốn nước Lớn sau này trong năm, mặc dù ông Molotov đề cập đến vấn đề khó khăn qua cách chiếu lệ trong một bài phát biểu tuyên bố rằng

p472

“việc thực hiện những dàn xếp ở Geneva về Đông Dương và những vấn đề khác sẽ không dung thứ sự trì hoãn.”

Như thể để an ủi Bắc Việt vì sự thất vọng của họ, cả Trung Quốc và Liên Xô hứa sẽ cung cấp một viện trợ tài chính đáng kể (200$ triệu từ Trung Quốc và 100$ triệu từ Liên Xô) để hỗ trợ cho VNDCCH(pc 01)trong việc tái thiết sau chiến tranh và tiến đến một xã hội hoàn toàn thuộc xã hội chủ nghĩa. Cả hai nước cũng đồng ý gởi những chuyến hàng ngũ cốc để giảm bớt nguy hiểm ngày càng tăng về nạn đói ở miền Bắc. Trong một bài phát biểu tại trường đua ngựa thành phố ngay sau khi chuyến trở lại Hà Nội vào ngày 22 tháng Bảy năm 1955, Hồ Chí Minh thực hiện một sự đề cập quanh co đến những kết quả hỗn tạp từ chuyến đi, bằng cách công khai cảm ơn Trung Quốc và Liên Xô cho sự hỗ trợ kinh tế của họ, nhưng cảnh cáo những đồng bào của mình rằng họ sẽ phải dựa vào trên hết là những cố gắng của riêng họ để mang lại việc tái thống nhất đất nước. Tại phiên họp toàn thể của nó vào tháng sau, Ủy ban Trung ương quyết định rằng hiện thời sự quyết định của ông Diệm không nên được phép gây ảnh hưởng đến chính sách, và một thông cáo được ban hành sau cuộc họp tuyên bố rằng Đảng tiếp tục mong muốn sự thống nhất đó diễn ra bằng biện pháp hòa bình hơn.12

Sự quyết định của Hà Nội là một niềm an ủi nhỏ cho những thành viên cách mạng trung thành vốn là những người đã từng ở lại miền Nam. Mùa hè năm đó, ông Diệm phát động một chiến dịch “tố cáo những người Cộng sản” để tiêu diệt những tàn dư của phong trào Việt Minh khắp miền Nam. Hàng ngàn người bị bắt qua sự nghi ngờ về việc tham gia trong những hoạt động lật đổ. Một số được gởi đến những trại tập trung –hoặc bị giam hãm trong những “chuồng cọp” khét tiếng mà có lần được sử dụng bởi chế độ thực dân Pháp trên đảo Côn Sơn– trong khi những người khác bị hành hình. Một sắc lệnh được ban hành bởi chế độ Sài Gòn cho quyền “bắt giữ và tạm giam bất cứ ai được xem là nguy hiểm cho sự an toàn của nhà nước và nơi giam hãm của họ là một trong số nhiều trại tập trung.” Như một bài tường thuật về giai đoạn đó được viết ở Hà Nội diễn tả điều đó:

Từ cuối năm 1955 đến năm 1956, khi ông Diệm đẩy mạnh chiến dịch “tố cáo những người Cộng sản,” việc săn bắt những người yêu nước và những thành viên kháng chiến trước đó đã trở nên gay gắt hơn. Sau khi nhận thấy không thể sống và tiến hành cuộc đấu tranh chính trị ở nông thôn, những thanh niên nầy chạy trốn sang những căn cứ kháng chiến cũ như là vùng Đồng Tháp Mười, rừng U Minh hoặc những Chiến Khu D và C (phía tây và tây bắc Sài Gòn).13

Nguyễn Văn Linh, một cựu chiến binh trẻ của phong trào vốn là người đã từng ở lại miền Nam sau hội nghị Geneva(pc 04) để giúp điều hành những hoạt động của Đảng ở đó, gọi sự kiện đó là “một thời gian tàn bạo,” với những cán bộ Việt Minh bị giảm bớt cho cuộc tranh sống thực sự.14

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 02_ Năm nguyên tắc chung sống hòa bình : là một “Hiệp định (không có sự trao đổi về những công hàm) về thương mại và giao dịch giữa khu vực Tây Tạng của Trung Quốc và Ấn Độ,” –đối với những vùng lãnh thổ tranh chấp Aksai Chin (là một trong hai khu vực biên giới tranh chấp giữa Trung Quốc và Ấn Độ, khu vực khác là Arunachal Pradesh) và Nam Tây Tạng– được ký kết tại Bắc Kinh vào ngày 29 tháng Tư năm 1954. Thỏa thuận này nói rõ nguyên tắc như:

1_ Tôn trọng lẫn nhau vì sự toàn vẹn và chủ quyền lãnh thổ của nhau,
2_ Không xâm lược lẫn nhau,
3_ Không can thiệp lẫn nhau vào công việc nội bộ của nhau,
4_ Bình đẳng và cùng có lợi ích, và
5_ Chung sống hòa bình.

Thỏa thuận nầy được kéo dài đến tám năm. khi nó qua đi, những quan hệ thực sự trở nên chua chát, điều khoản cho sự gia hạn bản hiệp ước đã không được nêu lên, và chiến tranh Trung-Ấn nổ ra giữa hai bên. Tuy nhiên, trong những năm 1970s, Năm Nguyên tắc một lần nữa xuất hiện được xem là quan trọng trong những mối quan hệ Trung-Ấn, và nói chung thêm như là quy tắc tiêu chuẩn của những mối quan hệ giữa các quốc gia. Chúng đã dần được nhìn nhận rộng rãi và chấp nhận khắp khu vực.

pc 03_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 04_ Hiệp định Geneva (Genéve) : là một hiệp ước đình chiến và hòa bình, qua đó Pháp công nhận nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia và tổ chức tổng tuyển cử tự do trong 3 nước nhằm thành lập một chính phủ duy nhất cho mỗi nước. Ngày 21.7.1954, Thiếu tướng Henri Delteil (Pháp) và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tạ Quang Bửu đã ký vào bản Hiệp định đình chiến về Đông Dương (Hiệp định Genève 1954).

_ Mùa hè năm 1953, chính phủ Pháp tìm cách đưa Pháp thoát khỏi cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Tháng 10 năm 1953, thủ tướng Pháp tuyên bố tại Quốc hội, Pháp sẵn sàng chấp nhận giải pháp ngoại giao.
_ Ngày 18/2/1954, hội nghị Tứ cường (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp) ở Berlin (Đức) đã thông qua thông cáo triệu tập hội nghị quốc tế Genève vào ngày 26/4/1954 để bàn giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên và việc lập lại hòa bình ở Đông Dương.
_ Ngày 7/5/1954, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.
_ Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 8/5/1954, Hội nghị Genève về Đông Dương đã chính thức khai mạc. Tham dự hội nghị có 9 đoàn đại biểu, gồm: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Vương quốc Lào, Vương quốc Cam-pu-chia, Quốc gia Việt Nam (Bảo Đại) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
_ Đến cuộc họp cuối ngày 20/7/1954, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) mới chấp nhận lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời giữa hai miền và thời hạn hai năm sau sẽ tổ chức tổng tuyển cử.
_ Trải qua 75 ngày thương lượng với 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp phụ cấp trưởng đoàn; dưới sự chủ tọa của hai đồng chủ tịch là Ngoại trưởng Liên Xô và Ngoại trưởng Anh, Hiệp định Genève về lập lại hòa bình và đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Campuchia và Lào thuộc Đông Dương đã được ký kết vào ngày 21/7/1954.
Gồm 6 chương, 47 điều với nội dung:

1_ Nước Pháp phải rút quân khỏi miền Bắc và Việt Minh rút khỏi miền Nam trong thời hạn 300 ngày.
2_ Ngừng bắn hoàn toàn toàn cõi Đông Dương, lấy sông Bến Hải (Quảng Trị) nằm trên Vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, quân đội Liên hiệp Pháp tập kết về phía nam Vĩ tuyến 17, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) tập kết về phía bắc Vĩ tuyến 17.
3_ Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí, phương tiện chiến tranh mới vào Việt Nam.
4_ Hai bên Việt Nam không gia nhập một liên minh quân sự nào, không bị sử dụng để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ cho một chính sách xâm lược.
5_ Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ 3 nước.
6_ Các bên tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực.
7_ Thành lập và định ra nhiệm vụ, thẩm quyền nguyên tắc trình tự hoạt động cho các ban liên hợp quân sự và các ban giám sát, kiểm soát quốc tế. Một Hội đồng Kiểm soát Quốc tế gồm các nước: Ba Lan, Ấn Độ và Canada sẽ giám sát việc thi hành các điều khoản của Hiệp định, với Ấn Độ làm chủ tịch.
8_ Thường dân có quyền lựa chọn muốn ở miền Bắc hay miền Nam, trong thời gian đó họ được tự do đi lại.
9_ Trao trả cho nhau tù binh và thường dân bị bắt giữ.
10_ Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh.
11_ Sau 2 năm, kể từ ngày ký Hiệp định, hai bên Việt Nam sẽ hiệp thương tiến hành tổng tuyển cử “tự do và dân chủ” để thống nhất đất nước trước tháng 7/1956.

Sau Hiệp định Geneva 1954, Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, và tạo điều kiện để tiếp tục tiến hành cái gọi là cách mạng giải phóng ở Miền Nam Việt Nam –không ngoài mục đích “tô đỏ” chủ nghĩa Cộng sản khắp Việt Nam theo chủ trương từ Liên Xô và Trung Quốc– vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) căn cứ vào bản Tuyên bố chung có ghi về Việt Nam: “Đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới về chính trị hoặc lãnh thổ”
Bản “Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam” bao gồm 6 chương, 47 điều khoản. Ngoài ra, còn có phụ bản kèm theo nói rõ thêm về “giới tuyến quân sự tạm thời, khu phi quân sự và các khu đóng quân tạm thời.”
Mặc dù Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956, Hiệp định không có điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như cách thức tổ chức những cuộc Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc Việt Nam.

pc 05_ CIA : (Central Intelligence Agency) Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ.
pc 06_ CHNDTH : Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
pc 07_ ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt Nam.
pc 08_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s