XIV- Giữa Hai Cuộc Chiến (Phần 3)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p484

vốn được triệu tập vào tháng Chín năm 1956. Lúc bấy giờ, những người đề xướng về cách giải quyết triệt để không còn có thể bảo vệ những vị trí của họ, và cuộc tranh luận tại cuộc họp ắt hẵn là bão tố. Bản thông cáo được phát hành sau khi kết thúc phiên họp toàn thể thì thẳng thắn một cách chung chung trong sự phân tích của nó về vấn đề và trong việc quy định trách nhiệm cho hành động:

Những sai lầm và thiếu sót đã từng gây nên trong suốt giai đoạn qua. Trong công cuộc cải cách ruộng đất và việc điều chỉnh những tổ chức, những sai lầm nghiêm trọng đã từng gây nên. Phiên họp toàn thể lần thứ 10 của Ủy Ban Trung ương Đảng Lao động [Việt Nam] đã phân tích những kết quả về công cuộc cải cách ruộng đất và việc điều chỉnh những tổ chức và thực hiện một cuộc kiểm tra nghiêm khắc về những sai lầm gây nên trong hai nhiệm vụ này. Nó đã tìm thấy những nguyên nhân của những sai lầm này và đã ứng dụng những biện pháp cho việc sửa sai.

Trong lần đầu tiên, Đảng tìm cách xác định nguồn gốc của vấn đề. Những khó khăn, bản thông cáo cho biết, bị gây ra bởi “những người tả khuynh”:

Phiên họp lần thứ 10 của Ủy Ban Trung ương Đảng Lao động [Việt Nam] “thừa nhận những sai lầm nầy là do những thiếu sót trong ban lãnh đạo.” Đó là lý do tại sao Ủy ban Trung ương Đảng chịu trách nhiệm cho những sai lầm này. Những người vốn là thành viên của Ủy ban Trung ương trực tiếp chịu trách nhiệm cho những sai lầm gây ra trong các việc hướng dẫn thực hiện những chính sách của Đảng, đã từng làm bản tự-phê-bình về những sai lầm và thiếu sót của họ trước Ủy ban Trung ương. Ủy ban đã dùng những biện pháp kỷ luật thích hợp đối với những thành viên.33

Lúc kết thúc hội nghị, Ủy Ban Trung ương dùng một biện pháp chưa từng có về việc làm giảm cấp nhiều thành viên hàng đầu của Đảng và chính phủ qua những vị trí của họ. Trong số họ có bốn người đứng đầu của ủy ban cải cách ruộng đất: Trường Chinh bị gạt bỏ như là Tổng thư ký của ĐLĐVN;(pc 07) Hồ Viết Thắng bị rơi khỏi Ủy ban Trung ương; Lê Văn Lương bị tước vị trí ảnh hưởng của mình trong Bộ Chính trị và Bí thư Ủy Ban Trung ương; Hoàng Quốc Việt bị rơi khỏi Bộ Chính trị. Trong suốt vài ngày kế tiếp, một loạt những nghị định được ban hành bởi Hội đồng Bộ trưởng chỉ đạo rằng những tòa án nhân dân đó vốn đã từng được thành lập ở cấp làng mạc để tìm bới những kẻ thù giai cấp, nên được bãi bỏ, trong khi những ủy ban cải cách ruộng đất vốn đã trước đó từng được tạo ra ở cấp trung ương và cấp khu vực, bị giảm bớt trong chức năng đối với những cơ quan cố vấn mà không có quyền hành pháp.

p485

Nhằm tháo ra sự thiệt hại mà qua đó thực sự đã từng gây ra rồi, những người vốn đã bị cầm tù một cách bất công, thì nhận được những ân xá, và sự chiếm giữ không đúng cách về đất tư nhân và đất được giữ bởi nhà thờ thì được làm cho đúng lại.34

Việc bị gạt bỏ của Trường Chinh, một biện pháp gần như chưa từng có đối với một đảng phái vốn đã từng luôn luôn tìm cách tránh né những cuộc đấu tranh phe phái tàn bạo quá đặc thù của những đảng phái anh em của họ ở Trung Quốc và Liên Xô, bắt buộc những cộng tác viên của mình vào một quyết định vội vã để tìm một người thay thế. Người kế nhiệm đương nhiên dường như sẽ đánh lý ra là Tướng Võ Nguyên Giáp. Được xếp hạng thứ ba trong hệ thống phân cấp sau ông Hồ và Trường Chinh, ông Giáp thích thú sự quý trọng cao cả giữa người dân như là một anh hùng của trận chiến Điện Biên Phủ. Ông ta và quân đội đã từng tránh được bị hoen ố bởi những thất bại của chiến dịch cải cách ruộng đất. Nhưng sự nổi tiếng thực sự của ông Giáp có thể đã tác động chống lại ông ta trong số những cộng tác viên ghanh tị. Hơn nữa, có một truyền thống trong khuôn khổ ban lãnh đạo để tránh việc kết hợp thẩm quyền của Đảng với quyền chỉ huy quân sự. Kết quả là, ông Giáp đã được cho qua, và Hồ Chí Minh đồng ý tạm thời chiếm giữ vị trí đó.

Hồ Chí Minh đã không được trực tiếp tham gia trong việc lập kế hoạch hoặc thực hiện chiến dịch cải cách ruộng đất và như thế có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc đánh giá sự thiệt hại và quy định trách nhiệm. Nhưng uy tín của ông ta như là một người lãnh đạo biết-tất-cả và quan-tâm-tất-cả đã từng bị thiệt hại một cách nặng nề trong chiến dịch; nhiều người trong số những cộng tác viên của ông ta cảm thấy riêng rằng, mặc dù ông ta đã từng chỉ trích thái quá ở cấp địa phương, ông ta không có tội gì cả, kể từ khi ông ta đã phê duyệt chương trình vào lúc khởi đầu của nó và bảo vệ những thành tích “trong phần chính” của nó thậm chí sau khi nó trở nên rõ ràng là những lỗi lầm nghiêm trọng đã từng xảy ra. Trong những cuộc họp riêng với những lãnh đạo khác của Đảng, ông Hồ góp vào một vài lời tự-chỉ-trích của riêng mình, bằng cách nhận ra rằng “vì tôi thiếu một tinh thần dân chủ, tôi không lắng nghe và không nhìn thấy, vì vậy chúng ta bây giờ phải thúc đẩy dân chủ. Tôi chấp nhận trách nhiệm trong thời gian xét xử. Tất cả ban lãnh đạo hàng đầu (Trung ương) phải lắng nghe, quan sát, suy nghĩ, và hành động phù hợp. Bài học đau thương này ắt hẵn là một động cơ thúc đẩy cho chúng ta.”35

Hậu quả không mong muốn từ chiến dịch cải cách ruộng đất là một thất bại lớn cho Trường Chinh. Một nhân vật thiếu thân thiện và có phần gì nghiêm trang, được tôn trọng nhưng không yêu thích bởi những cộng tác viên và bạn thân của mình, ông Chinh gánh chịu ít từ lòng ưu thích về sự tàn bạo hơn là từ sự thiếu mất tính niềm nở và nhân bản, và ông ta chắc chắn tin rằng trong việc thực hiện chương trình theo sự đề nghị của những cố vấn Trung Quốc, ông ta đang hành động đúng theo tiếng gọi của tư tưởng hệ. Trong khi ông ta chắc chắn bị làm nhục bằng cách cách chức, ông ta thì quá tự hào không phơi bày lòng tự ái của mình trong công chúng, và không bao giờ nhắc đến một cách gián tiếp về vấn đề với những cộng tác viên của mình. Khi có dịp được yêu cầu, tuy nhiên, ông có chuẩn bị bảo vệ những quyết định của mình. Một vài tuần sau khi kết thúc Phiên họp Toàn thể lần Thứ mười,

p486

Trường Chinh lập luận rằng mặc dù một số cán bộ đã từng có tội về những lỗi lầm nghiêm trọng trong suốt chiến dịch, công cuộc cải cách ruộng đất là “một cuộc cách mạng” và nói thêm rằng “một công cuộc cải cách ruộng đất ôn hòa tương đương với việc thi hành trong việc ban phát đất đai là một ảo tưởng.”36

* * *

Sự cố gắng của Đảng vào lúc cuộc mea-culpa (i.e. Latin: phê-và-tự-phê) đến quá muộn để ngăn chận sự bùng nổ của sự phản đối công cộng nghiêm trọng lần đầu tiên chống lại chính sách của chính phủ kể từ khi kết thúc Chiến tranh Pháp-Việt Minh. Để làm cho sự việc đáng xấu hổ hơn, biến cố diễn ra ở một khu vực nông thôn không xa từ nơi sinh của Hồ Chí Minh ở tỉnh Nghệ An, dọc theo bờ biển miền trung. Huyện Quỳnh Lưu thì đặc biệt về điều mà phần lớn những dân cư là người Công giáo. Nhiều dân cư Quỳnh Lưu có cao lòng yêu nước cao và đã từng ủng hộ Việt Minh chống Pháp, nhưng sự thiếu tin cậy thì thường thấy trên cả hai phía. Những cán bộ Việt Minh nghi ngờ rằng một số lượng đáng kể của những người Công giáo địa phương thì trung thành với Pháp hoặc với Bảo Đại, và thù nghịch với cách mạng. Những người Công giáo lần lượt tức giận bởi bằng chứng thường kỳ về sự thù địch chính thức đối với họ một cách đơn giản chỉ vì đức tin của họ.

Những quan hệ giữa chính phủ và cộng đồng Công giáo đã từng phiền phức khắp VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thái Bình Dương. Sau lệnh ngừng bắn vào tháng Bảy năm 1954, gần 600.000 người Công giáo chạy trốn vào miền Nam. Tuy nhiên, gần 900.000 người Công giáo vẫn còn ở miền Bắc Việt Nam sau Hiệp định Geneva,(pc 04) và VNDCCH cố gắng trấn an họ rằng họ sẽ không bị đối xử xấu. Một ủy ban liên lạc mới của những người Công giáo yêu nước và hòa bình được tạo ra như là một nhóm mặt trận cho chế độ, và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên diễn thuyết trước những khán giả Công Giáo về cam kết cho quyền tự do tôn giáo của chính phủ mình. Những vị giám mục mới được đề cử để thay thế những người vốn đã rời khỏi đến miền Nam, những chủng viện để đào tạo những linh mục Công giáo được tạo ra vào cuối năm 1954, và vào tháng Sáu năm 1955 một nghị định của chính phủ bảo đảm quyền tự do tôn giáo và nhìn nhận thẩm quyền của Vatican trong những vấn đề nội bộ giáo hội, mặc dù nó ngăn cấm những người Công giáo phổ biến sự tuyên truyền chống lại những chính sách của chính phủ.

Đối với việc mở đầu chiến dịch cải cách ruộng đất, tuy nhiên, những quan hệ nhanh chóng xấu đi, khi những cán bộ dân quân thường phơi bày thái độ thù địch đối với những người Công giáo, nhiều người trong số họ bị tập trung lại như là những người bị nghi ngờ phản-cách-mạng. Trong một vài trường hợp, có thể có căn cứ để đặt câu hỏi về sự cam kết của họ đối với cách mạng, kể từ khi nhiều người Công giáo nằm trong số những thành viên giàu có hơn của cộng đồng nông thôn và vì vậy chống đối công cuộc cải cách ruộng đất. Chính Giáo Hội, vốn giữ lấy khoảng 1,3 phần trăm đất canh tác ở trong nước, đã công khai thù nghịch đối với chính phủ.

Những vấn đề ở huyện Quỳnh Lưu bắt đầu xuất hiện vào năm 1955,

p487

khi những dân làng phản đối rằng họ đã từng bị ngăn chận bởi các quan chức chính phủ từ việc di cư vào miền Nam. Trong suốt mùa hè năm 1956, chiến dịch cải cách ruộng đất quét qua khu vực, và sự oán giận được sinh ra bởi những ngược đãi của chính phủ trong việc thực hiện chương trình làm trầm trọng hơn bởi sự than phiền về vấn đề phân biệt đối xử tôn giáo. Những cán bộ Đảng thường xuyên lên án những lãnh đạo Công giáo địa phương như là những kẻ phản động và phá hoại. Khi đội thanh tra của Hội đồng Kiểm tra Quốc tế đến khu vực, những căng thẳng bùng lên và một số vụ đụng độ bạo lực giữa lực lượng an ninh chính phủ và những dân làng tìm cách gặp gỡ những viên thanh tra nổ ra. Vào ngày 09 tháng Mười Một, một nhóm dân làng trình bày những kiến ​​nghị đến các thành viên của Hội đồng Kiểm tra Quốc tế vốn đang đi qua khu vực trong một chiếc xe jeep. Khi một đơn vị công an địa phương cố gắng giải tán đám đông, bạo lực nổ ra. Vào ngày thứ mười ba, nhiều ngàn người, được trang bị bằng những dụng cụ và vũ khí thô sơ, tuần hành đến thủ phủ huyện Quỳnh Lưu. Con đường của họ bị chận bởi đội quân chính quy; một cuộc đụng độ gây ra kết quả, và nhiều người biểu tình bị thiệt mạng. Ngày hôm sau, toàn bộ một sư đoàn quân đội được gởi đến để chiếm đóng khu vực và bắt giữ những người cầm đầu là những người đã khích động sự xáo trộn. Sau khi đoàn kiểm tra từ Hà Nội đến để đánh giá tình hình, một số người vốn đã từng bị bắt trong suốt chiến dịch cải cách ruộng đất đã, được thả ra, và tài sản của họ được trả lại. Nhưng rõ ràng rằng cuộc tranh luận bên trong Đảng về làm cách nào thực hiện chương trình đã không được giải quyết hoàn toàn. Trường Chinh, là người đã giữ lại chức chủ tịch của ủy ban cải cách ruộng đất, cảnh cáo trong bài báo cáo của mình về biến cố rằng một vài “cá nhân nguy hiểm” đã được phóng thích mà không có sự chứng minh là đúng và rằng đó là điều cần thiết để giải quyết mà qua đó “những phần tử địa chủ” không tái xuất hiện như là lực lượng có ảnh hưởng ở cấp làng mạc.

Mặc dù biến cố tại Quỳnh Lưu là riêng biệt trong ý nghĩa mà nó liên quan đến mối quan hệ cảm tính giữa chế độ và những người Công giáo, nó là một dấu hiệu rõ ràng rằng chương trình cải cách ruộng đất đã xói mòn một cách nghiêm trọng niềm tin của dân cư ở miền Bắc vào đặc tính của vai trò lãnh đạo của Đảng, và chắc chắn gây căng thẳng những ràng buộc đoàn kết và vai trò lãnh đạo tập trung trong phạm vi Hội đồng lãnh đạo của Đảng. Khi, vào cuối tháng Mười, những đám đông thù nghịch được cấu thành chủ yếu gồm những thành viên gia đình của những người vốn đã từng gánh chịu từ chiến dịch, tập trung tại trước trụ sở Ủy ban Trung ương gần Quảng trường Ba Đình than phiền rằng những yêu cầu của họ cho sự đền bù đã không được nói đến, Tướng Võ Nguyên Giáp đồng ý nói chuyện với công chúng tại một sân vận động gần đó, nơi mà ông ta chấp nhận rằng những sai lầm đã từng làm ra trong chiến dịch. Ban lãnh đạo của Đảng, ông thừa nhận, đã quá ước tính số lượng những địa chủ trong nước và đã máy móc xem tất cả những thành viên của giai cấp đó như là những kẻ thù của nhân dân. Vì vậy, nó thất bại phân biệt giữa những bè bạn và kẻ thù

p488

và xem thường tầm quan trọng chủ yếu về việc mở rộng mặt trận đoàn kết quốc gia cho giai đoạn sắp tới. Đảng, ông ta nói thêm, cũng vi phạm chính sách của nó về sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo trong việc thực hiện công cuộc cải cách ruộng đất trong những khu vực sinh sống bởi nhiều người Công giáo và thất bại nhìn nhận những phục vụ cách mạng của nhiều chiến binh được xuất ngũ và những cựu chiến binh.

Hồ Chí Minh, vốn là người trong hàng tháng đã lập luận trong những cuộc họp của những lãnh đạo cấp cao chống lại sự thái quá của chiến dịch, lưu giữ một hồ sơ công chúng bí mật về vấn đề này cho đến năm 1957, khi tại một phiên họp của Đại hội Quốc gia của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) ông ta, cũng, khẳng định rằng “những sai lầm nghiêm trọng” đã từng gây nên trong khi thực hiện chiến dịch. Nhưng một lần nữa, ông ta bào chữa chương trình như một toàn thể như tính chính xác cơ bản trong mục tiêu của nó về việc loại bỏ sức mạnh của những thành phần phong kiến ​​ở cấp làng mạc và giải thoát giới nông dân nghèo khỏi chu kỳ đói nghèo. Những nhà quan sát nhớ lại rằng ông ta khóc thút thít khi ám chỉ những đau khổ vốn xảy ra trong suốt chiến dịch.37

Trong một vài khía cạnh, chương trình cải cách đất đai có thể được xem như là một thành công bởi chế độ. Hơn hai triệu mẫu Anh (800.000 ha) đất được phân phối cho hơn hai triệu(pc 13) gia đình nông dân, tổng số hoàn toàn hơn một nửa tổng số những người lao động nông nghiệp ở VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt). Sự thống trị lịch sử của tầng lớp quý tộc có đất đai ở cấp làng mạc bị phá vỡ và ban lãnh đạo mới được cấu thành gồm những nông dân nghèo và cấp trung bình xuất hiện. Tuy nhiên, chiến thuật vốn đã được áp dụng để lại một di sản cay đắng. Mặc dù con số người thực sự bị hành hình trong suốt chiến dịch gây nhiều tranh cãi cao độ, thậm chí những quan sát viên cảm thông thừa nhận rằng con số tối thiểu là 3.000 đến 5.000 có thể đã chết trong quá trình diễn biến này, thường là bằng những đội súng hành quyết ngay sau khi việc kết tội bởi tòa án địa phương. Có những ước đoán khác mà qua đó con số là 12.000 đến 15.000(pc 09) người bị hành hình một cách bất công trên những cáo buộc sai lầm về việc phá hoại hoặc cách khác hơn là việc ủng hộ những hoạt động phản-cách-mạng. Vô số những người khác chịu khốn khổ bằng nhiều cách khác nhau vì mối quan hệ của họ đối với những nạn nhân. Những hậu quả là một thảm họa cho các tổ chức Đảng ở cấp địa phương. Một nghiên cứu vào đầu những năm 1980s cho thấy rằng trong một số khu vực, 30 phần trăm những chi bộ Cộng sản đã bị giải tán như là một kết quả của sự mất mát nhân sự đối với sự giận dữ được tạo ra bởi chiến dịch. Trong 76 xã thuộc tỉnh Bắc Ninh, chỉ có 21 bí thư chi bộ vẫn còn trong vùng vào lúc chấm dứt làn sóng cuối cùng của chiến dịch.38

* * *

Sự xáo trộn xã hội bị khuấy động bởi chiến dịch cải cách ruộng đất không hạn chế đối với vùng nông thôn. Nó cũng làm trầm trọng thêm những mối quan hệ của Đảng với giới trí thức thành thị, là những người đã từng là trong số những người ủng hộ nhiệt thành nhất của Mặt trận Việt Minh trong suốt những giai đoạn đầu của kháng chiến.

p489

Nhiều người thì rất yêu nước và đã từng hưởng ứng một cách nhiệt tình đối với chương trình Việt Minh, mà qua đó nó kết hợp vấn đề độc lập dân tộc bằng những biện pháp cải cách ôn hòa.

Tuy nhiên, uy tín của Đảng trong giới trí thức được thử nghiệm một cách đau đớn, bắt đầu vào năm 1951, chiến dịch sửa chữa nội bộ được lấy cảm hứng từ Trung Quốc bắt buộc những người trí thức thường xuyên tham gia vào những cuộc vật lộn đau đớn về tự-phê-bình khi họ cố gắng hòa hợp những bản năng yêu nước của họ với những yêu cầu cứng nhắc của đạo đức cách mạng theo học thuyết Mao. Một số người phản ứng bằng cách rời khỏi phong trào; những người khác cố gắng che giấu sự khó chịu của họ bằng cách ứng dụng sự phù hợp hóa lẽ phải mà qua đó nguyên tắc Đảng và sự hy sinh những mục đích cá nhân là điều cần thiết trong suốt thời gian của cuộc đấu tranh cho sự sống còn của quốc gia. Như một nhà văn và là nhà trí thức Phan Khôi nhận xét, vị ngọt của lòng yêu nước, giống như đường trong cà phê, bù đắp vị cay đắng của sự lãnh đạo của Đảng và cứu vớt phẩm giá của giới trí thức.39

Sự tiến thoái lưỡng nan này thì khó trốn tránh hơn sau hội nghị Geneva,(pc 04) mà qua đó, bằng cách tạm thời gác lại vấn đề độc lập dân tộc, đặt chương trình nghị sự trong nước của Đảng vào giai đoạn chính. Câu chuyện của một nhà văn trẻ có tên là Trần Dần với những minh họa về tình thế khó khăn mà nhiều nhà trí thức tìm thấy chính mình trong đó. Là một cựu chiến binh Điện Biên Phủ, ông Dần vừa mới viết một cuốn tiểu thuyết theo phong cách hiện thực xã hội chủ nghĩa quen thuộc về những kinh nghiệm của mình trên chiến trường, và ngay sau khi lệnh ngưng bắn, ông ta được gởi đến Trung Quốc để tìm kiếm sự trợ giúp chuyên nghiệp trong việc viết một kịch bản cho một bộ phim được dựa trên cuốn tiểu thuyết của mình. Trong khi đó, ông ta gặp nhà văn Hu Feng (i.e. Hồ Phong), một người ủng hộ cao giọng về quyền tự do lớn hơn cho những nhà văn và nghệ sĩ ở một Trung Quốc mới. Lúc chuyến trở lại VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) của mình, Trần Dần chỉnh sửa lại cuốn tiểu thuyết của mình để giảm xuống những việc đề cập bắt buộc về chủ nghĩa anh hùng và sự tự nguyện hy sinh trong hàng ngũ mà bản dự thảo đầu tiên đã từng chứa đựng và tạo thành hình bức chân dung ba-chiều trung thực hơn về những chiến binh phải đối mặt với những nỗi kinh hoàng của chiến tranh. Trong suốt mùa đông năm 1954-1955, với sự cộng tác của nhiều cộng tác viên cùng chí hướng trong phạm vi bộ phận tuyên truyền của quân đội, ông ta soạn thảo một bức thư có tựa đề “những dự kiến cho một nền chính trị văn hóa” mà ông ta dự định đệ trình lên Uỷ ban Trung ương Đảng. Quan điểm của dự án là yêu cầu những quyền tự do lớn hơn cho giới trí thức sáng tạo để bày tỏ sự thật về cuộc chiến gần đây khi họ nhìn thấy nó.

Lúc đầu, dường như có một vài ủng hộ từ những sĩ quan quân sự cao cấp cho dự kiến, nhưng cuối cùng những chiến binh tư tưởng hệ nghe phong phanh về bức thư và dẫn đến sự từ chối chính thức của nó. Một phát ngôn viên hàng đầu cho việc duy trì tính tinh khiết của ý thức hệ là nhà thơ Tố Hữu, một cựu chiến binh Đảng là người có những bài thơ cách mạng, đã từng đạt được tiếng tăm to lớn trong suốt cuộc xung đột Pháp-Việt Minh và là người lúc bấy giờ phục vụ như là người giám sát văn hóa và trí thức của Đảng. Là một người ủng hộ hàng đầu về “nghệ thuật vị nhân sinh,” Tố Hữu đã từng thực hiện một bài phát biểu quan trọng vào tháng Chín năm 1949 ở Việt Bắc

p490

về làm cách nào loại bỏ những di tích phong kiến ​​phản động và ảnh hưởng của tư bản chủ nghĩa bằng văn hóa cách mạng đang nổi lên ở Việt Nam.

Trần Dần chẳng bao lâu bị tấn công từ phe cánh tả, không phải chỉ vì sự đòi hỏi thẳng thắn cho sự chấm dứt những việc kiểm soát tư tưởng hệ trên những nghệ sĩ sáng tạo ở VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), mà còn vì bị buộc tội dẫn đầu một “lối sống tư sản.” Bị trục xuất từ ​​ĐLĐVN,(pc 07) ông ta sau đó bị tống giam trong nhà tù quân sự tại Hoàng thành ở Hà Nội. “Tôi không thấy gì ngoài mưa,”(pc 14) ông nhận xét trong nỗi buồn, “rơi trên lá cờ đỏ.”40 Tuy nhiên, men khích động được gây ra bởi bức thư của ông ta, kết hợp với sự tàn bạo của chiến dịch cải cách ruộng đất và nền văn học “tan băng” xảy ra ở Liên Xô như là một kết quả tác động của bài phát biểu đã-phá-khuynh-hướng-Stalin-hóa của Khrushchev vào tháng Hai năm 1956, khuyến khích những trí thức khác; và vào mùa xuân năm đó, một tạp chí văn học mới được gọi là Giai Phẩm bắt đầu xuất bản những phần nhỏ mà chúng ít ra ngầm chỉ trích về những chính sách của chính phủ. Bất chấp những bày tỏ chính thức về việc không chấp thuận, những vấn đề bổ sung của tạp chí xuất hiện trong suốt mùa hè, qua việc khuyến khích sự ra đời của một tạp chí định kỳ thứ hai, Nhân Văn, vào tháng Chín. Biên tập viên của ấn phẩm mới là một Phan Khôi trí thức được chú ý bởi người Việt, là người tham gia trong phong trào cải cách của Phan Chu Trinh vào đầu thế kỷ. Lúc bấy giờ, giới trí thức Việt Nam đã được khích lệ bởi sự xuất hiện của chiến dịch Trăm Hoa ở Trung Quốc, một phong trào được bảo trợ chính thức nhưng ngắn ngủi hầu khuyến khích sự chỉ trích của công chúng về những thiếu sót của ĐCSTQ(pc 15) và chính phủ. Một bài viết được bút pháp bởi nhà thơ Hoàng Cầm than khóc sự ngược đãi chính thức được định phần cho Trần Dần và bào chữa cho ông ta từ những người phê bình. Những bài viết khác trong hai tạp chí mô tả những khốn khổ của những gia đình vốn có những thành viên đã từng bị cầm tù trong suốt chiến dịch cải cách ruộng đất, và vấn đề tình trạng quan liêu.

Mặc dù bị kiềm chế bởi sự náo động gây ra do sự thái quá của chiến dịch cải cách ruộng đất và những cuộc kêu gọi tự-phê-bình phát ra từ Moscow và Beijing, những người theo chủ nghĩa thuần túy tư tưởng hệ trong Đảng không có hành động cấp bách nào để ngăn chận những lời chỉ trích như thế. Thật ra, Phiên họp Toàn thể lần Thứ mười vào tháng Chín năm 1956 ban hành một thông cáo kêu gọi cho sự mở rộng những quyền tự do dân chủ, trong khi vào tháng Mười Hai, một nghị định từ cấp Chủ tịch bảo đảm quyền tự do giới hạn của báo chí. Trường Chinh khẩn nài cho việc tạo ra một nền văn hóa mới của Việt Nam mà qua đó sẽ có tính chất quốc gia qua hình thức và xã hội chủ nghĩa trong nội dung. Điều gì mà ông ta muốn nói thì không chắc chắn. Khi một nhà trí thức than phiền với Trường Chinh về việc thiếu quyền tự do phát biểu, ông Chinh trả lời trong sự ngạc nhiên, “nhưng anh bạn có nhiều tự do để chỉ trích chủ nghĩa đế quốc!”

Tuy nhiên, những cuộc biểu tình ở Quỳnh Lưu làm dấy lên sự lo lắng trong số những lãnh đạo Đảng ở Hà Nội, và trước khi hết năm hai tạp chí Nhân VănGiai Phẩm bị buộc phải đóng cửa. Tờ báo chính thức Nhân dân kêu gọi sự kiểm soát nghiêm ngặt hơn của Đảng trên giới trí thức, và nhiều người buộc phải tham dự những khóa học về chủ nghĩa Marx-Lenin.

p491

Một Phan Khôi cao tuổi bị trục xuất khỏi hiệp hội của nhà văn và cuối cùng bị bắt giữ. Ông ta mất trong tù trước khi bị đưa ra xét xử. Trần Dần từ chức khỏi Đảng, nhưng tuyên bố mình trung thành với những lý tưởng không tưởng của nó, “một người Cộng sản không có đảng phái.”41

Không dễ dàng phân biệt mức độ nào Hồ Chí Minh sẽ phải chịu trách nhiệm về sự ngược đãi được liên kết với việc đàn áp sự bất đồng quan điểm ​​trí thức và chiến dịch cải cách ruộng đất. Những người bào chữa chỉ ra rằng ông Hồ không trực tiếp dính líu vào trong việc thực hiện một hoặc hai chương trình nào, và rằng ông ta liên tục thúc giục những cộng tác viên và cán bộ cao cấp như nhau thực hiện sự phân biệt cẩn thận giữa những thành phần bị xúi giục vốn là những người có thể được dẫn dắt lại vào con đường đúng và những phần tử phản-cách-mạng thực sự vốn là những người phải bị loại bỏ theo cách phẫu thuật như bệnh ung thư từ một cơ chế chính trị của xã hội Việt Nam. Nhưng những nhà phê bình vặn lại rằng ngay cả nếu ông Hồ không cầm lấy con dao, ông ta tuy nhiên đã từng dàn dựng sân khấu cho những người khác làm. Điều đáng chú là thậm chí sau khi ông ta được thông báo về sự thái quá trong hai chiến dịch, ông ta thực hiện ít cố gắng để sử dụng uy tín rộng lớn của mình hầu làm giảm bớt những tác động của những chương trình đó.

Trong khi ông Hồ giải bày là không có lòng ưa thích riêng tư đối với việc sử dụng sự tàn bạo chống lại những kẻ đối nghịch hoặc đối thủ của mình, ông ta sẵn sàng (theo mô hình của những người theo tư tưởng hệ qua những thời kỳ) tha thứ những hành động như thế bởi những cấp dưới của mình qua những lợi ích lớn hơn về sự nghiệp. Nơi mà ông ta quen biết cá nhân với những nạn nhân –và Hồ Chí Minh biết một số người trong giới trí thức vốn là những người bị tấn công trong suốt chiến dịch– ông ta đôi khi can thiệp thay mặt cho họ, nhưng thường không có hiệu lực. Một người trong gia đình của một trí thức vốn trở thành nạn nhân cho chiến dịch, thông báo riêng với tôi rằng ông Hồ đã từng cố gắng làm nhẹ bớt cách đối xử ta trong tù cho ông. Có lẽ phần lớn người ta có thể nghe đồn là Hồ Chí Minh đã từng trở thành một tù nhân của chính sự sáng tạo của mình, một con ruồi trong hổ phách, không có thể nào khi trong tình trạng suy giảm ảnh hưởng của ông ta thoát khỏi lý lẽ không lay chuyển được của một hệ thống mà qua đó nó hy sinh số phận của những cá nhân cho một “đạo đức cao hơn” của kế hoạch chủ thể.42

* * *

Trong khi phần nhiều sự chú ý được tán thành ở Hà Nội theo Đại hội lần Thứ hai mươi của ĐCSLX(pc 11) vào đầu năm 1956 đã từng được tập trung vào bài phát biểu đã-phá-kkhuynh- hướng-Stalin-hóa của Khrushchev, một sản phẩm không kém quan trọng của Đại hội là quyết định của Moscow theo đuổi một chính sách chung sống hoà bình với phương Tây. Trong việc biện minh cho các chương trình mới, Khrushchev lập luận rằng một lựa chọn duy nhất là cuộc xung đột hạt nhân, mà nó có thể mang lại sự chết chóc của hàng triệu người trên cả hai bên của vùng phân chia ý thức hệ.

Đối với Hà Nội, việc ứng dụng chiến lược chung sống hòa bình của Moscow có những hàm ý đang gây nên sự lo lắng,

p492

vì nó thừa nhận là Liên Xô có thể không tìm thấy sự đồng thuận trên việc có thể tiếp tục lại cuộc đấu tranh cách mạng nhằm mang lại sự tái thống nhất của hai miền Việt Nam. Vào lúc nầy, cách giải quyết mới không trái ngược đối với những chính sách được thông qua bởi ban lãnh đạo Đảng ở Hà Nội, kể từ khi vào tháng Tám năm 1955 Ủy Ban Trung ương của ĐLĐVN(pc 07) đã khẳng định lại sự mong muốn của nó tìm kiếm sự tái thống nhất đất nước bằng biện pháp hòa bình; và vào đầu năm 1956, VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) cho thấy sự chấp thuận của nó về dự nghị của Trung Quốc triệu tập lại hội nghị Geneva(pc 04) để thảo luận về việc thi hành Hiệp định Geneva.  Tuy nhiên, vấn đề rõ ràng là vẫn còn đang được tranh luận giữa các nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng, và vào một thời gian nào đó trong suốt cuối đông năm 1956, một phái đoàn đại biểu được dẫn dắt bởi Tham mưu trưởng quân đội Văn Tiến Dũng bí mật đi đến miền Nam để tham khảo ý kiến ​​với những thành viên có cấp bực của bộ máy Việt Minh địa phương. Vị Chủ tịch của Ủy ban Khu vực của Đảng cho miền Nam (cơ quan hàng đầu của Đảng ở miền Nam sau khi các Cơ quan Trung ương Nam Việt Nam bị giải tán theo sau Hiệp định Geneva) là Lê Duẩn, một cựu chiến binh  của Đảng là người đã từng điều hành hoạt động ở đó kể từ khi sa thải Nguyễn Bình vào năm 1951. Mục tiêu được nói rõ của chuyến đi của ông Dũng là thiết lập những vùng căn cứ mới của cách mạng và xem xét việc có thể cần đến quân tiếp viện, cũng như tạo điều kiện cho một liên minh chính thức với những phần tử bất đồng chính kiến ​​của hai giáo phái tôn giáo (i.e. Hòa Hảo, và Cao Đài).

Là con trai của người thợ mộc ở tỉnh Quảng Trị, một vùng nông thôn ngay phía bắc của kinh đô cũ của Huế, Lê Duẩn thiếu một nền giáo dục và chứng thư thuộc gia đình ưu tú của nhiều người trong số những thành viên sáng lập của Đảng, nhiều người trong số họ, giống như chính Hồ Chí Minh, đến từ tầng lớp học giả quan chức. Tuy nhiên, mặc dù nhỏ thó trong vóc dáng và cách nói chuyện thẳng thắn và mộc mạc trong tư cách, Lê Duẩn không thiếu lòng tự tin, ông ta được ông xem như là người tổ chức hiệu quả và là người ủng hộ cao giọng cho những lợi ích của phong trào ở miền Nam. Mặt khác, một vài cộng tác viên của ông ta dường như tìm thấy ông ta kiêu ngạo và không muốn xem xét những ý tưởng khác hơn ý tưởng của riêng mình.43

Sau khi từng phục vụ (với bí danh là “Ba”) như là một đại diện cấp cao của Ủy ban Trung ương ở các tỉnh phía Nam kể từ ngay sau khi kết thúc Chiến tranh Thái Bình Dương, Lê Duẩn là một sự lựa chọn thích hợp cho công tác chỉ huy phong trào ở Nam Việt Nam. Ông ta hoàn toàn dâng hiến cho nhiệm vụ mang lại sự tái thống nhất quốc gia, nhưng ông ta cũng là một người thực dụng, và trong những cuộc họp của Ủy ban Khu vực, ông ta lập luận một cách không mệt mỏi về việc ứng dụng một chiến lược thực tế vốn lưu ý đến tình hình không chỉ ở miền Nam mà còn trên sân khấu quốc tế. Về mặt khác, ông đã tìm cách kiềm chế những kẻ xúi giục bạo động vốn là những người muốn ngay lập tức quay lại chiến lược được sử dụng chống Pháp, qua cách lập luận rằng lực lượng vũ trang của Đảng chỉ đơn giản là chưa gánh nổi nhiệm vụ.

p493

Về mặt khác, ông ta thì hoài nghi về một giải pháp hòa bình, qua cách cảm thấy rằng một số hình thức bạo lực cuối cùng sẽ được cần đến. Những hoạt động chính trị ở miền Nam, ông ta tuyên bố, “đôi khi sẽ có được giúp sức bằng hành động quân sự nhằm mục đích cho thấy sức mạnh của lực lượng mà qua đó nó giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.”44 Vào tháng Ba năm 1956, ông Duẩn tiếp kiến Văn Tiến Dũng và nhóm của ông ta với một kế hoạch phát động những chuẩn bị quân sự cho việc có thể trở lại một chính sách đấu tranh vũ trang. Sau khi những khách viếng của họ rời khỏi, Ủy ban Khu vực miền Nam của ông Duẩn chấp thuận một sự gia tăng bị hạn chế trong lực lượng quân sự địa phương của Đảng, bao gồm việc hình thành của 20 tiểu đoàn lực lượng chính và việc huy động những đội du kích trong những làng mạc có cảm tình với cách mạng.

Dự kiến của Lê Duẩn ứng dụng cách giải quyết gây hấn hơn ở miền Nam đã đến Hà Nội vào thời điểm khi những lãnh đạo Đảng tích cực thảo luận về đường lối mới của Moscow về chung sống hòa bình. Vào đầu tháng Tư năm 1956, Phó Thủ tướng Liên Xô Anastas Mikoyan đến Hà Nội để giải thích cho những đồng chí Việt Nam về quan điểm của Moscow về tình hình thế giới. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một nhân vật cao cấp của Đảng Sô-Viết đến VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), một cử chỉ mà qua đó chắc chắn là rất hoan nghênh đối với những người chủ khách của ông ta. Hai tuần sau chuyến rời khỏi của ông ta, Ủy ban Trung ương của ĐLĐVN(pc 07) thông báo sự chấp thuận chính thức của nó về các nghị quyết của Đại hội lần Thứ hai mươi của ĐCSLX(pc 11) tại Phiên họp Toàn thể lần Thứ chín của nó. Tuy nhiên, Trường Chinh, vốn vẫn là Tổng bí thư vào thời điểm đó, thừa nhận rằng không phải tất cả trong số những cộng tác viên của ông ta đồng ý với quan điểm này. “Có một số người,” ông ta nhận xét, “vốn là những người chưa tin vào tính đúng đắn của chương trình chính trị nầy và vào chính sách tái thống nhất đất nước mang tính chất hòa bình, qua cách giữ lấy ý tưởng rằng những điều nầy là những ảo tưởng và thuộc chủ nghĩa cải cách.”45

Có hay không Trường Chinh đang đề cập đến Lê Duẩn, là trưởng đại diện của Đảng ở miền Nam, thì không được biết đến. Trong mọi trường hợp, những vấn đề cần bảo lưu như thế rõ ràng được giữ kín, trong số những người khác, bởi chính Hồ Chí Minh. Mặc dù ông ta đã từng công khai cố gắng thuyết phục những cộng tác viên của mình nên cho tiến trình hòa bình một cơ hội, ông đã không bao giờ che đậy niềm tin của mình rằng vấn đề quốc gia phải có vị trí cao hơn trên những mối quan tâm khác, và ông ta không chuẩn bị loại bỏ việc quay lại bạo lực nếu điều đó chứng minh là cần thiết hầu mang lại sự tái thống nhất. Trong một bài phát biểu được đưa ra vào ngày 24 tháng Tư 1956, ngày cuối cùng của Phiên họp Toàn thể lần Thứ chín, ông Hồ tuyên bố rằng nhân dân Việt Nam hiểu được “ý nghĩa quan trọng to lớn” của những quyết định được đạt đến ở Moscow, và sức mạnh ngày càng tăng của lực lượng mạnh mẽ của hòa bình thế giới; tuy nhiên, ông ta sau đó dè dặt lại lời tuyên bố đó bằng cách thêm rằng: “Trong khi nhìn nhận rằng cuộc chiến tranh đó có thể bị ngăn chận, chúng ta phải cảnh giác để phát hiện những âm mưu của những kẻ hiếu chiến; miễn là chủ nghĩa đế quốc tồn tại, mối nguy hiểm của chiến tranh tồn tại.” Mặc dù trong một số trường hợp, con đường đến chủ nghĩa xã hội có thể là một con đường hòa bình, ông ta chỉ ra,

p494

chúng tôi nên rõ ràng nhận ra thực tế này: Trong những quốc gia được chọn nơi mà bộ máy nhà nước, lực lượng vũ trang, và cảnh sát an ninh của tầng lớp tư sản vẫn còn mạnh mẽ, giai cấp vô sản phải chuẩn bị cho cuộc đấu tranh vũ trang. Vì vậy, trong khi nhìn nhận khả năng thống nhất đất nước bằng biện pháp hòa bình, nhân dân Việt Nam không nên quên rằng những kẻ thù chính của họ là đế quốc Mỹ và những tay sai(pc 16) của họ vốn là những người vẫn chiếm một nửa đất nước và đang bồn chồn chuẩn bị cho chiến tranh. Vì vậy, trong khi chúng ta sẽ nắm vững nêu cao biểu ngữ hòa bình, chúng ta đồng thời phải tăng cường sự cảnh giác của chúng ta.46

Quan điểm của Hồ Chí Minh được kết hợp thành nghị quyết được chấp thuận vào lúc kết thúc hội nghị, mà qua đó nó nói rõ rằng trong khi một số quốc gia có khả năng tiến lên chủ nghĩa xã hội bằng các biện pháp hòa bình, trong một số trường hợp một cuộc đấu tranh khốc liệt có thể là không thể tránh khỏi, vì vậy tầng lớp công nhân phải chuẩn bị cho một trong hai sự việc bất ngờ. Moscow như thế được đưa vào thông báo rằng mặc dù đồng minh của nó chưa chuẩn bị đối đầu với Khrushchev một cách trực tiếp trên vấn đề chung sống tại hòa bình, nó sẵn sàng, nếu cần thiết, xác định chiến lược của riêng mình để mang đến một giải pháp thành công cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước ở Việt Nam.

* * *

Bằng cách chấp thuận lời tuyên bố của Đại hội lần Thứ hai mươi của ĐCSLX(pc 11) về chính sách mới vể việc chung sống hòa bình, Phiên họp Toàn thể lần Thứ chín bác bỏ dự kiến của Lê Duẩn thực hiện những bước đầu tiên hướng tới việc ứng dụng một chiến lược quân sự hơn ở miền Nam. Bằng cách làm như vậy, tuy nhiên, điều đó không mang đến sự kết thúc cuộc tranh luận trong phạm vi VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) về con đường thích hợp để đi theo ở miền Nam. Một bài xã luận dài vốn xuất hiện trên tờ Nhân Dân vào giữa tháng Bảy lưu ý rằng nhiều người vẫn còn nuôi dưỡng “những ý tưởng và ảo tưởng phức tạp” về vấn đề được đặt ra. Một số người, bài xã luận cho biết, đã từng “đơn giản trong những suy nghĩ của họ” và tin chắc rằng những cuộc bầu cử sẽ được tổ chức. Bây giờ họ đã vỡ mộng và bi quan. Những người khác thì “miễn cưỡng tiến hành một cuộc đấu tranh lâu dài và khó khăn” và tiếp tục hy vọng rằng sự hiệp nhất có thể được đạt đến một cách hòa bình.

Trong số những người đó vốn là những người chắc chắn là bực bội nhất, là những cán bộ miền Nam vốn đã từng được chuyển ra miền Bắc sau hội nghị Geneva(pc 04) để nhận được sự đào tạo và sự truyền bá hệ tư tưởng Mác-xít và chiến thuật cách mạng. Trong một cách để làm giảm bớt sự khó chịu của họ, Hồ Chí Minh đã cố gắng để trấn an họ, qua một bức thư cho công chúng vào tháng Sáu, bằng cách giải thích chính sách chính thức về việc tìm kiếm sự tái thống nhất bằng biện pháp hòa bình. Cuộc đấu tranh, ông ta cảnh cáo, sẽ khó khăn và kéo dài, và có thể không thành công cho đến khi miền Bắc đã được làm mạnh thêm hơn để phục vụ như là một căn cứ mạnh mẽ và đáng tin cậy cho những hoạt động.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 02_ Năm nguyên tắc chung sống hòa bình : là một “Hiệp định (không có sự trao đổi về những công hàm) về thương mại và giao dịch giữa khu vực Tây Tạng của Trung Quốc và Ấn Độ,” –đối với những vùng lãnh thổ tranh chấp Aksai Chin (là một trong hai khu vực biên giới tranh chấp giữa Trung Quốc và Ấn Độ, khu vực khác là Arunachal Pradesh) và Nam Tây Tạng– được ký kết tại Bắc Kinh vào ngày 29 tháng Tư năm 1954. Thỏa thuận này nói rõ nguyên tắc như:

1_ Tôn trọng lẫn nhau vì sự toàn vẹn và chủ quyền lãnh thổ của nhau,
2_ Không xâm lược lẫn nhau,
3_ Không can thiệp lẫn nhau vào công việc nội bộ của nhau,
4_ Bình đẳng và cùng có lợi ích, và
5_ Chung sống hòa bình.

Thỏa thuận nầy được kéo dài đến tám năm. khi nó qua đi, những quan hệ thực sự trở nên chua chát, điều khoản cho sự gia hạn bản hiệp ước đã không được nêu lên, và chiến tranh Trung-Ấn nổ ra giữa hai bên. Tuy nhiên, trong những năm 1970s, Năm Nguyên tắc một lần nữa xuất hiện được xem là quan trọng trong những mối quan hệ Trung-Ấn, và nói chung thêm như là quy tắc tiêu chuẩn của những mối quan hệ giữa các quốc gia. Chúng đã dần được nhìn nhận rộng rãi và chấp nhận khắp khu vực.

pc 03_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 04_ Hiệp định Geneva (Genéve) : là một hiệp ước đình chiến và hòa bình, qua đó Pháp công nhận nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia và tổ chức tổng tuyển cử tự do trong 3 nước nhằm thành lập một chính phủ duy nhất cho mỗi nước. Ngày 21.7.1954, Thiếu tướng Henri Delteil (Pháp) và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tạ Quang Bửu đã ký vào bản Hiệp định đình chiến về Đông Dương (Hiệp định Genève 1954).

_ Mùa hè năm 1953, chính phủ Pháp tìm cách đưa Pháp thoát khỏi cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Tháng 10 năm 1953, thủ tướng Pháp tuyên bố tại Quốc hội, Pháp sẵn sàng chấp nhận giải pháp ngoại giao.
_ Ngày 18/2/1954, hội nghị Tứ cường (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp) ở Berlin (Đức) đã thông qua thông cáo triệu tập hội nghị quốc tế Genève vào ngày 26/4/1954 để bàn giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên và việc lập lại hòa bình ở Đông Dương.
_ Ngày 7/5/1954, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.
_ Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 8/5/1954, Hội nghị Genève về Đông Dương đã chính thức khai mạc. Tham dự hội nghị có 9 đoàn đại biểu, gồm: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Vương quốc Lào, Vương quốc Cam-pu-chia, Quốc gia Việt Nam (Bảo Đại) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
_ Đến cuộc họp cuối ngày 20/7/1954, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) mới chấp nhận lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời giữa hai miền và thời hạn hai năm sau sẽ tổ chức tổng tuyển cử.
_ Trải qua 75 ngày thương lượng với 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp phụ cấp trưởng đoàn; dưới sự chủ tọa của hai đồng chủ tịch là Ngoại trưởng Liên Xô và Ngoại trưởng Anh, Hiệp định Genève về lập lại hòa bình và đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Campuchia và Lào thuộc Đông Dương đã được ký kết vào ngày 21/7/1954.
Gồm 6 chương, 47 điều với nội dung:

1_ Nước Pháp phải rút quân khỏi miền Bắc và Việt Minh rút khỏi miền Nam trong thời hạn 300 ngày.
2_ Ngừng bắn hoàn toàn toàn cõi Đông Dương, lấy sông Bến Hải (Quảng Trị) nằm trên Vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, quân đội Liên hiệp Pháp tập kết về phía nam Vĩ tuyến 17, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) tập kết về phía bắc Vĩ tuyến 17.
3_ Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí, phương tiện chiến tranh mới vào Việt Nam.
4_ Hai bên Việt Nam không gia nhập một liên minh quân sự nào, không bị sử dụng để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ cho một chính sách xâm lược.
5_ Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ 3 nước.
6_ Các bên tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực.
7_ Thành lập và định ra nhiệm vụ, thẩm quyền nguyên tắc trình tự hoạt động cho các ban liên hợp quân sự và các ban giám sát, kiểm soát quốc tế. Một Hội đồng Kiểm soát Quốc tế gồm các nước: Ba Lan, Ấn Độ và Canada sẽ giám sát việc thi hành các điều khoản của Hiệp định, với Ấn Độ làm chủ tịch.
8_ Thường dân có quyền lựa chọn muốn ở miền Bắc hay miền Nam, trong thời gian đó họ được tự do đi lại.
9_ Trao trả cho nhau tù binh và thường dân bị bắt giữ.
10_ Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh.
11_ Sau 2 năm, kể từ ngày ký Hiệp định, hai bên Việt Nam sẽ hiệp thương tiến hành tổng tuyển cử “tự do và dân chủ” để thống nhất đất nước trước tháng 7/1956.

Sau Hiệp định Geneva 1954, Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, và tạo điều kiện để tiếp tục tiến hành cái gọi là cách mạng giải phóng ở Miền Nam Việt Nam –không ngoài mục đích “tô đỏ” chủ nghĩa Cộng sản khắp Việt Nam theo chủ trương từ Liên Xô và Trung Quốc– vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) căn cứ vào bản Tuyên bố chung có ghi về Việt Nam: “Đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới về chính trị hoặc lãnh thổ”
Bản “Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam” bao gồm 6 chương, 47 điều khoản. Ngoài ra, còn có phụ bản kèm theo nói rõ thêm về “giới tuyến quân sự tạm thời, khu phi quân sự và các khu đóng quân tạm thời.”
Mặc dù Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956, Hiệp định không có điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như cách thức tổ chức những cuộc Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc Việt Nam.

pc 05_ CIA : (Central Intelligence Agency) Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ.
pc 06_ CHNDTH : Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
pc 07_ ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt Nam.
pc 08_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.

pc 09_ Thực sự không như tác giả đã viết là “mức độ nghiêm trọng của bản án được gia giảm.” Và càng không thể xem đây là bản án của những người dân đến bào chữa cho một người phụ nữ bị cáo buộc vì tác giả dùng chữ “một bản án” mà không phải là “những bản án” –cho nhiều người dân. Như vậy có nghĩa là theo tác giả người phụ nữ bị cáo buộc được khoan hồng khỏi tội chết và không bị tịch thu tài sản.
Tuy nhiên theo wikipedia (và nhiều nguồn tin khác gần đây) cho biết, sự kiện như được mô tả theo tác giả là sai lầm. Đây chính là một trường hợp tử hình thật sự đối với bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Thanh Long ở Hà Nội, cũng là mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và Trường Chinh, từng bao che họ khỏi sự ruồng bố của chính quyền Pháp và ưu đãi những cán bộ Việt Minh khác khi họ cần nơi tạm trú, ăn uống, và tiền bạc tiêu dùng. Bà ta có đứa con trai lớn giữ chức Trung đoàn trưởng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Việt Nam, và ngay cả trong Tuần Lễ Vàng, gia đình bà ta cũng đã hiến 100 lạng cho chính quyền mới thành lập. Dĩ nhiên, tất cả gia sản đồ sộ của gia đình bà ta đều bị tịch thu toàn bộ và 4 đứa con nhỏ cũng bị tử hình cùng lúc đó.
Ngoài ra, vài trường hợp điển hình được nhắc đến như sau :

_ Trường hợp thiếu tướng Vương Thừa Vũ, tư lệnh Đại đoàn 308, nguyên tư lệnh mặt trận Hà Nội năm 1946, chủ tịch Ủy ban quân quản Hà Nội bị các cán bộ cải cách bắt ở ngoại thành Hà Nội vì có người đấu tố ông là “địa chủ, có xuất thân là tư sản, lập trường chính trị không rõ ràng.”
_ Những cháu nội của cụ Phan Bội Châu, trong đó có một người là Trung đội trưởng, nhà nghèo, chỉ có 3 sào đất cho 3 mẹ con, nhưng cũng bị quy là địa chủ.
_ Đặc biệt, cụ Phó bảng Đặng Văn Hướng, Bộ trưởng phụ trách Thanh-Nghệ-Tĩnh của chính phủ bị đấu tố chết tại quê nhà Diễn Châu.

Theo thống kê chính thức của nhà nước Việt Nam được đăng trong cuốn Lịch sử Kinh tế Việt Nam (tập hai) cho biết là đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông(trong đó có 123.266 người bị quy sai, hơn 70%, tức là bị oan). Theo quan điểm của những người thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, đây là những người bị xếp vào loại kẻ thù của nhân dân, bị “đào tận gốc, trốc tận rễ.” Điều này đồng nghĩa với việc họ sẽ bị tịch thu tài sản.

Về thành phần của con số 172.008 nạn nhân này, bảng thống kê ghi như sau:

_ Địa chủ cường hào gian ác: 26.453 người, trong đó 20.493 người bị oan (77,4%).
_ Địa chủ thường: 82.777 người, trong đó 51.480 người bị oan (62%).
_ Địa chủ kháng chiến : 586 người, trong đó 290 bị oan (49%).
_ Phú nông : 62.192 người, trong đó 51.003 người bị oan (82%).

Tổng cộng: 172.008 người, trong đó 123.266 người bị oan : 71,66%. Số lượng này chưa kể đến thân nhân, gia đình của những người bị quy sai, cũng bị cô lập và đối xử phân biệt. Và nếu tính trung bình một gia đình người Việt có khoảng 4 người, thì con số bị ảnh hưởng qua việc đối xử trong và sau khi công cuộc cải cách ruộng đất là khoảng 688.000 người mà qua đó “vết nhơ không thể gột sạch” ngay trong xã hội lúc bấy giờ mãi còn lưu lại trong cách cư xử lãnh đạm của chủ nghĩa xã hội qua những cán bộ cho đến nhiều thế hệ sau. Dù đây chỉ con số được đưa ra từ nhà nước Việt Nam, dĩ nhiên, con số thực sự luôn luôn có thể cao hơn ít nhất là một nửa con số theo thống kê được biết.
Và đó cũng là cách tiết kiệm cho nền kinh tế lúc bấy giờ đang trong tình trạng lạm phát và thiếu thốn nhiều sản phẩm cơ bản cho sinh hoạt hàng ngày của người dân. Vì với con số cắt giảm phân chia sản phẩm như thế, nhà nước mới có thể duy trì lực lượng quân đội cũng như bộ máy nhà nước với số cán bộ không nhỏ.

pc 10_ Vũ Đình Huỳnh : là một đảng viên Cộng Sản từ thập niên 1930 và là thư ký riêng của Hồ Chí Minh từ 1945, ngoài những việc khác như là cận vệ, giúp việc, lễ tân trang phục. Sau nầy, ông ta chống lại các chủ trương về Cải Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm –vụ đàn áp trí thức Hà Nội– với nghị quyết IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng và cho rằng đảng Cộng Sản đã phản bội quyền lợi đất nước. Mặc dù đã nghỉ hưu từ năm 1964, ông vẫn bị bắt giữ vào tháng Mười năm 1967 và bị biệt giam 6 năm, quản thúc 3 năm, mãi đến năm 1975 mới được thả về và đã mất tại nhà riêng ở Hà Nội 03/05/1990.
Con ông ta là Vũ Thư Hiên (hoặc Vũ Kỳ) không phải đảng viên Cộng Sản nhưng có nhiều năm kề cận bên cạnh Hồ Chí Minh. Lúc đó, Vũ Thư Hiên mới du học từ Nga về, hoạt động trong ngành báo chí và điện ảnh miền Bắc Việt Nam cũng bị bắt giam sau cha ông ta 2 tháng cùng nhiều nhân vật Cộng Sản tên tuổi khác cho tới năm 1976 (khoảng 9 năm tù).
Sau nhiều năm sống dưới sự kiềm chế, Vũ Thư Hiên trốn được sang Nga năm 1991 và mấy năm sau trốn qua Ba Lan, rồi qua Pháp. Cuốn hồi ký “Đêm Giữa Ban Ngày” vốn được hoàn thành trong thời gian này được tác giả xem như lời sám hối của chính cha mình vì đã lầm tin theo Đảng Cộng sản và bỏ cả cuộc đời ông ta đấu tranh cho một mục tiêu mà cuối cùng biến chính mình và đồng bào thành những nạn nhân bị đoạ đày.
Đến ngày 20/02/1994, Phạm Thị Tề, người Hà Nội, 83 tuổi, giáo viên đã nghỉ hưu, và là người vợ của ông Vũ Đình Huỳnh, đã đệ đơn lên nhiều cơ quan nhà nước Việt Nam nhằm yêu cầu đưa ra xét xử công khai vụ án “xét lại chống đảng” cho chồng và con.

pc 11_ ĐCSLX : Đảng Cộng sản Liên Xô
.
pc 12_ Theo tác giả, danh từ “Bác Hồ” theo vai vế người bác, được phổ cập vào khoảng đầu tháng Tư năm 1965, sau khoảng 2 tháng từ Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần Thứ hai mươi vào tháng Hai năm 1965, với sự có mặt của phái đoàn đại biểu Việt Minh, khi vị đương kim Chủ tịch mới là Nikita Khrushchev đã lên tiếng chỉ trích về Stalin về cái gọi là “tôn giáo sùng bái cá nhân.” Nhưng trên thực tế, những hành động sùng bái hoặc thần thánh hóa cá nhân ông Hồ đã từng lan rộng khắp dân cư miền Bắc từ lâu và gần như biến thành một tập tục phải có trong đời sống mọi người không phân biệt tuổi tác.
Có nghĩa là danh từ tôn xưng “Bác Hồ” đã tập nhiễm vào quần chúng trước năm 1965.

pc 13_ 1 công đất = 1.000 m2 (ở Nam Bộ) = 497 m2 (ở Trung Bộ) = 360 m2 (ở Bắc Bộ)

1 mẫu (hecta = ha ) đất = 10 công (sào) đất

Với 1 mẫu Anh đất = 4046.86 m2, vậy 2.000.000 triệu mẫu Anh đất là 8.093.720.000 m2 nếu được qui ra mẫu đất theo Bắc Bộ là 2.248.255 ha đất.
Vậy theo tác giả, mỗi người dân được chia phần khoảng 2,5 ha đất. Trong khi đó, theo luật cải cách ruộng đất của nhà nước miền Bắc lúc bấy giờ, người dân nào có 2 ha đất cũng bị kết tội là địa chủ trung lưu và sẽ bị đấu tố, hành quyết hoặc bỏ tù (trong một ít trường hợp), và toàn bộ tài sản đều bị tịch thu ngay cả cái chén (bát, theo Bắc Bộ) ăn cơm cho đến gia súc, tài vật quý giá.

pc 14_ Đoạn thơ nổi tiếng của Trần Dần :

“Tôi bước đi không thấy phố, không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”

pc 15_ ĐCSTQ : Đảng Cộng sản Trung Quốc
.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s