XV- Tất Cả Cho Những Tuyến Đầu (Phần 3)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p536

và không đánh giá thấp nó như là một đối thủ. Tuy nhiên, ông ta tranh luận, họ không sợ. Nếu “một người sợ Hoa Kỳ và nghĩ rằng xúc phạm nó sẽ chuốt lấy thất bại, và [tin tưởng] rằng sự chống đối vững chắc chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ sẽ chạm vào một cuộc chiến tranh hạt nhân, sau đó chỉ một chiều hướng còn lại sẽ là thỏa hiệp và đầu hàng chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ.” Thông điệp của Nguyễn Chí Thanh sẽ không bị lạc mất trên thủ đô Kremlin.26

Những quan điểm của Tướng Thanh được chia sẻ bởi Lê Duẩn và các nhân vật dưới sự bao che của ông ta trong phạm vi Bộ Chính trị, vốn là những người hiện đang thống trị cơ chế làm-ra-chính sách đó. Với sự thông đồng của Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn và đồng minh thân cận của ông ta là Lê Đức Thọ, Lê Duẩn đã thành công loại ra ngoài lề những đối thủ tiềm năng trong phạm vi ban lãnh đạo Đảng. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trình bày không có vấn đề gì. Mặc dù một quản trị viên có khả năng và là một cựu chiến binh với một phả hệ cách mạng vốn trải dài ngược đến những ngày Đoàn Thanh niên Cách mạng ở Canton (i.e. Quảng Châu), một ông Đồng khiêm tốn thiếu gan dạ đối với việc đấu đá nội bộ Đảng và thường than vãn với những bạn tri kỷ về sự thiếu ảnh hưởng của mình. Một Trường Chinh 56 tuổi tiêu biểu cho mối nguy hiểm tiềm năng lớn hơn. Tự hào hơn so với ông Đồng và quyết đoán hơn trong hành vi của mình trong phạm vi Đảng, ông ta chắc chắn oán hận Lê Duẩn về việc chiếm lấy vị trí của ông ta như là Tổng bí thư và về việc thể hiện ý muốn cho việc giải phóng miền Nam hơn là nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Tuy nhiên, ông ta cũng dường như do dự đưa ra một thách thức đối với sức mạnh ngày càng tăng của đối thủ mình. Có lẽ để lấy lòng với ban lãnh đạo mới, ông Chinh đồng ý soạn thảo bản báo cáo chính trị tại Phiên họp Toàn thể lần Thứ chín, như thế kết quả là tự sắp xếp mình ngang hàng với Lê Duẩn trong những quyết định sắp đến.

Một mối đe dọa tiềm năng khác là Võ Nguyên Giáp. Chiếm được một mức độ uy tín và tiếng tăm cá nhân chỉ bị vượt qua bởi chính Hồ Chí Minh, Tướng Giáp giữ lấy những quan điểm khác hơn cả Lê Duẩn hoặc Nguyễn Chí Thanh về việc làm cách nào tiến hành cuộc đấu tranh ở miền Nam. Ông ta bác bỏ ý muốn của ông Duẩn về cuộc chiến tranh du kích được gia tăng mạnh hơn qua sự ủng hộ cách giải quyết bằng quân đội chính quy hơn, nhưng, không giống như ông Thanh, ông ta miễn cưỡng thách thức người Mỹ cho đến khi Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) đã được đào tạo một cách thành công và được trang bị bằng những vũ khí hiện đại. Đối với ông Giáp, điều đó sẽ là tự sát để chọc tức Moscow, vì chỉ có Liên Xô có thể cung cấp đúng loại đào tạo và những vũ khí. Tuy nhiên, giống như Phạm Văn Đồng, ông Giáp thì im lặng một cách khó hiểu trước mặt thách thức ngạo mạn của Lê Duẩn; trong những cuộc họp Bộ Chính trị, ông ta cam chịu không lên tiếng mạnh mẽ chống lại những người ủng hộ chiến lược mới.

Đối thủ tiềm năng nguy hiểm nhất của phe Lê Duẩn có lẽ là bản thân Hồ Chí Minh, nhưng lúc bấy giờ, Lê Duẩn và những đồng minh của mình rõ ràng nuôi dưỡng một thái độ hạ mình và thậm chí khinh thường đối với vị Chủ tịch, vốn là người, theo quan điểm của họ, trong những năm gần đây bị mất đi sự hiểu biết sâu sắc của mình về chính trị

p537

và bây giờ ngày càng túng quẫn trong cách suy nghĩ của mình. Những tin đồn thậm chí được lưu hành ở Hà Nội rằng Lê Duẩn hoạch định thay thế Hồ Chí Minh như là Chủ tịch cùng với Nguyễn Chí Thanh, trong khi chuyển đổi một cựu chiến binh cách mạng đến một vị trí vô thưởng vô phạt như là giám đốc nghiên cứu chủ nghĩa Marx-Lenin. Lê Duẩn, dĩ nhiên, sẽ giữ lại quyền kiểm soát trên Đảng.27

Có hay không Hồ Chí Minh phẫn nộ sự xem thường cá nhân về việc bị dồn ép vào bên lề, ông ta ắt hẵn có những hạn chế nghiêm trọng về chiến lược mới đang được ứng dụng tại miền Nam Việt Nam. Ông ta đã rõ ràng bày tỏ ý muốn của mình cho một cuộc chiến tranh mưu mẹo hơn là một cuộc chiến đối đầu trực diện, và không thể hoan nghênh cách giải quyết vốn có thể gây ra kết quả trong cuộc xung đột trực tiếp với Hoa Kỳ. Tương tự như thế, ông ta luôn luôn lập luận trong sự ủng hộ quân bình những mối quan hệ với Moscow và Beijing và bác bỏ một chính sách nương tựa độc nhất vào Trung Quốc. Khi Tướng Lê Liêm, là một cựu chiến binh Điện Biên Phủ, cảnh cáo riêng ông ta rằng nghị quyết dự thảo được ban hành vào lúc kết thúc phiên họp toàn thể sẽ chứa đựng những cuộc tấn công trực tiếp vào Moscow, ông Hồ đồng ý rằng điều đó sẽ là khó coi cho VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) tát vị ân nhân chính của nó thẳng vào mặt và khuyến khích ông Liêm lên tiếng chống lại dự nghị. Nhưng khi ông Liêm làm như thế, Hồ Chí Minh (giống như Võ Nguyên Giáp) ngồi im lặng, không thốt lên một lời. Khi giọng điệu chống Liên Xô trong những bài phát biểu đạt đến đỉnh cao, ông Hồ rời khỏi hội trường một cách lặng lẽ để hút thuốc. Mười thành viên của Ủy ban Trung ương bỏ phiếu chống lại bản báo cáo cuối cùng. Khi một người bạn hỏi ông Hồ, ông ta đã bỏ phiếu như thế nào, ông ấy không nói gì. Có phải chăng Hồ Chí Minh đã bị đe dọa trờ thành im lặng bởi ban lãnh đạo mới?28

Một khi chiến lược mới đã được phê duyệt, câu hỏi quan trọng nhất còn lại tại phiên họp toàn thể là làm cách nào xoa dịu Liên Xô. Bản dự thảo nghị quyết được ban hành vào lúc kết thúc cuộc họp ban đầu đã bao gồm một cuộc tấn công trực tiếp vào Khrushchev, nhưng, theo yêu cầu của Lê Duẩn, sự việc đề cập đến cuối cùng được xóa bỏ. Ông Duẩn, vốn là người, giống như nhiều cộng tác viên của mình, nuôi dưỡng những nghi ngờ sâu kín về Trung Quốc, không muốn đốt cháy những chiếc cầu của mình với Moscow. Thật ra, nghị quyết tạo ra một cử chỉ ngấm ngầm đối với những lãnh đạo Liên Xô bằng cách tuyên bố rằng mục tiêu cơ bản của chiến lược mới là “hạn chế cuộc chiến trong khuôn khổ của miền Nam Việt Nam và đánh bại kẻ thù trên chiến trường chính.” Ngay cả nếu Washington quyết định can thiệp, “khả năng mà cuộc chiến bị giới hạn ở miền Nam sẽ biến thành một cuộc thế chiến, thì gần như không tồn tại bởi vì mục đích và ý nghĩa của cuộc chiến này không có thể tạo ra những điều kiện dẫn đến một cuộc thế chiến.” Trong một cách để trấn an những đồng minh dễ nóng nảy, Bộ Chính trị thảo ra một lá thư luân lưu đến những đảng phái anh em Cộng sản để giải thích quyết định và tìm kiếm sự ủng hộ và sự hiểu biết của họ. Bức thư cố gắng làm dịu những nỗi sợ hãi của một cuộc chiến rộng lớn hơn và nài xin sự ủng hộ phe khối cho những cuộc chiến giải phóng dân tộc khắp Thế giới Thứ ba.

p538

Tuyên bố rằng khái niệm về chung sống hòa bình là một chiến thuật vốn được áp dụng giữa những hệ thống thế giới khác nhau, và không phải giữa những kẻ áp bức và bị áp bức trong một xã hội cụ thể, nó lập luận rằng những khái niệm về sự chung sống hòa bình và đấu tranh cách mạng thì phụ thuộc lẫn nhau, không mâu thuẫn. Con đường đi lên bằng ôn hòa đến quyền lực trong một xã hội đàn áp, nó kết luận, là một ảo ảnh.29

Mặc dù những lãnh đạo Đảng đã thực hiện một cố gắng đến muộn để xoa dịu Moscow, tình cảm chống lại Liên Xô và những người Việt biện hộ cho nó đang trở nên chai cứng ở Hà Nội. Sau khi phiên họp toàn thể chấm dứt vào giữa tháng Mười Hai, một tòa án bí mật được thành lập dưới thẩm quyền của Bộ Chính trị để loại bỏ “nhửng người theo chủ nghĩa xét lại” khỏi Đảng; nhiều nhân vật chính trị cao cấp vốn là những người được xem là có cảm tình với quan điểm của Liên Xô hoặc bị nghi ngờ chống đối đường lối chính thức bị sa thải khỏi những chức vụ của họ hoặc thậm chí bị bắt giữ. Trong số những người bị nghi ngờ nuôi dưỡng những quan điểm như thế là bản thân Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp. Mặc dù ông Giáp thì quá nổi tiếng không thể tấn công một cách trực tiếp, một số người dưới sự bao che của ông ta, bao gồm Lê Liêm, bị thanh trừng bởi vì những quan điểm bị cáo buộc ủng hộ Liên Xô của họ. Một vài tháng sau đó, ông Giáp bị buộc tội bởi một số thành viên của Bộ Chính trị vì đã trao đổi thư từ riêng với Nikita Khrushchev, nhưng sự cáo buộc được bỏ qua khi Hồ Chí Minh can ngăn đưa ra nhận xét rằng ông ta nhận biết về sự trao đổi và đã hoàn toàn chấp thuận điều đó.30

Mặc dù thái độ thù nghịch ngày càng tăng của Bộ Chính trị đối với ban lãnh đạo Sô-Viết, phe chiếm ưu thế trong Bộ Chính trị ý thức về điều cần đến để tránh sự đổ vỡ hoàn toàn với Moscow. Sau khi Phiên họp Toàn thể lần Thứ chín kết thúc, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, và đồng minh của họ, nhà thơ cách mạng Tố Hữu, đến thăm Liên bang Sô-Viết để trình bày quan điểm của Hà Nội. Sự hiện diện của Tố Hữu thì đáng kể. Được sinh ra vào năm 1920 gần Huế, ông ta thực hiện khởi đầu của mình như là một nhân vật chính trị chính khi ông ta công khai tấn công chủ nghĩa xét lại của Sô-Viết tại Phiên họp Toàn thể lần Thứ chín. Hồ Chí Minh, là người ắt hẵn đoán trước những kết quả của các cuộc đàm phán ở Moscow bằng linh tính, vẫn còn ở Hà Nội.

Trên đường đến Liên Xô, phái đoàn đại biểu dừng chân ngắn ngủi ở Beijing cho những cuộc thảo luận với những lãnh đạo Trung Quốc. Ở Moscow, các cuộc đàm phán với những quan chức Liên Xô hiển nhiên có ít thành công. Thông cáo cuối cùng thì mơ hồ và cho rằng sự bất đồng ý kiến về tình hình ở miền Nam vẫn tiếp tục. Sau khi phái đoàn đại biểu trở về Hà Nội, một bài xã luận trên tờ báo chính thức ca ngợi vai trò của Trung Quốc trong việc dẫn đầu cuộc cách mạng toàn cầu và tiếp tục những cuộc tấn công cay độc(pc 32) của họ vào chủ nghĩa xét lại.31

Hồ Chí Minh ắt hẵn xem những sự kiện xung quanh Phiên họp Toàn thể lần Thứ chín và hậu quả của nó bằng một vài cảm giác bực bội nào đó. Sự quyết định của Washington chấp thuận cuộc đảo chánh vốn lật đổ chế độ ông Diệm, đã nêu lên những câu hỏi nghiêm túc về mong muốn của mình tránh một cuộc xung đột trực tiếp tại miền Nam Việt Nam. Mặc dù ông Hồ đã từng tán thành quyết định leo thang cuộc đấu tranh ở miền Nam,

p539

sự sẵn sàng của những cộng tác viên cứng đầu hơn của mình xúc phạm đến Liên Xô và bức hại những người bạn của nó ở Hà Nội, mà qua đó đi ngược lại những năng khiếu hòa giải của mình, chắc chắn là đáng lo ngại. Sau một sự im lặng dài theo sau khi Phiên họp Toàn thể tháng Mười Hai, ông Hồ cuối cùng nổi lên vào cuối tháng Ba năm 1964, khi ông ta chủ trì một “hội nghị chính trị đặc biệt” vốn đã được triệu tập vội vã nhằm dán giấy lên che đậy sự phân chia đường lối hành động ngày càng tăng trong phạm vi những lãnh đạo của Đảng. Trong những nhận xét  của ông ta cho các đại biểu, ông Hồ lặp lại lời van nài của mình cho việc tái thống nhất hai vùng một cách hòa bình theo đúng với những điều khoản của Hiệp định Geneva,(pc 09) nhưng tuyên bố rằng người dân miền Bắc “ủng hộ hết lòng cuộc đấu tranh yêu nước của những đồng bào miền nam chúng ta.” Việc van nài trên người đứng đầu chính phủ Hoa Kỳ đến người dân Mỹ, ông ta tuyên bố rằng cuộc chiến không công bằng ở Việt Nam đang làm bẩn danh dự của Hoa Kỳ và kêu gọi họ để mang lại sự chấm dứt cho cuộc chiến bẩn thỉu và xây dựng lại tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Cuối cùng, ông ta kêu gọi sự hiệp nhất về mục đích trong phạm vi VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) và giữa các quốc gia của cộng đồng xã hội chủ nghĩa như là một khối.32

* * *

Trong suốt vài tháng kế tiếp, lực lượng kháng chiến ở miền Nam Việt Nam tăng cường những cố gắng của họ để lật đổ cho chế độ Sài Gòn; như Hồ Chí Minh đã dự đoán, chế độ bị sa lầy trong những cuộc đấu tranh phe phái và dường như không có khả năng về việc tập trung vào mối đe dọa ngày càng tăng ở nông thôn. Mặc dù chiến lược của Đảng ở miền Nam bấy giờ đã chuyển đổi một cách nhận thấy được theo chiều hướng của một cuộc xung đột vũ trang, vai trò của đấu tranh chính trị vẫn là trung tâm của sự cân bằng, đáng chú ý là bởi vì chính nơi đây lực lượng cách mạng được nhìn thấy hoạt động ở một lợi thế quyết định. Mặc dù LlVtNdGp(pc 23) không có hỏa lực hoặc sức mạnh số đông của kẻ thù nó, nó hưởng lợi từ những điểm yếu cố hữu về chính trị của chính phủ Sài Gòn. Mục tiêu của kháng chiến là ngay bây giờ tiến hành một “cuộc tổng tấn công và nổi dậy” kết hợp, được dựa trên kế hoạch của Đảng để phát động những cuộc tấn công quân sự vào các khu vực nông thôn trong sự liên kết với một cuộc nổi dậy quân chúng chống lại chính phủ ở những thành phố và thị trấn lớn. Kết quả được dự đoán ​​là sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự hình thành, qua những cuộc thương thuyết, của một chính phủ liên minh ba bên gồm có một hỗn hợp của những quan chức từ chế độ Sài Gòn, những người trung lập, và những thành viên của MtDtGp.(pc 24) Bởi vì Đảng đã từng tìm cách giành lấy lòng trung thành bí mật của một số những người trung lập nổi bật ở miền Nam Việt Nam và hải ngoại, chính là niềm tin mà chính phủ liên minh này sẽ phục vụ như một bàn đạp cho việc chiếm lấy dần dần miền Nam bằng lực lượng chính trị trung thành với Đảng.(pc 33)

Hồ Chí Minh chia sẻ quan điểm của những cộng tác viên của mình rằng điều sống còn để thuyết phục Washington là

p540

người dân Việt Nam quyết tâm thống nhất đất nước của họ và sẵn sàng chịu đựng những hy sinh to lớn để đạt được mục đích cuối. Tại một cuộc họp của Bộ Chính trị vào tháng Mười Hai năm 1963, ông ta nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát động những cuộc tấn công vào những kẻ xâm lược Hoa Kỳ ở Việt Nam. “Những người Mỹ rất sợ chết,” ông ta nói với những cộng tác viên của mình, do đó điều quan trọng là họ không nên cảm thấy miễn trừ từ những hậu quả của cuộc đấu tranh. Trong bài viết được ấn hành dưới một bút danh trên báo Nhân Dân (nhiều số có tựa đề “Đẹp, nhưng Không Đẹp trai,” một sự đề cập đến thuật ngữ chính thức bằng tiếng Việt cho Hoa Kỳ, “một Quốc gia Đẹp”), ông ta chỉ trích Hoa Kỳ một cách gay gắt về những chính sách xâm lược của nó khắp trên thế giới và những vấn đề trong nước của nó ở nhà. Những bài viết trích dẫn trên các báo chí Hoa Kỳ (một số trong những bài báo đó kết nối với chương trình Chiến tranh chống Nghèo được ấn hành rất nhiều của Tổng thống Lyndon Johnson), ông Hồ chỉ ra rằng, khác xa là một xã hội “đẹp,” nước Mỹ gánh chịu từ những vấn đề to lớn như là tỷ lệ tội phạm cao, sự gia tăng thất nghiệp, nạn nghèo đói lan tràn, và những phân chia chủng tộc.33

Trong suốt mùa xuân và đầu mùa hè năm 1964, những nhà chiến lược của Đảng tiếp tục hy vọng rằng cách thức của họ cho cuộc tổng tấn công và nổi dậy có thể thành công mà không có một đổ vào đáng kể lực lượng chính quy từ phía miền Bắc. Sự hiện diện của QĐNDVN(pc 31) ở miền Nam có thể gây ra một sự trả đũa từ Hoa Kỳ và đưa nó trực tiếp vào trong cuộc chiến, là  cái gì mà những lãnh đạo Đảng thiết tha muốn tránh né. Không được biết đối với Hà Nội, tuy nhiên, chính quyền Johnson ngày càng quyết tâm ở lại miền Nam Việt Nam. Vào đầu tháng Tám, những thuyền hải quân Bắc Việt tấn công những tàu chiến Hoa Kỳ đang hoạt động ở Vịnh Bắc Bộ. Khi một cuộc tấn công thứ hai bị cáo buộc đã xảy ra ít giờ sau đó, Nhà Trắng, vốn đã đang tìm kiếm một cái cớ hờ nào đó để chứng tỏ cách giải quyết của nó đối với Hà Nội, ngay lập tức tung ra những cuộc không kích trả đũa chống lại các cơ sở quân sự ở gần bên dãy đất dài hẹp của Bắc Việt. Mặc dù Bộ trưởng Quốc phòng Robert S. McNamara thông báo rằng những tàu nhỏ của Mỹ đã từng hoạt động “tuần tra thường xuyên,” chẳng bao lâu trở thành rõ ràng rằng họ tham gia vào những hoạt động trinh sát gần bờ biển Bắc Việt và có lẽ đang thử nghiệm khả năng của máy ra-đa đối phương đang giám sát cuộc diễn tập của Hoa Kỳ trong khu vực. Để làm cho những vấn đề đáng ngờ lên gấp hai lần, hoạt động du kích của miền Nam Việt Nam đang diễn ra gần đó. Những người chỉ huy quân sự của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) trong khu vực có lẽ tin rằng hai hoạt động có liên quan, và đã ra lệnh tấn công vào những tàu chiến Hoa Kỳ tại chỗ.

Biến cố ở Vịnh Bắc Bộ thuyết phục những lãnh đạo Đảng rằng Washington đang chuẩn bị leo thang vai trò của nó trong chiến tranh. Một vài ngày sau biến cố, Bộ Chính trị quyết định thực hiện những chuẩn bị để gởi các đơn vị chính quy đầu tiên của QĐNDVN(pc 31) xuống Đường mòn Hồ Chí Minh. Một khi ở miền Nam, họ sẽ được kỳ vọng giúp đỡ sức mạnh của LlVtNdGp(pc 23) cho một cái đẩy cuối cùng đến chiến thắng vào mùa xuân năm 1965.

p541

Những lãnh đạo Đảng vẫn hy vọng rằng họ có thể đưa đến sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn trước khi Hoa Kỳ quyết định can thiệp vào cuộc xung đột. Sau khi cuộc họp Bộ Chính trị kết thúc, Lê Duẩn bay đến Beijing để thông báo những lãnh đạo Trung Quốc về quyết định của Hà Nội và tham khảo ý kiến ​​về chiến lược trong tương lai.34

Tại Beijing, Mao Zedong(pc 11) khuyến khích người khách viếng của mình theo đuổi một chiến lược xâm lược ở Nam Việt Nam,(pc 34) qua việc bày tỏ niềm tin của ông ta rằng Hoa Kỳ, không cần nói đến việc thông qua gần đây của Đại hội Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ, không muốn dần dà bị lôi cuốn một cách trực tiếp trong cuộc xung đột ở miền Nam Việt Nam, kể từ khi nó buộc bành trướng quá mức trên thế giới và thiếu những quân lính có sẵn để gởi đến Đông Nam Á. Dân Mỹ, ông ta nói với Lê Duẩn, “không muốn chiến đấu cho một cuộc chiến” ở Đông Dương; vì thế, bởi vì không phải Hà Nội hoặc cũng không phải Beijing ước muốn cuộc xung đột lan rộng,(pc 35) “sẽ không có chiến tranh.” Trong khi đó, ông Mao không tin tưởng rằng việc hòa giải qua thương lượng là thích hợp, vì tình hình ở miền Nam Việt Nam chưa đủ thuận lợi cho VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt). Như ông ta đưa ra nhận xét với Phạm Văn Đồng trong một cuộc trò chuyện ở Beijing vài tuần sau đó: “Càng hết sức bạn đánh bại họ, càng thoải mái họ cảm thấy. Thí dụ, bạn đánh Pháp, và họ trở nên sẵn sàng đàm phán với bạn…”

Ông Mao thừa nhận rằng Hoa Kỳ, trái với những mong đợi, có lẽ quyết định gia tăng sự hiện diện quân đội ở miền Nam Việt Nam, hoặc thậm chí xâm lược miền Bắc. Sau hết, Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ đã cho phép Tổng thống Johnson bắt đầu những hành động mà ông ta xem là cần thiết để bảo vệ những lợi ích an ninh của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á. Trong tình hình như thế, ông ta khuyên Việt Nam không nên đối đầu với đội quân Hoa Kỳ trên bờ biển, nhưng tránh trận chiến trực tiếp và rút vào vùng đất bên trong, nơi mà họ có thể tiến hành chiến tranh du kích chống lại lực lượng đang xâm lược. Trong cuộc đấu tranh kéo dài, mà nó có thể kéo dài 100 năm, ông Mao hứa hẹn sự hỗ trợ của Trung Quốc, qua cách đưa ra nhận xét một bằng ngụ ý, “Miễn là ngọn núi xanh ở đó, làm sao bạn có thể thiếu củi đốt bao giờ?”35

Trong suốt vài tuần kế tiếp, Beijing hành động để chứng tỏ những lời hứa của mình. Những đơn vị quân đội bộ binh và không lực đóng quân ở phía nam Trung Quốc được đặt trong trạng thái sẵn sàng của quân đội, và lực lượng bổ sung được gởi đến khu vực. Những cuộc tụ tập chống-Hoa-Kỳ được điều khiển tấu hợp một cách cẩn thận bởi Beijing nổ ra trên khắp đất nước, và báo chí chính thức của Trung Quốc hứa sự hỗ trợ vững chắc cho đồng minh bị bao vây của nó. Tuy nhiên, những lãnh đạo Việt Nam quyết tâm chống lại sự nương tựa quá nhiều vào sự hỗ trợ của Trung Quốc(pc 37) và từ chối lời đề nghị của Phó Thủ tướng Deng Xiaoping (i.e. Đặng Tiểu Bình) cung cấp sự hỗ trợ lớn với điều kiện là VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) từ chối bất kỳ mối quan hệ xa hơn nữa với Moscow.

Biến cố Vịnh Bắc Bộ đã phục vụ để tăng cường những quan hệ của Hà Nội với Beijing, nhưng nó dẫn đến sự suy giảm hơn nữa trong những quan hệ của nó với Moscow.

p542

Những quan chức Liên Xô đã từng phản ứng với tin tức bằng sự lập lờ nước đôi, chỉ đơn giản lên án những cuộc tấn công của Mỹ và đổi mới lại sự kêu gọi của họ cho việc tái thống nhất bằng ôn hòa. Khi Lê Duẩn đến Moscow sau chuyến thăm Beijing của ông vào giữa tháng Tám, những quan chức Sô-Viết nhấn mạnh việc cần đến một hòa giải qua thương thuyết để chấm dứt xung đột ở Việt Nam, nhưng sau đó ghép thành vấn đề khó khăn bằng cách trì hoãn lời yêu cầu của MtDtGp(pc 24) cho sự nhìn nhận ngoại giao chính thức như là một chính phủ hợp pháp duy nhất của miền Nam Việt Nam.

Tình hình sắp thay đổi, tuy nhiên, khi mà, vào mùa thu, Nikita Khrushchev bị lật đổ bởi một phe đảng được cầm đầu bởi Leonid Brezhnev. Vào ngày 16 tháng Mười, ngay sau khi tin tức đến Hà Nội, Hồ Chí Minh và Lê Duẩn gởi một bức thư chúc mừng ngắn đến Brezhnev vào dịp đầu phiếu của ông ta vào vị trí Bí thư thứ nhất của Đảng. Lá thư ngắn này được cẩn thận quân bình bằng một thông điệp đến Beijing một ngày sau đó chúc mừng Trung Quốc về tiếng nổ của dụng cụ hạt nhân đầu tiên của họ.

Sự xuất hiện của ban lãnh đạo mới ở Moscow là một tiến triển hoan nghênh đối với Hồ Chí Minh, không chỉ vì nó làm sáng lên những triển vọng cho sự gia tăng viện trợ quân sự của Sô-Viết, mà còn vì nó nâng cao khả năng rằng VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) có thể tiếp tục cách giải quyết vô tư trước đó trong những quan hệ với hai đồng minh lớn của mình. Ngay cả đối với Lê Duẩn, sự quyết định ủng hộ cho Beijing được đạt đến tại Phiên họp Toàn thể lần Thứ chín đã từng là một chiến thuật hơn là một bước đi chiến lược. Vào tháng Mười Một, Phạm Văn Đồng được gởi đến Moscow để đánh giá thái độ của ban lãnh đạo mới của Liên Xô. Để Trong một lần, chuyến thăm diễn ra tốt đẹp. Những lãnh đạo Sô-Viết hứa sẽ gia tăng viện trợ của họ cho VNDCCH và tuyên thệ ủng hộ xa hơn nữa trong trường hợp Hoa Kỳ quyết định mở rộng cuộc chiến đến miền Bắc Việt Nam. Như một minh chứng cho sự chân thành của họ, họ đồng ý cho phép mở một văn phòng MtDtGp(pc 24) ở Moscow. Đổi lại, Hà Nội tuyên bố sẽ kiềm giữ những cuộc tấn công phổ biến xa hơn nữa về những chính sách của Sô-Viết và làm mọi cố gắng để ngăn lại cuộc chiến tranh trong phạm vi những vùng biên giới của miền Nam Việt Nam. Hà Nội bấy giờ có những lời hứa chắc chắn về sự ủng hộ từ cả hai đồng minh chính của mình.36

* * *

Đến mùa thu năm 1964, sự bất ổn được tiếp tục ở Sài Gòn, khi những nhà chính trị và sĩ quan quân đội của miền Nam Việt Nam dùng mánh khoé cho quyền lực dưới cái nhìn bực tức của Hoa Kỳ. Trong khi đó, tình hình quân sự ở miền Nam đã tăng trưởng thêm nguy hiểm hơn bao giờ hết. Thiếu sự điều hành từ bên trên, những vị chỉ huy của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa kiềm giữ không ứng dụng một tư thế công kích trên chiến trường và thậm chí thực hiện những sắp xếp riêng tư của mình với lực lượng Việt Cộng đang hoạt động trong phạm vi những khu vực pháp lý của họ. Những nguồn tin tình báo Hoa Kỳ tiên đoán rằng nếu không có một hành động quyết định nào về phần của Hoa Kỳ, chính quyền Sài Gòn sẽ rơi vào những người Cộng Sản trong vòng ba đến sáu tháng.

p543

Những quan điểm như vậy được chia sẻ ở Hà Nội, nơi mà những lãnh đạo Đảng ra lệnh những người chỉ huy miền Nam gia tăng thêm những cố gắng của họ để có được chiến thắng cuối cùng. Những cuộc tấn công khủng bố được mệnh lệnh nhắm vào những cơ sở của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam như là một cách cảnh cáo Washington rằng sự leo thang có thể dẫn đến những thương vong gia tăng của Mỹ. Chỉ thị đưa đến kết quả trong một cuộc tấn công của Việt Cộng vào căn cứ không quân Hoa Kỳ ở Biên Hòa vào ngày 31 tháng Mười năm 1964, giết chết bốn người lính Mỹ và làm bị thương hơn 30 người. Hơn nữa những vụ đánh bom khủng bố xảy ra ở trung tâm phố xá Sài Gòn: tại khách sạn Caravelle,(pc 38) là một chỗ trũng yêu thích có nước chảy của những nhà báo Tây phương, và tại Cư xá Sĩ quan Độc thân của khách sạn Brink(pc 39) bên kia đường, vào đêm Giáng sinh, giết chết hai người Mỹ.37

Những người chỉ huy của CqTưmNVN(pc 40) ở miền Nam thì không hoàn toàn lạc quan như những cấp trên của họ ở miền Bắc. Trong một đánh giá cuối năm, họ than van rằng LlVtNdGp(pc 23) vẫn chưa được chuẩn bị để giáng đòn trực tiếp vào đối phương. Nhưng khi, trong tháng Mời Hai, lực lượng Việt Cộng gây thương vong những đơn vị miền Nam Việt Nam gần làng Bình Giã, khoảng hai mươi dặm về phía đông Sài Gòn, những nhà chiến lược ở Hà Nội tự hào rằng cuộc chiến đã chứng minh khả năng của LlVtNdGp đánh bại lực lượng chính quy của Sài Gòn. Ngay cả một Hồ Chí Minh bình thường thận trọng đắc chí rằng Bình Giã(pc 41) đã là một “Điện Biên Phủ nhỏ.” Trong một bức thư tháng Hai cho Nguyễn Chí Thanh, mới được bổ nhiệm như là vị chỉ huy của tất cả lực lượng nổi dậy ở miền Nam, Lê Duẩn thúc giục vị Tướng làm mọi cố gắng để đưa đến sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn trước khi Hoa Kỳ có thể quyết định liệu xem có nên gởi lực lượng bộ binh. Nếu điều đó là một trường hợp, ông ta tin tưởng rằng, Nhà Trắng sẽ có không lực chọn nào khác ngoài những cuộc thương thuyết và việc rút quân cuối cùng của Hoa Kỳ. Lê Duẩn thừa nhận rằng sự thành công không được bảo đảm, nhưng –trích dẫn lời Lenin– ông ta nhận xét, “Chúng ta hãy hành động và sau đó chờ xem.” Ngay cả nếu chiến dịch không hoàn toàn thành công, họ sẽ ở trong một vị thế tuyệt vời để phục sức và thử lần nữa.38

Trong một lần, Hà Nội đang lúc vào đêm. Vào ngày 07 tháng Hai năm 1965, lực lượng Việt Cộng tấn công doanh trại Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ tại Pleiku, thủ phủ tỉnh ở Tây Nguyên, giết chết tám người Mỹ và làm bị thương 100 người khác. Sáu ngày sau đó, Tổng thống Johnson ra lệnh cho những cuộc không kích trả đũa trên miền Bắc Việt Nam. Lúc đầu được hạn chế trong phạm vi mục tiêu, những cuộc tấn công cuối cùng được mở rộng thành một loạt cường độ của những cuộc oanh kích thả bom thường xuyên trên phần lớn VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), bao gồm một số trong những thành phố lớn của nó. Vào tháng Ba, Johnson ra lệnh cho hai tiểu đoàn Lính thủy Đánh bộ (Marine) đến miền Nam Việt Nam để bảo vệ những cơ sở quân sự của Hoa Kỳ tại căn cứ không quân Đà Nẵng. Hai tiểu đoàn Marine bổ sung chẳng bao lâu theo sau, như Tướng William C. Westmoreland, là vị chỉ huy lực lượng Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam, lập luận rằng nếu không có một sự hiện diện chiến đấu đáng kể của Mỹ, “việc chiếm lấy đất nước của VC (i.e. Việt cộng)” thì gần như trong vòng một năm.

* * *

p544

Trong khi đó, những mối quan hệ giữa Liên Xô và VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) vẫn tiếp tục được cải thiện. Vào đầu tháng Hai, Alexei Kosygin, Thủ tướng mới của Liên Xô, đến thăm Hà Nội. Trong những cuộc hội đàm với Hồ Chí Minh và những lãnh đạo khác của Việt Nam, Kosygin hứa “hoàn toàn ủng hộ và hỗ trợ cần thiết” với những chủ khách của mình và chuyển sự cam kết của Moscow về viện trợ quân sự được gia tăng, bao gồm những phi đạn đất-đối-không tiên tiến và dụng cụ chống-máy-bay. Đổi lại, Việt Nam hứa sẽ làm cho mọi cố gắng để ngăn chặn cuộc chiến ở miền Nam khỏi lan rộng và đưa ra sự xem xét nghiêm túc cho một giải pháp thương lượng đối với cuộc xung đột.

Những cuộc họp với các quan chức Trung Quốc cũng không đi đến đâu. Beijing đã từ chối lời đề nghị của Kosygin gia nhập với Moscow trong một tuyên bố chung về sự ủng hộ cho sự nghiệp Việt Nam, vì thế khuấy động sự tức giận trong số những quan chức Đảng ở Hà Nội. Trong suốt chuyến thăm VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) vào đầu tháng Ba, Zhou Enlai(pc 13) giải thích rằng Trung Quốc đã từ chối lời đề nghị bởi vì chính sách đối ngoại của Liên Xô mới chỉ là “chủ nghĩa Khrushchev” qua ngụy trang. Ông Zhou cũng tìm cách thuyết phục những chủ khách của mình từ chối viện trợ quân sự của Liên Xô, bằng cách cảnh cáo thẳng thắng rằng sự hiện diện gia tăng của Liên Xô ở VNDCCH có thể gây nguy hiểm cho những quan hệ Trung-Việt.39

Lúc bấy giờ, Ủy Ban Trung ương của ĐLDVN(pc 16) triệu tập Phiên họp Toàn thể lần Thứ mười một vào ngày 26 tháng Ba, phạm vi mục tiêu phản ứng của Washington về việc làm xấu đi tình hình ở miền Nam Việt Nam đang trở nên rõ ràng, ngay cả khi mục tiêu cuối cùng của nó không có. Có lẽ, một số nhà lãnh đạo Đảng suy đoán, Hoa Kỳ chỉ đang mở rộng chiến tranh nhằm mục đích thương lượng từ sức mạnh. Nếu đó là trường hợp, không có sự cần thiết khẩn cấp thay đổi chiến lược hiện có về việc tìm kiếm chiến thắng mà không có sự đưa vào lực lượng chính quy của Bắc Việt theo quy mô lớn. Đối với Hồ Chí Minh, tuy nhiên, tình hình dường như nguy hiểm hơn; những cuộc không kích của Hoa Kỳ sau biến cố của Vịnh Bắc Bộ đã thuyết phục ông rằng chính quyền Johnson đã thực hiện một quyết định chiến lược để chọn thế đứng ở miền Nam Việt Nam. Tại một cuộc họp Bộ Chính trị vào cuối tháng Hai, ông ta cảnh cáo những cộng tác viên của mình không nên đánh giá thấp Hoa Kỳ. Theo quan điểm của ông ta, điều cực kỳ quan trọng là giữ cuộc xung đột ở mức độ của một “cuộc chiến đặc biệt” (nghĩa là, không có việc đưa vào ồ ạt lực lượng chiến đấu Mỹ), hơn là tiến tới giai đoạn tiếp theo của một “cuộc chiến hạn chế,” với đội quân Mỹ tham gia vào chiến đấu.40

Không chắc chắn về những ý định của Washington, Phiên họp Toàn thể lần Thứ mười một lựa chọn tiếp tục chính sách hiện có, trong khi tìm cách xác định liệu xem Nhà Trắng sẵn sàng thương lượng việc rút lui của Hoa Kỳ. Trong suốt mùa thu và đông năm 1964-1965, Hà Nội đã từng từ chối những yêu cầu hòa bình từ Washington trên giả định rằng Hoa Kỳ chưa đủ nản lòng, hoặc cũng chưa phải là chiến thắng cuối cùng trong tầm mắt.

p545

Bấy giờ những lãnh đạo Đảng được chuẩn bị sẵn sàng để thử nghiệm các vùng biển bang giao một lần nữa. MtDtGp,(pc 24) qua Đài phát thanh Giải phóng, trình bày những điều kiện của riêng mình cho việc hòa giải hòa bình vào ngày 22 tháng Ba, trong một bản tuyên bố năm-điểm công bố rằng những cuộc đàm phán không thể bắt đầu cho đến khi lực lượng Hoa Kỳ đã được rút khỏi miền Nam Việt Nam. Đài Hà Nội phát sóng lại bản tuyên ngôn của MtDtGp một vài ngày sau đó, nhưng trong một phiên bản được chỉnh sửa hơi khác, ngụ ý rằng việc rút lui hoàn toàn của Mỹ đầy không cần phải xảy ra trước khi việc khai mạc những cuộc đàm phán miễn là Washington tuyên thệ sẽ làm như thế. Sau đó, vào ngày 08 tháng Tư, Phạm Văn Đồng ban hành bản tuyên ngôn “4 điểm” của Hà Nội, mà qua đó nó kêu gọi việc rời khỏi của tất cả quân lính nước ngoài từ Việt Nam, việc quay lại những điều khoản của các Hiệp định Geneva,(pc 09) một giải pháp cho những vấn đề nội bộ của miền Nam theo đúng với chương trình của MtDtGp; và việc tái thống nhất cuối cùng của hai vùng một cách hòa bình. Bản tuyên bố mơ hồ về việc định thời gian rút lui của Hoa Kỳ, và Hồ Chí Minh chủ ý bày tỏ mập mờ khi ông ta nói với một nhà báo Nhật Bản rằng Washington phải rút quân để tạo ra hoàn cảnh thích hợp cho cuộc hội nghị hòa bình.41

Như mọi khi, Hồ Chí Minh đóng một vai trò tích cực trong việc điều hợp chiến dịch hòa bình của Hà Nội. Trong những cuộc họp của Bộ Chính trị, ông ta thúc giục những cộng tác viên của mình chuẩn bị cho việc mở lại hội nghị Geneva có thể có, do đó bất cứ khi nào Washington cho thấy ý định rút lui, VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) sẽ sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển. Trong khi đó, ông ta lập luận rằng quan điểm chống chiến tranh ở Hoa Kỳ và khắp thế giới nên được kích thích, và những đồng minh của Hà Nội cần được tham khảo ý kiến một cách cẩn thận. Chiến dịch hòa bình, ông ta khuyên, phải thể hiện sự vững chắc và quyết tâm, nhưng cũng phải được thực hiện bằng sự khôn khéo và linh hoạt.

Nếu có bất kỳ hy vọng nào ở Hà Nội rằng Nhà Trắng sẵn sàng thương thuyết, những hy vọng đó sẽ nhanh chóng tiêu tan. Vào đầu tháng Tư, cũng giống như Phạm Văn Đồng đang chuẩn bị đưa ra dự nghị “bốn điểm” của ông ta, Tổng thống Johnson ra lệnh cho hai sư đoàn Quân đội Hoa Kỳ đến Việt Nam để tăng cường những vị trí của Việt Nam ở Tây Nguyên. Sau đó, vào ngày 07 tháng Tư, ông ta trình bày lời đề nghị của riêng mình về những cuộc đàm phán hòa bình “vô điều kiện” trong một bài phát biểu tại Đại học Johns Hopkins, mặc dù ông ta không đưa ra một gợi ý nào về những nhượng bộ to lớn của Hoa Kỳ nhằm mục đích đưa đến những cuộc đàm phán đó. Đồng thời, những lãnh đạo Đảng nhanh chóng kết luận rằng Nhà Trắng chưa sẵn sàng xem xét một hiệp định hòa bình trên những điều khoản của Hà Nội và mất hứng thú trong việc theo đuổi những cuộc thương thuyết.

Thái độ cứng rắn của Washington chắc chắn khẳng định trong tâm trí của những chiến binh như Lê Duẩn rằng chiến thắng sẽ đến chỉ trên chiến trường và không, như Hồ Chí Minh đã từng hy vọng, tại bàn hội nghị hòa bình. Trong một bức thư cho Tướng Nguyễn Chí Thanh vào tháng Năm, ông Duẩn đã kết luận rằng việc đưa vào những quân lính chiến đấu của Hoa Kỳ cho thấy rằng tình hình chưa chín muồi cho những cuộc thương thuyết.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 02_ Đây là khoảng thời gian có sự xuất hiện Công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) …(xin xem phần trước).

pc 03_ Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á ( SEATO = Southeast Asia Treaty Organization) : là một tổ chức quốc tế cho sự phòng thủ chung trong khu vực Đông Nam Á …(xin xem phần trước).

pc 04_ Đây là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất về mưu đồ tái thống nhất …(xin xem phần trước).

pc 05_ Những con đường rừng mòn, theo tác giả, chúng được dọn mở trước đây …(xin xem phần trước).

pc 06_ Bộ Luật 10/59 : đây là Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 do Quốc Hội Lập Hiến …(xin xem phần trước).

pc 07_ VNCH : Việt Nam Cộng Hòa.

pc 08_ Đây chính là phương cách mà Hồ Chí Minh đã từng ứng dụng …(xin xem phần trước).

pc 09_ Hiệp định Geneva (Genéve) : là một hiệp ước đình chiến và hòa bình, …(xin xem phần trước).

pc 10_ Tân Cương : là vùng đất kéo dài hơn 1,6 triệu km 2 , …(xin xem phần trước).

pc 11_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.
pc 12_ Lin Biao : Lâm Bưu.
pc 13_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 14_ Liu Shaoqi : Lưu Thiếu Kỳ.
pc 15_ CHNDTH : Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
pc 16_ ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt Nam.
pc 17_ Vấn đề, như tác giả viết, “Hoa Kỳ đang cố gắng khích động một cuộc chiến tranh thế giới” dường như hoàn toàn vô căn cứ. …(xin xem phần trước).

pc 19_ Lê Duẩn khi nói “tính linh hoạt và sự di chuyển từ những hình thức hoạt động hợp pháp đến bất hợp pháp,” …(xin xem phần trước).

pc 20_ Rõ ràng là nhà nước Cộng sản miền Bắc lúc nào cũng muốn nắm hết lấy quyền lực …(xin xem phần trước).

pc 21_ “Sẽ không có chuyện nhắc đến chủ nghĩa cộng sản,” điều nầy càng chứng minh rõ ràng …(xin xem phần trước).

pc 22_ Đây là lời cáo buộc của tác giả nhưng tiếc thay không có gì làm bằng …(xin xem phần trước).

pc 23_ LlVtNdGp : Lực lượng Vũ trang Nhân dân Giải phóng.
pc 24_ MtDtGp : Mặt trận Dân tộc Giải phóng.
pc 25_ “cuộc tấn công cuối cùng chống lại những vùng đồng bằng có dân cư dầy đặc,” đây chính là lời buộc tội thích đáng nhất …(xin xem phần trước).

pc 26_ Ấp chiến lược : là một “quốc sách” của chính quyền Đệ nhất Cộng hòa miền Nam Việt Nam …(xin xem phần trước).

pc 27_ “sử dụng phản-gián, khủng bố, và mở rộng chiến tranh du kích,” là một bằng chứng bổ sung …(xin xem phần trước).

pc 28_ “làm kinh hoàng thế giới,” điều nầy quả không sai khi thế giới lần đầu tiên nhìn thấy …(xin xem phần trước).

pc 29_ Theo tác giả, “lời đề nghị thương lượng của ông Hồ với ông Diệm, [nếu có], về những điều khoản gì thì không chắc chắn …(xin xem phần trước).


pc 30_ Canton : tỉnh Quảng Đông.
pc 31_ QĐNDVN : Quân đội Nhân dân Việt Nam.
pc 32_ “những cuộc tấn công cay độc của họ vào chủ nghĩa xét lại,” đây là một trong những bằng chứng cho bản chất con người Cộng sản. Một khi họ cảm thấy rằng bất kỳ những ai, phe phái, hay tổ chức nào không phản ảnh đúng theo quan điểm thống trị của họ, liền bị xem là phản động, phản cách mạng bằng những giọng điệu cay độc, thù hận như là tất cả những gì sai trái đối với họ cần phải biến mất ngay lập tức.

Ngay cả với Liên Xô, là nước ân nhân của Bắc Việt trong khối Cộng sản, nhưng Bộ Chính trị miền Bắc cảm thấy bất an theo chủ trương xét lại của Liên Xô vì những sai lầm quá trầm trọng của nó. Họ dựa vào thế Trung cộng với những lời hứa hẹn trợ giúp thiết thực cho cuộc chiến Việt Nam được gọi là tái thống nhất đất nước, nên sẵn sàng tấn công Liên Xô bằng những bài viết thù nghịch, khinh khi, nhưng khi đến viếng Liên Xô phái đoàn đại biểu luôn tỏ ra hạ mình để mong được sự trợ giúp nào khác về sau.

pc 33_ “chiếm lấy dần dần miền Nam bằng lực lượng chính trị trung thành với Đảng,” là một bài học đắng cay cho những thành phần tự xưng là trung lập ở miền Nam Việt Nam –những người trí thức ngu ngơ trên lý thuyết dù trước mắt họ cho thấy những thảm trạng đã từng xảy ra ở Liên Xô và Trung cộng qua quyền thống trị của Cộng sản. Và dĩ nhiên, Bắc Việt không bao giờ chịu nhường nhịn quyền lực mình cho bất kỳ phe phái nào. Điều nầy cũng đã từng chứng minh trước đó trong giai đoạn 1945 khi Hồ Chí Minh quyến dụ nông dân hô hào cướp chính quyền từ tay Bảo Đại. Tuy thế, mãi cho đến hôm nay, vẫn không ít người Việt trí thức ở hải ngoại còn mơ màng về chế độ Cộng sản, chỉ vì họ không đủ can đảm nhìn thấy cái sai lầm to lớn và tội lỗi của chính mình dù gián tiếp hay trực tiếp khi tiếp tay Cộng sản xây dựng cuộc chiến tang thương cho dân tộc Việt Nam. Và điều đáng nói là chính những người trí thức đó cũng xa lánh cái đất nước khốn khổ nầy qua việc xin cư trú vĩnh viễn nơi nước ngoài hơn là mang gia đình về lại Việt Nam cùng hưởng cuộc sống xã hội chủ nghĩa mà chính họ cũng có công không nhỏ góp phần xây dựng cho nó.

pc 34_ “theo đuổi một chiến lược xâm lược ở miền Nam Việt Nam,” đây là sự khẳng định chắc chắn qua lời Mao Trạch Đông về ý nghĩa của cuộc chiến Việt Nam dưới cái tên gọi là tái thống nhất đất nước của Cộng sản Bắc Việt.

pc 35_ “không phải Hà Nội hoặc cũng không phải Beijing ước muốn cuộc xung đột lan rộng,” điều nầy dường như tác giả viết theo cảm nghĩ cá nhân hơn là qua sự kiện thựt tế, và thậm chí có nhiều mâu thuẩn qua những dòng chữ trước đó.
Vì sự thất bại của Bắc Kinh trong chiến dịch Triều Tiên với số chiến binh thí mạng trong chiến lược biển người cao hơn gấp ba lần con số tử vong của lính Hoa Kỳ, nhưng cuối cùng chỉ giành được một phần đất cho Bắc Triều Tiên. Bắc Kinh muốn trả đũa Hoa Kỳ qua tay Bắc Việt nên, dĩ nhiên, họ sẽ ủng hộ hết mình trong việc viện trợ cho Bắc Việt hầu nuôi dưỡng cuộc chiến –đó là chưa kể đến những ký kết có lợi cho Bắc Kinh trong sự trao đổi viện trợ cho Bắc Việt.
Về Bắc Việt, Hồ Chí Minh đã luôn luôn có ý tưởng xâm lược miền Nam từ sau ngày Hiệp định Geneva –được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần– như thế, khó có thể thuyết phục được rằng Hà Nội không muốn cuộc xung đột lan rộng. Mà qua đó chỉ có nghĩa là chính Bắc Kinh không muốn phơi bày sự có mặt của mình trong cuộc chiến Việt Nam để tránh bị tai tiếng và tai họa lan rộng đến họ. Nhất là vào thời điềm nầy, có sự xung đột với Liên Xô –một đồng minh mà cũng có thể trở thành thù nghịch mạnh mẽ nếu ngã về Hoa Kỳ– và một đất nước còn đang đớn đau sau những Đại Nhảy Vọt thất bại.

pc 36_ Deng Xiaoping : Đặng Tiểu Bình.
pc 37_ “quyết tâm chống lại sự nương tựa quá nhiều vào sự hỗ trợ của Trung Quốc,” đây chỉ là cách tác giả dùng để biện họ cho sự phụ thuộc của Bắc Việt vào Trung Quốc. Tuy nhiên, tiếp theo đó, tác giả cho biết lý do chính yếu đưa đến “quyết tâm” đó : “…với điều kiện là Bắc Việt từ chối bất kỳ mối quan hệ xa hơn nữa với Moscow.”
Hiển nhiên là Bộ Chính trị Bắc Việt nói chung và bản thân Hồ Chí Minh nói riêng lúc nào cũng muốn được lòng cả hai thế lực Cộng sản mạnh mẽ để mong nhờ những viện trợ lâu dài trong khi cuộc chiến gọi là tái thống nhất chưa thành công và mối đe dọa của Hoa Kỳ ngay trên vùng bờ biển mình. Bằng chứng cuối cùng là Công hàm của Phạm Văn Đồng năm 1958 đã khẳng định sự phụ thuộc như thế nào vào Trung cộng của Bắc Việt.

pc 38_ Khách sạn Caravelle : nằm giữa trung tâm Sài Gòn, thuộc quận 1, thuộc hàng quốc tế. Sau 1975, nó được đổi tên thành khách sạn Độc Lập.
Vào buổi sáng ngày 25 tháng tám năm 1964, vào khoảng 11:30 trưa, một quả bom phát nổ trong phòng 514, trên tầng trệt được chiếm hầu hết là những nhà báo nước ngoài, tất cả là những người ra ngoài trên công việc được giao. Chín phòng bị hư hại, những cửa xe bị thổi tung khỏi nhiều chiếc xe đậu trên đường phố, và một số người bị thương mà không có trường hợp tử vong.

pc 39_ Cư xá Sĩ quan Độc thân : là một cư xá dành riêng cho những sĩ quan Mỹ. Nó cao 6 tầng và có 168 phòng, trước đây nằm ở số 103 đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn, đươc thuê lại từ khách sạn tư Brink bởi Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ ở Việt Nam.

Vụ đánh bom cư xá Brink (hay khách sạn Brink) là một vụ tấn công khủng bố diễn ra vào ngày 24 tháng Mười Hai năm 1964 do lực lượng Mặt trận Giải phóng Miền Nam gây ra. Hai đặc công Việt Cộng đã đưa một xe có chứa thuốc nổ vào tầng hầm để xe của cư xá Brink làm chết 2 người Mỹ : một sĩ quan và một hạ sĩ quan, và làm bị thương khoảng 60 người khác, kể cả những nhân viên quân sự và thường dân Việt Nam, vào ngày lễ Giáng sinh năm 1964. Hai đặc công khủng bố nầy là Bảy Bê (tên thật là Nguyễn Thanh Xuân) và Tư Mập (tên thật là Nguyễn Văn Hòa) là hai binh sĩ thuộc đội 5, F100, biệt động Sài Gòn, đã giả trang làm những sĩ quan Việt Nam Cộng hòa để vượt qua trạm gác.

pc 40_ CqTưmNVN : Cơ quan Trung ương miền Nam Việt Nam
pc 41_ Trận Bình Giã : là trận đánh chính nằm trong Chiến dịch Bình Giã do Hà Nội đề xướng, xảy ra từ rạng sáng ngày 3/12/1964 và kết thúc vào ngày 31/12 –sau 28 ngày đối đầu với Quân lực Việt Nam Cộng hòa (hoàn toàn không có sự tham chiến của lực lượng Hoa Kỳ, ngay cả phi cơ, hoặc pháo binh yểm trợ) qua 5 cuộc tổng công kích theo chiến lược biển người của lực lượng Quân giải phóng miền Nam kết hợp với bộ đội chính quy từ Bắc xâm nhập vào.

Làng Bình Giã, thuộc tỉnh Phước Tuy, cách Sài Gòn khoảng 67 km. Lúc xảy ra trận đánh, Bình Giã có khoảng 6.000 dân, phần lớn là những người theo đạo Thiên Chúa di cư từ miền Bắc Việt Nam sau năm 1954.
Chấp hành chủ trương của Bộ Chính-trị, ngày 11/10/1964, Cộng sản Bắc Việt chỉ thị cho các chiến trường mở chiến dịch Thu Đông 1964-1965. Thi hành chỉ thị này, Đảng ủy và những chỉ huy địa phương lập kế hoạch tác chiến với địa bàn hoạt động trên hai hướng: hướng chủ yếu là Bà Rịa–Long Khánh và hai hướng phối hợp là Nhơn Trạch–Long Thành (Biên Hòa) và Hoài Đức–Tánh Linh (Bình Thuận).

Việt Cộng đã tung ra chiến trường Sư đoàn 5 gồm 2 trung đoàn (tối thiểu là 3.000 người cho một trung đoàn) Q761 và Q762 –hậu thân của 2 trung đoàn biệt lập 271 và 272– được tăng cường với Đoàn 80 Pháo-binh Miền, tiểu đoàn (tối thiểu là 300 người) 800 chủ lực quân khu miền Đông, tiểu đoàn 186 của quân-khu 6, đại đội (tối thiểu là 80 người) D445 và các đơn vị du kích huyện và xã Tỉnh Bà-Rịa. Lực lượng tham dự tổng cộng lên đến trên 7.000 người được đặt dưới sự chỉ huy của Chính ủy trưởng chiến dịch Trần đình Xu và Chính ủy Lê văn Tưởng, và Nguyễn hồng Lâm (Hai Bứa) chi huy phó chiến dịch đặch trách hướng chủ yếu Bình Giã.
Mục tiêu chính của CS là đánh chiếm làng Bình Giã bằng lực lượng địa phương để nhữ đánh các đơn vị tiếp viện. Bình Giã được chọn làm mục tiêu vì Bình Giã ở cách xa quận, chi khu và chỉ được bảo vệ với 2 trung đội Bảo an (lực lượng địa phương sau này đổi tên thành Địa phương Quân).
Sau khi Việt cộng làm chủ tình hình, Việt Nam Cộng hòa lần lượt gởi từng một tiểu đoàn tham chiến theo mức độ giao tranh càng ngày càng khốc liệt, gồm có Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), Tiểu đoàn 38 Biệt Động Quân(BĐQ), Tiểu đoàn 33 Biệt Động Quân, Tiểu đoàn 30 Biệt Động Quân. Trong đó, Tiểu đoàn 4 TQLC luôn đóng vai trò quan trọng nên chịu nhiều tổn thất nhất. Như vậy có tất cả 4 tiểu đoàn tham chiến là khoảng 1.200 quân lính phải đối đầu với khoảng hơn 7.000 quân Việt cộng.
Trong suốt hai tuần từ ngày khởi đầu với 2 đợt tổng tấn công của Việt cộng đều bị đẩy lui, không có một dấu hiệu nào cho thấy sự hiện diện của địch trong vùng. Những đơn vị tham chiến của Việt cộng đã rút sâu vào rừng gần bãi biển Hàm Tân để tiếp nhận thêm vũ khí đạn dược từ một chiếc tàu từ miền Bắc vào cập bến tại Lộc An. Vũ khí mới gồm súng trường CKC, tiểu liên AK-47, K-50 nòng rỗ, thượng liên RPD và súng chống chiến xa B-40. Trong khi đó, lực lượng Việt Nam Cộng hòa vẫn còn dùng những loại vũ khí thời Đệ nhị Thế Chiến như là Garant M1, Carbin M1, Trung liên BAR của Mỹ. Khuya ngày 28/12, Việt Cộng mở lại đợt tấn công lần thứ ba với đại đội D445 cùng với đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 1, và trung đoàn Q761, đồng thời dùng đại bác 75-ly không giật trực xạ chi khu Đức Thạnh. Sau cùng lại bị đẩy lui. Đến đêm ngày 30/12, lực lượng Việt cộng lại mở cuộc tổng tấn công lần thứ 4 nhưng lại bị đẩy lui sau gần một giờ giao tranh đưa đến sự kết thúc trận chiến. Nhưng Việt cộng vẫn cố bám giữ trong rừng để di tản thương vong và thủ tiêu xác chết trước khi tự rút lui sâu hơn vào rừng bên kia biên giới Lào.

Sau khi trận chiến tưởng chừng như kết thúc, nên rạng sáng ngày 31 tháng Mười Hai năm 1964, trong khi các ông Tướng đang bận lo tổ chức dạ vũ linh đình tại Sài Gòn, lệnh của Quân Đoàn III buộc Tiểu đoàn 4 TQLC phải tiến quân vào tìm xác chiếc trực thăng Mỹ bị bắn rớt. Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 4 quyết liệt từ chối, vì theo tin tức do Cha Xứ Đạo Bình Giả cho biết quân số Việt cộng hiện còn lên đến khoảng một Trung đoàn (3.000–5.000) vận phục bộ đội Bắc Việt. Sau khi tìm được xác phi hành đoàn của Mỹ và được bốc đi, nhưng từ chối chở 12 xác TQLC bất chấp sự phản đối của các sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ của tiểu đoàn. Tuy nhiên, đến lúc xế chiều vẫn không thấy trực thăng đến nên Tiểu đoàn trưởng quyết định di chuyển xác theo đường bộ về làng Bình Giã. Việt cộng đón đường bốn phía tấn công tới tấp, nã súng không giật, và súng cối và tiếp theo là cuộc xung phong biển người. Trận đánh khốc liệt tiếp tục cho đến khi trời sụp tối tiểu đoàn đánh thủng vòng vây của địch và mở đường di chuyển thương binh về Bình Giã. Địch cũnhg rút lui ra khỏi trận địa dùng xe bò chuyên chở cán binh tử trận về hướng Rừng lá và Xuyên Mộc. Tổng kết tổn thất trong trận Bình Giả về phía Tiểu đoàn 4 TQLC gồm 122 tử thương và gần 300 bị thương tại mặt trận.

Ngay sau đó, Bộ Tư Lệnh Quân đoàn III cho trực thăng vận chuyển 3 tiểu đoàn: 1, 3 và 7 Nhảy dù xuống phía đông Bình Giã để mở cuộc hành quân truy kích đánh thẳng vào mật khu Hát Dịch nhưng Việt cộng đã lẫn tránh hết bỏ lại nhiều kho lương thực, vũ-khí, đạn dược, và vật dụng.
Theo wikipedia (hầu như những thông tin đó là do nhà nước Cộng sản Việt Nam viết, và cả phần lớn những bài viết bằng tiếng Anh) :

_ Lực lượng Việt cộng (bao gồm Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam và bộ đội chính quy từ miền Bắc) tham gia là 1.800 với con số bị giết là 32.
_ Lực lượng Việt Nam Cộng hòa là 4.300 với 203 bị giết, 192 bị thương, và 68 mất tích.

Và vẫn theo wikipedia viết, “trong cuộc họp báo ngày 4 tháng Giêng năm 1965, MtGpmNVN đã tuyên bố rằng họ tiêu diệt được 2.000 quân lính địch, 28 cố vấn Mỹ, 37 xe quân sự, và bắn rơi 24 chiếc máy bay. Con số này dĩ nhiên là quá lớn nếu so với số lượng binh lính của lực lượng Việt Nam cộng hòa được tung ra tham chiến.”

Trong bài viết của Nguyễn văn Tòng, nguyên chính ủy trung Đoàn Q761 mà sau trận Bình Giã, Việt cộng gán cho tên “Trung đoàn Bình Giã,” đã tiết lộ như sau: “… 14g30 có tin địch hành quân vào chỗ máy bay rơi để tìm các cố vấn Mỹ… Theo kế hoạch, tiểu đoàn 1 chặn đầu, tiểu đoàn 2 chận hậu khóa đuôi và tiểu đoàn 3 đánh xuyên hông. Gọi tiểu đoàn nhưng tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 3 quân số còn khoảng 100, và tiểu đoàn 2 có trên 300…” Như vậy sự thiệt hại của Việt cộng có thể ít nhất là 400 người trong các trận đánh trước đó. Khi bao vây Tiểu đoàn 4 TQLC tại nơi trực thăng bị rơi, Việt cộng lại bị tổn thất thêm nên khi Tiểu đoàn 4 TQLC phá vỡ vòng vây, Việt cộng đã bỏ cuộc rút ra khỏi trận địa.

Con số hy sinh của Việt cộng (32 người) –không có con số bị thương hay mất tích– quả là ít ỏi đến khó thể cho là đúng dù đó là dựa theo tài liệu “khá” tin trên wikipedia, cũng như con số tham gia trận chiến (1.800 người) cũng là một vấn đề dường như thiếu tính trung thực. Vì trong một trận đánh, người ta thường dựa vào những cấp đơn vị tham gia để ước tính số quân lính, và đây là một trận đánh không nhỏ vì khả năng hỏa lực của Việt cộng với những vũ khí hiện đại lúc bấy giờ cho thấy rằng đó là một trận chiến chắc chắn là quyết liệt, tàn khốc, và chết chóc. Nếu Việt cộng chỉ thiệt hại 32 người, điều nầy chứng minh là một chiến thắng và ngôi làng Bình Giã khốn nạn đó chắc chắn sẽ bị chiếm giữ. Tuy nhiên, sự thật hoàn toàn khác biệt, khi cuối cùng lực lượng có số người tử vong cao nhất là bên Việt Nam Cộng hòa (203 người) –thêm vào gần 200 người bị thương và mất tích, như wikipedia viết– lại chính là những người chiến thắng. Và lực lượng tham gia của quân lính quốc gia –theo lá thư tâm sự của người lính khi về già, như được nêu trên– chỉ khoảng 1.200 người –nhưng theo wikipedia đưa ra con số quá sai lệt (4.300 người)– nếu được tính theo số người của 4 tiểu đoàn với khoảng 300 người trong một tiểu đoàn. Dù wikipedia cũng xác nhận là 4 tiêu đoàn của phe quốc gia và 2 trung đoàn của phe Việt cộng, nhưng con số 1.800 người cho 2 trung đoàn quả là sai biệt –mà không cần nhắc đến những đơn vị khác tham gia. Và chiến thuật biển người luôn luôn là chiến lược ưu thích duy nhất của Việt cộng –theo cách Trung cộng vì dân Trung Quốc quá đông– được áp dụng trên những trận đánh khác nhau từ thời chống Pháp. Điều nầy càng chứng minh rằng có ít nhất là 6.000 quân Việt cộng cho 2 trung đoàn, chưa kể đến những đơn vị lẽ tẽ khác tham gia.

Theo ước lượng trận chiến, có thể nói rằng Hà Nội đã đưa ít nhất là 1 Trung đoàn bộ đội chính quy vào Nam –như theo lời Cha xứ báo nguy cho Trưởng Tiểu đoàn 4– để tham gia trận chiến đọ sức và thăm dò lực lượng Việt Nam Cộng hòa, cũng như để đo lường sức mạnh của lực lượng Giải phóng miền Nam Việt Nam xem họ có khả năng như thế nào trong cuộc tổng nổi dậy mà qua đó Hà Nội sẽ quyết định sự hỗ trợ thiết yếu và cấp bách ra sao.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s