XV- Tất Cả Cho Những Tuyến Đầu (Phần 4)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p546

“Chỉ khi nào cuộc nổi dậy [ở miền Nam Việt Nam] thành công,” ông ta viết, “vấn đề thành lập một “chính quyền trung lập” sẽ được đặt ra một lần nữa.” Mặc dù “bốn điểm” vẫn còn trên bàn, chúng chỉ “có ý định mở đường cho việc rút lui của Hoa Kỳ với sự mất mặt ít hơn.”42

Khi chiến tranh leo thang vào đầu năm 1965, vai trò của Trung Quốc ngày càng trở nên rất quan trọng đối với VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt). Trong khi sự trợ giúp của Liên Xô có thể cung cấp cho Hà Nội với đủ loại vũ khí tiên tiến để bảo vệ vùng trời Bắc Việt Nam chống lại những cuộc không kích của Mỹ, Trung Quốc thì quan trọng cả như là một nguồn hỗ trợ quân sự và kinh tế và là một cản trở đối với việc tham chiến của Washington một cách trực tiếp với miền Bắc. Trong những lời tuyên bố cả công khai và riêng biệt, những lãnh đạo Trung Quốc đã từng hứa rằng CHNDTH(pc 15) sẽ phục vụ như là một “hậu phương khổng lồ” của Việt Nam, qua việc cung cấp những hình thức ủng hộ khác nhau cho sự nghiệp tái thống nhất đất nước của Việt Nam. Quan trọng không kém đối với Hà Nội, tuy nhiên, là mối đe dọa ẩn ý của Beijing(pc 42) rằng nếu Hoa Kỳ quyết định mở rộng hoạt động của nó ở phía bắc vùng phi quân sự, Trung Quốc sẽ can thiệp vào chiến tranh một cách trực tiếp ở phía bên Bắc Việt.

Đối với Mao Zedong,(pc 11) hiện tại đang trên bờ vực của việc dấn thân vào cuộc đấu tranh to lớn với những đối thủ thực sự hơn của mình trong phạm vi ban lãnh đạo của ĐCSTQ,(pc 43) cuộc xung đột đang lan rộng ở Việt Nam phục vụ như là một phương cách hữu ích về việc vận động lòng nhiệt tình cách mạng ở Trung Quốc theo chiều hướng thuận lợi cho những chính sách đối nội của mình, trong khi đồng thời làm chậm tốc độ của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh khó thể thắng được ở Đông Nam Á. Khi Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp đến Beijing vào tháng Tư để yêu cầu về quân dụng và những phi công của chiến đấu cơ để bảo vệ khoảng không gian Bắc Việt, Liu Shaoqi(pc 14) (chẳng bao lậu bị thanh lọc trong cuộc Cách mạng Văn hóa) dường như tuân theo yêu cầu như là một cách nâng cao tinh thần ở VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) và bảo vệ không phận Bắc Việt Nam trên Vĩ tuyến hai mươi, ngay hướng nam đồng bằng sông Hồng. Trong suốt chuyến thăm của Hồ Chí Minh đến Trung Quốc tháng sau, ông Mao đồng ý cung cấp “bất cứ ủng hộ gì cần đến bởi Việt Nam.” Ông Mao sẽ gởi những đoàn xây dựng đường lộ để hỗ trợ những đồng của minh trong việc cải thiện mạng lưới vận chuyển, bao gồm Đường mòn Hồ Chí Minh và những tuyến đường từ đường biên giới Trung Quốc vào trong VNDCCH, và để xây dựng những tuyến đường từ Bắc Lào hướng đến Thái Lan. Thái Lan, ông Mao nhận xét, sẽ là đặc biệt hữu ích cho “những trận chiến quy mô lớn trong tương lai.” Đổi lại, ông Hồ bày tỏ lòng biết ơn của đất nước ông ta cho sự ủng hộ vững chắc của các “đồng chí anh em” ở Trung Quốc và hứa rằng chính dân Việt Nam sẽ có thể tiến hành cuộc chiến với sự hỗ trợ của những đơn vị vốn bấy giờ sẽ được gởi từ VNDCCH vào miền Nam.43

Beijing, tuy nhiên, cảnh giác về cuộc đối đầu trực tiếp với Washington, và như thế thận trọng hơn trong việc nhắc đến sự lối cuốn mạnh mẽ hơn có thể có trong cuộc xung đột ở Đông Dương. Trong một cuộc phỏng vấn được công bố rộng rãi với nhà báo Hoa Kỳ Edgar Snow vào tháng Giêng,

p547

Ông Mao tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ không tham chiến trừ khi bị tấn công trực tiếp –một tín hiệu khôn khéo là Washington có thể leo thang mức độ của sự hiện diện của nó miền Nam, miễn là nó không xâm lược Bắc Việt. Vào tháng Tư, Zhou Enlai(pc 13) gởi một thông điệp riêng đến Washington qua Tổng thống Pakistan Ayub Khan rằng Trung Quốc sẽ không khích động một cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ, nhưng sẽ thực hiện nhiệm vụ quốc tế của mình trong việc ủng hộ VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt); nếu chính quyền Johnson quyết định mở rộng chiến tranh xa hơn miền Nam Việt Nam, ông Zhou nhận xét, những ngọn lửa chiến tranh sẽ lan ra và Trung Quốc sẽ phải dập tắt chúng. Trong trường hợp đó, điều khó khăn sẽ là ngăn chặn sự bùng nổ của một cuộc chiến tranh thế giới. Ngay cả nếu chiến tranh không lan ra đến Trung Quốc, ông Zhou kết luận, “Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ ủng hộ Việt Nam, miễn là yêu cầu Bắc Việt, do đó, miễn là VNDCCH yêu cầu, miễn là MtDtGp(pc 24) ở miền Nam Việt Nam yêu cầu nó.”44

Tháng sau, Tướng Văn Tiến Dũng đi đến Trung Quốc để hoàn tất hiệp định quân sự Trung-Việt và bàn luận những chi tiết. Nếu tình hình vẫn không thay đổi, Việt Nam sẽ chiến đấu cuộc chiến một mình, với sự ủng hộ quân sự được cung cấp bởi CHNDTH.(pc 15) Nếu Hoa Kỳ cung cấp ủng hộ không quân và hải quân cho cuộc xâm lược miền Bắc của miền Nam Việt Nam, Trung Quốc sẽ gởi lực lượng không quân và hải quân của riêng mình để ủng hộ những đơn vị của QĐNDVN(pc 31) trong tự vệ. Nếu đội quân Hoa Kỳ xâm lược miền Bắc, Trung Quốc sẽ cung cấp lực lượng bộ binh của mình như là một dự phòng chiến lược và thực hiện những nhiệm vụ hoạt động khi cần thiết.

Trung Quốc do đó đã đồng ý cung cấp viện trợ đáng kể cho VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) trong cuộc đấu tranh với Hoa Kỳ. Nhưng đã thực sự có những dấu hiệu bất hòa giữa Trung Quốc, Liên Xô, và VNDCCH. Cuộc phỏng vấn vào tháng Giêng của Mao Zedong(pc 11) với Edgar Snow đã gây ra sự lo lắng trong số những lãnh đạo Đảng của Việt Nam, vốn là những người lo sợ rằng những lời phê bình ​​của mình sẽ chỉ đơn giản khuyến khích Washington tin rằng nó có thể leo thang cuộc xung đột bên trong miền Nam mà không bị trừng phạt. Sau đó, vào tháng Bảy, Beijing bác bỏ yêu cầu của Hà Nội cho những phi công chiến đấu của Trung Quốc tham gia trong việc bảo vệ không phận VNDCCH (Bắc Việt). Trong một bài viết vốn phục vụ như là một thông điệp mơ hồ cho Hà Nội, Thống chế Lin Biao(pc 12) kêu gọi Việt Nam thực hành “tự chủ,” như Trung Quốc đã từng làm trong suốt cuộc nội chiến của riêng mình với Chiang Kai-shek (i.e. Tưởng Giới Thạch). Lê Duẩn phản ứng một cách giận dữ và rời khỏi đến Moscow, nơi mà ông ta ca ngợi Liên Xô như là một  “quê hương thứ hai.”45

Việc rút lại của Trung Quốc trên lời đề nghị của nó về những phi công chiến đấu cho VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) có lẽ là một sản phẩm của tâm trạng đang thay đổi ở Beijing. Trong suốt mùa xuân và hè năm 1965, khi Moscow công bố dự nghị của mình về sự phối hợp sự hỗ trợ Trung-Sô cho VNDCCH, những cuộc tranh luận gay gắt bùng nổ ở Beijing trên mức độ mà Trung Quốc sẽ dần dà bị lôi cuốn trong cuộc xung đột. Trong khi một số những lãnh đạo Trung Quốc lập luận rằng đó là nghĩa vụ “chủ nghĩa quốc tế” của họ giúp một đất nước anh em bị hoạn nạn,

p548

những phần tử chống-Liên-Xô vặn lại rằng dự nghị của Moscow là một âm mưu xảo quyệt hồng thu hút Trung Quốc vào cuộc xung đột trực tiếp với Hoa Kỳ. Cuối cùng, Beijing từ khước lời đề nghị của Liên Xô về hành động hiệp nhất, trong khi cảnh cáo Bắc Việt về của sự xảo trá của Liên Xô. Việc hỗ trợ của Liên Xô cho VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), Zhou Enlai(pc 13) quở trách Hồ Chí Minh trong suốt chuyến thăm Canton(pc 30) của ông Hồ trong tháng Mười Một, được thúc đẩy bởi mong muốn của Moscow để cô lập Trung Quốc và cải thiện những quan hệ Mỹ-Sô; tốt hơn cho Hà Nội sẽ là từ chối điều đó.46

* * *

Số lượng lực lượng quân đội Hoa Kỳ ở VNCH(pc 07) được gia tăng một cách đều đặn trong suốt năm 1965, cao nhất là 200.000 vào cuối năm. Nhìn nhận rằng chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã leo thang từ một “cuộc chiến đặc biệt” đến một “cuộc chiến tranh hạn chế” với sự tham gia hoàn toàn của đội quân chiến đấu Mỹ, Uỷ ban Trung ương của ĐLDVN(pc 16) phê duyệt một kế hoạch trong tháng Mười Hai để đưa vào lực lượng chính quy Bắc Việt trong những số lượng đáng kể để phù hợp với sự leo thang của Hoa Kỳ.(pc 44) Dưới quyền chỉ huy hăng hái của Tướng Thanh, những đơn vị của QĐNDVN(pc 31) tìm cách chạm trán với Hoa Kỳ trong vị trí lực chọn khắp miền Nam Việt Nam để chứng minh năng lực mình sánh ngang đối thủ trên chiến trường. Trong khi một số nhà chiến lược hàng đầu của Đảng ở Hà Nội, bao gồm Võ Nguyên Giáp, lập luận chống lại chiến lược của của ông Thanh, vị Tướng đó nhận được sự ủng hộ chủ yếu cho cách giải quyết “sôi sục” của ông ta từ Lê Duẩn, vốn là người chế nhạo ông Giáp như là một “con thỏ sợ hãi” là người e ngại đối đầu với đối phương trực tiếp.

Lúc bấy giờ, Hồ Chí Minh nhận thấy hoạt động thể chất ngày càng mệt mỏi, và không còn giữ vai trò tích cực trong việc hoặc định chiến lược chiến tranh; tuy thế, khi sức khỏe của ông ta cho phép, ông ta góp phần vào những cuộc thảo luận trên chủ đề trong những cuộc họp Bộ Chính trị. Mặc dù ông ta đã từng tranh luận một cách bền bỉ trong việc ủng hộ các biện pháp giảm thiểu nguy cơ can thiệp của Hoa Kỳ, ông ta hiện thời ủng hộ mạnh mẽ cho sự quyết định leo thang vai trò của miền Bắc trong cuộc xung đột, với lý do rằng Hoa Kỳ phải được thuyết phục rằng dân Việt Nam tuyệt đối quyết tâm mang lại việc tái thống nhất bằng bất cứ giá nào. Dân miền Bắc Việt Nam, ông ta lập luận, có mọi quyền để hỗ trợ những anh em của họ trong việc bảo vệ mình chống lại “cuộc chiến tranh xâm lược” của Mỹ ở miền Nam. Ông ta cảnh cáo những cộng tác viên của mình rằng cuộc chiến sẽ tiếp tục leo thang, vì Hoa Kỳ hiện thời nhìn nhận rằng sự thất bại sẽ có những tác động thảm khốc trên những mục tiêu toàn cầu của nó và quyết tâm thương lượng từ sức mạnh; nhưng ông ta kết luận rằng “chúng ta sẽ chiến đấu bằng bất cứ cách nào đối phương muốn, và chúng ta sẽ vẫn chiến thắng.”

Ông Hồ bấy giờ chia sẻ quan điểm rằng tình hình chưa chín muồi cho một hòa giải qua thương thuyết. Ông ta tin tưởng rằng lực lượng cách mạng phải cả chiến đấu và thương thuyết,

p549

nhưng trong thời gian hiện nay việc chiến đấu phải được ưu tiên, với ngoại giao phục vụ những điều cần đến của chiến trường. Những cuộc thương thuyết không nên tiến hành cho đến khi Hoa Kỳ đồng ý một cách vô điều kiện đối với việc ngừng lại việc thả bom miền Bắc, và nhìn nhận “bốn điểm” của Hà Nội như là một bản đồ chỉ đường cho một giải pháp của cuộc xung đột. Trong khi đó, VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) phải trình bày vị thế của nó một cách rõ ràng, để cho bản chất lừa đảo của vị thế thương thuyết của Hoa Kỳ sẽ hiện ra hiển nhiên đối với thế giới. Hồ Chí Minh và những cộng tác viên của mình nhận biết rõ về điệp khúc của tình cảm chống chiến tranh đang trổi lên vốn đang bắt đầu xuất hiện trong phạm vi Hoa Kỳ. Ông ta nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tấn công lực lượng Mỹ ở miền Nam Việt Nam cũng như lực lượng của chế độ Sài Gòn; điều này sẽ không chỉ làm suy yếu vị thế của họ trên chiến trường mà còn củng cố vị thế của những phần tử yêu chuộng hòa bình ở Quốc hội và công chúng Hoa Kỳ.47

Sự tăng lên mãnh liệt cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam và sự nương tựa ngày càng tăng của Hà Nội vào viện trợ quân sự của Sô-Viết tiếp tục đặt sự căng thẳng nghiêm trọng trên những quan hệ Trung-Việt. Những lời nhắc nhở của Trung Quốc với những lãnh đạo Việt Nam phải cảnh giác về sự xảo trá của Liên Xô làm ray rứt. Lời khuyên của Beijing về làm cách nào tiến hành chiến tranh cách mạng và khi nào mở những cuộc đàm phán hòa bình với Hoa Kỳ –Zhou Enlai(pc 13) thích chỉ ra rằng Trung Quốc có kinh nghiệm trong việc đối phó với Washington hơn Việt Nam– làm dấy lên những ký ức cay đắng ở Hà Nội về sự kiêu căng và hạ mình của người Trung Quốc. Những Hồng vệ binh Trung Quốc (nhiều người trong số họ tự nguyện đi đến VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) trong suốt những năm đầu của cuộc Cách mạng Văn hóa để “làm cách mạng”) chọc tức những công dân địa phương, là những người được nhắc nhở về một thế hệ trước đó về những cố vấn Trung Quốc vốn đã từng đọc hùng hồn một cách vô ý thức những khẩu hiệu của chủ nghĩa Mao trong suốt chiến dịch cải cách ruộng đất. Như Zhou Enlai(pc 13) sau đó thú nhận với một cộng tác viên, cuộc Cách mạng Văn hóa đã không luôn luôn đi đúng đường.

Đến mùa xuân năm 1966, những căng thẳng giữa Hà Nội và Beijing đã đạt đến mức nguy hiểm. Trong một bài phát được đưa ra vào tháng Năm, Lê Duẩn phản ứng xiên xéo đối với bài viết của Lin Biao(pc 12) về các đức tính tự lực được ấn hành tháng Chính trước đó. Ông Duẩn tuyên bố rằng Hà Nội chú ý tới những kinh nghiệm của các đảng phái anh em trong việc thực hành chiến tranh cách mạng, nhưng tìm cách áp dụng chúng một cách sáng tạo, và không phải bằng cách máy móc. “Không phải là ngẫu nhiên mà trong lịch sử nước ta,” ông ta tuyên bố, “mỗi lần chúng ta trổi lên để chống lại ngoại xâm, chúng ta dùng đến tấn công và không phải là phòng thủ.” Như là một tín hiệu thêm vào mà qua đó sự kiên nhẫn của Hà Nội đang mất dần, những bài viết trên báo chí Việt Nam bắt đầu đề cập đến “mối đe dọa từ phương Bắc” vốn đã từng được đặt ra bởi đế chế Trung Quốc trong suốt thời đại phong kiến.

Beijing nhanh chóng để ý đến sự căng thẳng. Trong một cuộc họp vào giữa tháng Tư với Phạm Văn Đồng ở Beijing,

p550

Mao Zedong(pc 11) xin lỗi cho hành vi của những Hồng Vệ ngang bướng đang cư ngụ ở VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt). Ông Mao thừa nhận rằng họ không luôn luôn tôn trọng các luật lệ hướng dẫn những mối quan hệ giữa hai nước và do đó không tránh khỏi gây ra những việc phức tạp. Nếu điều đó xảy ra, ông ta kết luận, Hà Nội chỉ nên “giao họ cho chúng tôi.” Zhou Enlai(pc 13) bồi thêm bằng cách đối chất Lê Duẩn trên những lời chỉ trích xiên xéo về Trung Quốc vốn đang xuất hiện trên báo chí của VNDCCH, sau khi hỏi xem liệu những đồng chí Việt Nam có quan tâm là Trung Quốc đang cố gắng áp đặt sự thống trị có tính cách lịch sử trên đồng minh của mình. Nếu vậy, ông ta trả lời, Beijing sẵn sàng rút quân của nó khỏi Bắc Việt (hiện tại con số lên đến hơn 100.000),(pc 45) cũng như những đơn vị bổ sung đó vốn đóng tại các tỉnh của Trung Quốc dọc theo biên giới.

Bất đắc dĩ phải xúc phạm Trung Quốc, Lê Duẩn ứng dụng một giọng điệu hòa giải. Ông ta biểu lộ lòng biết ơn đối với sự hỗ trợ như là một bảo đảm quan trọng của sự sống còn của VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt)(pc 46)  và sự thành công ngày mai trong việc đưa đến sự tái thống nhất đất nước. Nhưng ông Duẩn tranh luận tầm quan trọng của mối quan hệ của Hà Nội với Moscow, một phần như là vấn đề của chủ nghĩa thực dụng, một tư thế mà (ông ta chua cay nhận xét) những người Cộng sản Trung Quốc đã từng ứng dụng cho chính bản thân ở những khoảnh khắc khác nhau trong lịch sử của mình. Còn như việc phản bội bị cáo buộc của Sô-Viết về giáo lý cách mạng, ông Duẩn lưu ý rằng điều quan trọng là ứng dụng một thái độ hòa giải đối với những nước theo “chủ nghĩa cải cách” (tức là chủ nghĩa xét lại) trong phạm vi cộng đồng xã hội chủ nghĩa như là một phương tiện về việc thuyết phục họ quay lại những nguyên tắc cách mạng của họ.

Cuối cùng, chính Hồ Chí Minh dần dà bị lôi kéo vào cuộc tranh luận. Khi vị Chủ tịch Việt Nam gặp gỡ với những lãnh đạo Trung Quốc, Zhou Enlai(pc 13) thẳng thắng buộc tội rằng “anh bạn đang đe dọa chúng tôi.” Ông Zhou lặp lại lời đề nghị của mình di chuyển tất cả quân lính Trung Quốc từ các tỉnh biên giới nếu họ gây cảm tưởng ở Hà Nội rằng họ đang được sử dụng để đe dọa VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt). Deng Xiaoping(pc 36) cắt ngang, nói rằng lực lượng ở đó chỉ là canh chừng chống lại khả năng của một cuộc xâm lược Hoa Kỳ. Ông Hồ ngay lập tức phản đối rằng chính phủ của ông ta không có ý định về việc đe dọa đồng minh Trung Quốc của nó và tuyên bố rằng chính phủ hoan nghênh sự hiện diện đầy an ủi của các đơn vị Quân đội Giải phóng Nhân dân nằm ở phía bắc của biên giới. Như một hệ quả của những cuộc thảo luận nầy và những cuộc thảo luận khác, sự căng thẳng trong những quan hệ Trung-Việt vốn đã từng đánh dấu những tháng gần đây bắt đầu giảm xuống, nhưng những hạt giống cho sự bực tức trong tương lai và sự ngờ vực lẫn nhau đã được gieo xuống.48

Trong suốt năm 1966, cuộc xung đột ở Nam Việt Nam gia tăng trong cường độ. Quyết tâm để tránh một thất bại nhục nhã ở Đông Nam Á, chính quyền Johnson liên tục đổ thêm quân chiến đấu vào trong một cố gắng chiến tranh. Lúc bấy giờ, những đơn vị Hoa Kỳ đã bắt đầu tham gia trong các hoạt động “tìm kiếm và tiêu diệt” để làm suy yếu phong trào kháng chiến và đuổi lực lượng nổi dậy ra khỏi làng mạc vùng đồng bằng trở lại vào trong Tây Nguyên và băng qua biên giới Cam-pu-chia,

p551

như thế lấy đi của cuộc cách mạng về quân tuyển mộ và lương thực dự trữ. Lực lượng Nam Việt được giao trách nhiệm chính yếu cho việc gánh chịu những chiến dịch bình định để giữ an ninh các khu vực địa phương và làm sạch nhẵn sự đối kháng ở những tỉnh có dân cư đông đúc trong đồng bằng sông Cửu Long và dọc theo bờ biển miền Trung. Những hoạt động Mỹ-Việt chung được tung ra vào trong những khu vực Việt-Cộng-giữ ở Khu D và các khu vực khác gần thủ đô.

Tướng Nguyễn Chí Thanh cố gắng thử đối đầu thách thức, bằng cách ra lệnh một loạt những cuộc tấn công vào những khu vực đối-hương-giữ khắp miền Nam. Theo quan điểm của ông ta, và của những người ủng hộ mình ở Hà Nội, thoái lui không chỉ sẽ làm suy yếu tinh thần trong phe cách mạng, mà còn sẽ làm giảm bớt áp lực lên Washington để tìm kiếm một hòa giải qua thương thuyết. Trong thời gian này, những lãnh đạo Đảng quyết định duy trì áp lực trên chiến trường nhằm mục đích tạo tối đa những thương vong người Mỹ và khích động sự phát triển của tình cảm chống chiến tranh khắp Hoa Kỳ. Lực lượng chiến đấu mới được đưa vào từ miền Bắc Việt Nam mang gánh nặng của trận chiến ở Tây Nguyên và ở những tỉnh phía bắc của đất nước, nhưng những đơn vị của LlVtNdGp(pc 23) tiếp tục đóng một vai trò tích cực trong việc đánh lại những chiến dịch bình dịnh của Sài Gòn ở đồng bằng sông Cửu Long.

Chiến lược là một cái gì cực kỳ tốn kém, kể từ khi Hà Nội không thể hy vọng đối chọi đối phương nếu xét về hỏa lực, nhưng sẽ phải dựa vào sức mạnh số lượng và lợi thế bất ngờ. Trong nhiều tháng, Tướng Thanh cố gắng duy trì thế chủ động trên chiến trường. Mặc dù những con số “đếm đầu” của Hoa Kỳ nhiều hơn 300.000 quân địch thương vong(pc 47) trong một năm chắc chắn là được phóng đại, có một ít nghi ngờ rằng những mất mát của Hà Nội lên cao. Để duy trì mức độ sức mạnh, điều cần thiết là gia tăng mức độ xâm nhập từ miền Bắc, mà hiện thời qua báo cáo đạt được hơn trên 50.000 quân mỗi năm.(pc 48)

* * *

Vào mùa hè năm 1966, có cuộc tranh luận ngày càng tăng ở Hà Nội về chiến lược hung hăng của Nguyễn Chí Thanh ở miền Nam, một cách giải quyết vốn đã dẫn đến một ít lợi ích cụ thể từ đó đến nay. Chính phủ miền Nam Việt Nam vẫn không ổn định, nhưng những triển vọng cho sự sụp đổ của nó đã giảm xuống kể từ mùa hè năm 1965, khi ban lãnh đạo quân sự mới dưới quyền những lãnh đạo thuộc loại “hăng hái ủng hộ cải cách” là Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu đã mang lại một kết thúc cho một loạt các cuộc đảo chính và chống-đảo-chánh vốn đã từng làm rung động thủ đô trong những tháng trước. Dưới áp lực của Hoa Kỳ, những chuẩn bị hiện thời đang diễn ra ở Sài Gòn để dự thảo một hiến pháp mới và tổ chức những cuộc bầu cử để lựa chọn một tổng thống mới. Phong trào hòa bình ở Hoa Kỳ ngày càng lớn tiếng và rõ ràng đang giành được sự ủng hộ rộng lớn hơn giữa dân Mỹ,

p552

nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy một sự thay đổi tâm trạng ở Nhà Trắng. Những người chỉ trích về ông Thanh ở Hà Nội, bao gồm đối thủ lâu năm của ông ta là Võ Nguyên Giáp, bắt đầu đặt câu hỏi về chiến lược “thiên-la” (i.e. tàn bạo, gan góc) của ông ta và đề ra cách giải quyết thận trọng hơn.

Trong những cuộc tranh luận của Bộ Chính trị về đề tài này, Hồ Chí Minh đứng về phía bên những người ôn hòa, qua cách bày tỏ ý muốn mình cho một chiến lược chiến tranh kéo dài vốn áp dụng một sự pha trộn về đấu tranh chính trị, tuyên truyền, và chiến tranh du kích để làm hao mòn đối phương trên cơ bản dần dần, từng bước một. Đối với những cộng tác viên vốn là những người bày tỏ cảm giác khẩn cấp về việc giành lấy trong chiến thắng cuối cùng, ông Hồ so sánh tình hình với việc chuẩn bị nấu cơm cho bữa ăn. Nếu bạn bắt nồi cơm khỏi ngọn lửa quá sớm, nó không đủ nấu chín; nếu lấy ra quá muộn, nó sẽ bị đốt cháy. Tuy nhiên, ông Hồ vẫn tiếp tục bày tỏ sự lạc quan về những triển vọng cho chiến thắng cuối cùng, bằng cách chỉ ra rằng mâu thuẫn nội bộ ở Hoa Kỳ đang phát triển và sẽ đạt đến một điểm đỉnh trong chiến dịch tranh cử tổng thống kế đó. Vào tháng Mười Hai năm 1966, ông ta đã cố gắng thử qua mặt Nhà Trắng, bằng cách viết một lá thư công khai cho dân Mỹ qua đó nó chỉ ra sự thiệt hại mà sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ đang gây ra trên người dân Việt Nam, cũng như tiếng tăm của Hoa Kỳ. Bức thư của ông Hồ có lẽ giúp thuyết phục một số người Mỹ về lòng chân thành mong muốn cho hòa bình của Hà Nội, nhưng nó có ít ảnh hưởng đến chính quyền Johnson. Đồng thời ông ta viết một lá thư, những bước đầu bí mật về hòa bình từ Washington thực sự đang tiến hành qua vị đại sứ Ý ở Sài Gòn; tuy nhiên, chúng đến cũng như không sau một loạt những cuộc tấn công ném bom của Hoa Kỳ ở vùng lân cận Hà Nội, mà qua đó nó đưa đến VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) hủy bỏ cuộc họp theo lịch trình giữa hai bên ở thủ đô Warsaw.49

Chính thông điệp cố chấp mà ông Hồ bày tỏ với Jean Sainteny, khi người bạn cũ và là một đối thủ của ông ta đến Hà Nội vào tháng Bảy năm 1966 để thăm dò những triển vọng cho sự hòa giải của Pháp về cuộc xung đột. Giống như Tổng thống Pháp Charles de Gaulle, một Sainteny có quyền hành ở Đông Dương xưa đã kết luận rằng Washington không thể đạt được những mục đích của nó ở miền Nam Việt Nam. Điều tốt nhất mà có thể đạt được, theo quan điểm của ông ta, là một hòa giải qua thương lượng để tạo ra một chính phủ trung lập ở Sài Gòn.(pc 49) Trong những cuộc thảo luận của họ, ông Hồ đưa ra nhận xét với ông Sainteny rằng ông ta nhận thức rõ rằng Hoa Kỳ có khả năng tiêu diệt mọi thành phố ở VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), nhưng ông ta nhấn mạnh rằng ông ta và những đồng bào mình được chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu đến cùng, bất kể sự hy sinh nào đòi hỏi, và sẽ không nhượng bộ trước khi chiến thắng cuối cùng. Ông Hồ bày tỏ ý muốn tìm kiếm một phương pháp giữ-thể-diện để đưa đến việc rút lui của Hoa Kỳ, nhưng ông ta nhấn mạnh rằng vào lúc cuối, một giải pháp duy nhất cho họ là cút khỏi. Nếu vậy, ông ta tuyên bố, tất cả mọi việc có thể được giải quyết.50

* * *

p553

Vào tháng Năm 1965, Hồ Chí Minh đã chuyển sang 75 tuổi. Trong thập kỷ trước, ông đã đóng một vai trò tiếp nghi to lớn trong những công việc của đất nước của mình, chủ trì những cuộc họp của Hội đồng Bộ trưởng VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), cũng như Bộ Chính trị và Ủy ban Trung ương, nhưng ngày càng ủy thác thẩm quyền của mình cho những cộng tác viên thâm niên của ông ta trong Đảng và chính phủ. Mặc dù họ vẫn tiếp tục làm theo kinh nghiệm của ông ta trong những vấn đề thế giới và trong chiến lược của chiến tranh cách mạng, ảnh hưởng của ông đã giảm xuống trong các lãnh vực khác và chức năng chính của ông ta trong suốt thời gian giữa những năm 1960s là để phục vụ như một “Bác Hồ” kính yêu, qua cách thăm viếng những trường học, nhà máy, và các nông trường tập thể để thúc đẩy sự nghiệp xã hội chủ nghĩa và tái thống nhất đất nước.

Vào giữa và cuối những năm 1960s là những năm cực kỳ khó khăn. Khi chiến tranh tăng lên mãnh liệt, nhu cầu nhân lực để phục vụ cho sự nghiệp giải phóng miền Nam gia tăng một cách mạnh mẽ. Từ năm 1965 và thời gian cuối của thập niên, quân đội Bắc Việt phát triển từ vào khoảng 250.000 đến hơn 400.000 binh sĩ. Cuối cùng tất cả nam giới giữa những tuổi từ 16 và 45 là đối tượng cho quân dịch. Việc xâm nhập của đội quân Bắc Việt vào trong miền Nam cũng thế tăng trưởng nhanh chóng. Đại đa số vốn là những người bắt tay vào cuộc hành trình mỗi năm, là đàn ông, nhưng phụ nữ đôi khi được phép tình nguyện, thường phục vụ như là những người giúp vui, nhân viên tình báo, hoặc những nhân công vận tải. Trong khi hầu hết những người miền Bắc đang phục vụ ở miền Nam là gốc Việt, một số đơn vị được cấu thành gồm Hoa kiều hoặc các dân tộc miền núi cũng tham gia. Hầu hết những người miền Bắc vốn đi Nam, được thay thế ở nông trường và trong nhà máy bởi phụ nữ. Một số phụ nữ cũng phục vụ trong lực lượng dân quân thôn làng hoặc trong những đơn vị chống-máy-bay và tháo-ngòi-bom tạo ra khắp Bắc Việt.

Tỷ lệ thương vong cho những chiến binh Bắc Việt Nam đang phục vụ ở miền Nam, cũng như cho LlVtNdGp(pc 23) và những thành viên dân sự của MtDtGp,(pc 24) lên cao đáng báo động, với số lượng người chết và bị thương nặng cuối cùng tạo nên con số trong hàng trăm ngàn;(pc 50) nhưng tình hình ở miền Bắc trong suốt cao điểm của chiến tranh cũng khó khăn. Bởi vì sự ra đi của phần nhiều dân cư nông thôn cho việc phục vụ quân sự ở miền Nam, mức sản xuất lương thực rơi xuống đến chóng mặt, và nạn đói khổng lồ tránh được chỉ nhờ những chuyến hàng nhân từ chở gạo từ Trung Quốc. Sự sẵn có của hàng hoá tiêu dùng khác bị giảm xuống một cách nghiêm trọng bởi cuộc thả bom và bởi quyết định của chính phủ cống hiến tất cả những cố gắng sản xuất cho chiến tranh ở miền Nam. Những cuộc không kích của Hoa Kỳ để lại nhiều thành phố trong đổ nát, bao gồm thủ phủ cũ thuộc tỉnh của Vinh. Trong khi cuộc thả bom nặng nề nhất xảy ra ở dãy đất dài hẹp, cuối cùng những cuộc tấn công tăng mạnh mẽ hơn trên Vĩ tuyến 20 và mở rộng đến những vùng ngoại ô của thủ đô.

p554

Để bảo vệ dân cư, chính phủ di tản nhiều người dân đến vùng nông thôn và ra lệnh cho việc xây dựng những hầm tránh bom trong các thành phố, cũng như trong những khu vực nông thôn thường xuyên bị chắm mục tiêu. Theo số liệu thống kê chính thức, hơn 30.000 dặm mương hào và 20 triệu hầm tránh bom, hầu hết những hầm tránh bom chỉ đủ lớn cho một cá nhân, được xây dựng. Mặc dù con số đếm chính xác về những thương vong dân sự ở miền Bắc thì không có, đối với nhiều người những cái hầm nầy không đủ bảo vệ. Trong khi hơn 55.000 người Mỹ bị thiệt mạng ở Việt Nam, hơn 1 triệu người Việt được ước tính đã chết ở phần phía bắc và phía nam của đất nước trong quá trình diễn biến của chiến tranh. Bác Hồ của những đồng bào quả thật trả một giá cao cho quyết tâm của mình để thực hiện ước mơ của Bác.(pc 51)

Hồ Chí Minh muốn mang lấy phần chia sẻ gánh nặng của mình. Phần lớn đối với sự quan tâm của các cộng tác viên trẻ hơn của mình, ông Hồ cố nài ở lại trong nhà sàn của mình trên khu đất có vườn cây của Phủ Chủ tịch gần Quảng trường Ba Đình. Căn nhà rõ ràng nhắc nhở ông Hồ về những năm đầu mơ mộng về cuộc đấu tranh giải phóng và chứng tỏ quyết tâm của mình sống một cách đơn giản trong suốt thời gian cực kỳ khốn khó cho dân mình. Nó phục vụ như là văn phòng và nơi cư trú của ông ta cho phần còn lại của cuộc đời của mình.51

Hồ Chí Minh rõ ràng đang bắt đầu cho thấy có tuổi. Những người quen ngoại quốc nhận thấy rằng ông ta có khó khăn về việc hô hấp và di chuyển và đã từng trải qua những lầm lẫn thỉnh thoảng trong sự bén nhạy thần trí. Đôi khi trong quá trình của cuộc thảo luận với những khách viếng ngoại quốc, sự chú ý của ông ta sẽ trôi đi và ông ta sẽ dường như rơi vào giấc ngủ. Vào lúc đến ngày sinh nhật thứ 75 của mình, ông Hồ đã làm ra dự thảo đầu tiên của tờ di chúc mà ông ta dự định để lại cho dân Việt Nam lúc cuối đời của mình. Những lãnh đạo Sô-Viết đã bày tỏ một vài lo ngại về sức khỏe của ông ta sớm như đầu năm 1959, khi ông ta đến thăm Moscow để tham khảo ý kiến ​​với họ về cuộc xung đột đang mở rộng ở miền Nam Việt Nam. Khi ông Hồ từ chối những lời đề nghị rằng ông ta nên trải qua một cuộc kiểm tra sức khoẻ  (“Tôi không nghĩ về sức khỏe của tôi,” ông ta đưa ra nhận xét), Kliment Voroshilov đã cố nài, bằng cách tuyên bố rằng “Ủy ban Trung ương đã quyết định rồi.”52

Vào tháng Năm năm 1965, ông Hồ rời khỏi cho chuyến đi ba-tuần đến Trung Quốc, một phần để tham khảo ý kiến ​​với Mao Zedong(pc 11) về việc cung cấp trợ giúp thêm cho VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), nhưng cũng nhận được điều trị y tế và có lẽ để đưa ông ta ra khỏi vùng gây hại khi chiến dịch thả bom của Hoa Kỳ không thể ngăn được đến gần thủ đô. Ông ta được tháp tùng bởi phụ tá của mình là Vũ Kỳ, vốn là người tiếp tục phục vụ như là thư ký riêng của ông ta. Sau cuộc họp với Mao Zedong ở thủ phủ tỉnh Changsha (i.e. Trường Sa), ông Hồ tiếp tục đi đến Beijing cho những cuộc hội đàm với những lãnh đạo khác của Trung Quốc. Khi ở Moscow, những chủ khách của mình lo âu về sức khỏe của ông ta. Khi được hỏi liệu ông ta có ngủ ngon, ông Hồ trả lời: “Hãy hỏi Vũ Kỳ.” Bất chấp những chống đối của ông ta, những lãnh đạo Trung Quốc cũng sắp xếp cho dịp kỷ niệm sinh nhật công phu cho người khách của họ,

p555

với một số lượng những phụ nữ trẻ được tính đến như là những người khách mời (bởi vì, như Vũ Kỳ đưa ra nhận xét một cách bí ẩn trong những hồi ức của ông ta về sự kiện, Hồ Chí Minh “tôn trọng họ”).

Sau khi những cuộc thảo luận chính trị của ông ta được kết thúc, ông Hồ đi đến nơi sinh của Confucius (i.e. Khổng Tử) ở tỉnh Shandong (i.e. Sơn Đông) gần đó; ông ta tự nhận chính mình là một người ngưỡng mộ Bậc thầy Thời xưa suốt đời. Tại một ngôi chùa ở phố nhà của nhà triết học cổ đại, ông Hồ ngân nga những dòng chữ cổ điển Trung Quốc vốn thể hiện cam kết sâu sắc của Confucius(pc 52) đối với những nguyên tắc nhân đạo và lưu ý rằng nguyên tắc nổi tiếng của nhà triết học về Đại Đồng(pc 53)là một tương đương xa xưa của khái niệm hiện đại về một xã hội bình đẳng. Hòa bình thật sự, ông ta kết luận, có thể xuất hiện chỉ khi nào một kỷ nguyên Đại Đồng đã lan rộng khắp toàn cầu. Trên chiếc máy bay mang ông ta trở lại Hà Nội, Hồ Chí Minh viết một bài thơ ngắn ghi lại những cảm xúc sâu sắc của mình về việc thăm viếng nơi sinh của người con nổi tiếng nhất của Trung Quốc(pc 54).53

Sau chuyến đi này, Hồ Chí Minh càng lúc trở nên yếu hơn, mặc dù ông ta vẫn cho thấy những tia sức sống trước đó của mình. Trong suốt chuyến thăm chính thức của vị lãnh đạo Đảng của Trung Quốc là Tao Zhu đến Hà Nội một vài tháng sau đó, ông Hồ bất ngờ yêu cầu người bạn cũ của mình cung cấp cho ông ta một phụ nữ trẻ từ tỉnh Guangdong (i.e. Quảng Đông) Trung Quốc để phục vụ như là người bạn đường của mình. Khi ông Tao hỏi tại sao ông Hồ không tìm kiếm một người nào đó để phục vụ những nhu cầu của mình ở VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), người chủ khách của ông ta chỉ đơn giản nói, “Mọi người đều gọi tôi là Bác Hồ. (pc 55) ” Trên chuyến trở về Trung Quốc của mình, Tao Zhu báo cáo lời yêu cầu cho Zhou Enlai;(pc 13) bởi vì mối quan hệ tế nhị giữa hai bên, ông Zhou quyết định tham khảo ý kiến ​​với những lãnh đạo Bắc Việt. Cuối cùng, vấn đề lặng lẽ bị bỏ qua.54

Vào tháng Năm năm 1966, Hồ Chí Minh trở lại Trung Quốc để kỷ niệm sinh nhật thứ 76 của mình. Trong khi ông ở Beijing, những lãnh đạo Trung Quốc trấn an ông ta về sự vững chắc cho việc ủng hộ của họ vì sự nghiệp cách mạng Việt Nam; ông Hồ viết một bức thư cho những cộng tác viên của mình trong Bộ Chính trị của ĐLDVN,(pc 16) bảo đảm với họ rằng Trung Quốc có ý định giúp đỡ đồng minh của mình thực hiện thắng lợi cuối cùng, ngay cả lúc nguy cơ cho một cuộc tấn công trực tiếp của Hoa Kỳ vào CHNDTH.(pc 15) Ông ta sau đó rời khỏi cho một vài ngày nghỉ ngơi tại những khu nghỉ mát ở miền Trung Trung Quốc, tiếp tục vào tỉnh Shandong(pc 56) và Manchuria (i.e. Mãn Châu) trước khi trở về nhà vào tháng Sáu. Vào ngày 17 tháng Bảy, ông ta gởi một thông điệp đến toàn thể nhân dân Việt Nam, cám ơn họ cho những hy sinh của mình và tuyên bố rằng “không có quan trọng hơn độc lập và tự do.” Ở Beijing, một tụ tập được tham dự bởi hàng trăm ngàn người đã diễn ra tại Quảng trường Tiananmen (i.e. Thiên An Môn) để vinh danh Hồ Chí Minh và chứng tỏ sự ủng hộ của Trung Quốc cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam.55

Lúc bấy giờ, ông Hồ đang nhận thấy sự di chuyển càng ngày khó khăn. Luôn luôn là một người khắt khe về việc chăm sóc thể chất, ông ta tiếp tục môn thể dục mềm dẻo của mình trên cơ bản hàng ngày. Ông ta rời khỏi ngôi nhà sàn của mình trên vùng đất có vườn của dinh thự đi ăn thường xuyên, chăm sóc khu vườn mình,

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 02_ Đây là khoảng thời gian có sự xuất hiện Công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) …(xin xem phần trước).

pc 03_ Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á ( SEATO = Southeast Asia Treaty Organization) : là một tổ chức quốc tế cho sự phòng thủ chung trong khu vực Đông Nam Á …(xin xem phần trước).

pc 04_ Đây là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất về mưu đồ tái thống nhất …(xin xem phần trước).

pc 05_ Những con đường rừng mòn, theo tác giả, chúng được dọn mở trước đây …(xin xem phần trước).

pc 06_ Bộ Luật 10/59 : đây là Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 do Quốc Hội Lập Hiến …(xin xem phần trước).

pc 07_ VNCH : Việt Nam Cộng Hòa.

pc 08_ Đây chính là phương cách mà Hồ Chí Minh đã từng ứng dụng …(xin xem phần trước).

pc 09_ Hiệp định Geneva (Genéve) : là một hiệp ước đình chiến và hòa bình, …(xin xem phần trước).

pc 10_ Tân Cương : là vùng đất kéo dài hơn 1,6 triệu km 2 , …(xin xem phần trước).

pc 11_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.
pc 12_ Lin Biao : Lâm Bưu.
pc 13_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 14_ Liu Shaoqi : Lưu Thiếu Kỳ.
pc 15_ CHNDTH : Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
pc 16_ ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt Nam.
pc 17_ Vấn đề, như tác giả viết, “Hoa Kỳ đang cố gắng khích động một cuộc chiến tranh thế giới” dường như hoàn toàn vô căn cứ. …(xin xem phần trước).

pc 19_ Lê Duẩn khi nói “tính linh hoạt và sự di chuyển từ những hình thức hoạt động hợp pháp đến bất hợp pháp,” …(xin xem phần trước).

pc 20_ Rõ ràng là nhà nước Cộng sản miền Bắc lúc nào cũng muốn nắm hết lấy quyền lực …(xin xem phần trước).

pc 21_ “Sẽ không có chuyện nhắc đến chủ nghĩa cộng sản,” điều nầy càng chứng minh rõ ràng …(xin xem phần trước).

pc 22_ Đây là lời cáo buộc của tác giả nhưng tiếc thay không có gì làm bằng …(xin xem phần trước).

pc 23_ LlVtNdGp : Lực lượng Vũ trang Nhân dân Giải phóng.
pc 24_ MtDtGp : Mặt trận Dân tộc Giải phóng.
pc 25_ “cuộc tấn công cuối cùng chống lại những vùng đồng bằng có dân cư dầy đặc,” đây chính là lời buộc tội thích đáng nhất …(xin xem phần trước).

pc 26_ Ấp chiến lược : là một “quốc sách” của chính quyền Đệ nhất Cộng hòa miền Nam Việt Nam …(xin xem phần trước).

pc 27_ “sử dụng phản-gián, khủng bố, và mở rộng chiến tranh du kích,” là một bằng chứng bổ sung …(xin xem phần trước).

pc 28_ “làm kinh hoàng thế giới,” điều nầy quả không sai khi thế giới lần đầu tiên nhìn thấy …(xin xem phần trước).

pc 29_ Theo tác giả, “lời đề nghị thương lượng của ông Hồ với ông Diệm, [nếu có], về những điều khoản gì thì không chắc chắn …(xin xem phần trước).

pc 30_ Canton : tỉnh Quảng Đông.
pc 31_ QĐNDVN : Quân đội Nhân dân Việt Nam.
pc 32_ “những cuộc tấn công cay độc của họ vào chủ nghĩa xét lại,” đây là một trong những bằng chứng …(xin xem phần trước).

pc 34_ “theo đuổi một chiến lược xâm lược ở miền Nam Việt Nam,” đây là sự khẳng định chắc chắn qua lời Mao Trạch Đông về ý nghĩa của cuộc chiến Việt Nam dưới cái tên gọi là tái thống nhất đất nước của Cộng sản Bắc Việt.

pc 35_ “không phải Hà Nội hoặc cũng không phải Beijing ước muốn cuộc xung đột lan rộng,” điều nầy dường như tác giả viết theo cảm nghĩ cá nhân …(xin xem phần trước).

pc 36_ Deng Xiaoping : Đặng Tiểu Bình.
pc 37_ “quyết tâm chống lại sự nương tựa quá nhiều vào sự hỗ trợ của Trung Quốc,” đây chỉ là cách tác giả dùng để biện họ …(xin xem phần trước).

pc 38_ Khách sạn Caravelle : nằm giữa trung tâm Sài Gòn, thuộc quận 1, …(xin xem phần trước).

pc 39_ Cư xá Sĩ quan Độc thân : là một cư xá dành riêng cho những sĩ quan Mỹ. …(xin xem phần trước).

pc 40_ CqTưmNVN : Cơ quan Trung ương miền Nam Việt Nam
pc 41_ Trận Bình Giã : là trận đánh chính nằm trong Chiến dịch Bình Giã do Hà Nội đề xướng, …(xin xem phần trước)
.

pc 42_ “là mối đe dọa ẩn ý của Beijing,” đây là một câu hỏi đúng hơn là câu khẳng định mà tác giả viết ra, vì trước những năm đó chính Phạm Văn Đồng đã nhìn nhận “mối đe dọa ẩn ý” đó qua Công hàm với Trung cộng. Điều nầy có nghĩa là Bắc Việt dường như đã từng xem Trung cộng là một cứu cánh sống chết và sẵn sàng chịu phụ thuộc bằng mọi điều kiện của Trung cộng đưa ra. Mặc dù Bắc Việt vẫn nhận được viện trợ từ Liên Xô, nhưng mạch sống chính là nguồn viện trợ từ Trung cộng. Dĩ nhiên, Hà Nội sẽ cảm thấy an lòng hơn khi Trung cộng tuyên bố sẽ tham gia trực tiếp nếu Hoa Kỳ tiến đánh miền Bắc hơn là cảm thấy “mối đe dọa” từ Bắc Kinh.
Nhưng vấn đề đặt ra là tại sao Trung cộng có ý tốt đến vậy với Bắc Việt ? Có thể hiểu rằng Bắc Việt là vòng đai tiền tuyến bảo vệ an ninh cho Bắc Kinh –dù có đánh mất cũng chẳng hề gì, nhưng nếu giữ được vẫn tốt hơn, và nhất là những lợi ích trong những điều kiện trao đổi sẽ giúp cho Bắc Kinh có dịp mở rộng về hướng Nam, trong khi hướng Đông Bắc, Tây Bắc, và Tây Nam đã ổn thỏa.

pc 43_ ĐCSTQ : Đảng Cộng sản Trung Quốc.
pc 44_ “đưa vào lực lượng chính quy Bắc Việt trong những số lượng đáng kể để phù hợp với việc leo thang của Hoa Kỳ,” là một kết luận thiếu nghiêm túc của tác giả. Vì trong tình hình chung ở miền Nam trước thời gian đó, những hoạt động của cái gọi là Mặt trận Giải phóng miền Nam cũng nằm trong kế hoạch và hỗ trợ của Bắc Việt cả về vũ khí, nhân lực, và cả việc cử người lén vào miền Nam chỉ huy, tuyển mộ, và thành lập những chi bộ. Hay nói đúng hơn, cái mặt trận đó chính là của Hà Nội tạo ra. Như thế, việc Hoa Kỳ tăng thêm quân lực để bảo vệ miền Nam nhằm mục đích ngăn chận những xâm nhập từ Bắc với vũ khí và nhân lực, thì không thể xem là những hoạt động leo thang bắt đầu từ Hoa Kỳ. Vã lại, việc thêm quân và duy trì rất hao tốn tài chính Hoa Kỳ mà chẳng được lợi gì cho họ. Đó chỉ là việc bắt buộc Hoa Kỳ phải hành động để chống lại những hoạt động khủng bố của Việt cộng đang lan tràn ở miền Nam và ngày càng gia tăng mạnh mẽ.

p 45_ “hiện tại con số lên đến hơn 100.000,” đây là số quân lính Trung cộng hiện diện ở miền Bắc được biết tính đến vào khoảng tháng Tư năm 1966. Đó là một con số không nhỏ, tương đương với 10 sư đoàn hoặc 10 vạn quân (một vạn là 10.000 người), và cũng có thể có vài vị Thiếu tướng và Trung tướng của Hồng quân hiện diện, đó là chưa kể đến con số Đại tướng cũng khoảng 20 người.
Điều nầy cho thấy rằng dân miền Bắc vốn đa phần lâm cảnh khốn khó từ thiên tai đến chiến tranh dai dẳng, giờ càng khốn khổ hơn vì phải đóng góp nuôi một số quân khổng lồ nước ngoài. Và đây là bằng chứng cho sự gian ngoa của cá nhân ông Hồ và Bộ Chính trị Bắc Việt khi họ luôn luôn lên tiếng tố cáo Hoa Kỳ đổ thêm quân vào miền Nam vì muốn leo thang chiến tranh và có mưu đồ tấn công miền Bắc. Hơn thế nữa, họ luôn luôn dùng danh nghĩa tái thống nhất bằng hòa bình để tạo cuộc chiến ở miền Nam và không mong muốn có sự hiện diện của Hoa Kỳ ở đó –mà qua đó họ luôn lớn tiếng tố cáo là Hoa Kỳ đang xâm lược miền Nam.
Tuy nhiên, nếu xét ra vào thời điểm năm 1966 nầy, quân số Hoa Kỳ có mặt ở miền Nam chỉ khoảng 3 tiểu đoàn (900 người), trong khi đó miền Bắc có đến gấp hơn 100 lần quân số Trung cộng chiếm đóng.
Sự kiện nầy cho thấy là câu hỏi về số quân tấn công miền Nam Việt Nam trong năm 1975 cũng không phài là phi lý nếu không có Hồng quân Trung cộng trà trộn trong đó.

pc 46_ “biểu lộ lòng biết ơn đối với sự hỗ trợ như là một bảo đảm cho sự sống còn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,” điều nầy cho thấy rõ rằng Bắc Việt lệ thuộc gần như hoàn toàn vào Trung cộng vào năm 1966; tuy nhiên, đây không phải là thời điểm phát sinh đầu tiên cho sự lệ thuộc đó mà nó vốn đã hình thành trước thời điểm 1945 –thời gian ông Hồ về Pác Bó, đầu năm 1941, vì lúc bấy giờ chỉ có Đảng Cộng sản Trung Quốc mới có thể giúp cho công cuộc cách mạng của ông ta.

Trong cuộc gặp gỡ giữa Lê Duẩn và Chu Ân Lai trong năm 1966, Lê Duẩn không những bị họ Chu chận nghẹn lời khi đưa ra lời than phiền về tính xem thường, kiêu binh của Hồng quân Trung cộng trên đất Bắc, mà còn bị bắt bẽ về những bài báo Đảng dám nghi ngờ Trung cộng có mưu toan áp đặt nền thống trị lên miền Bắc đến nổi cuối cùng vị Tổng Bí thư Lê Duẩn phải xin lỗi và biểu lộ lòng biết ơn.

pc 47_ “300.000 quân địch thương vong trong một năm,” quả thật đây là con số được phóng đại vì trên chiến trường lớn như trận Bình Giã (1965), con số thương vong của Việt cộng dù có khá lớn khoảng ít nhất là 400–800 người so với chiến sự to lớn đầu tiên nhưng không thể nào một tổng số trong một năm lên cao đến mức đó. Vã lại, từ năm 1965 đến 1966, ngoài những cuộc chạm trán lẽ tẽ không đáng kể, quân lực Hoa Kỳ thực sự có cuộc va chạm thử sức trong chiến dịch Ia Drang (1965) với khoảng 1.500–1.700 thương vong phía bên Việt cộng theo ước tính của Hoa Kỳ.

Với một con số quá phóng đại nầy –nếu thực sự do Hoa Kỳ, hoặc Nam Việt đưa ra– chắc chắn sẽ bị phản ảnh dữ dội trên báo chí Mỹ và Việt vì đó là một số liệu vô căn cứ mà chắc chắn rằng không có bằng chứng hiển nhiên.
Tác giả đưa lên con số nầy, cho thấy rằng có thể đó là từ những cuộc phỏng vấn với các cán bộ Cộng sản Bắc Việt, không ngoài mục đích làm xấu đi hình ảnh Hoa Kỳ, và cả chính quyền miền Nam.

pc 48_ “hiện thời qua báo cáo đạt được hơn trên 50.000 quân mỗi năm,” là một con số kinh khủng; nếu tính từ năm 1965 đến cuộc chiến tổng tấn công miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân 1968, con số bộ đội được đưa vào miền Nam sẽ là 150.000 quân chính quy, tương đương với 15 sư đoàn –đó là chưa tính đến con số dân công vận chuyển vốn có thể gấp đôi con số đó, cũng có thể biến thành những chiến binh.


pc 49_ “để tạo ra một chính phủ trung lập ở Sài Gòn,” đó là điều tốt nhất mà theo ông ngoại sứ Pháp một thời, Jean Sainteny, bày tỏ với ông Hồ vào tháng Bảy năm 1966 mà qua đó dường như ông ta cố ý phê phán Hoa Kỳ tìm cách đạt được những mục đích nào đó qua cuộc chiến ở miền Nam. Tuy nhiên, ông ta không nói rõ ra những mục đích đó là gì.

Thoáng qua, câu nói đó dường như mang một giải pháp hòa bình thiết thực cho hai miền ở Việt Nam với “một chính phủ trung lập ở Sài Gòn.” Tuy nhiên, điều nầy cũng ngụ ý rằng ông ta mặc nhiên không thừa nhận chính phủ hiện tại ở miền Nam. Và như miền Nam đang có một chính phủ thì tại sao phải lập nên một chính phủ khác thứ hai ? Dĩ nhiên, trong bất kỳ quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, cũng chỉ có một chính phủ duy nhất, ngay cả phe phái Cộng sản.
Vậy phải chăng đó chính là âm mưu của Bắc Việt muốn nắm trọn quyền lực ở Việt Nam mà qua đó ông Sainteny –vốn là người có cảm thông với cách mạng– chỉ nói để vuốt ve ông Hồ ? Và dĩ nhiên, cái gọi là chính phủ trung lập đó, chắc chắn là phe phía của Mặt trận Giải phóng miền Nam và cũng là một lực lượng được sinh ra từ Hà Nội.

pc 50_ “tạo nên con số trong hàng trăm ngàn,” là một con số không gần chính xác lắm vì khó cho người đọc tưởng tượng được một con số bao nhiêu là hàng trăm của hàng ngàn. Tuy nhiên, nó cho thấy rằng đó là một thiệt hại riêng về nhân mạng của Việt cộng (bao gồm những người Bắc vào Nam và những người trong Nam) mà họ cũng là người Việt cùng nòi giống và ngôn ngữ với những người mà họ xem là đối địch trong Nam.

Vấn đề cần được đặt ra là liệu sự nghiệp tái thống nhất của ông Hồ và Bộ Chính trị Cộng sản miền Bắc có phải là mục đích chân chính không. Và liệu sự nghiệp cho đất nước đó –như họ thường nói– có cần phải xây trên xương máu những người cùng gióng nòi giết hại lẫn nhau không. Hay chỉ vì lý do chính yếu là tuân lệnh Cộng sản quốc tế làm lan rộng thế giới Cộng sản hoặc đúng hơn là bảo vệ an ninh cho thế giới Cộng sản mà tiêu biểu là vòng đai Trung cộng.

pc 51_ “trả một giá cao cho quyết tâm của mình để thực hiện giấc mơ của Bác,” là câu viết thật nhất như tác giả nhận xét. Tuy nhiên, đó chỉ mới là giấc mơ sơ khởi của Bác và sẽ còn những những giấc mơ tiếp theo sau của Bộ Chính trị mà cũng chính do Bác tạo dựng. Và cứ mỗi giấc mơ cần thực hiện thì hàng trăm ngàn đến con số triệu người Việt phải hy sinh cho nó. Không biết khi nào dân Việt thôi hết mơ !

pc 52_ Confucius : Khổng tử
pc 53_ Đại Đồng : theo wikipedia (bài viết được lược dịch từ hai tác giả Trung Quốc dưới thời Trung cộng cận đại –năm 2001 và 2009) cho rằng khái niệm nầy được tìm thấy trong Kinh Lễ của Khổng tử, mang tư tưởng giống như tư tưởng hệ của những người Cộng sản về một “Utopia” (i.e. Thế giới Đại Đồng).
Thật ra bộ sách Tứ thư Ngũ kinh của Khổng tử bị Tần Thủy Hoàng thiêu hủy khiến cho một số chương hoàn toàn biến mất và sau nầy được sưu tầm và soạn lại qua nhiều thời kỳ và nhiều tác giả khác nhau. Mãi đến khi Trung cộng nắm quyền Trung Hoa, lần nữa chúng được tái tạo, thêm thắt, cắt xén theo chiều hướng Cộng sản. Sau cùng danh từ Đại Đồng được xuất hiện trong chương Kinh Lễ. Ngoài ra, Trung cộng dùng học thuyết Khổng tử thời đại như là một triết lý bổ sung cho tư tưởng hệ Cộng sản để tuyên truyền vì Nho học đã được lan truyền từ lâu trong nhiều quốc gia Á châu.
Tứ thư Ngũ kinh là bộ sách sưu tập những tập tục, lễ nghi, thơ văn, tư tưởng, sự kiện lịch sử trong xã hội qua đời sống hàng ngày của dân chúng trong nhiều đời nhằm mục giáo dục quần chúng cách sống đúng theo vai trò mình trong xã hội, gia đình trong thứ tự tầng lớp có sẵn, và biết tôn trọng và trung thành vương đế nước nhà. Tóm lại, đó là mục đích an dân trong một khuôn khổ như có thể; tuy nhiên cũng chính mục đích đó tạo nên nhiều mâu thuẩn trái ngược đến độ xung khắc hoàn toàn, thậm chí trì kéo bước tiến xã hội vì chính khuôn khổ đó trói buộc người dân đến mức câu nệ và khinh chê những gì được xem là ngoài Nho giáo. Dù sao, bên cạnh đó có những mặt về đạo đức, nhân bản gần gũi với Phật giáo hoặc Thiên Chúa giáo nên vẫn được ưu ái tồn tại theo thời đại.
Tứ thư bao gồm :

1_ Đại Học : đạo đức tu thân, trị gia, trị quốc –qua lời giảng của Khổng tử.
2_ Trung Dung : đạo đức người quân tử theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trong sự trung hòa, không thái quá.
3_ Luận Ngữ : sưu tập những lời dạy của Khổng tử để noi gương
4_ Mạnh Tử : bộ sách riêng của Mạnh tử gồm Tâm học và Chính trị học (với tư tưởng đã phá ngu quân, ngu trung không biết vì dân –hoàn toàn khác xa tư tưởng của Khổng tử)

Ngũ kinh bao gồm :
1_ Kinh Thi : sưu tập về thơ dân gian –sinh hoạt, tình cảm, cư xử.
2_ Kinh Thư : sưu tập về truyền thuyết.
3_ Kinh Lễ : sưu tập về lễ nghi.
4_ Kinh Dịch : sưu tập về tư tưởng triết học bao gồm bói toán.
5_ Kinh Xuân Thu : sưu tập về biến cố lịch sử.
6_ Kinh Nhạc : (bị thất lạc gần như hoàn toàn, ngoài ít được cho vào Kinh Lễ).

Qua đó, cho thấy rằng tư tưởng Khổng tử đa phần bị hao mòn theo thời đại, trong khi tư tưởng Mạnh tử –người học trò của Khổng tử– có những tư tưởng xa hơn thời đại. Tuy nhiên, Trung cộng chọn Khổng tử làm nền tảng bổ sung cho Cộng sản chủ nghĩa vì Khổng tử mang nặng tính cách “trung quân” và “ái quốc” bao gồm trong khuôn khổ hạn hẹp đến mù mờ nhưng hoàn toàn thích hợp với ý nghĩa “trung thành với Đảng” và “nhà nước Cộng sản.” Cũng nhắc thêm rằng, Trung cộng vẫn tôn sùng Tần Thủy Hoàng, và vay mượn hình ảnh Khổng tử, nhưng chính Tần Thủy Hoàng xem tư tưởng Khổng tử là đối nghịch –cần tiêu diệt.

pc 54_ “Hồ Chí Minh viết một bài thơ ngắn ghi lại những cảm xúc sâu sắc của mình về việc thăm viếng nơi sinh của người con nổi tiếng nhất của Trung Quốc,” quả thật ông ta luôn có những cảm xúc sâu sắc mang tính Cộng sản đến độ trong mỗi lời thơ, văn được viết ra luôn luôn chứa đầy tư tưởng hệ. Đó là ngày 19/5/1965, trong dịp sang Trung Quốc, ông Hồ ghé thăm Khúc Phụ, quê hương của Khổng Tử và làm bài thơ :

Phỏng Khúc Phụ
Ngũ nguyệt thập cửu phỏng Khúc Phụ 
Cổ tùng cổ miếu lương y hy 
Khổng gia thế lực kim hà tại 
Chỉ thặng tà dương chiếu cổ bi”.
Thăm Khúc Phụ
(Đặng Thai Mai dịch)
Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ 
Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa 
Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ ? 
Lấp loáng bia xưa chút ánh tà

Nếu đem bài thơ trên so sánh với bài thơ mà ông ta làm ra nhân dịp viếng đền Đức Trần Hưng Đạo, là vị tiền nhân nước Việt có đại công trạng giữ vững nước Nam, nhưng được ông Hồ xem chẳng đáng vào đâu nếu so ra với sự nghiệp cách mạng của mình, thì thấy rằng ông Hồ không dám tỏ ý không kính trọng. Hai chữ “uy quyền” chứng tỏ đã ám ảnh tâm trí cách mạng của ông ta vì Khổng tử chưa bao giờ có gì để gọi là uy quyền; vã lại Khổng tử cũng chẳng có lòng ham chuộng công danh sau bao năm du thuyết nhiều nước trong Trung Hoa đều bị thất sủng và xô đuổi.

Ngược lại qua bài thơ cho Đức Thánh Trần, ông Hồ có một thái độ tự kiêu đến xấc xược, dù rằng ông ta chưa từng thực hiện được như lời thơ viết (tôi dẫn năm châu tới đại đồng) mà đã cuồng ngông xem bậc tiền nhân ngang hàng mình với danh xưng là bác theo nghĩa người miền Bắc và nhận luôn công trạng chưa-thành là đã thành công. Dường như là ông ta không muốn bất kỳ vị anh hùng nào trong lịch sử Việt Nam sáng giá hơn chính mình, ngay cả những bậc tiền nhân cách hàng trăm năm hay ngàn năm.

Viếng đền Đức Thánh Trần

Cũng cờ, cũng kiếm, cũng anh hùng 
Tôi Bác chung nhau nợ núi sông 
Bác phá quân nguyên thanh kiếm bạc 
Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng. 
Bác đưa một xứ qua nô lệ 
Tôi dẫn năm châu tới đại đồng. 
Bác có anh linh cười một tiếng 
Mừng tôi cách mạng đã thành công. 


pc 55_ “Mọi người đều gọi tôi là Bác Hồ,” đây là sự khẳng định danh từ “bác” nầy không phải mang ý nghĩa như “anh và tôi” trong cách xưng hô nói chuyện thường ngày của người miền Bắc, mà nó rõ ràng cho thấy đó là một vai vế của người bác. Và không chỉ riêng đối với những thiếu nhi mà là đối với tất cả mọi người –không phân biệt tuổi tác. Hơn thế nữa, danh từ đó ám chỉ đến một quyền lực cao hơn hết trong khuôn khổ gia đình, và cũng có nghĩa là cao hơn hết trong cả nước. Mặc dù thoáng qua nghe rất gần gũi, nhưng trong một phạm vi lớn sự gần gũi đó chỉ là ảo tưởng bằng danh từ, ngoài trừ một quyền lực đứng trên những mệnh lệnh.

Sự kiện nầy có thể xảy ra vào khoảng giữa năm 1965, lúc ấy ông Hồ đã 75 tuổi, vừa trở lại Hà Nội ít lâu sau chuyến thăm Bắc Kinh 3 tuần với ngày mừng sinh nhật được tổ chức ở đó. Có lẽ ông Hồ còn nhớ những người phụ nữ trẻ ưu ái trong buỗi sinh nhật đặc biệt đó được nhà nước Trung Quốc lần đầu tiên đày thọ tất cả chi phí và phục vụ. Cũng như cảnh sống riêng lẽ của ông ta khác quá xa những thời gian còn trẻ, nên sự đòi hỏi của ông Hồ có được một người phụ nữ trẻ bên cạnh cũng là bình thường như những nhu cầu của một con người trong cuộc sống. Chỉ tội là vì ông ta trót đã mang lấy một thân phận khác người đời đến độ lên ngôi thần thánh –và đó cũng là chủ ý của Bộ Chính trị– nên người đời có thể có cái nhìn khá khắc khe trong sự kiện mà mãi nhiều năm sau nầy tin tức mới bị rĩ ra.
Hoặc cũng có thể cho là ông Hồ cần người ở gần chăm sóc lúa yếu đuối. Nhưng nếu là vậy, ông ta chỉ cần lên tiếng là chắc chắn sẽ có người được gởi đến mà không cần phải nhờ đến lãnh đạo Đảng của Trung Quốc tìm người phụ nữ Hoa dùm. Đó là chưa xét đến vấn đề ăn uống hàng ngày, dĩ nhiên không phải do ông Hồ tự nấu ăn. Có nghĩa, ông ta luôn vẫn có những người phụ nữ Việt khác chăm lo rồi. Như vậy, sự đòi hỏi đó của ông ta hoàn toàn không do lý do cần người chăm sóc mà vì lý do tế nhị khác : một người vợ hơn là người bạn đơn thuần.
Hạnh phúc cá nhân đó, chắc chắn ông ta cũng ham muốn có, nhưng với vai trò “Bác” của huyền thoại, ông Hồ dù muốn hay không cũng phải đóng trọn vì thật khó lòng cho ông ta khi phải xưng hô làm sao người ái thiếp mình, và nhất là quần chúng và những người khách ngoại giao. Quả thật, sự hy sinh đó được Bộ Chính trị ca ngợi không ngớt sau nầy vì ông ta phải chịu nghiêm luật của họ sao cho trọn vẹn vai trò đã từng được quy định trước đó –mà cũng là do chính ông ta đã đề ra vai trò đó lần đầu tiên trong cuốn sách đầu tay của mình dưới bút hiệu Trần Dân Tiên kể về nhân vật chính là mình.

pc 56_ Shandong : tỉnh Sơn Đông
pc 57_ “hiện thời được ủng hộ bởi sự tham gia của hơn 100.000 đồng bào từ miền Bắc,” điều nầy có nghĩa là 100.000 chiến binh tác chiến mà trong đó chắc chắn có bộ đội chính quy. Những người dân công từ Bắc vào Nam, không có lý nào họ vào rồi được trở lại miền Bắc; vã lại dường như mỗi người dân miền Bắc đều phải biến thành chiến binh –ngay cả phụ nữ, thanh thiếu niên, và người già còn sức. Quả không sai, con số dân công luôn luôn gấp đôi con số bộ đội mà tác giả đã cho biết ở đoạn trên.

pc 58_ “Hà Nội hứa sẽ không phát động một cuộc tấn công lớn tương tư như cuộc công kích Tết Mậu Thân,” đây chỉ là lời hứa suông vì bằng chứng hiển hiện là Hà Nội đã ra lệnh tấn công liên tục nhiều khu vực ở miền Nam sau đó.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s