XV- Tất Cả Cho Những Tuyến Đầu (Phần 1)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p515

XV- TẤT CẢ CHO NHỮNG TUYẾN ĐẦU

Với quyết định được đạt đến tại Phiên họp Toàn thể lần Thứ mười năm vào tháng Giêng năm 1959, ban lãnh đạo Đảng đã thực hiện một cam kết chính thức từ bỏ chính sách chờ đợi theo dõi của nó và bây giờ đặt việc tái thống nhất với miền Nam như là một vấn đề ưu tiên cao nhất. Tuy nhiên, cho đến bây giờ không có sự đồng thuận về điều gì chính sách mới sẽ đòi hỏi một cách chính xác. Một số người tìm cách chiến thắng qua một chiến lược kết hợp về cuộc đấu tranh chính trị và quân sự như thể đã tửng được ứng dụng trong cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Những người khác dự đoán rằng điều cần thiết có thể là trở lại kiểu cách của cuộc xung đột quân sự trực tiếp vốn đã từng được ứng dụng trong suốt cuộc chiến chống Pháp sau này.

Trong lúc này, đã có quá nhiều câu hỏi chưa được giải quyết để soạn thảo một chiến lược cụ thể. Liệu chế độ Diệm sẽ sụp đổ dưới sức nặng của sự bất tài và tham nhũng của riêng nó; liệu Hoa Kỳ sẽ phản ứng đối với sự suy yếu của đồng minh mình ở Sài Gòn bằng leo lên vai trò của riêng nó; liệu những nước bảo trợ của Hà Nội sẽ chứng minh thiện chí để ủng hộ hiệp mới của cuộc xung đột ở Đông Dương –tất cả những điều nầy vẫn chưa được xác định. Cho đến khi những câu hỏi như thế có thể được trả lời, những lãnh đạo Đảng đình hoãn cuộc tranh luận nội bộ trên những chi tiết cụ thể và thỏa hiệp với cách giải quyết mà trong thời gian hiện thời nó chỉ đơn giản được gọi là “chiến tranh cách mạng.” Như Lê Duẩn, vốn là người lúc bấy giờ đang nổi lên như là một chiến lược gia hàng đầu trong Bộ Chính trị, mô tả nó, lực lượng cách mạng ở miền Nam trong thời điểm này nên tiếp tục dựa chủ yếu vào các kỹ thuật của cuộc đấu tranh chính trị, trong khi dần dần mở rộng những vùng căn cứ của họ và xây dựng sức mạnh quân sự của họ nhằm mục đích thúc đẩy phong trào về phía trươc.1

Sự quyết định của Hà Nội nhằm hạn chế vai trò của bạo lực vũ trang ở miền Nam được thúc đẩy một phần bởi mong muốn tránh sự mất mát quá nhiều sinh mạng và tài nguyên huyết mạch. Nhưng cũng có những yếu tố khác, bao gồm những những cố gắng thuyết phục của những đồng minh của nó là không nên gây nguy hiểm cho hòa bình thế giới. Trong suốt mùa hè năm 1958, Hồ Chí Minh đã tham khảo ý kiến ​​với Mao Zedong (i.e. Mao Trạch Đông) tại nơi ẩn cư thuộc bãi biển hè của Ông Mao ở Beidaihe(pc 02)

p516

về việc VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) nên tiến hành như thế nào trong cuộc đấu tranh của nó nhằm thống nhất hai Việt Nam. Ông Mao đã trả lời rằng theo quan điểm của ông “nhiệm vụ cấp bách nhất” vào thời điểm này là hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đối với Beijing, miền Nam thì chưa chín muồi cho sự thay đổi cách mạng. Trong khi đó, Ông Mao tin rằng lực lượng bất đồng chính kiến ​​ở đó nên xây dựng sức mạnh chính trị và quân sự của họ trong sự chuẩn bị cho một cơ hội trong tương lai nhằm đạt được một bước nhảy vọt lớn về phía trước..2

Tuy nhiên, quyết định được đạt đến tại Phiên họp Toàn thể lần Thứ mười lăm vào tháng Giêng năm 1959 cũng phản ánh mối quan tâm đang phát triển của Hà Nội trên mối đe dọa về sự can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ ở miền Nam. Kể từ khi thay thế Pháp như là nước bảo trợ chính của chế độ ở Sài Gòn, chính quyền Eisenhower đã cho thấy không có dấu hiệu nào là nó sẵn sàng từ bỏ cố gắng của nó ngăn chặn sự việc thống nhất của hai vùng. Không chỉ Washington theo đuổi mối đe dọa xây dựng cơ sở chống-Cộng-sản vững chắc ở miền Nam (được công bố bởi Ngoại trưởng Dulles ngay sau khi hội nghị Geneva), mà nó còn đã chỉ ra rằng những quốc gia mới ở Đông Dương sẽ được che chở trong những hiệp đính mới của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á(pc 03) (SEATO = Southeast Asia Treaty Organization) được tạo ra ở Manila vào năm 1954. Mặc dù Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) không phải là một thành viên của tổ chức, một điều khoản trong điều lệ thành lập tuyên bố rằng trong trường hợp của một cuộc tấn công vũ trang vào miền Nam Việt Nam, Lào, hoặc Cam-pu-chia, mỗi thành viên của SEATO sẽ “hành động để đương đầu mối nguy hiểm chung theo quy định với những quá trình hiến pháp.”

Trong thời gian hiện thời, sau đó, có những lý do đáng thuyết phục cho những lãnh đạo Đảng phải thận trọng trong cách giải quyết của họ đối với miền Nam. Thậm chí Lê Duẩn, có lẽ là thành viên quyết chiến nhất của Bộ Chính trị, đã bày tỏ riêng về quan điểm của mình rằng chiến lược được áp dụng đối với người Pháp đã từng tập trung quá mức vào những hoạt động quân sự và không nên được lặp lại. Trong suốt thời gian còn lại của năm 1959, những chuẩn bị thận trọng đang diễn ra nhằm tiến tới giai đoạn kế tiếp của cuộc đấu tranh. Những đám nhỏ của “những người tập kết” –những thanh niên Việt Nam vốn đã được sinh ra và lớn lên ở miền Nam nhưng sau đó được chuyển ra miền Bắc sau hội nghị Geneva cho việc huấn luyện về kỹ thuật của vũ khí chiến tranh cách mạng– bây giờ được lệnh trở lại miền Nam để tạo nên cuộc nổi dậy ở đó cùng những hạt nhân vững chắc của những cán bộ có kinh nghiệm và trung thành.(pc 04) Trong số khoảng 90.000 người tị nạn vốn là những người đã đến miền bắc vào năm 1954, phần lớn những người hiến dâng nhất đã từng nhận được huấn luyện tại Trường Đào tạo Xuân Mai gần Hà Nội trong việc chuẩn bị cho sự trở lại có thể có của cuộc chiến cách mạng ở miền Nam. Như một người được huấn luyện sau đó bình luận:

Đó là một thời gian rất thú vị cho chúng tôi ở miền bắc Việt Nam. Chúng tôi đã luôn luôn là những người chiến đấu mạnh mẽ cho Việt Minh, và chúng tôi luôn luôn ngưỡng mộ Hồ Chí Minh và những lãnh đạo khác của Việt Minh.

p517

Chuyến đi đến miền Bắc Việt Nam thì rất khó khăn và rất dài, nhưng chúng tôi đã không từng phàn nàn, bởi vì chúng tôi biết những khó khăn là vì cách mạng.
Việc đào tạo của chúng tôi ở miền Bắc Việt Nam cũng khó khăn. Đôi khi thức ăn thì không tốt. Đôi khi chúng tôi rất cô đơn và muốn về nhà và thăm gia đình và bạn bè của chúng tôi. Nhưng chúng tôi học được sau một thời gian là không nên cảm thấy cô đơn, và học hỏi tìm thấy sức mạnh trong cuộc đấu tranh cách mạng của chúng tôi. Chúng tôi đã học được là không nghĩ nhiều về gia đình mình thêm nữa. Chúng tôi học cách không nhớ gia đình của chúng tôi thêm nữa –giống như Hồ Chí Minh.3

Những người tập kết được đưa xâm nhập lại vào trong miền Nam Việt Nam, thường là trong nhóm 40 đến 50, đi bằng xe tải vào trong những vùng núi của Nam Lào và sau đó tiếp tục đi bộ trên những đường rừng mòn vốn thông qua khu phi quân sự về phía đông. Trên chuyến đến miền Nam Việt Nam của họ, họ được giao cho những vị trí hàng đầu trong phạm vi bộ máy miền Nam của Đảng. Một đơn vị có danh hiệu là Binh đoàn 559 (cái tên đến từ tháng Năm 1959, ngày tạo ra của nó) được chỉ thị xây dựng một hệ thống của những con đường mòn để vận chuyển bộ đội, vũ khí, và vật dụng từ Bắc vào Nam. Những con đường mòn –phần nhiều trong số đó đã từng được dọn mở trước đây từ trong khu rừng trong suốt chiến tranh chống Pháp–(pc 05) cuối cùng sẽ được biết đến đối với thế giới như là Đường mòn Hồ Chí Minh. Một đơn vị thứ hai, được gọi là Binh đoàn 759, được lệnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và nhân viên bằng tàu xuống bờ biển Đông dài và tương đối thiếu phòng thủ. Những vật dụng được mang vác bởi các đơn vị đặc biệt được gọi là Bộ đội Trường Sơn (Trung dãy núi Quân đội). Ban đầu, họ mang dụng cụ đi bộ hoặc xe đạp; sau nầy những con đường mòn được mở rộng để sử dụng cho việc giao thông xe tải. Thường là khó đi qua. Như một người bình luận, “càng về phía nam xa hơn chúng tôi đi, càng tồi tệ hơn tình hình của chúng tôi trở nên. Cuối cùng, chúng tôi phải giảm xuống một ít ký gạo, mà chúng tôi quyết định để dành cho cảnh túng quẩn cùng cực cuối cùng. Trong hai tháng, chúng tôi ăn cái gì chúng tôi có thể tìm thấy trong rừng già –những chiếc lá, rễ cây, thú vật, chim rừng.”

Theo một một lời tường thuật khác:

Lúc đầu chúng tôi đi bộ khoảng tám giờ một ngày. Nhưng đối với việc leo trèo và những khu rừng, làm chậm chuyến đi. Khi nào và nơi nào chúng tôi nghỉ ngơi, phụ thuộc vào người hướng dẫn và người chỉ huy của chúng tôi. Bất kỳ nơi nào mà không có trở ngại và an toàn sẽ đươc. Nhưng ngay cả những trạm đường thì không giống như một số điểm dừng chân trong thành phố. Không có gì để che chắn bạn khỏi mưa, không có giường ngủ. Bạn chỉ cần treo lên cái võng của bạn và ngủ trong nó.
Những trạm đường được thành lập bởi người đi trước của chúng tôi trên đường mòn. Họ đáng lý ra cung cấp cho chúng tôi thức ăn và nước uống.

p518

Nhưng họ thường mất mạng sớm. Vì vậy, mỗi cá nhân học cách tiết kiệm thức ăn và nước uống của riêng chúng tôi. Càng xa hơn chúng tôi đi tiếp, càng tồi tệ hơn cái đói chúng tôi phải đối mặt. Khi lương càng lúc khan hiếm hơn, tình đồng chí bị phá vỡ. Người ta trở nên càng lúc càng có chủ ý nhiều hơn về việc cứu lấy mạng mình.4

Thông tin về những quyết định được đạt đến tại Phiên họp Toàn thể lần Thứ mười lăm vào tháng Giêng năm 1959 và được xác nhận qua việc thông qua Nghị quyết 15 vào tháng Năm đã không thực sự đến được những người chỉ huy cuộc nổi dậy ở miền Nam cho đến cuối mùa hè. Đối với nhiều người, tin tức chắc chắn được hoan nghên, kể từ khi chế độ Diệm vừa mới bắt đầu tăng cường những cố gắng của nó nhằm đàn áp phong trào cách mạng bằng phương tiện của một bộ chỉ thị mới được biết đến như là Luật 10/59,(pc 06) mà qua đó ban cho lực lượng an ninh Sài Gòn thẩm quyền được tóm bắt và trừng phạt phe đối lập. Trong suốt thời gian còn lại trong năm, những tòa án lưu động lưu hành khắp cả đất nước, buộc tội, kết án, và đôi khi hành hình những cá nhân bị nghi ngờ về những kết nối chính trị với Hà Nội. Bởi vì những gia đình nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long có mật độ dân cư đông đảo, bây giờ ngày càng bị dồn lại vào trong những ấp chiến lược được phòng vệ chặt chẽ, những du kích binh có rất ít sự tiếp cận đến dân cư nông thôn.

Bị đẩy đến mức tuyệt vọng, những lãnh đạo cuộc nổi dậy cố gắng đáp trả. Vào cuối tháng Tám, những đám đông dân làng ở những vùng khốn khó nghèo nàn dọc theo chân dãy núi của tỉnh Quảng Ngãi tập trung phản đối những cuộc bầu cử sắp đến cho Quốc hội VNCH,(pc 07) mà qua đó, theo quan điểm của những lãnh đạo Đảng ở Hà Nội, là một chính phủ bất hợp pháp. Những người biểu tình, vốn là những người được ủng hộ bởi lực lượng Việt Minh đang hoạt động trong khu vực, tạm thời chiếm giữ mười sáu ngôi làng ở huyện Trà Bồng, một vùng đồi núi trên sườn phía đông của vùng Cao Nguyên, và mau tạo ra một vùng giải phóng bao gồm khoảng năm mươi ngôi làng với dân số nhiều hơn 1.000 người.

Năm tháng sau đó, một cuộc nổi dậy lần thứ hai nổ ra, lần này ở tỉnh Kiến Hòa (được biết đến đối với những người ủng hộ Việt Minh bằng cái tên Bến Tre trước đây của nó) ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long. Dân cư địa phương đã từng có cảm tình đối với sự nghiệp cách mạng kể từ khi cuộc chiến chống Pháp, khi những người hoạt động Việt Minh đã chiếm giữ các đồng ruộng của những chủ đất theo Pháp và phân phối chúng cho người nghèo.(pc 08) Sau Hiệp định Geneva,(pc 09) những chủ đất đã trở lại, và với sự ủng hộ của đội quân chính phủ, lấy lại những đất đai của họ, đôi khi sau những màn trả thù khắc nghiệt (bao gồm việc bị bắt và cầm tù) chống lại những người chiếm giữ trước đó. Vào tháng Giêng năm 1960, lực lượng tự vệ địa phương dưới sự chỉ huy của Việt Minh bất ngờ tấn công tiền đồn của chính phủ và với sự trợ giúp của những dân cư địa phương chiếm đóng hàng chục ngôi làng. Những cán bộ Đảng đã cẩn thận lên kế hoạch hoạt động, những người có cảm tình cách mạng được trang bị bằng những cây giáo hoặc súng trường bằng gỗ để làm hoảng sợ kẻ thù

p519

và gởi đi những đơn vị được cải trang như là đội quân miền Nam Việt Nam đến các ngôi làng khác nhau vây bắt chính quyền quản trị. Sau đó, như một người tham gia mô tả,

Vào thời điểm nào đó sau 9:00 tối, tôi vừa mới đến [trụ sở] văn phòng thường trực khi tôi nghe âm thanh của những cái trống và khúc gỗ đang vang vọng từ làng nầy đến làng khác và đang vang dội mọi nơi, được theo sau bằng những tiếng hò hét hân hoan của nhân dân… Khi đêm đến, âm thanh của những cái trống và cái mõ tăng thêm và càng lúc không ngớt như là thúc giục mọi người đứng lên. Đây là tín hiệu chiến đấu của nhân dân đang được truyền đi khắp mọi nơi… Đột nhiên có một tiếng hét: “Binh đồn đang bắt lửa, và nó đang cháy nhanh!”

Lực lượng bao vây những binh đồn đã được lệnh đốt sạch bất kỳ đồn trú nào họ chiếm được. Nhân dân tức thời xé nát những lá cờ, và đốt cháy những tấm bản mang số nhà và sổ gia cư của họ. Trên những con đường, những dân làng đốn ngã những cây cối  để dựng lên các rào cản và ngăn chận sự di chuyển của kẻ thù… Tất cả đồn trú bị bao quanh bởi người dân vốn đã từng lên tiếng kêu gọi những người lính qua tù và. Đó là một đêm sấm sét kinh hoàng đánh vào kẻ thù trên đầu của họ. Bị tấn công bất ngờ, họ sợ hãi đến mất khôn và vẫn ở yên trong những cái đồn.5

Nhịp độ đang gia tăng của kháng chiến vũ trang ở miền Nam Việt Nam tạo ra những vấn đề cho ban lãnh đạo Đảng ở Hà Nội, vốn vẫn quan tâm về những nhánh của cuộc xung đột rộng lớn hơn. Trong một cố gắng rõ ràng để trấn an những đồng minh của Hà Nội, Lê Duẩn tuyên bố trong bài phát biểu tháng Tư rằng sự kiện đó là điều quan trọng để hạn chế bạo lực cách mạng đối với miền Nam. Ông Duẩn thừa nhận rằng điều cần thiết để giữ hòa bình trên thế giới và thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) đã tạo ra “những sự phức tạp” cho cuộc cách mạng ở miền Nam Việt Nam, nhưng ông ta vẫn cho rằng về lâu dài những yếu tố này sẽ tạo nên lợi thế về sự nghiệp thống nhất quốc gia.6

* * *

Trong khi đó, Hồ Chí Minh đóng vai trò thông thường của mình như là nhà lãnh đạo ngoại giao của VNDCCH (Bắc Việt) bằng cách dự vào phần nổi bật trong cố gắng giành lấy sự ủng hộ từ những đồng minh của Hà Nội cho một kết quả đạt được việc tái thống nhất đất nước. Đó là thời điểm sự căng thẳng đang gia tăng trong phạm vi khối Xô Viết vì sự chia rẽ đang mở rộng giữa Trung Quốc và Liên Xô trên chiến lược toàn cầu. Như là một dấu hiệu không hài lòng của nó đối với thái độ bất hợp tác của Beijing, Moscow vừa mới từ chối một yêu cầu chính thức từ Trung Quốc về mẫu quả bom nguyên tử, như đã được hứa hẹn trong một thỏa thuận hỗ tương một ít năm trước đây. Trong tương lai, Bắc Việt sẽ học hỏi làm cách nào để đóng vai một đồng minh chống lại đồng minh khác,

p520

nhưng trong những giai đoạn đầu của cuộc tranh chấp nầy, họ bắt phải cầu xin những đổng minh của mình vì sự đoàn kết anh em. Vào đầu tháng Bảy năm 1959, Hồ Chí Minh đi đến Moscow cho những cuộc hội đàm với những lãnh đạo Sô-Viết. Trước khi chuyến khởi hành của ông ta từ Hà Nội, ông ta đã cảnh cáo Bộ Chính trị rằng cuộc đấu tranh ở miền Nam sẽ khốc liệt và phức tạp. Ông ta cũng cảnh cáo chống lại thái độ của chủ nghĩa phiêu lưu mù lòa.7

Đó không phải là thời gian thuận lợi cho những cuộc thảo luận ở Moscow về việc bắt đầu lại cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam Việt Nam; Nikita Khrushchev đang chuẩn bị cho chuyến đi tháng Chín đến Hoa Kỳ và ngần ngại mạo hiểm gây thù nghịch với Washington trên vấn đề dính líu tới Moscow bên ngoài. Liên Xô đã công bố một hiệp ước viện trợ dài hạn nhằm thúc đẩy nền kinh tế VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), nhưng về vấn đề tái thống nhất đất nước những lãnh đạo của Liên Xô ít sẵn sàng. Những bài phát biểu của Khrushchev và Kliment Voroshilov trong suốt chuyến thăm của ông Hồ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện một cách hòa bình những điều khoản của Hiệp định Geneva.(pc 09)

Sau cuộc họp của ông Hồ với những lãnh đạo Sô-Viết, ông ta vẫn ở lại Moscow một thời gian ngắn cho việc kiểm tra sức khoẻ (ông ta được cho biết rằng ông ta trong tình trạng sức khoẻ tốt hơn so với năm trước) và sau đó bắt tay vào một vòng du lịch nhàn nhã qua các nước cộng hòa châu Âu của Liên Xô, đi qua Ukraine, Crimea, một phần đất Caucasus. Vào cuối tháng Bảy, ông ta đi du hành bằng xe lửa qua Trung Á đến Alma-Ata, thủ đô của Cộng hòa Sô-Viết Kazakhstan. Vào ngày 1 tháng Tám, ông ta đã bay từ đó đến Ürümqi, trong tỉnh Xinjiang(i.e. Tân Cương) của Trung Quốc.(pc 10)

Ông Hồ đã thêm thời gian ở lại Liên Xô của mình vì Ủy ban Trung ương của Đảng Cộng sản Trung Quốc đang tụ tập cho một cuộc họp quan trọng, và như thế sẽ không có thể gặp gỡ ông Hồ cho đến sau đó. Cuộc họp được triệu tập tại Lushan (i.e. Lư Sơn), một khu nghỉ mát thuộc vùng núi ở phía nam Trung Quốc, để giải quyết sự bất hòa đang phát triển trong ban lãnh đạo Đảng, được bùng lên một phần bởi chương trình Đại Nhảy Vọt đầy thảm họa. Được phát động năm trước với mục tiêu gia tăng sản xuất lương thực và đẩy nhanh công cuộc xã hội chủ nghĩa hóa nông thôn, chiến dịch đã gặp phải sự kháng cự lan rộng từ giới nông dân và gây ra kết quả một nạn đói khổng lồ ở những khu vực nông thôn. Tại hội nghị Lusahn, Bộ trưởng Quốc phòng Peng Dehuai (i.e. Bành Đức Hoài), vị chỉ huy của Lực lượng Quân đội Nhân dân Giải phóng trong cuộc xung đột Triều Tiên, chọc giận Mao Zedong (i.e. Mao Trạch Đông) bằng cách chỉ trích chương trình Đại Nhảy Vọt vì tác động bi thảm của nó trên nền kinh tế Trung Quốc. Ông ta cũng bảo vệ mối quan hệ quân sự của Trung Quốc với Liên Xô chống lại những người vốn sẽ thay thế nó bằng chính sách tự lực. Đối với sự cả gan của mình, ông Peng đã bị sa thải khỏi chức vụ mình và được thay thế bằng Thống chế Lin Biao (i.e. Lâm Bưu), một quan chức quân sự cao cấp vốn là người đã từng chỉ huy đội quân Trung Quốc trong suốt cuộc Nội Chiến và bây giờ là một trong những đồng minh thân cận nhất của Mao Zedong.

Hồ Chí Minh vẫn ở Ürümqi một ít ngày và sau đó theo đường của mình từ từ về hướng đông bằng xe lửa đến thủ phủ Xi’an (i.e. Tây An thuộc tỉnh Thiểm Tây) nơi mà, khi vào thu năm 1938, ông ta lại một lần nữa đóng vai trò khách du lịch. Ông ta cuối cùng đến Beijing vào ngày 13 tháng Tám.

p521

Bởi vì Ông Mao vẫn chưa trở lại thủ đô, ông Hồ gặp gỡ với Zhou Enlai (i.e. Chu Ân Lai) và Liu Shaoqi (i.e. Lưư Thiếu Kỳ), là người đã thông báo cho ông ta rằng chưa từng có sự thay đổi nào trong quan điểm của Trung Quốc mà qua đó những hoạt động kháng chiến ở miền Nam Việt Nam nên được hạn chế đến những hình thức chính trị và ở mức độ thấp của cuộc đấu tranh bán quân sự, mặc dù họ đã thực sự chấp thuận quyết định của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) dùng đến chiến lược chiến tranh cách mạng. Ông Hồ trở lại Hà Nội vào ngày hai mươi sáu.8

Hồ Chí Minh có thể không được hài lòng với những kết quả kém cỏi của chuyến đi dài của mình ở nước ngoài. Không cả Moscow hoặc cũng không cả Beijing đã từng bày tỏ sự cảm thông có vẽ lịch sự hơn về sự thất bại của Hiệp định Geneva,(pc 09) cũng như họ cho thấy bất kỳ sự ủng hộ vững chắc nào cho quyết định của Hà Nội dùng đến chính sách bạo lực cách mạng để hoàn thành nhiệm vụ tái thống nhất đất nước. Ông ta ắt hẵn tức điên lên vì cách đối xử ông ta ở Trung Quốc, nơi mà Mao Zedong(pc 11) đã thậm chí chằng phiền trở về thủ đô để đón chào ông ta. Nhưng ông Hồ quen thuộc với sự hạ mình trước vai trò của những đồng chí Trung Quốc, và trong những nhận xét với các cộng tác viên của mình, ông ta thỉnh thoảng nhắc đến Mao Zedong một cách châm biếm như là “vị Hoàng đế Thiên triều.” Trong bất kỳ trường hợp nào, việc xem thường chẳng bao lâu được tạm dàn xếp. Mùa thu đó, ông ta dẫn đầu một đoàn đại biểu chính thức đến Beijing để mừng ngày kỷ niệm lần thứ mười của việc thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH). Sau cuộc gặp gỡ với người bạn cũ và là ân nhân của mình, Madame Soong Ching-ling (i.e. Bà Tống Khánh Linh), ông Hồ bàn bạc với Mao Zedong(pc 11) vào ngày 03 tháng Mười và trở về nước ngày hôm sau. Trong một bài viết trên tờ Nhân Dân tháng đó, ông Hồ cố gắng thuyết phục những đồng bào mình học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc và đời đời nhớ ơn sự ủng hộ của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh Việt Nam giải phóng đất nước.9

* * *

Trong khi Hồ Chí Minh đang tham khảo ý kiến ​​với những đồng minh của Hà Nội về chính sách đối ngoại, những cộng tác viên của ông ta bận tâm với những mối quan tâm trong nước. Kế hoạch ba-năm được nhắm đến mục đích xây dựng những nền tảng của một xã hội thuộc xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đang diễn ra và nói chung đã từng tiếp diễn mà không có bạo lực và xích mích về chương trình cải cách ruộng đất. Sự vắng mặt tương đối của bạo lực cực kỳ vốn đi kèm với chiến dịch tập thể hóa chắc chắn làm hài lòng Hồ Chí Minh, là người cố gắng thuyết phục những cộng tác viên mình tránh sự áp bức và sử dụng “những phương pháp dân chủ” để truyền bá cho dân cư nông thôn về tính siêu việt của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Ông Hồ thì tương tự như van lơn rằng sự thuyết phục hơn là cưỡng bức được sử dụng ở những khu vực đô thị, nơi mà khu vực kỷ nghệ và thương mại đang được vững vàng đặt dưới quyền sở hữu của nhà nước hoặc tập thể. Trong một cuộc họp được dành cho sự chỉnh sửa Đảng, ông Hồ đưa ra vấn đề với quan điểm được thể hiện bởi một số dân quân mà qua đó giai cấp tư sản là kẻ thù tự nhiên của cuộc cách mạng xã hội ở miền Bắc Việt Nam, qua cách lập luận rằng giai cấp tư sản đã từng gia nhập hàng ngũ của quần chúng

p522

và có thể được được chuyển đổi một cách ôn hòa và tự nguyện thành những thành viên hữu ích của giai cấp lao động. Những lời nói của ông Hồ có tầm quan trọng như thế nào trong phạm vi những hội đồng của Đảng, tuy nhiên, thì khó mà xác định. Ảnh hưởng của ông ta trên những quyết định liên quan đến những công việc nội bộ đã suy yếu một cách đáng kể, và những lãnh đạo cao cấp của Đảng đã quyết định rằng ông ta sẽ dành phần lớn thời gian của ông ta cho những mối quan tâm về chính sách đối ngoại và vấn đề tái thống nhất đất nước.10

Đến cuối năm 1959, hầu hết nền kinh tế đô thị và nông thôn ở VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) đã được chuyển đổi theo những đường lối xã hội chủ nghĩa, và những lãnh đạo Đảng chuyển sự chú ý của họ đến bước kế tiếp –kế hoạch năm-năm, theo kiểu Liên Xô, để bắt đầu quá trình kỷ nghệ hóa xã hội chủ nghĩa. Không chỉ kế hoạch này sẽ đòi hỏi một cố gắng lớn, nó sẽ diễn ra cùng với một sự leo thang của cuộc đấu tranh ở miền Nam, do đó, những lãnh đạo Đảng quyết định rằng Đại hội quốc gia Đảng nên được triệu tập để cung cấp một nền tảng cho cuộc thảo luận công khai về kế hoạch và biện pháp để bảo đảm việc phê duyệt nó. Vào tháng Mười năm 1959, những chuẩn bị cho Đại hội, diễn ra vào thời điểm nào đó trong cuối mùa hè hoặc thu năm 1960, đang được tiến hành.

Trong khi đó, những căng thẳng giữa các đồng minh chính của Hà Nội gia tăng lên. Tại Đại hội của Đảng Cộng sản Romani vào tháng Sáu năm 1960, cuộc tranh chấp Trung-Sô trong lần đầu tiên nổ ra thành công khai đến một thế giới bị choáng váng, được phát khởi bởi những cuộc tấn công cay đắng phải thốt lên bởi các đại biểu ở cả hai bên. Sau đại hội, Moscow ra lệnh nhiều cố vấn của mình ở Trung Quốc để trở về nhà. Những đại diện Việt Nam ở Bucharest có lẽ đã không được báo cho biết về những ý định của Khrushchev tại Đại hội, và vẫn giữ im lặng phần lớn trước những cuộc tấn công của Liên Xô vào những quan điểm của Trung Quốc liên quan đến chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh toàn cầu; Lê Duẩn, vị đại biểu cao cấp của Đảng Lao động Việt Nam (ĐLDVN) tại hội nghị, đưa ra lời tuyên bố ngắn ủng hộ đường lối Trung Quốc mà đế quốc Hoa Kỳ đang cố gắng để khích động một cuộc chiến tranh thế giới mới.(pc 17)Nhưng Hà Nội chưa sẵn sàng để chọn phe nào trong cuộc tranh chấp, vốn phản ành sự phân cách ngày càng tăng giữa Moscow và Beijing trên chiến lược được ứng dụng bởi các nước xã hội chủ nghĩa trong Chiến tranh Lạnh. Bài xã luận của tờ Nhân Dân được ấn hành sau khi hội nghị chấm dứt đã bỏ qua những vấn đề được nêu lên ở đó và cảnh cáo rằng việc thiếu sự đoàn kết Cộng sản có thể làm tổn thương một cách tồi tệ cho Đảng và sự nghiệp tái thống nhất Việt Nam.

Hà Nội cố gắng một cách tuyệt vọng để giữ cuộc tranh chấp không gây nên thiệt hại những lợi ích an ninh riêng của mình, và bản thân Hồ Chí Minh dùng mọi cơ hội để ra vẻ vô tư trong những giao dịch với Moscow và Beijing. Tháng Năm đó, ông ta đã bay đến miền Nam Trung Quốc để làm lễ kỷ niệm ngày sinh nhật thứ 70 của mình và ở lại nghĩ trong một ít ngày. Ngay sau khi chuyến trở về của ông ta, một bài viết ủng hộ “những chính sách đúng đắn” của Moscow xuất hiện dưới tên của ông ta trên tờ Nhân Dân. Vào tháng Tám, ông ta đã thực hiện một chuyến thăm âm thầm đến Moscow và Beijing, nơi mà ông ta chắc chắn cố gắng trấn an cả hai ông chủ của mình

p523

liên quan đến những ý định của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) ở miền Nam Việt Nam, trong khi đồng thời thúc giục họ làm mọi cố gắng để hòa giải những sự khác biệt của họ.

Đại hội Quốc gia lần Thứ ba của ĐLDVN,(pc  16) Đại hội đầu tiên được tổ chức kể từ Đại hội kháng chiến ở Việt Bắc vào đầu năm 1951, được triệu tập ở Hà Nội vào ngày 05 tháng Chín năm 1960. Tham dự có 576 đại biểu đại diện cho hơn nửa triệu Đảng viên ở cả hai miền. Như là vị Chủ tịch Đảng, ông Hồ đưa ra bài phát biểu khai mạc, trong đó ông ta có đề cấp thoáng qua những sai lầm trong quá khứ (Đảng, ông ta chỉ ra, đã từng tích cực sửa sai những thiếu sót của nó và không “say sưa với sự thành công”), nhưng ông ta dành phần lớn bài nói chuyện của mình về tương lai, bằng cách tuyên bố rằng nhiệm vụ quan trọng trong vài năm tới là dẫn dắt miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa. Sự bảo đảm chiến thắng tốt nhất cho cuộc cách mạng Việt Nam, ông ta nhấn mạnh, là “dốc mình trong học thuyết Marx-Lenin, vẫn giữ sự trung thành với những lợi ích của giai cấp lao động và nhân dân, và giữ gìn sự đoàn kết và hiệp nhất trong Đảng, giữa tất cả những đảng phái Cộng sản, và tất cả các nước gia đình xã hội chủ nghĩa to lớn.” Ông ta  tương đối không nói nhiều về miền Nam –mà ông ta mô tả như là “bức tường đồng của tổ quốc”– ngoại trừ lưu ý rằng Đảng hy vọng sẽ đạt được sự tái thống nhất bằng biện pháp hòa bình.”11

Bài diễn văn của ông Hồ vang tiếng ở Đại hội; phần lớn sự chú ý được dành cho việc ban ra sự phê duyệt chính thức đối với kế hoạch mới năm-năm để đặt cơ bản cho một xã hội tiên tiến về kỷ thuật và hoàn toàn chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh tái thống nhất đất nước thì không có cách nào bỏ qua;(pc 18) trong nghị quyết được ban hành vào lúc kết thúc cuộc họp, nó được quy định tương đương với việc ra dự luật với những mục tiêu trong nước của Đảng trong năm năm tới. Nhưng rõ ràng rằng những lãnh đạo Đảng vẫn không đạt được một sự đồng thuận về làm cách nào tiến hành ở miền Nam. Trong bài báo cáo chính trị của mình đến Đại hội, Lê Duẩn có một số đề cập đến tình hình, nhưng ông ta tránh những chi tiết cụ thể, bằng cách chỉ lưu ý rằng mà đó sẽ là “một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ, không đơn giản nhưng phức tạp, kết hợp nhiều hình thức đấu tranh,” đòi hỏi tính linh hoạt và sự di chuyển từ những hình thức hoạt động hợp pháp đến bất hợp pháp.(pc 19)Công cụ chính yếu, ông ta tuyên bố, sẽ là sức mạnh cách mạng của quần chúng. Ông ta đã không đề cập đến khả năng tham gia tích cực của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt). Mà qua đó ban lãnh đạo của Đảng không kỳ vọng rằng nó sẽ được yêu cầu, ít nhất là trong tương lai gần, được cho thấy qua sự kiện mà đại hội phê duyệt nhưng không có nhiều tranh luận về dự kiến đầy tham vọng của Bộ Chính trị ứng dụng kế hoạch năm-năm cho công cuộc kỷ nghệ hóa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Tuy nhiên, có những dấu hiệu cho thấy rằng cuộc tranh luận về chiến lược ở miền Nam đã không hoàn toàn thuyên giảm. Trong bài phát biểu của mình trước khi những đại biểu, Võ Nguyên Giáp nhận xét rằng một số đồng chí không nhận thức đầy đủ về những âm mưu của Hoa Kỳ và những tay sai ở Sài Gòn,

p524

bằng cách chỉ ra là họ “không hiểu rằng trong khi chính sách của chúng ta là duy trì hòa bình và đạt được việc tái thống nhất đất nước bằng ôn hòa, chúng ta nên luôn luôn được chuẩn bị để đối phó với bất kỳ động thái nào của kẻ thù.”

Cuối cùng, Đại hội lần Thứ ba phê chuẩn sự chuyển hướng trong ban lãnh đạo Đảng mà qua đó đã từng được tiến hành trong nhiều năm. Lê Duẩn chính thức được chọn làm Bí thư thứ nhất (thay thế cho tên chức vụ cũ là Tổng bí thư, bắt chước theo quyết định được thực hiện bởi Đảng Liên Xô) của ĐLDVN.(pc 16) Hồ Chí Minh vẫn là Chủ tịch Đảng. Sự thăng chức của ông Duẩn theo cách sắp xếp cấp bực trong Đảng chỉ đứng hạng thứ hai đối với chức vụ của chính ông Hồ đã để lại không chút nghi ngờ rằng vấn đề tái thống nhất đất nước sẽ nhận được sự quan tâm rộng rãi trong suốt thập kỷ tới. Như là một dấu hiệu cho thấy xa hơn về tầm quan trọng ngày càng tăng của nó, hiện thời có ba người Việt gốc Nam bộ trong Bộ Chính trị mới –Lê Duẩn, Phạm Hùng, và một sĩ quan quân sự cao cấp có tiếng đang trỗi lên, Nguyễn Chí Thanh. Có uy tín và đầy tham vọng, ông Thanh đã từng được thăng chức đến hạng cao nhất là Tướng Quân vào cuối những năm 1950s, như thế ngang bằng cấp bực của đối thủ ông ta là Võ Nguyên Giáp. Không giống như ông Giáp, ông Thanh là một người chính trị, trước đây đã từng phục vụ như là người đứng đầu của Cục Chính trị quân đội, mà qua đó được giao nhiệm vụ duy trì sự tinh khiết về ý thức hệ giữa bộ đội. Thành viên mới thứ tư của cơ chế cầm quyền của Đảng, là Lê Đức Thọ, không phải là người miền Nam, nhưng đã từng phục vụ ở đó như là phụ tá của Lê Duẩn trong suốt cuộc chiến đối kháng chống lại chính quyền Pháp.12

Đại hội Toàn quốc lần Thứ ba, Quốc hội không nêu ra vị thế chính thức về cuộc tranh chấp Trung-Sô, và (với những đại biểu từ cả hai nước hiện diện) vấn đề dường như không châm ngòi cho cuộc tranh luận tại các phiên họp công cộng. Những bản tuyên bố được phát hành sau cuộc họp tiếp tục mô tả Liên Xô như là nước lãnh đạo của phe xã hội chủ nghĩa, nhưng với những lãnh đạo quân sự mới dưới quyền Lê Duẩn đang giữ địa vị nỗi bật, sự cố gắng lâu dài của ông Hồ để duy trì sự cân bằng trong những quan hệ với hai thành hoàng bảo hộ xã hội chủ nghĩa của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) hiện thời ngày càng lâm vào cảnh nguy ngập. Ông Hồ đã thực sự làm phần của mình trong việc giảm thiểu những căng thẳng bằng cách làm như là thông dịch viên trong các cuộc thảo luận giữa các đại diện Sô-Viết và Trung Quốc tại Đại hội. Tuy nhiên, không đồng minh nào được chuẩn bị để đưa ra sự chấp thuận của nó về việc leo thang khích động có thể xảy ra ở miền Nam Việt Nam. Moscow từ chối cho ông Hồ một lời hứa suông về miền Nam Việt Nam và bát bỏ lời van nài của ông Hồ hạ xuống những căng thẳng trong khuôn khổ phe xã hội chủ nghĩa. Trong suốt chuyến thăm ngắn đến Hà Nội vào tháng Bảy, Zhou Enlai(pc 13) đã thúc giục Việt Nam nên linh hoạt và tận dụng tối đa cuộc đấu tranh chính trị trong việc tìm kiếm chiến thắng ở miền Nam.13

* * *

Những lãnh đạo Đảng tiếp tục vật lộn với vấn đề làm cách nào đưa đến sự sụp đổ của chế độ Diệm mà không cần gây ra nguy cơ liều lĩnh về sự khích động sự can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ.

p525

Kinh nghiệm quá khứ cho thấy rằng một tổ chức chính trị mới ở miền Nam hẵn cần đến mà qua đó nó có thể chiếm một vai trò tương tự như vai trò được đóng bởi Mặt trận Việt Minh trong những năm đầu của cuộc đấu tranh chống Pháp. Kết quả là, Hà Nội đòi hỏi một mặt trận dân tộc mà nó sẽ phục vụ như là một nam châm cho tất cả những thành phần bất đồng chính kiến ​​chống đối chế độ Sài Gòn trong khi vẫn giữ vấn đề nguyện vọng của ĐLDVN.(pc 16) Hà Nội sẽ cần một chương trình mà qua đó sẽ kêu gọi những người yêu nước dâng hiến cho công cuộc tái thống Việt Nam không có sự xa lánh những thành phần ly khai ở miền Nam vốn là những người nghi ngờ về sự thống trị của miền Bắc. Nó sẽ cần phải khẩn cầu những ôn hòa vốn là những người không tin chủ nghĩa cộng sản trong ý thức hệ và thực hành, trong khi vẫn lôi kéo sự ủng hộ nhiệt tình của giới công nhân và nông dân. Hà Nội cũng sẽ cần giữ lời hứa về việc giải phóng miền Nam Việt Nam từ nanh vuốt cai trị của con người độc đoán của ông Diệm mà không thể hiện mối đe dọa chiếm lấy ngay lập tức những tỉnh phía nam bởi chế độ Cộng sản ở miền Bắc.

Sự đề cập công khai lần đầu tiên đến mặt trận mới được lên kế hoạch ​​xuất hiện tại Đại hội Toàn quốc lần Thứ ba, khi nó được mô tả ngắn gọn trong bài diễn văn bởi chính khách cao tuổi Tôn Đức Thắng của Đảng. Theo ông Thắng, người tổ chức lao động một thời trước đây vốn đã từng thúc đẩy sự hình thành của công đoàn công nhân bến cảng ở thuộc địa Sài Gòn, mặt trận sẽ được dựa trên khái niệm của học thuyết Lenin quen thuộc về sự liên minh bốn-tầng-lớp, nhưng nương theo sự phức tạp của xã hội miền Nam Việt Nam, khái niệm đó cũng nên bao gồm những nhóm nhỏ có tín ngưỡng và không tín ngưỡng khác nhau. Mục đích của nó là thể hiện tính bao quát theo tự nhiên nhằm mục đích thu hút đủ loại dân cư. Nó sẽ nhấn mạnh đến những chủ đề của người quốc gia và người cải cách và đề ra như là mục đích cuối cùng của việc tạo ra một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và thịnh vượng. Bước tạm thời sẽ là sự hình thành của một chính phủ được cấu thành gồm tất cả những thành phần tiến bộ trong xã hội miền Nam, một liên minh mà cuối cùng sẽ thảo luận về việc tái thống nhất bằng ôn hòa với miền Bắc.(pc 20)Mặt trận mới nầy ở miền Nam, giống như lực lượng nổi tiếng trước đó của Mặt trận Việt Minh, sẽ cần được tổ chức ở các cấp khác nhau, từ một ủy ban trung ương xuống đến những chi bộ ở cấp thôn. Sẽ không có chuyện nhắc đến đến chủ nghĩa cộng sản.(pc 21)

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (thường được biết đến như là Mặt trận Dân tộc Giải phóng (MtDtGp)), được chính thức thành lập vào ngày 20 tháng Mười Hai năm 1960, tại một cuộc họp bí mật của những đại diện các tầng lớp khác nhau trong xã hội miền Nam Việt Nam,” một nơi nào đó [như lịch sử Đảng mô tả nó] trong khu vực được giải phóng của miền Nam Việt Nam.” Thật ra, cuộc họp diễn ra ở một vùng tập thể những công trình xây dựng nhỏ  trong một khu vực của những đồn điền cao su có rừng rậm dầy đặc dọc theo biên giới Campuchia, một khu vực mà nó sau này sẽ phục vụ như là trụ sở chính của bộ chỉ huy quân sự của Đảng ở miền Nam. Đối với 60 đại biểu, đó là một kinh nghiệm cảm động. Theo Trương Như Tạng, một trí thức người miền Nam vốn tham gia trong đại hội,

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 02_ Đây là khoảng thời gian có sự xuất hiện Công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) tán thành việc Trung cộng đòi hỏi chủ quyền quần đảo Hoàng Sa trong khi chúng thuộc quyền kiểm soát của chính phủ miền Nam Việt Nam.
Cuộc hội kiến của ông Hồ với Mao Trạch Đông trong năm 1958 nầy về việc yêu cầu Trung cộng viện trợ quân sự, cố vấn, lương thực, và những vật dụng y tế khác, chắc chắn rằng Trung cộng sẽ ra những điều kiện với Bắc Việt trong sự trao đổi đó. Và Công hàm của Phạm Văn Đồng là một bằng chứng tiêu biểu nhất.
Lẽ dĩ nhiên là thế, vì Trung cộng đã từng giúp nhà nước Bắc Việt trước đây nhưng chưa nhận được đối đáp đáng kể, và vì vào thời gian đó Trung cộng cũng bị tiêu hao khá nhiều qua cuộc chiến xung đột với Liên Xô nhưng chưa đạt được phần đất nào như mong muốn. Và yếu tố chính nữa là thái độ đứng giữa của Bắc Việt trong cuộc xung đột Trung-Sô khiến cho Bắc Kinh bất bình trong lòng nên họ cần có những điều kiện bó buộc Bắc Việt phải tuân theo và lệ thuộc.

pc 03_ Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á ( SEATO = Southeast Asia Treaty Organization) : là một tổ chức quốc tế cho sự phòng thủ chung trong khu vực Đông Nam Á được tạo ra bởi Hiệp ước Phòng thủ Chung Đông Nam Châu Á Quốc, hoặc Minh ước Manila, được ký kết vào tháng Chín năm 1954 tại thủ đô Manila, Philippines. Những cơ quan chính thức của SEATO được thành lập vào ngày 19 tháng Hai, 1955 tại một cuộc họp của hội viên hiệp ước ở thủ đô Bangkok, Thái Lan. Trụ sở chính của tổ chức cũng được đặt ở Bangkok.
Chủ yếu được tạo ra để ngăn chận những gia tăng xa hơn của Cộng sản trong khu vực Đông Nam Á. SEATO thường được xem là một thất bại vì sự xung đột và tranh chấp nội bộ gây cản trở việc sử dụng chung quân đội SEATO; tuy nhiên, những chương trình văn hóa và giáo dục được SEATO-tài trợ để lại những ảnh hưởng lâu dài ở Đông Nam Á. SEATO được giải tán vào ngày 30 tháng Sáu, năm 1977 sau khi phần nhiều thành viên không còn quan tâm và rút lui.

pc 04_ Đây là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất về mưu đồ tái thống nhất của Bắc Việt sau sự thất bại qua Hiệp định Geneva được ký kết với Pháp mà qua đó Trung Quốc được xem là tiếng nói quyết định cuối cùng cho số mệnh miền Bắc, và gần như đại diện cho phái đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Việt Nam đang tham dự.

Trước đó, trong phần cuối của chương 14, tác giả cố tình đưa ra những lập luận nhằm biện hộ cho nhà nước miền Bắc nói chung và Hồ Chí Minh nói riêng trong việc quyết định phát động chiến dịch được gọi là giải phóng miền Nam, qua việc đỗ lỗi cho những người tập kết ra Bắc mà tiêu biểu nhất là nhân vật Lê Duẩn –là người mà theo tác giả, Bộ Chính trị Đảng và nhiều cán bộ cao cấp khác chẳng mấy ai ưu thích vì tính hiếu chiến, tham quyền, và tự cao mặc dù được ông Hồ nâng lên chức vụ Tổng Bí thư.
Nhưng rõ ràng rằng, cũng trong chương 14, tác giả có nhắc đến số cán bộ được cài lại miền Nam sau Hiệp định và lần nữa trong chương 15 nầy, tác giả nói đến những thanh niên tập kết ra Bắc được gởi lại miền Nam sau khi được huấn luyện về những kỷ thuật vũ khí chiến tranh nhằm mục đích khuấy rối qua những hoạt động vũ trang chống phá chế độ miền Nam. Không phải Hồ Chí Minh không muốn phát động chiến dịch đó vốn được nhắc đến nhiều lần bởi ông Hồ trong ý tưởng tái thống nhất đã có từ lâu, mà chỉ vì ông ta muốn nắm chắc rằng chiến dịch đó cần có sự hậu thuẩn và ủng hộ của hai nước Liên Xô và nhất là Trung Cộng. Và quyết định đó được hình thành rõ ràng hơn sau chuyến công du của ông ta.

pc 05_ Những con đường rừng mòn, theo tác giả, chúng được dọn mở trước đây trong suốt chiến tranh chống Pháp là một điều không đúng hẵn. Mà đáng lý ra, nên được xét rằng, theo lịch sử Việt Nam, chúng là những con đường đã có từ lâu từ thời Nguyễn Hoàng khai đất vùng phía nam, mà tiêu biểu nhất là thời kỳ nhà Tây Sơn kéo quân ra vào miền Bắc rất thường, vì vậy vua Quang Trung Nguyên Huệ mới có thể thực hiện được cuộc hành quân thần tốc ra Bắc đánh đuổi quân nhà Thanh lúc bấy giờ. Nếu những con đường rừng mòn đó chưa được khai thông nhiều hơn sau những chuyến ra vào miền Bắc, chắc chắn rằng Hoàng đế Quang Trung khó thực hiện được trận đánh vang danh lịch sử đó.


pc 06_ Bộ Luật 10/59 : đây là Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 do Quốc Hội Lập Hiến chung quyết trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956. Hiếp pháp bao gồm 11 thiên chương và 98 điều khoản : Điều khoản căn bản, Quyền lợi và nhiệm vụ người dân, Tổng thống, Quốc hội, Thẩm phán, Đặc biệt pháp viện, Hội đồng kinh tế quốc gia, Viện bảo hiến, Sửa đổi Hiến pháp, và Các điều khoản chung. Với nguyên văn lời mở đầu như sau :

LỜI MỞ ĐẦU
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:

Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;

Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
— — — — —

pc 07_ VNCH : Việt Nam Cộng Hòa
.

pc 08_ Đây chính là phương cách mà Hồ Chí Minh đã từng ứng dụng trong công cuộc Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc trước đó : lấy đất và phân phối. Đó là trong khoảng thời gian trước và sau chiến dịch Điện Biên Phủ mà mục đích chính của nó –được chính Hồ Chí Minh học theo Trung Cộng và tuyên bố– là quyến dụ lòng dân ở nông thôn sẵn sàng dâng hiến hy sinh cho Đảng vì sự nghiệp cách mạng.

Chỉ khác là trong miền Nam –nói chung bao gồm cả miền Trung– lúc bấy giờ lực lượng nằm vùng Việt Minh bị đánh đuổi mãnh liệt nên họ chưa có cơ hội thực thi công cuộc Cải cách Ruộng đất qua những màn đấu tố như ở miền Bắc. Và dân cư ở nông thôn miền Nam lúc bấy giờ cũng chưa bao giờ được biết hay nghe nói đến những thảm họa kinh hồn của công cuộc Cải cách Ruộng đất đó. Ngoài những lời tuyên truyền mà chắc chắn rằng chúng được tô màu khác biệt bởi những cán bộ Việt Minh được đưa vào miền Nam.
Trong khi đó, chương trình Người cày Có ruộng của chế độ non nớt mới ra đời của Ngô Đình Diệm đã thành công rất cao trong những vùng đất kiểm soát được, ngoại trừ những vùng xa xôi luôn bị lực lượng Việt Minh quấy phá và xúi giục nên sự phân chia đất đai khó được thực hiện nghiêm chỉnh. Khi càng ngày vùng kiểm soát được mở rộng, dĩ nhiên những gì thuộc về chủ đất phải trả lại họ theo luật định của miền Nam, sau đó theo quy hoạch, một số đất được chính phủ mua lại được trả qua công phố phiếu một phần để phân phối cho những người dân trong vùng.

pc 09_ Hiệp định Geneva (Genéve) : là một hiệp ước đình chiến và hòa bình, qua đó Pháp công nhận nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia và tổ chức tổng tuyển cử tự do trong 3 nước nhằm thành lập một chính phủ duy nhất cho mỗi nước. Ngày 21.7.1954, Thiếu tướng Henri Delteil (Pháp) và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tạ Quang Bửu đã ký vào bản Hiệp định đình chiến về Đông Dương (Hiệp định Genève 1954).

_ Mùa hè năm 1953, chính phủ Pháp tìm cách đưa Pháp thoát khỏi cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Tháng 10 năm 1953, thủ tướng Pháp tuyên bố tại Quốc hội, Pháp sẵn sàng chấp nhận giải pháp ngoại giao.
_ Ngày 18/2/1954, hội nghị Tứ cường (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp) ở Berlin (Đức) đã thông qua thông cáo triệu tập hội nghị quốc tế Genève vào ngày 26/4/1954 để bàn giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên và việc lập lại hòa bình ở Đông Dương.
_ Ngày 7/5/1954, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.
_ Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 8/5/1954, Hội nghị Genève về Đông Dương đã chính thức khai mạc. Tham dự hội nghị có 9 đoàn đại biểu, gồm: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Vương quốc Lào, Vương quốc Cam-pu-chia, Quốc gia Việt Nam (Bảo Đại) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
_ Đến cuộc họp cuối ngày 20/7/1954, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) mới chấp nhận lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời giữa hai miền và thời hạn hai năm sau sẽ tổ chức tổng tuyển cử.
_ Trải qua 75 ngày thương lượng với 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp phụ cấp trưởng đoàn; dưới sự chủ tọa của hai đồng chủ tịch là Ngoại trưởng Liên Xô và Ngoại trưởng Anh, Hiệp định Genève về lập lại hòa bình và đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Campuchia và Lào thuộc Đông Dương đã được ký kết vào ngày 21/7/1954.
Gồm 6 chương, 47 điều với nội dung:

1_ Nước Pháp phải rút quân khỏi miền Bắc và Việt Minh rút khỏi miền Nam trong thời hạn 300 ngày.
2_ Ngừng bắn hoàn toàn toàn cõi Đông Dương, lấy sông Bến Hải (Quảng Trị) nằm trên Vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, quân đội Liên hiệp Pháp tập kết về phía nam Vĩ tuyến 17, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) tập kết về phía bắc Vĩ tuyến 17.

3_ Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí, phương tiện chiến tranh mới vào Việt Nam.
4_ Hai bên Việt Nam không gia nhập một liên minh quân sự nào, không bị sử dụng để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ cho một chính sách xâm lược.

5_ Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ 3 nước.

6_ Các bên tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực.
7_ Thành lập và định ra nhiệm vụ, thẩm quyền nguyên tắc trình tự hoạt động cho các ban liên hợp quân sự và các ban giám sát, kiểm soát quốc tế. Một Hội đồng Kiểm soát Quốc tế gồm các nước: Ba Lan, Ấn Độ và Canada sẽ giám sát việc thi hành các điều khoản của Hiệp định, với Ấn Độ làm chủ tịch.

8_ Thường dân có quyền lựa chọn muốn ở miền Bắc hay miền Nam, trong thời gian đó họ được tự do đi lại.
9_ Trao trả cho nhau tù binh và thường dân bị bắt giữ.
10_ Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh.
11_ Sau 2 năm, kể từ ngày ký Hiệp định, hai bên Việt Nam sẽ hiệp thương tiến hành tổng tuyển cử “tự do và dân chủ” để thống nhất đất nước trước tháng 7/1956.

Sau Hiệp định Geneva 1954, Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, và tạo điều kiện để tiếp tục tiến hành cái gọi là cách mạng giải phóng ở Miền Nam Việt Nam –không ngoài mục đích “tô đỏ” chủ nghĩa Cộng sản khắp Việt Nam theo chủ trương từ Liên Xô và Trung Quốc– vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) căn cứ vào bản Tuyên bố chung có ghi về Việt Nam: “Đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới về chính trị hoặc lãnh thổ”

Bản “Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam” bao gồm 6 chương, 47 điều khoản. Ngoài ra, còn có phụ bản kèm theo nói rõ thêm về “giới tuyến quân sự tạm thời, khu phi quân sự và các khu đóng quân tạm thời.”

Mặc dù Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956, Hiệp định không có điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như cách thức tổ chức những cuộc Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc Việt Nam.

pc 10_ Tân Cương : là vùng đất kéo dài hơn 1,6 triệu km2 , tiếp giáp Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan, và Ấn Độ –nằm trên đầu Trung Quốc về hướng tây bắc– bao gồm nhiều nhóm dân tộc khác nhau như Duy Ngô Nhĩ, Hán, Kazakhstan, Hui, Kyrgyzstan, Mông Cổ, với đa số người dân tôn trọng Hồi giáo. Sau Thế Chiến thứ II, Trung cộng lợi dụng tình thế mệt mõi của những cường quốc đồng minh và những hậu quả chiến tranh còn lại trên vùng đất nầy, đã xua quân chiếm lấy kể từ năm 1950 vì Tân Cương có trữ lượng dầu mỏ dồi dào. Trung cộng biến Tân Cương thành Khu vực Tự trị Duy Ngô Nhĩ và bộ phận hành chính lớn nhất Trung Quốc và là khu vực sản xuất khí đốt lớn nhất của Trung Quốc.
Ngoài ra cũng trong thời gian của năm 1950, với một Trung Quốc được xem là một thế lực hiếu chiến, đã chiếm luôn Tây Tạng –lãnh thỗ nằm về hướng nam của Tân Cương. Với chủ nghĩa bành trướng của Trung cộng, thể hiện trong các hoạt động quân sự và các chính sách ngoại giao, là một nỗi lo ngại đáng kể của các nước lân cận. Trung Quốc thôn tính một phần lớn Mông Cổ, toàn bộ Tân Cương (1950), Tây Tạng (1950), Mãn Châu (1969), tiêu diệt quyền tự do, nền độc lập của các nước này. Trong thời hiện đại, Trung Quốc sáp nhập Tây Tạng vào lãnh thổ của mình và tiếp tục có các cuộc chiến tranh biên giới với các nước láng giềng như Nga, Ấn Độ, KazakhstanViệt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên…
Sau nầy, Trung cộng với mưu đồ bành trướng xuống phương Nam, ráo riết nô dịch hóa theo hình thức thuộc địa kiểu mới ở các nước Miến Điện, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia bằng những thủ đoạn từ lộ liễu đến tinh vi, qua hợp tác kinh tế, viện trợ về kinh tế-tài chính-giáo dục- văn hóa, đẩy mạnh thương mại một chiều, làm đường xá, khai thác khoáng sản, năng lượng, cấy dân cư, đề xướng cư dân lân bang đi lại không hộ chiếu, cho đến thủ đoạn then chốt là mua chuộc nhóm lãnh đạo chính trị của các nước này. Đồng thời, Trung cộng thiết lập quan hệ ngoại giao chặt chẽ với các quốc gia khác, xây dựng quan hệ đối tác với Hoa Kỳ và Âu châu. Đối với những cường quốc, Trung Quốc tận dụng các mối quan hệ, tránh đụng độ, tuân thủ nguyên tắc ngoại giao đã từng được đặt ra 40 năm trước của Đặng Tiểu Bình, đó là “dấu mặt”. Mặt khác, khi quan hệ với những nước nhỏ đó, Trung Quốc dễ dàng đưa lực lượng Hoa kiều hùng hậu của mình sang thâu tóm nền kinh tế còn yếu kém của các nước đó, thí dụ với Lào, Campuchia, Miến Điện, Campuchia, Pakistan, hay Việt Nam, như vậy ảnh hưởng Trung Quốc sẽ ngày càng lan rộng.

pc 11_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.
pc 12_ Lin Biao : Lâm Bưu.
pc 13_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 14_ Liu Shaoqi : Lưu Thiếu Kỳ.
pc 15_ CHNDTH : Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
pc 16_ ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt Nam.
pc 17_ Vấn đề, như tác giả viết, “Hoa Kỳ đang cố gắng khích động một cuộc chiến tranh thế giới” dường như hoàn toàn vô căn cứ. Vì giả như cuộc xung đột Trung-Sô có gia tăng, đó cũng chỉ là vấn đề của những nước trong khối cộng sản –không có nghĩa gì là cả thế giới– và chắc chắn rằng những nước không-Cộng-sản sẽ không bao giờ tham gia vì chẳng có gì đụng chạm đến những lợi ích hay an ninh của họ.

pc 18_ Lần nữa, đây là sự khẳng định mà cá nhân ông Hồ và Đảng đã từng có quyết tâm trong việc tái thống nhất đất nước qua những hành động xâm lược, tổ chức mặt trận, vận chuyển vũ khí v.v. nhằm phá hoại nền Cộng hòa non nớt ở miền Nam. Trong khi đó, đáng lý ra ông Hồ nên có những chính sách tái thiết đời sống miền Bắc hơn là gây thêm chiến tranh. Việc ông ta luôn nói đến là dẫn dắt miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên qua những thất bại trong việc tập thể hóa nông thôn dù chỉ là bước đầu –mà qua đó những hậu quả đã từng xảy ra trước đó ở Liên Xô và Trung Quốc– khiến ông ta khó thể thói lui cuộc chiến vì chỉ có cách đó mới mong che lấp và chuyển sự chú ý của quần chúng vào chiến tranh bằng mục đích được tuyên truyên ưu ái là tái thống nhất đất nước. Vì bằng chứng là miền Bắc với nền kinh tế èo ẹp, không đủ cung cấp những nhu cầu cần thiết và cơ bản cho người dân, nhưng phải bị tóm thu bởi nhà nước để nuôi dưỡng chiến tranh miền Nam qua những dịch vụ trao đổi cho súng đạn và số lương thực ẩm móc dư thừa của Trung cộng và Liên Xô.

pc 19_ Lê Duẩn khi nói “tính linh hoạt và sự di chuyển từ những hình thức hoạt động hợp pháp đến bất hợp pháp,” không ngoài ngụ ý đến những hoạt động lôi kéo sinh viên, trí thức, tôn giáo bằng những người đang làm việc hoặc sinh hoạt hợp pháp qua những vai trò của họ trong xã hội như là giáo sư, thầy tu, linh mục, v.v. Và sau đó chuyển qua những hoạt động bất hợp pháp như là đặt chất nỗ, xúi giục biểu tình bạo lực, ám sát, đe dọa v.v. khi quyến dụ được một số dân làm hậu thuẩn, che chắn, và bảo vệ cho những người hoạt động cách mạng.

pc 20_ Rõ ràng là nhà nước Cộng sản miền Bắc lúc nào cũng muốn nắm hết lấy quyền lực cả nước Việt Nam, nên việc sử dụng con bài mặt trận miền Nam cũng là cách quyến dụ những kẻ chống đối chính quyền miền Nam vào sự mê hoặc quyền lực nhằm dâng hiến cho cách mạng. Nhưng cuối cùng, tất cả quyền lực phải được trả về cho nhà nước miền Bắc một khi cách mạng ở miền Nam thành công.

pc 21_ “Sẽ không có chuyện nhắc đến chủ nghĩa cộng sản,” điều nầy càng chứng minh rõ ràng là chủ nghĩa cộng sản vốn là thứ học thuyết khiến đa số quần chúng trong miền Nam e sợ, nên mặt trận miền Nam phải tuyệt đối không được nhắc đến hai chữ Cộng sản và khoác ngoài cái vỏ là một mặt trận dân tộc, quốc gia. Và lần nữa, những lãnh đạo Cộng sản Việt Nam áp dụng lại chiêu lừa dân tộc tính mà nó từng được sử dụng trong thời gian được gọi là Cách mạng Tháng Tám.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s