XIV- Giữa Hai Cuộc Chiến (Phần 2)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p473

Không có gì đáng ngạc nhiên, sự quyết định nhẫn nhịn của Hà Nội, ít nhất là tạm thời, từ việc trở lại cuộc chiến cách mạng dẫn đến cuộc tranh luận mạnh mẽ trong số những cán bộ ở miền Nam. Một số quyết định từ bỏ toàn bộ phong trào, trong khi những người khác tìm cách tổ chức kháng chiến vũ trang bằng sáng kiến của ​​riêng họ. Trong những khu rừng già của Cà Mau hoặc vùng Đồng Tháp Mười lầy lội, họ gia nhập với những thành viên bất đồng chính kiến ​​của những giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo vốn là những người đã từng giận dữ bởi những cố gắng có mạnh tay của ông Diệm vào năm 1955 hầu mang họ dưới sự kiểm soát của mình.

* * *

Đến mùa hè năm 1955, sau đó, bất kỳ hy vọng ngây thơ nào cho rằng sự thống nhất với miền Nam sẽ là một vấn đề dễ dàng đã được thay thế bằng một nhận thức tỉnh táo hơn. Thông điệp đó được phản ảnh tại Phiên họp Toàn thể lần Thứ tám của Ủy ban Trung ương được tổ chức vào tháng Tám do Hồ Chí Minh. Về mặt tích cực, ông Hồ tuyên bố, tình hình thế giới thì bớt căng thẳng hơn so với nó đã từng có trước đó trong thập kỷ. Về mặt khác, tình hình trong phạm vi châu Á thì, nếu bất cứ điều gì xảy ra, nguy hiểm hơn. Những sự kiện gần đây, mạnh mẽ chỉ ra rằng Hoa Kỳ có ý định biến đổi vùng tái lập ở miền Nam thành một căn cứ tiên tiến để ngăn chận làn sóng cách mạng ở Đông Nam Á.

Sự xuất hiện của Hoa Kỳ như là phe ủng hộ chính yếu của chế độ Sài Gòn –và vì thế là “kẻ thù chính” của nhân dân Việt Nam– gây phức tạp một cách nghiêm trọng đến những kế hoạch của Hà Nội cho việc tái thống nhất đất nước sớm bằng biện pháp hòa bình. Mặc dù Hồ Chí Minh cố gắng khoác lên một bộ mặt quả quyết vào tình hình, qua việc tuyên bố trong báo cáo của mình đến hội nghị toàn thể rằng cả Trung Quốc và Liên Xô đã đưa ra sự ủng hộ bằng lời nói của họ cho cuộc đấu tranh vì sự độc lập của Việt Nam, bây giờ rõ ràng rằng con đường đến việc tái thống nhất sẽ có thể là một con đường dài. Ủy ban Trung ương phê duyệt một chương trình hành động vốn tạm thời đặt trọng tâm chính yếu vào cuộc đấu tranh để củng cố nền tảng chính trị của Đảng Lao động Việt Nam (ĐLĐVN) ở miền Bắc, và để bắt đầu những hành động trước tiên hầu mang lại sự tái thiết sau chiến tranh và bắt tay vào những bước đầu tiên hướng tới việc đặt một nền tảng cho xã hội theo chủ nghĩa xã hội. Khẩu hiệu mới ngày nay phản ảnh thực tế mới: “Xây dựng miền Bắc, Nhìn về miền Nam.”

Một câu hỏi quan trọng vốn cần được trả lời trong ánh sáng của sự quyết định này là làm cách nào xây dựng một nền tảng quần chúng ủng hộ giữa nhân dân Việt Nam. Có một vài dấu hiệu ban đầu mà qua đó chế độ có ý định theo một chính sách bao gồm toàn bộ mà nó sẽ thể hiện lời hứa của Hồ Chí Minh trong kháng cáo của mình vào tháng Chín trước đó nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của tất cả những đồng bào vốn là những người chia sẻ các mục đích chung về việc xây dựng một Việt Nam hòa bình, dân chủ, độc lập, và thống nhất, bất kể về sự gia nhập đảng phái chính trị gì đó của họ đã từng có trong quá khứ. Vào tháng Chín năm 1955, Mặt trận Liên Việt, là một mặt trận kế thừa từ năm 1951 của Mặt trận Việt Minh được thống trị bởi Cộng sản,

p474

bây giờ được thay thế bởi một nhóm mặt trận rộng rãi mới có nhãn hiệu là Mặt trận Tổ quốc. Một mặt trận mới là nhằm mục đích gồm hết một phân khu rộng lớn của dân cư Việt Nam ở cả hai vùng, bao gồm tất cả những người chân thành ủng hộ những mục tiêu độc lập và thống nhất quốc gia. Trong bài phát biểu bế mạc của mình đến những đại biểu tại Đại hội đang thành lập, ông Hồ nhấn mạnh rằng mục đích của tổ chức mới là nhằm mang lại việc tạo ra một liên minh quốc gia rộng lớn để đạt được hòa bình, độc lập, và tái thống nhất cho toàn bộ đất nước. Mặt trận Tổ quốc, ông ta cho biết, đã sẵn sàng “để đoàn kết với tất cả những người yêu nước bất cứ là gì những khuynh hướng chính trị của họ, những tôn giáo, vân vân, vốn là những người chân thành chống đối âm mưu Mỹ-Diệm về việc phân chia đất nước, và là những người thành tâm đứng lên vì sự tái thống nhất đất nước.”15

Tương đương với một chính sách thực dụng như thế trong lĩnh vực kinh tế, dĩ nhiên, sẽ còn tiếp tục phương pháp giải quyết ban đầu về “dân chủ mới” được ứng dụng theo nguyên bản sau chuyến trở lại Hà Nội của Đảng vào mùa thu năm 1954. Ở những khu vực đô thị, quả thật là một trường hợp cụ thể. Chế độ tiếp tục thể hiện sự khoan dung đối với những hoạt động doanh nghiệp tư nhân, và nó hoan nghênh “những chuyên gia tư bản” sẵn sàng ở lại công việc hầu thực hiện các chức năng trong phạm vi chính phủ hoặc khắp xã hội như một khối mà qua đó theo một cách khác hơn là nó không có khả năng về việc tự hoàn thành cho chính chế độ. Hầu hết những công ty kinh doanh vốn bị chiếm đoạt bởi nhà nước bị thu giữ chỉ vì sự ra đi của những nhân viên quản lý và mối nguy hiểm về sự đóng cửa kinh doanh, như là trường hợp với các mỏ, nhà máy xi măng, và nhà máy dệt vải. Theo một nguồn tin gần đây nhất, chỉ có 12 phần trăm hàng hoá được sản xuất vào năm 1955, được làm ra bởi phân khu nhà nước đang xuất hiện. Vào tháng Mười, chính phủ thiết lập một Hội đồng Kế hoạch Quốc gia, với nhiệm vụ được công bố về việc tạo ra một kế hoạch một-năm cho năm 1956 nhắm đến mục đích khôi phục nền kinh tế quốc gia đối với mức độ được đạt đến trong năm 1939, là năm cuối cùng trước khi cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương. Chính phủ thực sự ngày càng trực tiếp tham gia vào việc thành lập những điều lệ nhằm kiểm soát giá cả và sự có được của hàng tiêu dùng, nhưng chủ yếu như là một phương cách hạn chế những áp lực về lạm phát và việc tích trữ những sản phẩm lương thực khan hiếm bởi những công ty tư nhân.16

* * *

Những dấu hiệu ôn hòa được đề nghị bởi những bày tỏ của Hồ Chí Minh và sự sáng tạo về Mặt trận Tổ quốc mới là đánh lừa, tuy nhiên, vì có những áp lực đối kháng mạnh mẽ trong phạm vi Đảng đang thúc đẩy cho việc ứng dụng những chính sách khắc nghiệt, những biện pháp được nhằm trục tiếp vào việc trừng phạt những kẻ thù giai cấp và việc đặt nền móng cho việc tiến đến nhanh chóng một xã hội thuộc xã hội chủ nghĩa. Những gợi ý về sự cấp tiến hóa còn phôi thai đã bắt đầu xuất hiện vào thời điểm trở lại Hà Nội năm 1954 của chính phủ. Những cán bộ kiêu căng lên tiếng về sự nghi ngờ của họ đối với giới trí thức ôn hòa, nhiều người trong số họ đã được lệnh phải chịu trải qua

p475

việc cải tạo để xác định liệu họ đã từng bị quyến rũ bởi “những viên đạn bọc đường” của đối phương. Trong những nghi ngờ của họ, những chiến binh Việt Nam bị xúi giục một cách tích cực bởi các cố vấn Trung Quốc, mà sự hiện diện của họ trên khắp miền Bắc, mặc dù ít có thể nhìn thấy hơn so với sự hiện diện đã từng có ở những khu vực được giải phóng trong suốt chiến tranh, thì tuy nhiên ngột ngạt.

Vũ khí mà những người cấp tiến lựa chọn để tiến hành cuộc chiến giai cấp của mình ở nông thôn là vấn đề cải cách ruộng đất. Hồ Chí Minh đã từng phản đối những biện pháp khắc nghiệt trong suốt cuộc chiến tranh chống Pháp, nhưng trong năm 1953, theo mệnh lệnh của những cố vấn Trung Quốc, ông ta đã miễn cưỡng đồng ý những điều lệ nghiêm ngặt hơn như là một phương cách huy động giới nghèo trong sự chuẩn bị cho trận chiến Điện Biên Phủ. Đối với một cuộc chiến tranh vào lúc kết thúc, bây giờ Đảng đưa ra để hoàn tất chương trình và đặt nền móng cho sự tập thể hóa trong tương lai của tất cả các vùng đất canh tác trong nước. Trong lời cầu khẩn của mình đến những người dân vào đầu tháng Chín năm 1954, Hồ Chí Minh đã hứa hẹn rằng một chương trình “người cày có ruộng” cho những khu vực mới được chiếm đóng ở các tỉnh phía Bắc thì ưu tiên trên chương trình nghị sự của chính phủ. Mặc dù ông Hồ tâm sự với những người tri kỷ rằng cá nhân ông ta thì “không vội vàng” thực hiện chương trình, ông ta đồng ý ủng hộ nó như là một biện pháp chiến thuật để làm hài lòng Beijing, và có thể xoa dịu cộng tác viên chiến binh như Trường Chinh và cũng như Hoàng Quốc Việt.17

Trong việc thực hiện giai đoạn kế tiếp của cải cách ruộng đất, những lãnh đạo Đảng có hai mục tiêu. Một mục tiêu là kinh tế theo bản chất: cho phép sử dụng hiệu quả hơn về đất canh tác qua việc chuyển đổi đất “dư thừa” từ những dân làng giàu có cho giới nông dân nghèo và không có đất vốn là những người tạo nên phần lớn dân cư nông thôn. Theo mô hình được ứng dụng ở Trung Quốc một ít năm trước đó, những lãnh đạo Đảng hy vọng rằng quyền sở hữu đất đai sẽ thúc đẩy giới nông dân có những cố gắng được nâng cao và sự gia tăng tổng thể trong việc sản xuất ngũ cốc, như thế đặt được nền tảng cho việc xây dựng những nông trường tập thể trong một tương lai gần. Mục tiêu thứ hai và có lẽ quan trọng hơn hết là về mặt chính trị nhiều hơn: tiêu diệt sức mạnh của thành phần “phong kiến” ở cấp làng mạc (cụ thể là, giai cấp địa chủ) và tạo ra một ban lãnh đạo mới ở nông thôn được cấu thành gồm những nông dân trước đây, là những người sau nầy sẽ biết ơn đối với Đảng và thực hiện một cách trung thành những chính sách của Đảng.

Trong việc nhấn mạnh những lợi ích chính trị của chiến dịch cải cách ruộng đất, những người cấp tiến trong phạm vi ban lãnh đạo Đảng đang theo lời tuyên bố quả quyết của Mao Zedong,(pc 08) vốn là người đã từng ứng dụng một chương trình tương tự ở Trung Quốc, sau khi đưa ra nhận xét một cách thẳng thắn rằng “cuộc cách mạng không phải là một bữa tiệc tối.” Kể từ những năm 1920s, Mao đã từng lên tiếng qua ý muốn sắt đá của mình để nâng cao bóng ma của cuộc xung đột giai cấp trong việt giành lấy sự ủng hộ của những thành phần bị bốc lột trong phạm vi dân cư nông thôn. Mặc dù chương trình đó đã từng được đặt trong tình trạng đình hoản tạm thời trong suốt cuộc chiến chống Nhật, trong suốt những giai đoạn cuối cùng của cuộc Nội Chiến và trong suốt chiến dịch cải cách ruộng đất vào đầu những năm 1950s,

p476

những cán bộ của Mao đã cố tình tổ chức những phiên họp “nói cay đắng” (i.e. đấu tố) để khuyến khích những dân làng nghèo lên tiếng chống lại những kẻ áp bức trước đây của họ –đặc biệt là tất cả những người có “những nợ máu” đối với nhân dân. Tại những tòa án có trống đình ở những làng mạc khắp Trung Quốc, hàng ngàn người bị kết án về những tội phạm như thế và bị hành quyết một cách gọn ghẽ. Những thành phần chiến binh bên trong Đảng Lao động Việt Nam thì hoàn toàn vui lòng ứng dụng những biện pháp tương tự ở VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt). Như là Lê Đức Thọ, sau đó là một cán bộ hàng đầu của Đảng ở miền Nam, đã từng đưa ra nhận xét vào năm 1952, “Nếu một ai mong muốn dẫn dắt giới nông dân cầm lấy vũ khí, điều cần thiết đầu tiên là khơi dậy trong họ lòng hận thù về kẻ thù,” cũng như bày tỏ mối quan tâm cho những lợi ích thực tế của họ.18

Chiến dịch được phát động trong suốt mùa hè và đầu mùa thu năm 1954. Được đặt dưới sự chỉ đạo của những Đảng viên kỳ cựu và người tổ chức lao động Hoàng Quốc Việt, những giai đoạn đầu của chương trình gián tiếp giành được sự chấp thuận từ một số bộ phận dân chúng địa phương, đặc biệt là giới nông dân nghèo vốn là những người đã từng phục vụ như là những bộ đội hoặc dân công vận chuyển trong suốt trận chiến Điện Biên Phủ và đã từng được dẫn dắt bởi sự tuyên truyền của Việt Minh để tin rằng họ sẽ được ban thưởng bằng đất đai cho những cố gắng của họ. Tuy nhiên, có một vài khiếu nại về tình trạng cưỡng chế và tàn bạo. Khi Hồ Chí Minh đã được thông báo về những trường hợp như vậy, ông ta chỉ trích những cán bộ vốn là những người xem thường người dân và cư xử một cách ngạo mạn.19

Mặc dù làn sóng đầu tiên của chương trình mới thì khiêm tốn –liên quan đến chỉ khoảng năm mươi ngôi làng ở tỉnh Thái Nguyên, ở phía góc tây bắc của đồng bằng sông Hồng– nó bắt đầu những làn sóng chấn động khắp đất nước. Đó là một tín hiệu rõ ràng đối với những thành phần ôn hòa mà khuynh hướng cấp tiến vốn đã từng xuất hiện trong Đảng vào đầu những năm 1950s, vẫn còn sống và tươi tốt, và có thể làm suy yếu chương trình bao gồm tổng thể vốn đã được hứa hẹn bởi Hồ Chí Minh vào mùa thu năm 1954.

Những làn sóng nối tiếp của cải cách ruộng đất được phát động trong suốt mùa đông và đầu mùa xuân năm 1955. Mặc dù một bài xã luận trên tờ Nhân dân vào tháng Hai cảnh cáo chống lại mối nguy hiểm của “những lỗi lầm của phe cánh tả,” những cán bộ chiến binh (nhiều người trong số họ là những người bên ngoài được đào tạo tại các chương trình cải cách ruộng đất dưới sự hướng dẫn của những cố vấn Trung Quốc và sau đó được gởi đến “làm việc cùng, ăn uống cùng, và sống cùng” những nông dân) xúi giục người dân địa phương để chỉ trích những người vốn đã từng bốc lột họ trong quá khứ. Nhiều người trong số những người chịu sự tấn công bị kết án những tội ác chống lại nhân dân và hành hình một cách gọn ghẽ. Trong một số trường hợp, những dân làng lợi dụng chương trình để giải quyết những thù hận cá nhân bằng cách buộc tội những người khác về việc tham gia vào các hoạt động chống-cách-mạng. Trong quá trình diễn tiến, hàng ngàn người, nhiều người trong số họ đã từng trung thành ủng hộ phong trào Việt Minh, bị cáo buộc cho tội phản quốc và bị trừng phạt. Trong một số trường hợp, những cán bộ cách mạng được moi ra từ những thân thế thuộc nông dân nghèo tấn công những cựu chiến binh Việt Minh

p477

vốn là những người vừa mới được giải nhiệm từ dịch vụ quân sự, và những gia đình của họ. Ngay cả những kết nối ở những nơi cao không phải luôn luôn thích nghi bảo vệ. Trong một biến cố, một quan chức Việt Minh trước đây được che chở bởi chính Hồ Chí Minh, vốn là người gởi lời đến những quản trị viên địa phương rằng vị quan chức nầy không được đặt vào tình thế một tòa án công cộng. Tuy nhiên, vị quan chức và gia đình ông ta bị đem ra sỉ nhục công cộng và hành hạ bởi những ngưòi dân làng thân quen của họ. Người cháu gái của vị quan chức, là Dương Vân Mai Elliott, thuật lại câu chuyện:

Mỗi khi chú tôi đi ra khỏi nhà của ông ta, những đứa trẻ sẽ ném những hòn đá vào ông ta. Bất cứ nơi nào, bất kỳ ai thuộc độ tuổi nào lăng nhục hay đánh đập ông ta, ông ta phải cúi đầu và nói, “Làm ơn, tôi van xin ông tha cho tôi…” Những địa chủ được biến thành những con dê tế thần cho cuộc sống khắc nghiệt của những nông dân nghèo. Trong ngôi làng của chú tôi, người dân bức hại ông ta bằng lòng nhiệt thành để chứng tỏ họ ủng hộ một cách nổng nhiệt như thế nào cho công cuộc cải cách ruộng đất và để có được những ơn huệ dành cho những nông dân dân quân lúc bấy giờ đang nắm giữ quyền lực. Những người khác vốn đã từng ghen tị sự giàu có và ảnh hưởng của ông ta, hiện thời thấy vui thú trong việc làm nhục ông ta.

Vào lúc cuối, vị cựu quan chức bị lấy mất nhà mình cũng như mảnh đất của ông ta và buộc phải cư ngụ trong một túp lều trên sườn đồi gần đó, nơi mà ông ta và gia đình mình bới tìm sự sinh kế của họ trên một ít mẫu đất tồi tàn được khoán cho bởi những cán bộ địa phương.20

Không còn nghi ngờ gì nữa, một số trong những vụ bạo lực có liên kết với chiến dịch cải cách ruộng đất là một hệ quả tự nhiên và tự phát của cơn tức giận tầng lớp đang phát ra từ những cánh đồng. Như vậy, đó là một sản-phẩm-phụ quen thuộc, mặc dù bi thảm, của cuộc cách mạng. Nhưng có nhiều bằng chứng rằng phần lớn của chiến dịch bị cố tình xúi giục bởi những lãnh đạo Đảng có trách nhiệm về việc soạn thảo kế hoạch và thực hiện chương trình. Chiều hướng tổng thể của chiến dịch được trao cho Tổng Bí thư Trường Chinh, một người hâm mộ không giấu diếm về những chính sách nông nghiệp ở Trung Quốc vốn là người đã từng công khai nhắc lại quan điểm của chủ nghĩa Mao rằng công cuộc cải cách ruộng đất nên mang lấy hình thức của một “cuộc chiến giai cấp.” Những thành viên hàng đầu khác của ủy ban là, ngoài Hoàng Quốc Việt ra, Phó Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương, là một người Mao-xít chiến binh và là người đứng đầu Ban bí thư Đảng có ảnh hưởng vốn là người đã từng công khai kêu gọi một chiến dịch thanh lọc ĐLĐVN(pc 07) qua những phần tử không trong sạch của nó. Theo gương Trung Quốc, những lãnh đạo đó tính toán rằng từ 4 đến 5 phần trăm dân cư địa phương ắt hẵn bị công bố là những kẻ thù giai cấp, mặc dù thực tế rằng ở nhiều làng nghèo thậm chí những nông dân được xem là có của nhất đã kết liễu mau chóng tốt hơn là sống còn.21

p478

Tính bạo lực của chiến dịch có lẽ đã từng xâm chiếm Hồ Chí Minh bằng sự bất ngờ, mặc dù có vẻ rõ ràng rằng ông ta chia sẻ quan diểm của những chiến binh mà qua đó một trong những mục đích của chiến dịch là loại bỏ những thành phần thù nghịch và phản-cách-mạng ở cấp làng mạc. Trong những nhận xét tại một cuộc họp cán bộ ở thị trấn của Thái Nguyên vào cuối năm 1954, ông ta tuyên bố rằng công cuộc cải cách ruộng đất là một cuộc đấu tranh giai cấp:

Trong làng, nhiệm vụ quan trọng nhất là tạo lại những tổ chức nông thôn: ủy ban hành chính, dân quân du kích, những hiệp hội cho giới nông dân, thanh niên, và phụ nữ… Nếu những phần tử xấu được giữ lại trong các tổ chức này, đó sẽ điều không thể cho chúng ta hoàn thành việc giảm bớt những phần tiền thuê ruộng đất… Nhằm mục đích thực hiện hoạt động đó, những phần tử xấu phải nhận những hình phạt được quy định thích hợp: Cho dù đó là điều cần thiết để loại trừ, hủy bỏ, hoặc đảo ngược, hãy để cho nó được hoàn tất. Nếu họ có thể được cải tạo, hãy để điều đó đưọc hoàn tất. Đây là một nhiệm vụ quan trọng nhất mà qua đó phải được hoàn thành trong những nhóm làm việc.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh bày tỏ sự phản đối của mình về sự trừng phạt bừa bãi: “Nhằm áp dụng việc xử phạt thích hợp,” ông ta ra chỉ thị, “điều đó không có thể được nói về một nhóm người mà tất cả họ là tốt hay xấu; để biết ai là người tốt và ai là người xấu, bạn phải dựa vào quần chúng.” Nói một cách khác, những cán bộ phải học hỏi làm cách nào phân biệt giữa những loại địa chủ khác nhau. Nếu không, ông ta cho biết, họ sẽ kết băng đảng với nhau chống lại giới nông dân.

Ông Hồ cũng phản đối việc sử dụng tra tấn. Những cán bộ nào đó, ông ta buộc tội,

vẫn còn đang phạm lỗi lầm về việc sử dụng tra tấn. Đó là một phương pháp dã man được sử dụng bởi đế quốc, tư bản và những thành phần phong kiến ​​để làm chủ quần chúng và cách mạng. Tại sao chúng ta, vốn là những người đang có một chương trình hợp lẽ phải và một lý do hợp lý chính đáng, phải dùng những phương pháp tàn bạo?22

Những sự can gián của Hồ Chí Minh chống lại việc sử dụng những kỹ thuật tàn bạo –mà trong bất kỳ trường hợp nào dường như không thực tế lắm, đối với những hoàn cảnh– rõ ràng có ít ảnh hưởng. Trong một trường hợp, một chủ đất ở tỉnh Thái Nguyên vốn là người đã từng trung thành ủng hộ phong trào cách mạng trong nhiều năm(pc 09) (và có lần thậm chí tạo nơi nương tựa che chở cho Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt từ chính quyền thuộc địa) bị cáo buộc bởi một cán bộ cải cách ruộng đất người Trung Quốc là một địa chủ tàn nhẫn và bị kết án tử hình. Khi những dân làng địa phương đến biện hộ cho bà ta, họ lần lượt bị cáo buộc là những tay sai của kẻ thù. Sau khi Hồ Chí Minh được thông báo về trường hợp đó,

p479

ông ta nêu lên vấn đề với Trường Chinh, và mức độ nghiêm trọng của bản án được giảm xuống.(pc 09) Kết quả đó, tuy nhiên, rõ ràng là một việc hy hữu và, trước khi việc kết thúc của chiến dịch vào cuối năm 1956, hàng ngàn người bị hành hình và vô số những người khác bị sách nhiễu, khủng bố, và lăng nhục bởi bị dán nhãn hiệu bằng vết nhơ sĩ nhục không thể gột sạch của “kẻ thù giai cấp” của nhân dân. Mặc dù Hồ Chí Minh có thể đáng lý ra bị hoảng sợ trước bạo lực bừa bãi vốn đi kèm với chiến dịch, trong quan điểm của một người quan sát Việt Nam, ông Hồ đã từng bị hăm dọa bởi Mao Zedong(pc 08) và lo sợ gây ra sự mâu thuẫn với những quan chức Trung Quốc đóng quân ở VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt).23

Vào tháng Ba năm 1955, Ủy ban Trung ương được triệu tập ở Hà Nội. Một trong những chủ đề chính yếu về việc suy xét là việc thực hiện chiến dịch cải cách ruộng đất. Mặc dù Hồ Chí Minh hiển nhiên quan tâm về mức độ bạo lực đang tăng lên ở nông thôn, sự việc tạo thành gần đây dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ cho Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á ở thủ đô Manila, cũng như những biến cố phá hoại bởi những nhóm du kích được tài trợ bởi CIA,(pc 05) đã làm dấy lên nhiều mối quan tâm ở Hà Nội, và nhiều lãnh đạo Đảng ngày càng xem chương trình cải cách ruộng đất như là một công cụ thiết yếu trong việc loại bỏ những phần tử phản-cách-mạng. Mặc dù hội nghị toàn thể kêu gọi một chương trình được kiểm soát cẩn thận để bảo đảm rằng chỉ có những địa chủ có tội sẽ bị xét xử và bị kết án những tội ác chống lại nhân dân, hội nghị tuyên bố rằng “phe cánh hữu” (thể hiện quan điểm rằng việc hoàn thành nhiệm vụ tái thống nhất đất nước là một ưu tiên cao hơn việc bắt đầu quá trình chuyển đổi theo xã hội chủ nghĩa) vẫn còn là một nguy cơ lớn hơn “phe cánh tả” (lòng nhiệt tình quá độ trong việc thực hiện chương trình). Trong bài diễn văn của mình vào cuối phiên họp, ông Hồ ám chỉ sự khổ sở của mình về những quyết định vốn đã từng được đạt đến, qua việc than phiền rằng cuộc họp đã không được chuẩn bị đầy đủ tốt và việc kêu gọi những cố gắng lớn hơn hầu đạt được sự thống nhất trong Đảng –đặc biệt là trong khuôn khổ những cấp bậc hàng đầu.24

Trong suốt thời gian còn lại của năm 1955, những chiến dịch liên tiếp về cải cách ruộng đất được phát động khắp nông thôn. Nhiều hơn 20.000 cán bộ bổ sung được quy định cho những khu vực nông thôn để thực hiện chương trình. Đến giữa mùa hè, rõ ràng là chế độ ông Diệm ở miền Nam không có ý định tổ chức những cuộc thảo luận về bầu cử, như thế làm suy yếu lý luận của những người vốn mong muốn trì hoãn việc củng cố quyền lực Đảng ở miền Bắc cho đến khi quá trình tái thống nhất đất nước đã được hoàn thành. Vào tháng Tám, một bài xã luận trên tờ Nhân Dân chỉ trích “một số đồng chí” cho việc bày tỏ quan điểm rằng “điều hoàn toàn đúng sẽ là thực hiện cải cách ruộng đất khá chậm rãi, mà qua đó nó là điều cần thiết để tập trung tất cả cố gắng vào việc thống nhất và qua đó việc củng cố của miền Bắc thì trong tình trạng mâu thuẫn đối với cuộc đấu tranh cho sự thống nhất.”25 Tại phiên họp toàn thể lần thứ tám của nó được tổ chức ở Hà Nội một số ít ngày sau đó,

p480

Ủy ban Trung ương kêu gọi những cố gắng cao hơn nữa để sử dụng chương trình cải cách ruộng đất như là một phương tiện về việc bứng khỏi gốc rễ những gián điệp và những người phản-cách-mạng.

Làn sóng cuối cùng của chiến dịch được mở đầu vào cuối năm 1955, tại thời điểm khi lòng nhiệt tình cho việc mang đến sự hoàn thành cuộc chiến giai cấp ở nông thôn ở mức độ nóng sốt. Hồ Chí Minh vẫn đang cố gắng giảm bớt sự thái quá của chương trình. Trong một bài phát biểu đến những cán bộ cải cách ruộng đất ở tỉnh Hà Bắc vào ngày 17 tháng Mười Hai, ông ta nhấn mạnh tầm quan trọng về việc thực hiện sự phân biệt cẩn thận giữa những người vốn là tội phạm và những người vốn là vô tội đối với những hoạt động phản-cách-mạng, và ông ta lặp lại lời cảnh cáo của mình là không sử dụng sự hành hạ thể chất chống lại những người bị cáo buộc với những tội ác chống lại nhân dân. Tại một bữa tiệc trưa theo sau bài diễn văn của mình, ông ta nhắc nhở khán giả mình rằng công cuộc cải cách ruộng đất, giống như món canh nóng, tốt nhất đối với sự thưởng thức là khi nó được uống từ từ. Nhưng trong tâm trạng của khoảnh khắc đó, những lời của ông Hồ có ít ảnh hưởng. Một lá thư được gởi đến những cán bộ cải cách ruộng đất bởi Ủy ban Liên lạc Nông dân Quốc gia cùng tháng moi ra những liên kết trực tiếp giữa những thành phần địa chủ ở cấp làng mạc và những hoạt động phản-cách-mạng, trong khi một chỉ thị từ Ủy ban Trung ương được ban hành ngày 14 tháng Mười Hai hướng dẫn những cán bộ xem chương trình cải cách ruộng đất như là một “Điện Biên Phủ chống chế độ phong kiến ​​ở miền Bắc.”26

Vào đầu mùa xuân năm 1956, những báo cáo về tính bạo lực của chương trình ở khu vực nông thôn đã trở nên lan rộng ở Hà Nội, nơi nhiều quan chức Đảng và quan chức chính phủ đến từ những gia đình có đất đai vốn đã từng bị tấn công trong suốt chiến dịch. Khi những bài viết có tính cách phê bình chương trình bắt đầu xuất hiện trên báo chí, thư ký riêng xưa kia của Hồ Chí Minh, Vũ Đình Huỳnh,(pc 10)cảm xúc quở trách ông ta: “Máu của những đồng bào chúng ta đang bị đổ, ông có thể yên lòng như thế sao?” Mặc dù ông Huỳnh đã thực sự gây nên sự nghi ngờ của những người cấp tiến vì sự thiếu soát của ông ta về tính chất chiến đấu ý thức hệ (Trường Chinh đã từng xua đuổi ông ta như là một “con chó chạy rong của những kẻ phản động”), ông Hồ quan tâm đầy đủ về tình hình để phát hành một cảnh cáo mới chống lại việc phân loại bừa bãi tất cả những thành phần địa chủ như là phản-cách-mạng. Trong một bài phát biểu tháng Tư cho những cán bộ thực hiện chương trình ở các vùng ven biển, ông ta cảnh cáo họ không ứng dụng một thái độ máy móc trong việc thực hiện những xét đoán, bằng cách chỉ ra rằng không phải tất cả các chủ tàu thì không trung thực và độc ác. Chỉ có những người phạm tội về những hành động độc tài cần phải bị trừng phạt. Một chiếc thuyền, ông ta nhắc nhở họ, cần một ai đó ở bánh lái cũng như những người khác giữ vị trí ở những mái chèo.

Hồ Chí Minh đã từng lên tiếng về những mối quan tâm như thế trước đó gây nên ảnh hưởng rất ít. Nhưng bây giờ, với sự giận dữ đang trỗi lên khắp vùng nông thôn, thông điệp của ông ta đang bắt đầu tìm thấy sự lắng nghe. Vào giữa tháng Năm, một bài viết trên tờ Nhân Dân thừa nhận rằng một số cán bộ cải cách ruộng đất đã từng đối xử những nông dân như là những địa chủ và phân biệt đối xử đối với những con cái của địa chủ.

p481

Một vài tuần sau đó, một phần bài viết khác thừa nhận rằng trong một số trường hợp những quan chức chính phủ đã từng “đánh giá quá cao đối phương” bằng cách giả định rằng một số nhỏ trong số những trường hợp về sự phá hoại là tiêu biểu của tình hình chung.27

* * *

Trong một phần nào đó, điều mà xảy ra làm đổi ý những lãnh đạo Đảng ở Hà Nội có thể là một điệp khúc phản đối đang trỗi lên từ những cựu chiến binh Việt Minh, vốn là những người, cùng với những gia đình của họ, đã từng trở thành nạn nhân. Nhưng một sự kiện vốn xảy ra nhiều nghìn dặm xa tít ở Moscow cũng có thể đã từng đóng một vai trò. Trong một bài phát biểu được đưa ra tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần Thứ hai mươi vào tháng Hai năm 1956, Đảng trưởng Nikita Khrushchev làm choáng váng khán giả của mình bằng những lời chỉ trích sắc nét về phong cách lãnh đạo của người tiền nhiệm của ông ta, Joseph Stalin. Stalin, ông ta buộc tội, đã không chỉ khuyến khích sự xuất hiện của một “tôn giáo sùng bái cá nhân” mà nó tượng trưng cho một sự phản bội về nguyên tắc tập trung dân chủ của Lenin, ông ta cũng đã từng sử dụng sức mạnh áp đảo của mình để thực hiện việc loại bỏ tàn bạo những người Bolsheviks trung thành từ Đảng và chính phủ. Hơn nữa, ông ta đã thực hiện một số quyết định chính sách ngoại giao tai hại vốn có những hậu quả bi thảm trong suốt cuộc Thế Chiến thứ II. Khrushchev kêu gọi những đại biểu tại Đại hội tham gia vào việc thực hành “tự-phê-bình” để bảo đảm rằng những thiếu sót đó sẽ không được lặp lại.

Lời tố cáo trên phạm vi rộng của Khrushchev về Stalin làm dấy lên rất nhiều lo lắng ở Beijing đang quan tâm đến ảnh hưởng mà qua đó những cuộc tấn công như thế, tuy nhiên hợp lý trong bối cảnh Liên Xô, có thể có ảnh hưởng trên uy tín của Đảng Cộng sản Trung Quốc,  trên vai trò lãnh đạo của Mao Zedong,(pc 08) và trên khái niệm Mác-xít của một chế độ độc tài thuộc giai cấp vô sản. Sự phản ứng ở Hà Nội, tuy nhiên, là câm lặng. Một phái đoàn Việt Nam được dẫn đầu bởi Trường Chinh và Lê Đức Thọ đã tham dự Đại hội, nhưng lời bình luận qua báo chí ở Hà Nội thì thưa thớt. Tờ báo Nhân Dân đưa ranhận xét vắn tắt vào ngày 28 tháng Hai năm 1956, rằng ĐLĐVN(pc 07) “sẽ cố gắng hơn nữa để nghiên cứu lý thuyết Marx-Lenin và để áp dụng nó một cách sáng tạo vào tình huống cụ thể ở Việt Nam, để kết hợp lý thuyết nầy với thực tiễn của cách mạng Việt Nam.” Một khi phái đoàn đại biểu Việt Nam trở về từ Moscow, Bộ Chính trị của ĐLĐVN nhóm họp để xem xét những kết quả của Đại hội và tác động của nó trên tình hình ở Việt Nam. Vào ngày 31 tháng Ba, chương trình phát sóng của Đài phát thanh Hà Nội về một thông cáo từ Bộ Chính trị mà qua đó nó đề cập đến “sự tâng bốc chủ nghĩa cá nhân” và “tinh thần tự-phê-bình” và kết luận rằng những nghị quyết được ban hành tại Đại hội lần Thứ hai mươi của ĐCSLX(pc 11) sẽ “làm mạnh thêm đảng phái của chúng ta trong những khía cạnh lý thuyết của nó.”28

Trong quan điểm chính thức, vấn đề của sự sùng bái cá nhân là chuyện của Liên Xô và không có liên quan trong bối cảnh Việt Nam,

p482

nơi mà Hồ Chí Minh cai trị theo phong cách phân chia trách nhiệm. Tuy nhiên, có thể có sự hài lòng trong một số lãnh đạo Đảng mà qua đó vấn đề đã từng được nêu lên, đặc biệt là trong số những người vốn bực mình dưới sức đè nặng của sự thần thánh hóa không ngừng tăng lên của Hồ Chí Minh trên báo chí. Vị Chủ tịch hiện nay đang được nhanh chóng biến hóa thành một “Bác Hồ”(pc 12) theo vai vế người bác quá quen thuộc với thế giới trong suốt những năm cuối cùng của ông ta. Ông ta được chụp ảnh chào mừng những đồng bào từ mọi ngành nghề có thể tưởng tượng được và, không kể đến hình tượng khiêm tốn của ông ta, bức ảnh của ông ta xuất hiện trên những con tem bưu chính và thậm chí trên tiền tệ quốc gia. Trường Chinh, là người có thể dễ hiểu đã từng ghanh tị riêng vì danh tiếng cao chót vót của ông Hồ giữa dân chúng, gián tiếp lấy làm phấn khởi về chiến dịch chống-sự-thần-thánh-hóa. “Chủ nghĩa xã hội,” Trường Chinh nhận xét, “không có thể tồn tại bằng sự tôn vinh của cá nhân.” Cả hai điều đó, ông chỉ ra, có hai mặt đối nhau như lửa và nước: Trong khi chủ nghĩa xã hội là dân chủ, sự thần thánh hóa cá nhân là chống-dân-chủ.29

Điều đó có lẽ đánh vào nhiều nhà quan sát Việt Nam bất ngờ như cuộc tấn công của Khrushchev vào những thói lộng hành của Stalin đã từng xảy ra vào thời điểm khi những quyết định được đạt đến bởi ĐLĐVN(pc 07) ở Hà Nội vừa mới đang bắt đầu chịu dưới sự giám sát và cuộc tranh luận nghiêm túc. Tại một phiên họp được mở rộng của Ủy ban Trung ương của ĐLĐVN được tổ chức vào cuối tháng Tư, vấn đề tự-phê-bình được đưa ra cho cuộc thảo luận, và một nghị quyết được ban hành vào lúc kết thúc hội nghị tán thưởng ĐCSLX(pc 11) cho sự can đảm của nó trong việc thừa nhận những lỗi lầm, trong khi lưu ý rằng ĐLĐVN đã không tham gia đầy đủ trong việc kiểm tra những thực hành của riêng mình ở Việt Nam. “Chính sự kiện qua sự phát triển về phê bình và tự-phê-bình,” nghị quyết lưu ý, “mà chúng ta có thể phát triển tính dân chủ nội bộ, làm chặt chẽ hơn những mối quan hệ của chúng ta với quần chúng, và sự kiềm chế chủ nghĩa quan liêu.” Trong lời tuyên bố bế mạc hội nghị, Hồ Chí Minh thì rõ ràng hơn, phát biểu rằng bằng cách tham gia trong việc tự-phê-bình, ĐCSLX đã cho thấy một mức độ can đảm mà qua đó nên được bắt chước bởi tất cả những đảng phái anh em. Bài học nầy thì liên quan một đặc biệt đến ĐLĐVN, ông ta lưu ý, bởi vì những “di tích phong kiến ​​và thuộc địa” vốn đã chưa từng được loại bỏ trong đất nước, như thế cho phép những ảnh hưởng của Cộng-sản-giả và không-Cộng-sản xâm nhập vào tổ chức. Mặc dù ông Hồ tập trung sự chú ý chính yếu của mình vào những vấn đề về tính chất quan liêu, tính kiêu ngạo quan chức, ông ta thừa nhận rằng một “tôn giáo tôn sùng bái cá nhân” cũng tồn tại đến một mức độ nhất định trong VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt). Trong khi nó đã chưa từng dẫn đến bất kỳ thiệt hại to lớn nào, tuy vậy nó hạn chế lòng nhiệt thành và tinh thần chủ động trong số những Đảng viên và nhân dân như là một toàn thể. Để giải quyết những thiếu sót như thế, ông ta nhấn mạnh tầm quan trọng của việc làm mạnh thêm vai trò lãnh đạo tập thể ở tất cả các cấp của Đảng và chính phủ.30

Đến mức độ nào “tinh thần tự-phê-bình” mới gây nên ảnh hưởng đến cuộc tranh luận trên chiến dịch cải cách ruộng đất thì không rõ ràng. Dường như có khả năng rằng những lời bình luận của Hồ Chí Minh có dự định được đón nhận trong ánh sáng đó bởi những đại biểu,

p483

và bởi những cộng tác viên của ông ta trong phạm vi Bộ Chính trị. Thật vậy, có thể có một vài cảm giác châm biếm trong những nhượng bộ của ông ta về sự nguy hiểm của sự sùng bái cá nhân tại hội nghị, kể từ khi ông ta ắt hẵn cảm thấy rằng ảnh hưởng của riêng mình trên việc thực hiện chương trình đã hoàn toàn quá hạn chế. Trong mọi trường hợp, bài diễn văn của Khrushchev cung cấp cho ông ta một công cụ để thúc đẩy những cộng tác viên của mình đánh giá lại những quyết định của họ và thực hiện những thay đổi cần thiết trong chương trình cải cách ruộng đất.

* * *

Bất cứ điều tác động gì qua bài phát biểu đã-phá-khuynh-hướng-Stalin-hóa của Khrushchev ở Việt Nam, trong những tháng kế tiếp có sự đánh giá lại nghiêm túc về chương trình cải cách ruộng đất. Ngay sau khi kết thúc hội nghị, những cuộc họp cán bộ được lên lịch trình ​​để thảo luận về những quyết định được đạt đến bởi Ủy Ban Trung ương. Những lời bình luận ​​xiên xéo trên báo chí chính thức gợi ý cho biết rằng những lỗi lầm đã từng gây nên trong việc thực hiện chương trình, và một số những người vốn trước đây bị bắt giữ vì các hoạt động bị cáo buộc phản-cách-mạng được thả ra. Một bài viết vào giữa tháng Năm 1956 ca ngợi những kết quả tổng quát của chiến dịch cải cách ruộng đất, nhưng kết thúc bằng lời nhắc nhở cho tất cả những người liên quan đến những thiếu kém chính xác trong chương trình. Trong một bức thư ngày 1 tháng Bảy 1956, cho hội nghị của những bộ về việc đánh giá làn sóng mới nhất của cải cách ruộng đất, Hồ Chí Minh mô tả chương trình như là một thành công mà qua đó “trong phần chính” nó đã loại bỏ giai cấp địa chủ ở cấp làng mạc, nhưng ông ta nói thêm rằng một số lỗi nghiêm trọng đã từng gây nên vốn hạn chế đáng kể những thành tựu của nó. Nhiều người trong số những người chịu trách nhiệm cho phương hướng chung của chiến dịch, tuy nhiên, thì vẫn còn miễn cưỡng thừa nhận phạm vi của vấn đề. Trong một bài viết được ấn hành vào tháng Bảy, Lê Văn Lương thừa nhận những lỗi lầm đã từng gây nên trong việc thực hiện chương trình, nhưng nhấn mạnh rằng hành động đó thì cần thiết bởi vì những cơ quan hành chính địa phương ở nhiều khu vực nông thôn mới được giải phóng đã bị chiếm giữ hoàn toàn bởi những phần tử chống-cách-mạng.31

Thủy triều, tuy nhiên, bây giờ đang chảy mạnh mẽ chống lại ông Lương và những đồng minh của mình. Trong một báo cáo cho những cán bộ nông thôn về những kết quả của chương trình cải cách ruộng đất vào ngày 17 tháng Tám, Hồ Chí Minh tuyên bố rằng “một số cán bộ chưa nắm được chính sách của chúng ta và trau dồi một cách đúng đắn đường lối quần chúng. [Điều này là] bởi vì ban lãnh đạo trung ương của Đảng và chính phủ đã có những thiếu sót đáng kể… do đó, công cuộc cải cách ruộng đất đã gánh chịu từ những vô số khuyết điểm và lỗi lầm trong nhiệm vụ mang lại sự đoàn kết trong những khu vực nông thôn.” Ông ta sau đó hứa hẹn rằng những người vốn đã từng gánh chịu một cách sai trái như là kết quả của những lỗi lầm đó sẽ được phóng thích từ nhà tù hoặc được phục hồi những vị trí trước đây của họ.32

Vấn đề là chủ đề chính cho cuộc thảo luận tại Phiên họp Toàn thể Ủy Ban Trung ương, lần Thứ mười,

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 02_ Năm nguyên tắc chung sống hòa bình : là một “Hiệp định (không có sự trao đổi về những công hàm) về thương mại và giao dịch giữa khu vực Tây Tạng của Trung Quốc và Ấn Độ,” –đối với những vùng lãnh thổ tranh chấp Aksai Chin (là một trong hai khu vực biên giới tranh chấp giữa Trung Quốc và Ấn Độ, khu vực khác là Arunachal Pradesh) và Nam Tây Tạng– được ký kết tại Bắc Kinh vào ngày 29 tháng Tư năm 1954. Thỏa thuận này nói rõ nguyên tắc như:

1_ Tôn trọng lẫn nhau vì sự toàn vẹn và chủ quyền lãnh thổ của nhau,
2_ Không xâm lược lẫn nhau,
3_ Không can thiệp lẫn nhau vào công việc nội bộ của nhau,
4_ Bình đẳng và cùng có lợi ích, và
5_ Chung sống hòa bình.

Thỏa thuận nầy được kéo dài đến tám năm. khi nó qua đi, những quan hệ thực sự trở nên chua chát, điều khoản cho sự gia hạn bản hiệp ước đã không được nêu lên, và chiến tranh Trung-Ấn nổ ra giữa hai bên. Tuy nhiên, trong những năm 1970s, Năm Nguyên tắc một lần nữa xuất hiện được xem là quan trọng trong những mối quan hệ Trung-Ấn, và nói chung thêm như là quy tắc tiêu chuẩn của những mối quan hệ giữa các quốc gia. Chúng đã dần được nhìn nhận rộng rãi và chấp nhận khắp khu vực.

pc 03_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 04_ Hiệp định Geneva (Genéve) : là một hiệp ước đình chiến và hòa bình, qua đó Pháp công nhận nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia và tổ chức tổng tuyển cử tự do trong 3 nước nhằm thành lập một chính phủ duy nhất cho mỗi nước. Ngày 21.7.1954, Thiếu tướng Henri Delteil (Pháp) và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tạ Quang Bửu đã ký vào bản Hiệp định đình chiến về Đông Dương (Hiệp định Genève 1954).

_ Mùa hè năm 1953, chính phủ Pháp tìm cách đưa Pháp thoát khỏi cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Tháng 10 năm 1953, thủ tướng Pháp tuyên bố tại Quốc hội, Pháp sẵn sàng chấp nhận giải pháp ngoại giao.
_ Ngày 18/2/1954, hội nghị Tứ cường (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp) ở Berlin (Đức) đã thông qua thông cáo triệu tập hội nghị quốc tế Genève vào ngày 26/4/1954 để bàn giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên và việc lập lại hòa bình ở Đông Dương.
_ Ngày 7/5/1954, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.
_ Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 8/5/1954, Hội nghị Genève về Đông Dương đã chính thức khai mạc. Tham dự hội nghị có 9 đoàn đại biểu, gồm: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Vương quốc Lào, Vương quốc Cam-pu-chia, Quốc gia Việt Nam (Bảo Đại) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
_ Đến cuộc họp cuối ngày 20/7/1954, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) mới chấp nhận lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời giữa hai miền và thời hạn hai năm sau sẽ tổ chức tổng tuyển cử.
_ Trải qua 75 ngày thương lượng với 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp phụ cấp trưởng đoàn; dưới sự chủ tọa của hai đồng chủ tịch là Ngoại trưởng Liên Xô và Ngoại trưởng Anh, Hiệp định Genève về lập lại hòa bình và đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Campuchia và Lào thuộc Đông Dương đã được ký kết vào ngày 21/7/1954.
Gồm 6 chương, 47 điều với nội dung:

1_ Nước Pháp phải rút quân khỏi miền Bắc và Việt Minh rút khỏi miền Nam trong thời hạn 300 ngày.
2_ Ngừng bắn hoàn toàn toàn cõi Đông Dương, lấy sông Bến Hải (Quảng Trị) nằm trên Vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, quân đội Liên hiệp Pháp tập kết về phía nam Vĩ tuyến 17, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) tập kết về phía bắc Vĩ tuyến 17.
3_ Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí, phương tiện chiến tranh mới vào Việt Nam.
4_ Hai bên Việt Nam không gia nhập một liên minh quân sự nào, không bị sử dụng để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ cho một chính sách xâm lược.
5_ Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ 3 nước.
6_ Các bên tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực.
7_ Thành lập và định ra nhiệm vụ, thẩm quyền nguyên tắc trình tự hoạt động cho các ban liên hợp quân sự và các ban giám sát, kiểm soát quốc tế. Một Hội đồng Kiểm soát Quốc tế gồm các nước: Ba Lan, Ấn Độ và Canada sẽ giám sát việc thi hành các điều khoản của Hiệp định, với Ấn Độ làm chủ tịch.
8_ Thường dân có quyền lựa chọn muốn ở miền Bắc hay miền Nam, trong thời gian đó họ được tự do đi lại.
9_ Trao trả cho nhau tù binh và thường dân bị bắt giữ.
10_ Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh.
11_ Sau 2 năm, kể từ ngày ký Hiệp định, hai bên Việt Nam sẽ hiệp thương tiến hành tổng tuyển cử “tự do và dân chủ” để thống nhất đất nước trước tháng 7/1956.

Sau Hiệp định Geneva 1954, Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, và tạo điều kiện để tiếp tục tiến hành cái gọi là cách mạng giải phóng ở Miền Nam Việt Nam –không ngoài mục đích “tô đỏ” chủ nghĩa Cộng sản khắp Việt Nam theo chủ trương từ Liên Xô và Trung Quốc– vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) căn cứ vào bản Tuyên bố chung có ghi về Việt Nam: “Đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới về chính trị hoặc lãnh thổ”
Bản “Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam” bao gồm 6 chương, 47 điều khoản. Ngoài ra, còn có phụ bản kèm theo nói rõ thêm về “giới tuyến quân sự tạm thời, khu phi quân sự và các khu đóng quân tạm thời.”
Mặc dù Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956, Hiệp định không có điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như cách thức tổ chức những cuộc Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc Việt Nam.

pc 05_ CIA : (Central Intelligence Agency) Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ.
pc 06_ CHNDTH : Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
pc 07_ ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt Nam.
pc 08_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.

pc 09_ Thực sự không như tác giả đã viết là “mức độ nghiêm trọng của bản án được gia giảm.” Và càng không thể xem đây là bản án của những người dân đến bào chữa cho một người phụ nữ bị cáo buộc vì tác giả dùng chữ “một bản án” mà không phải là “những bản án” –cho nhiều người dân. Như vậy có nghĩa là theo tác giả người phụ nữ bị cáo buộc được khoan hồng khỏi tội chết và không bị tịch thu tài sản.
Tuy nhiên theo wikipedia (và nhiều nguồn tin khác gần đây) cho biết, sự kiện như được mô tả theo tác giả là sai lầm. Đây chính là một trường hợp tử hình thật sự đối với bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Thanh Long ở Hà Nội, cũng là mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và Trường Chinh, từng bao che họ khỏi sự ruồng bố của chính quyền Pháp và ưu đãi những cán bộ Việt Minh khác khi họ cần nơi tạm trú, ăn uống, và tiền bạc tiêu dùng. Bà ta có đứa con trai lớn giữ chức Trung đoàn trưởng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Việt Nam, và ngay cả trong Tuần Lễ Vàng, gia đình bà ta cũng đã hiến 100 lạng cho chính quyền mới thành lập. Dĩ nhiên, tất cả gia sản đồ sộ của gia đình bà ta đều bị tịch thu toàn bộ và 4 đứa con nhỏ cũng bị tử hình cùng lúc đó.
Ngoài ra, vài trường hợp điển hình được nhắc đến như sau :

_ Trường hợp thiếu tướng Vương Thừa Vũ, tư lệnh Đại đoàn 308, nguyên tư lệnh mặt trận Hà Nội năm 1946, chủ tịch Ủy ban quân quản Hà Nội bị các cán bộ cải cách bắt ở ngoại thành Hà Nội vì có người đấu tố ông là “địa chủ, có xuất thân là tư sản, lập trường chính trị không rõ ràng.”
_ Những cháu nội của cụ Phan Bội Châu, trong đó có một người là Trung đội trưởng, nhà nghèo, chỉ có 3 sào đất cho 3 mẹ con, nhưng cũng bị quy là địa chủ.
_ Đặc biệt, cụ Phó bảng Đặng Văn Hướng, Bộ trưởng phụ trách Thanh-Nghệ-Tĩnh của chính phủ bị đấu tố chết tại quê nhà Diễn Châu.

Theo thống kê chính thức của nhà nước Việt Nam được đăng trong cuốn Lịch sử Kinh tế Việt Nam (tập hai) cho biết là đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông(trong đó có 123.266 người bị quy sai, hơn 70%, tức là bị oan). Theo quan điểm của những người thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, đây là những người bị xếp vào loại kẻ thù của nhân dân, bị “đào tận gốc, trốc tận rễ.” Điều này đồng nghĩa với việc họ sẽ bị tịch thu tài sản.

Về thành phần của con số 172.008 nạn nhân này, bảng thống kê ghi như sau:

_ Địa chủ cường hào gian ác: 26.453 người, trong đó 20.493 người bị oan (77,4%).
_ Địa chủ thường: 82.777 người, trong đó 51.480 người bị oan (62%).
_ Địa chủ kháng chiến : 586 người, trong đó 290 bị oan (49%).
_ Phú nông : 62.192 người, trong đó 51.003 người bị oan (82%).

Tổng cộng: 172.008 người, trong đó 123.266 người bị oan : 71,66%. Số lượng này chưa kể đến thân nhân, gia đình của những người bị quy sai, cũng bị cô lập và đối xử phân biệt. Và nếu tính trung bình một gia đình người Việt có khoảng 4 người, thì con số bị ảnh hưởng qua việc đối xử trong và sau khi công cuộc cải cách ruộng đất là khoảng 688.000 người mà qua đó “vết nhơ không thể gột sạch” ngay trong xã hội lúc bấy giờ mãi còn lưu lại trong cách cư xử lãnh đạm của chủ nghĩa xã hội qua những cán bộ cho đến nhiều thế hệ sau. Dù đây chỉ con số được đưa ra từ nhà nước Việt Nam, dĩ nhiên, con số thực sự luôn luôn có thể cao hơn ít nhất là một nửa con số theo thống kê được biết.
Và đó cũng là cách tiết kiệm cho nền kinh tế lúc bấy giờ đang trong tình trạng lạm phát và thiếu thốn nhiều sản phẩm cơ bản cho sinh hoạt hàng ngày của người dân. Vì với con số cắt giảm phân chia sản phẩm như thế, nhà nước mới có thể duy trì lực lượng quân đội cũng như bộ máy nhà nước với số cán bộ không nhỏ.

pc 10_ Vũ Đình Huỳnh : là một đảng viên Cộng Sản từ thập niên 1930 và là thư ký riêng của Hồ Chí Minh từ 1945, ngoài những việc khác như là cận vệ, giúp việc, lễ tân trang phục. Sau nầy, ông ta chống lại các chủ trương về Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm –vụ đàn áp trí thức Hà Nội– với nghị quyết IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng và cho rằng đảng Cộng Sản đã phản bội quyền lợi đất nước. Mặc dù đã nghỉ hưu từ năm 1964, ông vẫn bị bắt giữ vào tháng Mười năm 1967 và bị biệt giam 6 năm, quản thúc 3 năm, mãi đến năm 1975 mới được thả về và đã mất tại nhà riêng ở Hà Nội 03/05/1990.
Con ông ta là Vũ Thư Hiên (hoặc Vũ Kỳ) không phải đảng viên Cộng Sản nhưng có nhiều năm kề cận bên cạnh Hồ Chí Minh. Lúc đó, Vũ Thư Hiên mới du học từ Nga về, hoạt động trong ngành báo chí và điện ảnh miền Bắc Việt Nam cũng bị bắt giam sau cha ông ta 2 tháng cùng nhiều nhân vật Cộng Sản tên tuổi khác cho tới năm 1976 (khoảng 9 năm tù).
Sau nhiều năm sống dưới sự kiềm chế, Vũ Thư Hiên trốn được sang Nga năm 1991 và mấy năm sau trốn qua Ba Lan, rồi qua Pháp. Cuốn hồi ký “Đêm Giữa Ban Ngày” vốn được hoàn thành trong thời gian này được tác giả xem như lời sám hối của chính cha mình vì đã lầm tin theo Đảng Cộng sản và bỏ cả cuộc đời ông ta đấu tranh cho một mục tiêu mà cuối cùng biến chính mình và đồng bào thành những nạn nhân bị đoạ đày.
Đến ngày 20/02/1994, Phạm Thị Tề, người Hà Nội, 83 tuổi, giáo viên đã nghỉ hưu, và là người vợ của ông Vũ Đình Huỳnh, đã đệ đơn lên nhiều cơ quan nhà nước Việt Nam nhằm yêu cầu đưa ra xét xử công khai vụ án “xét lại chống đảng” cho chồng và con.

pc 11_ ĐCSLX : Đảng Cộng sản Liên Xô
.
pc 12_ Theo tác giả, danh từ “Bác Hồ” theo vai vế người bác, được phổ cập vào khoảng đầu tháng Tư năm 1965, sau khoảng 2 tháng từ Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần Thứ hai mươi vào tháng Hai năm 1965, với sự có mặt của phái đoàn đại biểu Việt Minh, khi vị đương kim Chủ tịch mới là Nikita Khrushchev đã lên tiếng chỉ trích về Stalin về cái gọi là “tôn giáo sùng bái cá nhân.” Nhưng trên thực tế, những hành động sùng bái hoặc thần thánh hóa cá nhân ông Hồ đã từng lan rộng khắp dân cư miền Bắc từ lâu và gần như biến thành một tập tục phải có trong đời sống mọi người không phân biệt tuổi tác.
Có nghĩa là danh từ tôn xưng “Bác Hồ” đã tập nhiễm vào quần chúng trước năm 1965.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s