XV- Tất Cả Cho Những Tuyến Đầu (Phần 5-Hết)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===================================================================

p556

và nuôi cá chép trong cái ao gần đó, cũng như chào đón những khách viếng –từ những nhà báo Tây phương, những người có quyền cao chức trọng nước ngoài, và những đại diện của MtDtGp,(pc 24) đến những phái đoàn đại biểu của thường dân từ các tầng lớp khác nhau của cuộc sống– trong một vườn cây mỹ thuật đầy lá bên cạnh nơi cư ngụ riêng của ông ta. Những cuộc họp Bộ Chính trị được tổ chức tại cái bàn trên tầng trệt của ngôi nhà ông ta, mở ra cho thoáng khí. Nhưng khi những cuộc tấn công thả bom của Hoa Kỳ bắt đầu tập trung trên những vùng ngoại ô Hà Nội, ông Hồ chiếm lấy nơi cư trú trong một hầm trú bom vốn đã được xây dựng trên mặt đất dinh thự. Đến sau nầy, ông ta dường như không thường xuyên tham dự những cuộc họp, và một số nhà quan sát lưu ý rằng ông ta thường có vẽ “lẫn lộn lung tung.” Khi những vấn đề quan trọng đưa đến, Lê Duẩn đôi khi quan sát những cộng tác viên, “Đừng để Bác lo lắng. Chúng ta không nên làm bận tâm người lãnh đạo tối cao của chúng ta.”

Những lãnh đạo Đảng đang trở nên ngày càng quan tâm nhiều hơn về tình trạng suy giảm của ông Hồ; ngay sau khi sinh nhật thứ 77 của ông ta, Lê Duẩn triệu tập một cuộc họp Bộ Chính trị, trong khi Hồ đang nhận điều trị y tế ở Canton,(pc 30) để thảo luận làm cách nào bảo vệ sức khỏe của ông ta. Cuộc thảo luận được quyết định giữ cuộc họp bí mật nghiêm ngặt nhằm mục đích tránh phải gánh chịu sự tức giận của ông ta hay gây lo lắng cho dân Việt Nam. Chính phủ chỉ định người bạn cũ ông Hồ là Nguyễn Lương Bằng theo dõi sức khỏe của ông ta và cử một phái đoàn của các chuyên gia được dẫn đầu bởi cựu chiến binh của Đảng là Lê Thanh Nghi đến Moscow xin ý kiến và đào tạo trong cách làm sao bảo tồn những phần còn lại của ông ta sau khi chết.56

Hồ Chí Minh trở lại từ miền Nam Trung Quốc vào cuối tháng Sáu và được cập nhật hóa về tình hình ở miền Nam. Ông ta vẫn thỉnh thoảng bị lôi cuốn vào những vấn đề có tầm quan trọng ngoại giao vào đầu năm 1967, ông ta đã gặp gỡ với những nhà hoạt động hòa bình của Hoa Kỳ như Harry Ashmore và Baggs William và gợi ý rằng những cuộc đàm phán hòa bình có thể bắt đầu chỉ sau khi Washington tuyên bố chấm dứt những cuộc tấn công thả bom của nó trên miền Bắc Việt Nam. Sau khi hai người báo cáo đến Bộ Ngoại giao về những kết quả của chuyến đi qua chuyến trở về Hoa Kỳ của họ, Tổng thống Johnson gởi một lá thư cho Hồ Chí Minh bày tỏ ý muốn chấm dứt chiến dịch thả bom, nhưng chỉ khi nào việc xâm nhập từ miền Bắc Việt Nam vào trong miền Nam đã dừng lại. Đối với những lãnh đạo Đảng, vốn là những người đã đang tin tưởng vào sự chấm dứt việc thả bom như là một phương tiện cho việc gia tăng công cuộc vận chuyển nhân viên và vật liệu vào miền Nam, dự nghị của Washington không được chấp thuận. Trong phản ứng vào tháng Ba của ông ta đối với lá thư của Johnson, Hồ Chí Minh khẳng định việc ngừng lại chiến dịch thả bom trên VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt) mà không có điều kiện. Vị thế đó được lập lại cho Raymond Aubrac, người bạn cũ của ông ta từ Paris, vào tháng Bảy. Ông Aubrac đã đến trên một chuyến thăm ngắn để kiểm tra việc tiếp nhận của Hà Nội đối với việc mở ra những cuộc đàm phán hòa bình. Phản ứng của VNDCCH, như nó được cung cấp bởi chính Hồ Chí Minh, là những cuộc đàm phán không thể bắt đầu cho đến khi Hoa Kỳ đã vô điều kiện ngừng việc thả bom miền Bắc của mình. Vào tháng Chín, ông Hồ đi đến Trung Quốc cho việc dưỡng bệnh lâu dài ở vùng dãy núi gần Beijing.57

p557

* * *

Trong lúc vắng mặt của ông ta, Bộ Chính trị đã tham gia vào một cuộc tranh luận trọng yếu về liệu có nên phát động cuộc “tổng công kích và nổi dậy” đang chờ đợi từ lâu mà qua đó chúng đã từng được xem xét kỹ từ khi bắt đầu thập kỷ. Những lãnh đạo Đảng nhìn nhận việc cần khôi phục xung lực cho cuộc cách mạng ở miền Nam, qua việc phục hồi phần đất bị mất như là một kết quả của sự hiện diện quân đội Hoa Kỳ ngày càng tăng kể từ mùa hè năm 1965. Mặc dù lực lượng Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam (hiện thời được ủng hộ bởi sự tham gia của hơn 100.000 đồng bào từ miền Bắc)(pc 57) tiếp tục hoạt động ở những mức độ tương đối cao về hiệu quả khắp đất nước, những tỷ lệ thương vong đang báo động và những vấn đề tinh thần đã bắt đầu nổi lên trong phạm vi những phong trào kháng chiến. Con số tuyển dụng bị xuống và số lượng đào ngũ trong tình trạng gia tăng, khi sự từ chối thừa nhận thất bại của Washington nêu lên những nghi ngờ về sự tất yếu của chiến thắng bởi lực lượng cách mạng. Như là một kết quả của những chuyến thăm Hà Nội bởi những người hoạt động hòa bình của Hoa Kỳ, Bộ Chính trị cảm thấy hân hoan hơn từ thực tế rằng phong trào phản chiến đang trong tình trạng gia tăng ở Hoa Kỳ; tuy nhiên, không có dấu hiệu nào cho thấy rằng chính quyền Johnson đang chuẩn bị rút quân. Thật ra, số lượng nhân viên quân sự Hoa Kỳ đóng ở miền Nam Việt Nam đã từng tăng lên gần nửa triệu, với viễn ảnh thêm hơn sẽ đến.

Trong nhiều năm, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng thời gian tốt nhất để phát động một chiến dịch như thế là trong suốt năm bầu cử tổng thống Hoa Kỳ, khi Hà Nội có thể gây áp lực tối đa trên sân khấu chính trị Mỹ. Những cuộc tấn công bởi những đơn vị LlVtNdGp(pc 23) ở vùng nông thôn được phối hợp với một cuộc tổng nổi dậy quần chúng ở các thành phố lớn. Ở mức tối thiểu, điều này sẽ làm mất ổn định miền Nam và lực lượng Hoa Kỳ để thương lượng trong một vị thế yếu đuối, nhưng mục tiêu cuối cùng là đưa đến sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn. Việc quyết định phát động cuộc tổng tấn công và cuộc nổi dậy trong suốt những ngày nghỉ của Tết Năm Mới vào đầu tháng Hai vừa mới được hoàn thiện lần cuối bởi Bộ Chính trị trong tháng Mười Hai, khi Hồ Chí Minh trở về từ Trung Quốc. Ông Hồ đưa ra sự chấp thuận của mình đối với kế hoạch và sau đó ngay lập tức quay trở lại Beijing cho việt điều trị thêm.

Cuộc công kích Tết bắt đầu vào ngày 31 tháng Giêng năm 1968. Lực lượng nổi dậy tấn công những thành phố lớn, những thủ phủ tỉnh và huyện, và những làng mạc nông thôn trong một chiến dịch toàn quốc. Những cuộc tấn công được công khai hiển hiện diễn ra ở Sài Gòn, nơi mà những đơn vị đặc công và các đội tự sát tấn công những cơ sở chính phủ và nhanh chóng chiếm đóng tầng trệt của Đại sứ quán mới của Hoa Kỳ, và ở kinh đô cũ của Huế, mà qua đó nó bị chiếm đóng bởi đội quân Bắc Việt trong gần ba tuần trước khi họ bị đuổi ra khỏi thành phố bởi bộ binh Hoa Kỳ trong cuộ chiến đấu xáp lá cà đẫm máu.

p558

Những kết quả là một phần nào thất vọng về giá trả quân sự: những đơn vị quân nổi dậy tham gia trong cuộc công kích chịu thiết hại hơn 30.000 thương vong. Bởi vì đại đa số là lực lượng Việt Cộng địa phương, những mất mát này sẽ làm suy yếu phong trào trong nhiều năm tới. Và nó không đưa đến sự sụp đổ được dự đoán về chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Tuy nhiên, những hậu quả chính trị ở Hoa Kỳ thì đáng khích lệ hơn, bởi vì những thương vong của Hoa Kỳ trong suốt cuộc tấn công đã lên cao. Gần khoảng 2.000 người Mỹ đã bị giết trong tháng của chiến dịch Tết, với số thêm vào là 3.000 người bị thương nặng. Cơn sốt chống-chiến-tranh trong số người dân Mỹ đạt đến những độ cao mới và buộc Nhà Trắng đưa ra những nhượng bộ mới để mang lại một hòa giải hòa bình của chiến tranh. Vào cuối tháng ba, Lyndon Johnson đề nghị tạm dừng một phần việc thả bom bên dưới Vĩ tuyến 20 trong một cố gắng bắt đầu lại những cuộc thương thuyết.

Khi Nhà Trắng đang cân nhắc tình thế tiến thoái lưỡng nan của nó, thành viên Bộ Chính trị là Lê Đức Thọ đến thăm Hồ Chí Minh, vốn là người vẫn còn ở Beijing, để tóm tắt cho ông ta về những kết quả của cuộc tấn công Tết. Mặc dù ông Thọ (chẳng bao lâu được chọn như là trưởng đoàn thương thuyết của Hà Nội trong những cuộc đàm phán hòa bình sắp tới) sau này thừa nhận rằng Tết chỉ là một thành công đủ tiêu chuẩn, ông ta chắc chắn trình bày nó với Chủ tịch Hồ như là một thắng lợi lớn, và ông Hồ rất vui mừng. Khi ông Thọ thông báo với ông về chuyến đi sắp tới của riêng mình đến miền Nam để đánh giá tình hình sau Tết, ông Hồ bày tỏ một mong muốn nhiệt thành để đi cùng với ông ta. Ông Thọ cố gắng khuyên can ông ta, bằng cách giải thích rằng ông Hồ sẽ cần một sổ thông hành để đi qua cổng Cam-pu-chia của tỉnh Sihanoukville (con đường mà hầu hết những cán bộ cao cấp của Đảng lúc bấy giờ dùng để đến miền Nam) và như thế sẽ bị nhận ra vì bộ râu nổi tiếng của ông ta. Ông Hồ trả lời rằng ông ta sẽ cạo nó đi. Nhưng sau đó, ông Thọ nhanh chóng trả lời, những đồng bào miền nam của chúng ta sẽ không nhận ra Bác! Ông Hồ khăng khăng, đề nghị rằng ông ta có thể giả dạng như là một thủy thủ hoặc ẩn núp trong khoang tàu. Để làm yên lòng nhà cách mạng già nua, ông Thọ hứa sẽ xem xét vấn đề; khi ông Thọ nhón lên để đi ra, Hồ Chí Minh ôm chầm lấy ông ta và ứa nước mắt. Ông Thọ sau đó cho những người quen biết hay rằng khi họ chia tay, ông ta sợ ông ta có thể không bao giờ nhìn thấy người cộng tác già nua của mình lần nữa.

Hồ Chí Minh đã dự đoán rằng lời yêu cầu này sẽ bị từ chối bởi những lãnh đạo Đảng vì sức khỏe yếu kém của mình. Trong một bức thư cho Lê Duẩn ở Hà Nội, ông lập luận rằng sự thay đổi không khí sẽ làm cho ông ta khoẻ ra. Ông ta cũng giải thích rằng chuyến đi của ông ta vào Nam sẽ xây dựng những tinh thần của hàng ngàn đồng bào mình vốn là những người đang hy sinh mạng sống của mình cho sự nghiệp. Vào ngày 19 tháng Ba, ông ta viết một lá thư ngắn cho Thủ tướng Zhou Enlai(pc 13) về việc yêu cầu cho được hỗ trợ của mình trong việc đạt được sự chấp thuận về yêu cầu của ông ta. Ờ Hà Nội, lời yêu cầu lặng lẽ được cất vào ngăn.58

Sau khi ông trở lại Bắc Việt Nam vào ngày 21 tháng Tư, Hồ Chí Minh được mời tham dự một cuộc họp của Bộ Chính trị để đánh giá những kết quả của cuộc công kích Tết Mậu Thân.

p559

Sức khỏe của ông Hồ thì mong manh, nhưng ông ta nhất định theo kịp tình hình ở miền Nam và bày tỏ sự vui mừng rằng những căng thẳng của chiến tranh đã buộc việc từ chức của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara. Ông Hồ cũng hài lòng với quyết định của Tổng thống Johnson, sau khi công bố trong suốt bài phát biểu của mình vào ngày 30 tháng Ba về việc tuyên bố ngừng thả bom một phần, rằng ông ta sẽ không tái tranh cử vào năm 1968. Sau việc ám sát tháng Sáu của Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy, một trong những chính trị gia nổi bật nhất phản đối chiến tranh ở Hoa Kỳ, ông Hồ than thở trong một bài viết ngắn được đăng trên tờ Nhân Dân rằng vì chiến tranh đang gia tăng, những con số của người Mỹ bình thường cũng sẽ bị giết ở Việt Nam.59

Vào đầu tháng Năm, Hồ Chí Minh được thông báo rằng Tổng thống Johnson đã đưa vào hiệu lực việc ngừng thả đánh bom một phần bên dưới Vĩ tuyến 20 và đã đồng ý tham gia vào những cuộc đàm phán hòa bình ở Paris. Ông Hồ dường như đã không được hỏi ý kiến về việc liệu có nên chấp nhận lời đề nghị, nhưng ông ta rất vui mừng. Tuy nhiên, ông ta cảnh cáo những cộng tác viên của mình rằng sau khi chiến thắng đạt được, điều quan trọng cực kỳ sẽ là chữa lành những vết thương của dân tộc Việt Nam, một nhiệm vụ vốn “sẽ là phức tạp và khó khăn.” Để ngăn chận những sai lầm nghiêm trọng, ông ta đề nghị rằng một kế hoạch cụ thể được soạn ra để tổ chức lại Đảng, để cho mỗi thành viên sẽ nhận ra nhiệm vụ thiêng liêng về việc phục vụ nhân dân. Những nhiệm vụ quan trọng bao gồm việc hàn gắn những vết thương chiến tranh trong nhân dân và việc chuyển đổi thành công những “cặn bã” của xã hội miền Nam –những tên trộm, gái mại dâm, người nghiện ma túy– thành những công dân hữu ích qua tuyên truyền, và nếu có thể, biện pháp pháp luật khác.60

Hồ cũng đã tìm cách cung cấp ý kiến cho các cộng tác viên của mình làm cách nào tiến hành các cuộc đàm phán với Hoa Kỳ trong tương lai. Vấn đề quả thật đang trở nên phức tạp; không chỉ Washington đã từng chống lại yêu cầu của Hà Nội cho một lời hứa được viết ra và vô điều kiện không tiếp tục thả bom VNDCCH(pc 01) (Bắc Việt), nhưng Beijing –hiện thời bị sa lầy trong những đau đớn dữ dội của cuộc Cách mạng Văn hóa– đã chỉ trích những đồng chí Bắc Việt vì đang quá háo hức thiết lập liên lạc với Hoa Kỳ. Vào tháng Tư, Zhou Enlai(pc 13) khuyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhấn mạnh vào việc thực hiện “bốn điểm” nổi tiếng của ông ta trước khi mở ra những cuộc đàm phán. Ông Zhou nói với ông ta rằng ông ta nên thương lượng chỉ từ một vị thế mạnh. Ông Đồng vặn lại rằng Hà Nội sẽ không thỏa hiệp về những nguyên tắc cơ bản của nó và sẽ không bao giờ tham gia vào những cuộc đàm phán hòa bình dưới những điều kiện bất lợi. Trong bất kỳ trường hợp nào, ông ta nhận xét, chính là dân Việt Nam là những người đang làm công việc chiến đấu.61

Hồ Chí Minh không tham gia tích cực trong những cuộc bàn cãi, nhưng trong lời bình luận ​​của mình, ông ta ứng dụng một thái độ thực dụng, qua cách khuyên bảo Bộ Chính trị vào tháng Bảy rằng nó nên quyết định một cách cẩn thận điều gì có thể có được hoặc mất đi một khi những cuộc đàm phán bắt đầu. Trong những cuộc họp được tổ chức trong những tuần kế tiếp, ông ta cảnh cáo những cộng tác viên của mình rằng, cùng một lúc họ đang nắm bắt bất cứ cơ hội nào cho bước đột phá ngoại giao,

p560

họ cũng phải tập trung những cố gắng của mình vào việc tăng cường những chuẩn bị quân sự. Ông ta cảnh cáo họ phải cảnh giác về bẫy sập của Hoa Kỳ, mà qua đó nó có thể dẫn đến một lệnh ngưng bắn ở miền Nam trong khi cho phép Washington tiếp tục thả bom miền Bắc tại một thời điểm nào đó trong tương lai.

Vào đầu tháng Mười Một, những cuộc đàm phán hòa bình được triệu tập ở Paris sau khi Washington đồng ý ngừng lại hoàn toàn việc thả bom, mặc dù Lyndon Johnson từ chối đặt lời hứa vào văn bản. Không có lệnh ngưng bắn ở miền Nam, mặc dù Hà Nội hứa sẽ không phát động một cuộc tấn công lớn tương tự như cuộc công kích Tết Mậu Thân.(pc 58) Nhưng bước đột phá về những cuộc đàm phán hòa bình đến quá muộn để giúp Hubert Humphrey, ứng cử viên tổng thống thuộc đảng Dân chủ. Humphrey, vốn là người đã giành được sự đề cử trong suốt hội nghị quốc gia hỗn loạn được tổ chức ở Chicago trong tháng Tám, đã trở thành một nhà phê bình im lặng về chiến tranh, nhưng đã bị bắt buộc bởi vị thế của mình như là Phó Tổng thống của Johnson để giữ những vùng đất riêng cho chính. Tình cảm của công chúng đang tăng lên chống lại chiến tranh làm tổn thương vai trò ứng cử của riêng mình, trong khi ứng cử viên thuộc đảng Cộng hòa, Richard M. Nixon, hứa hẹn rằng ông ta có một “kế hoạch bí mật” để đưa đến một kết thúc chiến tranh. Trong cuộc bầu cử Tháng Mười Một, Nixon đưa đảng Cộng hòa trở lại vào Nhà Trắng lần đầu tiên trong tám năm.

* * *

Trong suốt thời gian cuối những năm 1960s, Hồ Chí Minh sửa đổi theo định kỳ di chúc của mình, nhưng mỗi bản thảo chứa đựng mong muốn của ông ta được hỏa táng. Phiên bản sau cùng cho thấy rằng ông ta muốn tro của mình được gởi lại tại ba địa điểm không được nêu tên ở những khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam của đất nước, một hành động tượng trưng được hoạch định để thể hiện lòng tận tụy suốt đời của ông ta cho sự nghiệp tái thống nhất đất nước. Sau đó, ông ta viết, ông ta sẽ dấn thân vào con đường của mình để gặp gỡ Karl Marx, Vladimir Lenin, và những nhà cách mạng đáng kính khác. Ông Hồ cũng bày tỏ sự mong muốn rằng sau khi phục hồi hoà bình, những thứ thuế nông nghiệp nên được hủy bỏ trong một năm để giảm bớt sự khó khăn mà cuộc chiến đã áp đặt trên dân Việt Nam và để bày tỏ lòng biết ơn của Đảng cho những công việc nặng nhọc và những hy sinh của họ trong suốt cuộc xung đột dài đẫm máu.62

Trong suốt những ngày lễ Tết năm 1969, Hồ Chí Minh lấy chuyến đi ngắn cuối cùng của mình ra khỏi Hà Nội, thăm viếng thủ phủ huyện của Sơn Tây gần đó. Sau chuyến trở về của ông ta, sức khỏe ông ta dường như bình thường; ông ta tham dự những cuộc họp của Bộ Chính trị vào tháng Tư, khuyên những cộng tác viên của mình rằng nếu chính quyền mới quyết định rút quân lính Hoa Kỳ khỏi miền Nam Việt Nam, điều quan trọng là cho phép họ làm như vậy bằng niềm danh dự. Tuy nhiên, trong một bài phát biểu tại Phiên họp Toàn thể lần Thứ mười sáu của Ủy ban Trung ương vào giữa tháng Năm, ông ta cảnh cáo những lãnh đạo Đảng đừng vội vã trong phán đoán của họ, vì mặc dù vị thế của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam đang suy yếu

p561

(Tổng thống Nixon đã công bố chính sách mới của ông ta về “Việt Nam hóa,” qua đó nó kêu gọi việc rút dần dần lực lượng Hoa Kỳ từ VNCH(pc 07)), nó vẫn còn nguy hiểm.

Ông Hồ tiếp tục quan tâm về phúc lợi của quân đội ở miền Nam. Đáp ứng yêu cầu lâu dài của mình, ông ta cuối cùng có thể gặp gỡ với một phái đoàn của những người chiến đấu kháng chiến miền Nam ở Hồ Tây, ở những vùng ngoại ô phía bắc Hà Nội. Tại buỗi lễ kỷ niệm sinh nhật thứ 79 được tổ chức tại nhà của mình, những cộng tác viên thân cận của ông ta hứa hẹn sẽ mang lại chiến thắng cuối cùng và tưởng thưởng cho ông ta bằng một chuyến thăm dài chờ đợi của ông đến miền Nam Việt Nam. Cùng tháng đó, ông ta viết bản dự thảo cuối cùng của di chúc mình, viết nhanh xuống những ghi chú bên những lề của dự thảo trước đó. Tuy nhiên, ông Hồ đang trở nên ngày càng yếu ớt, và những bác sĩ quyết định theo dõi nhịp tim của ông ta một cách thường xuyên. Mặc dù việc ngưng thả bom của Hoa Kỳ cho phép ông ta trở lại căn nhà sàn (một địa điểm vốn được bao quanh bởi nhiều cây có bóng mát), ông ta bắt đầu yếu đi trong suốt mùa hè nóng nực, oi bức. Những lãnh đạo Đảng cấp bách yêu cầu những bác sĩ Liên Xô và Trung Quốc cung cấp sự hỗ trợ. Ông Hồ cố gắng để duy trì lịch trình buổi sáng thường xuyên của mình về những bài tập thể dục; ông ta tưới những cây của mình và cho cá ăn mỗi ngày. Những cộng tác viên gần gũi như Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng ăn uống với ông ta thường xuyên.63

Một ngày vào giữa tháng Tám, tình trạng của ông Hồ đột nhiên tồi tệ hơn, và hai lá phổi của ông ta trở nên bị tắc nghẽn một cách nặng nề. Mặc dù những bác sĩ quản lý thuốc penicillin, ngày hôm sau ông ta để ý đến cảm giác cơn đau ở ngực mình; vào ngày thứ 28 ông ta càng bộc lộ rõ nhịp tim không đều. Khi những thành viên của Bộ Chính trị đến báo cáo về tình hình ở miền Nam, ông Hồ nói với họ rằng tình trạng thể chất của ông đã được cải thiện. Hai ngày sau, ông Hồ yêu cầu Phạm Văn Đồng, vốn là người đã từng đến thăm, liệu những chuẩn bị có đầy đủ cho buỗi lễ kỷ niệm Ngày Quốc gia, được lên lịch trình vào ​​ngày 02 tháng Chín. Sau khi thức giấc vào sáng hôm sau, ông ta ăn một chén cháo suông và gặp gỡ với một nhóm những cựu chiến binh quân đội. Lúc 09:45 sáng ngày 2 tháng 9, ngày lễ kỷ niệm là thứ 24 của sự phục hồi nền độc lập quốc gia Việt Nam, trái tim của Hồ Chí Minh ngưng nhịp.64

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
pc 02_ Đây là khoảng thời gian có sự xuất hiện Công hàm của Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) tán thành việc Trung cộng đòi hỏi chủ quyền quần đảo Hoàng Sa trong khi chúng thuộc quyền kiểm soát của chính phủ miền Nam Việt Nam.
Cuộc hội kiến của ông Hồ với Mao Trạch Đông trong năm 1958 nầy về việc yêu cầu Trung cộng viện trợ quân sự, cố vấn, lương thực, và những vật dụng y tế khác, chắc chắn rằng Trung cộng sẽ ra những điều kiện với Bắc Việt trong sự trao đổi đó. Và Công hàm của Phạm Văn Đồng là một bằng chứng tiêu biểu nhất.
Lẽ dĩ nhiên là thế, vì Trung cộng đã từng giúp nhà nước Bắc Việt trước đây nhưng chưa nhận được đối đáp đáng kể, và vì vào thời gian đó Trung cộng cũng bị tiêu hao khá nhiều qua cuộc chiến xung đột với Liên Xô nhưng chưa đạt được phần đất nào như mong muốn. Và yếu tố chính nữa là thái độ đứng giữa của Bắc Việt trong cuộc xung đột Trung-Sô khiến cho Bắc Kinh bất bình trong lòng nên họ cần có những điều kiện bó buộc Bắc Việt phải tuân theo và lệ thuộc.

pc 03_ Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á ( SEATO = Southeast Asia Treaty Organization) : là một tổ chức quốc tế cho sự phòng thủ chung trong khu vực Đông Nam Á được tạo ra bởi Hiệp ước Phòng thủ Chung Đông Nam Châu Á Quốc, hoặc Minh ước Manila, được ký kết vào tháng Chín năm 1954 tại thủ đô Manila, Philippines. Những cơ quan chính thức của SEATO được thành lập vào ngày 19 tháng Hai, 1955 tại một cuộc họp của hội viên hiệp ước ở thủ đô Bangkok, Thái Lan. Trụ sở chính của tổ chức cũng được đặt ở Bangkok.
Chủ yếu được tạo ra để ngăn chận những gia tăng xa hơn của Cộng sản trong khu vực Đông Nam Á. SEATO thường được xem là một thất bại vì sự xung đột và tranh chấp nội bộ gây cản trở việc sử dụng chung quân đội SEATO; tuy nhiên, những chương trình văn hóa và giáo dục được SEATO-tài trợ để lại những ảnh hưởng lâu dài ở Đông Nam Á. SEATO được giải tán vào ngày 30 tháng Sáu, năm 1977 sau khi phần nhiều thành viên không còn quan tâm và rút lui.

pc 04_ Đây là một trong những bằng chứng rõ ràng nhất về mưu đồ tái thống nhất của Bắc Việt sau sự thất bại qua Hiệp định Geneva được ký kết với Pháp mà qua đó Trung Quốc được xem là tiếng nói quyết định cuối cùng cho số mệnh miền Bắc, và gần như đại diện cho phái đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Việt Nam đang tham dự.

Trước đó, trong phần cuối của chương 14, tác giả cố tình đưa ra những lập luận nhằm biện hộ cho nhà nước miền Bắc nói chung và Hồ Chí Minh nói riêng trong việc quyết định phát động chiến dịch được gọi là giải phóng miền Nam, qua việc đỗ lỗi cho những người tập kết ra Bắc mà tiêu biểu nhất là nhân vật Lê Duẩn –là người mà theo tác giả, Bộ Chính trị Đảng và nhiều cán bộ cao cấp khác chẳng mấy ai ưu thích vì tính hiếu chiến, tham quyền, và tự cao mặc dù được ông Hồ nâng lên chức vụ Tổng Bí thư.
Nhưng rõ ràng rằng, cũng trong chương 14, tác giả có nhắc đến số cán bộ được cài lại miền Nam sau Hiệp định và lần nữa trong chương 15 nầy, tác giả nói đến những thanh niên tập kết ra Bắc được gởi lại miền Nam sau khi được huấn luyện về những kỷ thuật vũ khí chiến tranh nhằm mục đích khuấy rối qua những hoạt động vũ trang chống phá chế độ miền Nam. Không phải Hồ Chí Minh không muốn phát động chiến dịch đó vốn được nhắc đến nhiều lần bởi ông Hồ trong ý tưởng tái thống nhất đã có từ lâu, mà chỉ vì ông ta muốn nắm chắc rằng chiến dịch đó cần có sự hậu thuẩn và ủng hộ của hai nước Liên Xô và nhất là Trung Cộng. Và quyết định đó được hình thành rõ ràng hơn sau chuyến công du của ông ta.

pc 05_ Những con đường rừng mòn, theo tác giả, chúng được dọn mở trước đây trong suốt chiến tranh chống Pháp là một điều không đúng hẵn. Mà đáng lý ra, nên được xét rằng, theo lịch sử Việt Nam, chúng là những con đường đã có từ lâu từ thời Nguyễn Hoàng khai đất vùng phía nam, mà tiêu biểu nhất là thời kỳ nhà Tây Sơn kéo quân ra vào miền Bắc rất thường, vì vậy vua Quang Trung Nguyên Huệ mới có thể thực hiện được cuộc hành quân thần tốc ra Bắc đánh đuổi quân nhà Thanh lúc bấy giờ. Nếu những con đường rừng mòn đó chưa được khai thông nhiều hơn sau những chuyến ra vào miền Bắc, chắc chắn rằng Hoàng đế Quang Trung khó thực hiện được trận đánh vang danh lịch sử đó.


pc 06_ Bộ Luật 10/59 : đây là Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 do Quốc Hội Lập Hiến chung quyết trong phiên họp ngày 20 tháng 10 năm 1956. Hiếp pháp bao gồm 11 thiên chương và 98 điều khoản : Điều khoản căn bản, Quyền lợi và nhiệm vụ người dân, Tổng thống, Quốc hội, Thẩm phán, Đặc biệt pháp viện, Hội đồng kinh tế quốc gia, Viện bảo hiến, Sửa đổi Hiến pháp, và Các điều khoản chung. Với nguyên văn lời mở đầu như sau :

LỜI MỞ ĐẦU
Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ý chí quật cường của toàn dân đảm bảo;
Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;
Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;
Chúng tôi, Dân biểu Quốc hội Lập hiến:
Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan;
Nguyện vọng ấy là:

Củng cố Độc lập chống mọi hình thức xâm lăng thống trị;
Bảo vệ tự do cho mỗi người và cho dân tộc;
Xây dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị;

Ý thức rằng quyền hưởng tự do chỉ được bảo toàn khi năng lực phục tùng lý trí và đạo đức, khi nền an ninh tập thể được bảo vệ và những quyền chính đáng của con người được tôn trọng;
Ý thức rằng nước ta ở trên con đường giao thông và di dân quốc tế, dân tộc ta sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu tư tưởng tiến bộ để hoàn thành sứ mạng trước đấng Tạo hóa và trước nhân loại là xây dựng một nền văn minh và nhân bản bảo vệ phát triển con người toàn diện.
Sau khi thảo luận, chấp nhận bản Hiến pháp sau đây:
— — — — —

pc 07_ VNCH : Việt Nam Cộng Hòa
.

pc 08_ Đây chính là phương cách mà Hồ Chí Minh đã từng ứng dụng trong công cuộc Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc trước đó : lấy đất và phân phối. Đó là trong khoảng thời gian trước và sau chiến dịch Điện Biên Phủ mà mục đích chính của nó –được chính Hồ Chí Minh học theo Trung Cộng và tuyên bố– là quyến dụ lòng dân ở nông thôn sẵn sàng dâng hiến hy sinh cho Đảng vì sự nghiệp cách mạng.

Chỉ khác là trong miền Nam –nói chung bao gồm cả miền Trung– lúc bấy giờ lực lượng nằm vùng Việt Minh bị đánh đuổi mãnh liệt nên họ chưa có cơ hội thực thi công cuộc Cải cách Ruộng đất qua những màn đấu tố như ở miền Bắc. Và dân cư ở nông thôn miền Nam lúc bấy giờ cũng chưa bao giờ được biết hay nghe nói đến những thảm họa kinh hồn của công cuộc Cải cách Ruộng đất đó. Ngoài những lời tuyên truyền mà chắc chắn rằng chúng được tô màu khác biệt bởi những cán bộ Việt Minh được đưa vào miền Nam.
Trong khi đó, chương trình Người cày Có ruộng của chế độ non nớt mới ra đời của Ngô Đình Diệm đã thành công rất cao trong những vùng đất kiểm soát được, ngoại trừ những vùng xa xôi luôn bị lực lượng Việt Minh quấy phá và xúi giục nên sự phân chia đất đai khó được thực hiện nghiêm chỉnh. Khi càng ngày vùng kiểm soát được mở rộng, dĩ nhiên những gì thuộc về chủ đất phải trả lại họ theo luật định của miền Nam, sau đó theo quy hoạch, một số đất được chính phủ mua lại được trả qua công phố phiếu một phần để phân phối cho những người dân trong vùng.

pc 09_ Hiệp định Geneva (Genéve) : là một hiệp ước đình chiến và hòa bình, qua đó Pháp công nhận nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia và tổ chức tổng tuyển cử tự do trong 3 nước nhằm thành lập một chính phủ duy nhất cho mỗi nước. Ngày 21.7.1954, Thiếu tướng Henri Delteil (Pháp) và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Tạ Quang Bửu đã ký vào bản Hiệp định đình chiến về Đông Dương (Hiệp định Genève 1954).

_ Mùa hè năm 1953, chính phủ Pháp tìm cách đưa Pháp thoát khỏi cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Tháng 10 năm 1953, thủ tướng Pháp tuyên bố tại Quốc hội, Pháp sẵn sàng chấp nhận giải pháp ngoại giao.
_ Ngày 18/2/1954, hội nghị Tứ cường (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp) ở Berlin (Đức) đã thông qua thông cáo triệu tập hội nghị quốc tế Genève vào ngày 26/4/1954 để bàn giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên và việc lập lại hòa bình ở Đông Dương.
_ Ngày 7/5/1954, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.
_ Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 8/5/1954, Hội nghị Genève về Đông Dương đã chính thức khai mạc. Tham dự hội nghị có 9 đoàn đại biểu, gồm: Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Vương quốc Lào, Vương quốc Cam-pu-chia, Quốc gia Việt Nam (Bảo Đại) và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt).
_ Đến cuộc họp cuối ngày 20/7/1954, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) mới chấp nhận lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời giữa hai miền và thời hạn hai năm sau sẽ tổ chức tổng tuyển cử.
_ Trải qua 75 ngày thương lượng với 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp phụ cấp trưởng đoàn; dưới sự chủ tọa của hai đồng chủ tịch là Ngoại trưởng Liên Xô và Ngoại trưởng Anh, Hiệp định Genève về lập lại hòa bình và đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Campuchia và Lào thuộc Đông Dương đã được ký kết vào ngày 21/7/1954.
Gồm 6 chương, 47 điều với nội dung:

1_ Nước Pháp phải rút quân khỏi miền Bắc và Việt Minh rút khỏi miền Nam trong thời hạn 300 ngày.
2_ Ngừng bắn hoàn toàn toàn cõi Đông Dương, lấy sông Bến Hải (Quảng Trị) nằm trên Vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, quân đội Liên hiệp Pháp tập kết về phía nam Vĩ tuyến 17, quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) tập kết về phía bắc Vĩ tuyến 17.

3_ Cấm đưa quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí, phương tiện chiến tranh mới vào Việt Nam.
4_ Hai bên Việt Nam không gia nhập một liên minh quân sự nào, không bị sử dụng để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ cho một chính sách xâm lược.

5_ Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ 3 nước.

6_ Các bên tham chiến thực hiện cam kết, chuyển quân, chuyển giao khu vực.
7_ Thành lập và định ra nhiệm vụ, thẩm quyền nguyên tắc trình tự hoạt động cho các ban liên hợp quân sự và các ban giám sát, kiểm soát quốc tế. Một Hội đồng Kiểm soát Quốc tế gồm các nước: Ba Lan, Ấn Độ và Canada sẽ giám sát việc thi hành các điều khoản của Hiệp định, với Ấn Độ làm chủ tịch.

8_ Thường dân có quyền lựa chọn muốn ở miền Bắc hay miền Nam, trong thời gian đó họ được tự do đi lại.
9_ Trao trả cho nhau tù binh và thường dân bị bắt giữ.
10_ Hai bên cam kết không truy tố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh.
11_ Sau 2 năm, kể từ ngày ký Hiệp định, hai bên Việt Nam sẽ hiệp thương tiến hành tổng tuyển cử “tự do và dân chủ” để thống nhất đất nước trước tháng 7/1956.

Sau Hiệp định Geneva 1954, Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, và tạo điều kiện để tiếp tục tiến hành cái gọi là cách mạng giải phóng ở Miền Nam Việt Nam –không ngoài mục đích “tô đỏ” chủ nghĩa Cộng sản khắp Việt Nam theo chủ trương từ Liên Xô và Trung Quốc– vì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt) căn cứ vào bản Tuyên bố chung có ghi về Việt Nam: “Đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới về chính trị hoặc lãnh thổ”

Bản “Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam” bao gồm 6 chương, 47 điều khoản. Ngoài ra, còn có phụ bản kèm theo nói rõ thêm về “giới tuyến quân sự tạm thời, khu phi quân sự và các khu đóng quân tạm thời.”

Mặc dù Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956, Hiệp định không có điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như cách thức tổ chức những cuộc Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam-Bắc Việt Nam.

pc 10_ Tân Cương : là vùng đất kéo dài hơn 1,6 triệu km2 , tiếp giáp Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan, và Ấn Độ –nằm trên đầu Trung Quốc về hướng tây bắc– bao gồm nhiều nhóm dân tộc khác nhau như Duy Ngô Nhĩ, Hán, Kazakhstan, Hui, Kyrgyzstan, Mông Cổ, với đa số người dân tôn trọng Hồi giáo. Sau Thế Chiến thứ II, Trung cộng lợi dụng tình thế mệt mõi của những cường quốc đồng minh và những hậu quả chiến tranh còn lại trên vùng đất nầy, đã xua quân chiếm lấy kể từ năm 1950 vì Tân Cương có trữ lượng dầu mỏ dồi dào. Trung cộng biến Tân Cương thành Khu vực Tự trị Duy Ngô Nhĩ và bộ phận hành chính lớn nhất Trung Quốc và là khu vực sản xuất khí đốt lớn nhất của Trung Quốc.
Ngoài ra cũng trong thời gian của năm 1950, với một Trung Quốc được xem là một thế lực hiếu chiến, đã chiếm luôn Tây Tạng –lãnh thỗ nằm về hướng nam của Tân Cương. Với chủ nghĩa bành trướng của Trung cộng, thể hiện trong các hoạt động quân sự và các chính sách ngoại giao, là một nỗi lo ngại đáng kể của các nước lân cận. Trung Quốc thôn tính một phần lớn Mông Cổ, toàn bộ Tân Cương (1950), Tây Tạng (1950), Mãn Châu (1969), tiêu diệt quyền tự do, nền độc lập của các nước này. Trong thời hiện đại, Trung Quốc sáp nhập Tây Tạng vào lãnh thổ của mình và tiếp tục có các cuộc chiến tranh biên giới với các nước láng giềng như Nga, Ấn Độ, KazakhstanViệt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên…
Sau nầy, Trung cộng với mưu đồ bành trướng xuống phương Nam, ráo riết nô dịch hóa theo hình thức thuộc địa kiểu mới ở các nước Miến Điện, Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia bằng những thủ đoạn từ lộ liễu đến tinh vi, qua hợp tác kinh tế, viện trợ về kinh tế-tài chính-giáo dục- văn hóa, đẩy mạnh thương mại một chiều, làm đường xá, khai thác khoáng sản, năng lượng, cấy dân cư, đề xướng cư dân lân bang đi lại không hộ chiếu, cho đến thủ đoạn then chốt là mua chuộc nhóm lãnh đạo chính trị của các nước này. Đồng thời, Trung cộng thiết lập quan hệ ngoại giao chặt chẽ với các quốc gia khác, xây dựng quan hệ đối tác với Hoa Kỳ và Âu châu. Đối với những cường quốc, Trung Quốc tận dụng các mối quan hệ, tránh đụng độ, tuân thủ nguyên tắc ngoại giao đã từng được đặt ra 40 năm trước của Đặng Tiểu Bình, đó là “dấu mặt”. Mặt khác, khi quan hệ với những nước nhỏ đó, Trung Quốc dễ dàng đưa lực lượng Hoa kiều hùng hậu của mình sang thâu tóm nền kinh tế còn yếu kém của các nước đó, thí dụ với Lào, Campuchia, Miến Điện, Campuchia, Pakistan, hay Việt Nam, như vậy ảnh hưởng Trung Quốc sẽ ngày càng lan rộng.

pc 11_ Mao Zedong : Mao Trạch Đông.
pc 12_ Lin Biao : Lâm Bưu.
pc 13_ Zhou Enlai : Chu Ân Lai.
pc 14_ Liu Shaoqi : Lưu Thiếu Kỳ.
pc 15_ CHNDTH : Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
pc 16_ ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt Nam.
pc 17_ Vấn đề, như tác giả viết, “Hoa Kỳ đang cố gắng khích động một cuộc chiến tranh thế giới” dường như hoàn toàn vô căn cứ. Vì giả như cuộc xung đột Trung-Sô có gia tăng, đó cũng chỉ là vấn đề của những nước trong khối cộng sản –không có nghĩa gì là cả thế giới– và chắc chắn rằng những nước không-Cộng-sản sẽ không bao giờ tham gia vì chẳng có gì đụng chạm đến những lợi ích hay an ninh của họ.

pc 18_ Lần nữa, đây là sự khẳng định mà cá nhân ông Hồ và Đảng đã từng có quyết tâm trong việc tái thống nhất đất nước qua những hành động xâm lược, tổ chức mặt trận, vận chuyển vũ khí v.v. nhằm phá hoại nền Cộng hòa non nớt ở miền Nam. Trong khi đó, đáng lý ra ông Hồ nên có những chính sách tái thiết đời sống miền Bắc hơn là gây thêm chiến tranh. Việc ông ta luôn nói đến là dẫn dắt miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa, tuy nhiên qua những thất bại trong việc tập thể hóa nông thôn dù chỉ là bước đầu –mà qua đó những hậu quả đã từng xảy ra trước đó ở Liên Xô và Trung Quốc– khiến ông ta khó thể thói lui cuộc chiến vì chỉ có cách đó mới mong che lấp và chuyển sự chú ý của quần chúng vào chiến tranh bằng mục đích được tuyên truyên ưu ái là tái thống nhất đất nước. Vì bằng chứng là miền Bắc với nền kinh tế èo ẹp, không đủ cung cấp những nhu cầu cần thiết và cơ bản cho người dân, nhưng phải bị tóm thu bởi nhà nước để nuôi dưỡng chiến tranh miền Nam qua những dịch vụ trao đổi cho súng đạn và số lương thực ẩm móc dư thừa của Trung cộng và Liên Xô.

pc 19_ Lê Duẩn khi nói “tính linh hoạt và sự di chuyển từ những hình thức hoạt động hợp pháp đến bất hợp pháp,” không ngoài ngụ ý đến những hoạt động lôi kéo sinh viên, trí thức, tôn giáo bằng những người đang làm việc hoặc sinh hoạt hợp pháp qua những vai trò của họ trong xã hội như là giáo sư, thầy tu, linh mục, v.v. Và sau đó chuyển qua những hoạt động bất hợp pháp như là đặt chất nỗ, xúi giục biểu tình bạo lực, ám sát, đe dọa v.v. khi quyến dụ được một số dân làm hậu thuẩn, che chắn, và bảo vệ cho những người hoạt động cách mạng.

pc 20_ Rõ ràng là nhà nước Cộng sản miền Bắc lúc nào cũng muốn nắm hết lấy quyền lực cả nước Việt Nam, nên việc sử dụng con bài mặt trận miền Nam cũng là cách quyến dụ những kẻ chống đối chính quyền miền Nam vào sự mê hoặc quyền lực nhằm dâng hiến cho cách mạng. Nhưng cuối cùng, tất cả quyền lực phải được trả về cho nhà nước miền Bắc một khi cách mạng ở miền Nam thành công.

pc 21_ “Sẽ không có chuyện nhắc đến chủ nghĩa cộng sản,” điều nầy càng chứng minh rõ ràng là chủ nghĩa cộng sản vốn là thứ học thuyết khiến đa số quần chúng trong miền Nam e sợ, nên mặt trận miền Nam phải tuyệt đối không được nhắc đến hai chữ Cộng sản và khoác ngoài cái vỏ là một mặt trận dân tộc, quốc gia. Và lần nữa, những lãnh đạo Cộng sản Việt Nam áp dụng lại chiêu lừa dân tộc tính mà nó từng được sử dụng trong thời gian được gọi là Cách mạng Tháng Tám.

pc 22_ Đây là lời cáo buộc của tác giả nhưng tiếc thay không có gì làm bằng qua đoạn “dường như đối với nhiều người (Hiếp pháp 1956) là một văn kiện chết.” Hoặc giả tác giả không muốn nhận chân sự thật hay tác giả quá yếu kém về phân tích tình hình trước và sau sự ra đời của Hiến pháp 1956.
Trên thực tế, Hiến pháp 1956 (được ghi lại sơ lược ở phần phụ chú 05) là lưỡi dao cắt đoạn lực lượng nằm vùng của Việt Minh ở miền Nam mà họ được Hồ Chí Minh ra lệnh những cán bộ trong Nam bám trụ ở lại trong thời gian Hiệp định Geneva với mục đích xây dựng lực lượng dân quân ngay trong lòng địch. Hiếp pháp 1956 đã bức tử Cộng sản ở miền Nam chết hàng loạt vì vậy Hà Nội nói riêng và thành phần nằm vùng Cộng sản nói chung rất căm thù Hiến pháp đó.
Qua những thời gian xây dựng chi bộ ngấm ngầm trong mọi sinh hoạt xã hội và những nhóm dân tộc ở miền Nam, kể cả người miền núi, Mặt trận Giải phóng miền Nam có trong tay những người dâng hiến tích cực và những bạo động của giới sinh viên, Phật tử chính là do những người đó chủ mưu lôi kéo, khích động, và quyến dụ mà, dĩ nhiên, (như trong phụ chú 19) không bao giờ nhắc đến chủ nghĩa cộng sản hoặc giả ngay cả họ cũng không hiểu Cộng sản là gì. Như vậy, dòng chữ “nhiều người” của tác giả chỉ được xem như là những thành phần của Mặt trận Giải phóng miền Nam, không phải là đại đa số dân cư ở miền Nam.

pc 23_ LlVtNdGp : Lực lượng Vũ trang Nhân dân Giải phóng.
pc 24_ MtDtGp : Mặt trận Dân tộc Giải phóng.
pc 25_ “cuộc tấn công cuối cùng chống lại những vùng đồng bằng có dân cư dầy đặc,” đây chính là lời buộc tội thích đáng nhất của cái gọi là chiến dịch tái thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh qua lực lượng gọi là Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đó chính là những cuộc tấn công bằng pháo kích vào thường dân, chợ búa, trường học, mà những cán binh Cộng sản không đủ kỷ thuật đều chỉnh tọa độ hoặc họ chẳng cần quan tâm miễn sao gây nên sự rối loạn, kinh hoàng cho chính quyền và dân cư. Ngoài ra, có những màn đặt mìn trên đường giao thông mà chỉ gây thiệt hại, chết chóc cho những thường dân ở miền Nam. Họ tận dụng sinh mạng thường dân để khuấy động lòng người hầu tạo uy thế, phô trương sức mạnh, và bạo lực trong mệnh lệnh nếu những ai chống lại họ. Và đồng thời, thổi phòng lên cho đó là những tác động bất mãn trong quần chúng chống chế độ Ngô Đình Diệm.

pc 26_ Ấp chiến lược : là một “quốc sách” của chính quyền Đệ nhất Cộng hòa miền Nam Việt Nam sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam từ năm 1959 do Ngô Đình Diệm đưa ra để đối phó với lực lượng cán bộ Cộng sản nằm vùng và xâm nhập từ miền Bắc –sau nầy với mục đích đối đầu lại chương trình ấp chiến lược, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập vào năm 1960. Vào tháng Tám năm 1960, chương trình ấp chiến lược của ông Diệm được những cố vấn Hoa Kỳ sửa đổi và những năm sau tên của chương trình này được đổi thành Ấp Đời mới (1964) rồi Ấp Tân sinh (1965).

pc 27_ “sử dụng phản-gián, khủng bố, và mở rộng chiến tranh du kích,” là một bằng chứng bổ sung cho những hoạt động ám sát, thủ tiêu, và ruồng bắt dân theo Việt cộng của Mặt trận Giải phóng miền Nam. Và đó cũng là mệnh lệnh của Hồ Chí Minh. Như thế, vai trò của Hồ Chí Minh với quyền lực luôn luôn được tô đậm cho dù qua những thảm họa của công cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc (trong chương 14) trước đó, tác giả cố tình biện hộ cho ông ta là người mất đi uy quyền quyết định và bị Bộ Chính trị chèn ép uy thế. Và cuối cùng là việc “dời chức vụ” những người trong Ủy ban Cải cách Ruộng đất mà chắc chắn rằng đó cũng chính là do quyết định của ông Hồ. Vì ông ta là Chủ tịch nhà nước và cũng là người đứng đầu Bộ Chính trị.

pc 28_ “làm kinh hoàng thế giới,” điều nầy quả không sai khi thế giới lần đầu tiên nhìn thấy bức ảnh tự thiêu của một người tu hành Phật giáo. Tuy nhiên, thế giới không sao nhận thức được những gì diễn tiến phía sau sự kiện ngoài sự tuyên truyền mãnh liệt của Hà Nội và nhất là có sự tiếp tay tích cực của những nhóm trí thức người Việt có cảm tình với Cộng sản đang sống ở Pháp, cũng như Hoa Kỳ.
Theo lời tố cáo của ông Trần Trung Quân qua cuốn sách “Trong Lòng Địch,” Bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền và hình ảnh quay phim được ghi lại cảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức “không tự tẩm xăng tự thiêu.” Đoạn phim và nhiều tài liệu sau nầy cho thấy rằng Hòa thượng Thích Quảng Đức bị Nguyễn Công Hoan chích thuốc mê man, tê liệt, xong bị tưới xăng đốt sống ngày 11 tháng Sáu, 1963 tại Sài gòn.
Theo những tài liệu cho biết thêm, trong suốt thời gian cuối đời của Hòa thượng Thích Quảng Đức, sau khi chùa Phật giáo Ấn Quang theo kế hoạch và mệnh lệnh từ Hà Nội phải bức tử ông ta nhằm tạo thêm sự câm phẩn trong quần chúng và đánh một đòn thí mạng vào chế độ Ngô Đình Diệm trước công luận thế giới, Nguyễn Công Hoan (tức là Huỳnh Văn Thạnh) –một tay Việt cộng nằm vùng trong chùa Ấn Quang nơi mà chứa chấp và dưỡng nuôi những cán bộ Cộng sản hoạt động thành dưới áo khoác nhà tu– luôn luôn ở bên cạnh Thượng tọa Thích Quảng Đức, để theo dõi sức khỏe. Nhưng, thực ra, mỗi ngày Nguyễn Công Hoan đóng thêm vai là một y tá đã chích cho Hòa thượng Thích Quảng Đức loại thuốc trợ tim nào đó đến nỗi đã khiến cho vị Hòa thượng dần dần biến thành như một kẻ mất hồn. Bởi vậy, qua đoạn phim cho thấy rằng khi được dìu đến nơi để phải chịu đốt, vị Hòa thượng đó đã hoàn toàn hôn mê, bất động và ngồi như một bức tượng đá trong ngọn lửa Từ Bi và hoàn toàn ngã mình xuống sau một thời gian khá dài đối với một đám lửa bừng phát cao.
Đồng thời, trong đoạn phim và tài liệu còn cho biết rằng có một nhóm cảnh sát thuộc Việt Nam Cộng Hòa hiện diện nhưng họ hoàn toàn không ra tay ngăn cản hành động bạo lực đó, ngoại việc lập hàng rào trước quần chúng gần như là chỉ giữ an ninh trật tự cho cuộc biểu diễn sơn đông mãi võ hay văn nghệ đường phố nào đó. Đó chính là do sự chỉ huy của Luật sư Vũ Mạnh Tường thông qua quyết định của Đảng và sự điều hành được lựa chọn bởi viên sĩ quan cảnh sát nằm vùng.

pc 29_ Theo tác giả, “lời đề nghị thương lượng của ông Hồ với ông Diệm, [nếu có], về những điều khoản gì thì không chắc chắn.” Tuy nhiên, từ giai đoạn 1945, ông Hồ đã cướp lấy chính quyền của vua Bảo Đại và sau đó là Hiệp định Geneva phân chia hai miền Nam-Bắc tự trị, nhưng ông Hồ luôn luôn mang ý tưởng tái thống nhất đất nước. Điều nầy cũng đồng nghĩa là nhà nước Cộng sản Bắc Việt chỉ muốn thâu tóm quyền lực trên hai miền. Và điều khoản trong thương lượng, nếu có xảy ra, chắc chắn là quyền làm chủ đất nước phải thuộc về Cộng sản Bắc Việt. Đó chính là điểu Hồ Chí Minh luôn mong muốn.

pc 30_ Canton : tỉnh Quảng Đông.
pc 31_ QĐNDVN : Quân đội Nhân dân Việt Nam.
pc 32_ “những cuộc tấn công cay độc của họ vào chủ nghĩa xét lại,” đây là một trong những bằng chứng cho bản chất con người Cộng sản. Một khi họ cảm thấy rằng bất kỳ những ai, phe phái, hay tổ chức nào không phản ảnh đúng theo quan điểm thống trị của họ, liền bị xem là phản động, phản cách mạng bằng những giọng điệu cay độc, thù hận như là tất cả những gì sai trái đối với họ cần phải biến mất ngay lập tức.
Ngay cả với Liên Xô, là nước ân nhân của Bắc Việt trong khối Cộng sản, nhưng Bộ Chính trị miền Bắc cảm thấy bất an theo chủ trương xét lại của Liên Xô vì những sai lầm quá trầm trọng của nó. Họ dựa vào thế Trung cộng với những lời hứa hẹn trợ giúp thiết thực cho cuộc chiến Việt Nam được gọi là tái thống nhất đất nước, nên sẵn sàng tấn công Liên Xô bằng những bài viết thù nghịch, khinh khi, nhưng khi đến viếng Liên Xô phái đoàn đại biểu luôn tỏ ra hạ mình để mong được sự trợ giúp nào khác về sau.

pc 33_ “chiếm lấy dần dần miền Nam bằng lực lượng chính trị trung thành với Đảng,” là một bài học đắng cay cho những thành phần tự xưng là trung lập ở miền Nam Việt Nam –những người trí thức ngu ngơ trên lý thuyết dù trước mắt họ cho thấy những thảm trạng đã từng xảy ra ở Liên Xô và Trung cộng qua quyền thống trị của Cộng sản. Và dĩ nhiên, Bắc Việt không bao giờ chịu nhường nhịn quyền lực mình cho bất kỳ phe phái nào. Điều nầy cũng đã từng chứng minh trước đó trong giai đoạn 1945 khi Hồ Chí Minh quyến dụ nông dân hô hào cướp chính quyền từ tay Bảo Đại. Tuy thế, mãi cho đến hôm nay, vẫn không ít người Việt trí thức ở hải ngoại còn mơ màng về chế độ Cộng sản, chỉ vì họ không đủ can đảm nhìn thấy cái sai lầm to lớn và tội lỗi của chính mình dù gián tiếp hay trực tiếp khi tiếp tay Cộng sản xây dựng cuộc chiến tang thương cho dân tộc Việt Nam. Và điều đáng nói là chính những người trí thức đó cũng xa lánh cái đất nước khốn khổ nầy qua việc xin cư trú vĩnh viễn nơi nước ngoài hơn là mang gia đình về lại Việt Nam cùng hưởng cuộc sống xã hội chủ nghĩa mà chính họ cũng có công không nhỏ góp phần xây dựng cho nó.

pc 34_ “theo đuổi một chiến lược xâm lược ở miền Nam Việt Nam,” đây là sự khẳng định chắc chắn qua lời Mao Trạch Đông về ý nghĩa của cuộc chiến Việt Nam dưới cái tên gọi là tái thống nhất đất nước của Cộng sản Bắc Việt.

pc 35_ “không phải Hà Nội hoặc cũng không phải Beijing ước muốn cuộc xung đột lan rộng,” điều nầy dường như tác giả viết theo cảm nghĩ cá nhân hơn là qua sự kiện thựt tế, và thậm chí có nhiều mâu thuẩn qua những dòng chữ trước đó.
Vì sự thất bại của Bắc Kinh trong chiến dịch Triều Tiên với số chiến binh thí mạng trong chiến lược biển người cao hơn gấp ba lần con số tử vong của lính Hoa Kỳ, nhưng cuối cùng chỉ giành được một phần đất cho Bắc Triều Tiên. Bắc Kinh muốn trả đũa Hoa Kỳ qua tay Bắc Việt nên, dĩ nhiên, họ sẽ ủng hộ hết mình trong việc viện trợ cho Bắc Việt hầu nuôi dưỡng cuộc chiến –đó là chưa kể đến những ký kết có lợi cho Bắc Kinh trong sự trao đổi viện trợ cho Bắc Việt.
Về Bắc Việt, Hồ Chí Minh đã luôn luôn có ý tưởng xâm lược miền Nam từ sau ngày Hiệp định Geneva –được tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần– như thế, khó có thể thuyết phục được rằng Hà Nội không muốn cuộc xung đột lan rộng. Mà qua đó chỉ có nghĩa là chính Bắc Kinh không muốn phơi bày sự có mặt của mình trong cuộc chiến Việt Nam để tránh bị tai tiếng và tai họa lan rộng đến họ. Nhất là vào thời điềm nầy, có sự xung đột với Liên Xô –một đồng minh mà cũng có thể trở thành thù nghịch mạnh mẽ nếu ngã về Hoa Kỳ– và một đất nước còn đang đớn đau sau những Đại Nhảy Vọt thất bại.

pc 36_ Deng Xiaoping : Đặng Tiểu Bình.
pc 37_ “quyết tâm chống lại sự nương tựa quá nhiều vào sự hỗ trợ của Trung Quốc,” đây chỉ là cách tác giả dùng để biện họ cho sự phụ thuộc của Bắc Việt vào Trung Quốc. Tuy nhiên, tiếp theo đó, tác giả cho biết lý do chính yếu đưa đến “quyết tâm” đó : “…với điều kiện là Bắc Việt từ chối bất kỳ mối quan hệ xa hơn nữa với Moscow.”
Hiển nhiên là Bộ Chính trị Bắc Việt nói chung và bản thân Hồ Chí Minh nói riêng lúc nào cũng muốn được lòng cả hai thế lực Cộng sản mạnh mẽ để mong nhờ những viện trợ lâu dài trong khi cuộc chiến gọi là tái thống nhất chưa thành công và mối đe dọa của Hoa Kỳ ngay trên vùng bờ biển mình. Bằng chứng cuối cùng là Công hàm của Phạm Văn Đồng năm 1958 đã khẳng định sự phụ thuộc như thế nào vào Trung cộng của Bắc Việt.

pc 38_ Khách sạn Caravelle : nằm giữa trung tâm Sài Gòn, thuộc quận 1, thuộc hàng quốc tế. Sau 1975, nó được đổi tên thành khách sạn Độc Lập.
Vào buổi sáng ngày 25 tháng tám năm 1964, vào khoảng 11:30 trưa, một quả bom phát nổ trong phòng 514, trên tầng trệt được chiếm hầu hết là những nhà báo nước ngoài, tất cả là những người ra ngoài trên công việc được giao. Chín phòng bị hư hại, những cửa xe bị thổi tung khỏi nhiều chiếc xe đậu trên đường phố, và một số người bị thương mà không có trường hợp tử vong.

pc 39_ Cư xá Sĩ quan Độc thân : là một cư xá dành riêng cho những sĩ quan Mỹ. Nó cao 6 tầng và có 168 phòng, trước đây nằm ở số 103 đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn, đươc thuê lại từ khách sạn tư Brink bởi Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ ở Việt Nam.

Vụ đánh bom cư xá Brink (hay khách sạn Brink) là một vụ tấn công khủng bố diễn ra vào ngày 24 tháng Mười Hai năm 1964 do lực lượng Mặt trận Giải phóng Miền Nam gây ra. Hai đặc công Việt Cộng đã đưa một xe có chứa thuốc nổ vào tầng hầm để xe của cư xá Brink làm chết 2 người Mỹ : một sĩ quan và một hạ sĩ quan, và làm bị thương khoảng 60 người khác, kể cả những nhân viên quân sự và thường dân Việt Nam, vào ngày lễ Giáng sinh năm 1964. Hai đặc công khủng bố nầy là Bảy Bê (tên thật là Nguyễn Thanh Xuân) và Tư Mập (tên thật là Nguyễn Văn Hòa) là hai binh sĩ thuộc đội 5, F100, biệt động Sài Gòn, đã giả trang làm những sĩ quan Việt Nam Cộng hòa để vượt qua trạm gác.

pc 40_ CqTưmNVN : Cơ quan Trung ương miền Nam Việt Nam
pc 41_ Trận Bình Giã : là trận đánh chính nằm trong Chiến dịch Bình Giã do Hà Nội đề xướng, xảy ra từ rạng sáng ngày 3/12/1964 và kết thúc vào ngày 31/12 –sau 28 ngày đối đầu với Quân lực Việt Nam Cộng hòa (hoàn toàn không có sự tham chiến của lực lượng Hoa Kỳ, ngay cả phi cơ, hoặc pháo binh yểm trợ) qua 5 cuộc tổng công kích theo chiến lược biển người của lực lượng Quân giải phóng miền Nam kết hợp với bộ đội chính quy từ Bắc xâm nhập vào.

Làng Bình Giã, thuộc tỉnh Phước Tuy, cách Sài Gòn khoảng 67 km. Lúc xảy ra trận đánh, Bình Giã có khoảng 6.000 dân, phần lớn là những người theo đạo Thiên Chúa di cư từ miền Bắc Việt Nam sau năm 1954.
Chấp hành chủ trương của Bộ Chính-trị, ngày 11/10/1964, Cộng sản Bắc Việt chỉ thị cho các chiến trường mở chiến dịch Thu Đông 1964-1965. Thi hành chỉ thị này, Đảng ủy và những chỉ huy địa phương lập kế hoạch tác chiến với địa bàn hoạt động trên hai hướng: hướng chủ yếu là Bà Rịa–Long Khánh và hai hướng phối hợp là Nhơn Trạch–Long Thành (Biên Hòa) và Hoài Đức–Tánh Linh (Bình Thuận).

Việt Cộng đã tung ra chiến trường Sư đoàn 5 gồm 2 trung đoàn (tối thiểu là 3.000 người cho một trung đoàn) Q761 và Q762 –hậu thân của 2 trung đoàn biệt lập 271 và 272– được tăng cường với Đoàn 80 Pháo-binh Miền, tiểu đoàn (tối thiểu là 300 người) 800 chủ lực quân khu miền Đông, tiểu đoàn 186 của quân-khu 6, đại đội (tối thiểu là 80 người) D445 và các đơn vị du kích huyện và xã Tỉnh Bà-Rịa. Lực lượng tham dự tổng cộng lên đến trên 7.000 người được đặt dưới sự chỉ huy của Chính ủy trưởng chiến dịch Trần đình Xu và Chính ủy Lê văn Tưởng, và Nguyễn hồng Lâm (Hai Bứa) chi huy phó chiến dịch đặch trách hướng chủ yếu Bình Giã.
Mục tiêu chính của CS là đánh chiếm làng Bình Giã bằng lực lượng địa phương để nhữ đánh các đơn vị tiếp viện. Bình Giã được chọn làm mục tiêu vì Bình Giã ở cách xa quận, chi khu và chỉ được bảo vệ với 2 trung đội Bảo an (lực lượng địa phương sau này đổi tên thành Địa phương Quân).
Sau khi Việt cộng làm chủ tình hình, Việt Nam Cộng hòa lần lượt gởi từng một tiểu đoàn tham chiến theo mức độ giao tranh càng ngày càng khốc liệt, gồm có Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), Tiểu đoàn 38 Biệt Động Quân(BĐQ), Tiểu đoàn 33 Biệt Động Quân, Tiểu đoàn 30 Biệt Động Quân. Trong đó, Tiểu đoàn 4 TQLC luôn đóng vai trò quan trọng nên chịu nhiều tổn thất nhất. Như vậy có tất cả 4 tiểu đoàn tham chiến là khoảng 1.200 quân lính phải đối đầu với khoảng hơn 7.000 quân Việt cộng.
Trong suốt hai tuần từ ngày khởi đầu với 2 đợt tổng tấn công của Việt cộng đều bị đẩy lui, không có một dấu hiệu nào cho thấy sự hiện diện của địch trong vùng. Những đơn vị tham chiến của Việt cộng đã rút sâu vào rừng gần bãi biển Hàm Tân để tiếp nhận thêm vũ khí đạn dược từ một chiếc tàu từ miền Bắc vào cập bến tại Lộc An. Vũ khí mới gồm súng trường CKC, tiểu liên AK-47, K-50 nòng rỗ, thượng liên RPD và súng chống chiến xa B-40. Trong khi đó, lực lượng Việt Nam Cộng hòa vẫn còn dùng những loại vũ khí thời Đệ nhị Thế Chiến như là Garant M1, Carbin M1, Trung liên BAR của Mỹ. Khuya ngày 28/12, Việt Cộng mở lại đợt tấn công lần thứ ba với đại đội D445 cùng với đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 1, và trung đoàn Q761, đồng thời dùng đại bác 75-ly không giật trực xạ chi khu Đức Thạnh. Sau cùng lại bị đẩy lui. Đến đêm ngày 30/12, lực lượng Việt cộng lại mở cuộc tổng tấn công lần thứ 4 nhưng lại bị đẩy lui sau gần một giờ giao tranh đưa đến sự kết thúc trận chiến. Nhưng Việt cộng vẫn cố bám giữ trong rừng để di tản thương vong và thủ tiêu xác chết trước khi tự rút lui sâu hơn vào rừng bên kia biên giới Lào.

Sau khi trận chiến tưởng chừng như kết thúc, nên rạng sáng ngày 31 tháng Mười Hai năm 1964, trong khi các ông Tướng đang bận lo tổ chức dạ vũ linh đình tại Sài Gòn, lệnh của Quân Đoàn III buộc Tiểu đoàn 4 TQLC phải tiến quân vào tìm xác chiếc trực thăng Mỹ bị bắn rớt. Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu đoàn 4 quyết liệt từ chối, vì theo tin tức do Cha Xứ Đạo Bình Giả cho biết quân số Việt cộng hiện còn lên đến khoảng một Trung đoàn (3.000–5.000) vận phục bộ đội Bắc Việt. Sau khi tìm được xác phi hành đoàn của Mỹ và được bốc đi, nhưng từ chối chở 12 xác TQLC bất chấp sự phản đối của các sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ của tiểu đoàn. Tuy nhiên, đến lúc xế chiều vẫn không thấy trực thăng đến nên Tiểu đoàn trưởng quyết định di chuyển xác theo đường bộ về làng Bình Giã. Việt cộng đón đường bốn phía tấn công tới tấp, nã súng không giật, và súng cối và tiếp theo là cuộc xung phong biển người. Trận đánh khốc liệt tiếp tục cho đến khi trời sụp tối tiểu đoàn đánh thủng vòng vây của địch và mở đường di chuyển thương binh về Bình Giã. Địch cũnhg rút lui ra khỏi trận địa dùng xe bò chuyên chở cán binh tử trận về hướng Rừng lá và Xuyên Mộc. Tổng kết tổn thất trong trận Bình Giả về phía Tiểu đoàn 4 TQLC gồm 122 tử thương và gần 300 bị thương tại mặt trận.

Ngay sau đó, Bộ Tư Lệnh Quân đoàn III cho trực thăng vận chuyển 3 tiểu đoàn: 1, 3 và 7 Nhảy dù xuống phía đông Bình Giã để mở cuộc hành quân truy kích đánh thẳng vào mật khu Hát Dịch nhưng Việt cộng đã lẫn tránh hết bỏ lại nhiều kho lương thực, vũ-khí, đạn dược, và vật dụng.
Theo wikipedia (hầu như những thông tin đó là do nhà nước Cộng sản Việt Nam viết, và cả phần lớn những bài viết bằng tiếng Anh) :

_ Lực lượng Việt cộng (bao gồm Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam và bộ đội chính quy từ miền Bắc) tham gia là 1.800 với con số bị giết là 32.
_ Lực lượng Việt Nam Cộng hòa là 4.300 với 203 bị giết, 192 bị thương, và 68 mất tích.

Và vẫn theo wikipedia viết, “trong cuộc họp báo ngày 4 tháng Giêng năm 1965, MtGpmNVN đã tuyên bố rằng họ tiêu diệt được 2.000 quân lính địch, 28 cố vấn Mỹ, 37 xe quân sự, và bắn rơi 24 chiếc máy bay. Con số này dĩ nhiên là quá lớn nếu so với số lượng binh lính của lực lượng Việt Nam cộng hòa được tung ra tham chiến.”

Trong bài viết của Nguyễn văn Tòng, nguyên chính ủy trung Đoàn Q761 mà sau trận Bình Giã, Việt cộng gán cho tên “Trung đoàn Bình Giã,” đã tiết lộ như sau: “… 14g30 có tin địch hành quân vào chỗ máy bay rơi để tìm các cố vấn Mỹ… Theo kế hoạch, tiểu đoàn 1 chặn đầu, tiểu đoàn 2 chận hậu khóa đuôi và tiểu đoàn 3 đánh xuyên hông. Gọi tiểu đoàn nhưng tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 3 quân số còn khoảng 100, và tiểu đoàn 2 có trên 300…” Như vậy sự thiệt hại của Việt cộng có thể ít nhất là 400 người trong các trận đánh trước đó. Khi bao vây Tiểu đoàn 4 TQLC tại nơi trực thăng bị rơi, Việt cộng lại bị tổn thất thêm nên khi Tiểu đoàn 4 TQLC phá vỡ vòng vây, Việt cộng đã bỏ cuộc rút ra khỏi trận địa.

Con số hy sinh của Việt cộng (32 người) –không có con số bị thương hay mất tích– quả là ít ỏi đến khó thể cho là đúng dù đó là dựa theo tài liệu “khá” tin trên wikipedia, cũng như con số tham gia trận chiến (1.800 người) cũng là một vấn đề dường như thiếu tính trung thực. Vì trong một trận đánh, người ta thường dựa vào những cấp đơn vị tham gia để ước tính số quân lính, và đây là một trận đánh không nhỏ vì khả năng hỏa lực của Việt cộng với những vũ khí hiện đại lúc bấy giờ cho thấy rằng đó là một trận chiến chắc chắn là quyết liệt, tàn khốc, và chết chóc. Nếu Việt cộng chỉ thiệt hại 32 người, điều nầy chứng minh là một chiến thắng và ngôi làng Bình Giã khốn nạn đó chắc chắn sẽ bị chiếm giữ. Tuy nhiên, sự thật hoàn toàn khác biệt, khi cuối cùng lực lượng có số người tử vong cao nhất là bên Việt Nam Cộng hòa (203 người) –thêm vào gần 200 người bị thương và mất tích, như wikipedia viết– lại chính là những người chiến thắng. Và lực lượng tham gia của quân lính quốc gia –theo lá thư tâm sự của người lính khi về già, như được nêu trên– chỉ khoảng 1.200 người –nhưng theo wikipedia đưa ra con số quá sai lệt (4.300 người)– nếu được tính theo số người của 4 tiểu đoàn với khoảng 300 người trong một tiểu đoàn. Dù wikipedia cũng xác nhận là 4 tiêu đoàn của phe quốc gia và 2 trung đoàn của phe Việt cộng, nhưng con số 1.800 người cho 2 trung đoàn quả là sai biệt –mà không cần nhắc đến những đơn vị khác tham gia. Và chiến thuật biển người luôn luôn là chiến lược ưu thích duy nhất của Việt cộng –theo cách Trung cộng vì dân Trung Quốc quá đông– được áp dụng trên những trận đánh khác nhau từ thời chống Pháp. Điều nầy càng chứng minh rằng có ít nhất là 6.000 quân Việt cộng cho 2 trung đoàn, chưa kể đến những đơn vị lẽ tẽ khác tham gia.

Theo ước lượng trận chiến, có thể nói rằng Hà Nội đã đưa ít nhất là 1 Trung đoàn bộ đội chính quy vào Nam –như theo lời Cha xứ báo nguy cho Trưởng Tiểu đoàn 4– để tham gia trận chiến đọ sức và thăm dò lực lượng Việt Nam Cộng hòa, cũng như để đo lường sức mạnh của lực lượng Giải phóng miền Nam Việt Nam xem họ có khả năng như thế nào trong cuộc tổng nổi dậy mà qua đó Hà Nội sẽ quyết định sự hỗ trợ thiết yếu và cấp bách ra sao.

pc 42_ “là mối đe dọa ẩn ý của Beijing,” đây là một câu hỏi đúng hơn là câu khẳng định mà tác giả viết ra, vì trước những năm đó chính Phạm Văn Đồng đã nhìn nhận “mối đe dọa ẩn ý” đó  qua Công hàm với Trung cộng. Điều nầy có nghĩa là Bắc Việt dường như đã từng xem Trung cộng là một cứu cánh sống chết và sẵn sàng chịu phụ thuộc bằng mọi điều kiện của Trung cộng đưa ra. Mặc dù Bắc Việt vẫn nhận được viện trợ từ Liên Xô, nhưng mạch sống chính là nguồn viện trợ từ Trung cộng. Dĩ nhiên, Hà Nội sẽ cảm thấy an lòng hơn khi Trung cộng tuyên bố sẽ tham gia trực tiếp nếu Hoa Kỳ tiến đánh miền Bắc hơn là cảm thấy “mối đe dọa” từ Bắc Kinh.

Nhưng vấn đề đặt ra là tại sao Trung cộng có ý tốt đến vậy với Bắc Việt ? Có thể hiểu rằng Bắc Việt là vòng đai tiền tuyến bảo vệ an ninh cho Bắc Kinh –dù có đánh mất cũng chẳng hề gì, nhưng nếu giữ được vẫn tốt hơn, và nhất là những lợi ích trong những điều kiện trao đổi sẽ giúp cho Bắc Kinh có dịp mở rộng về hướng Nam, trong khi hướng Đông Bắc, Tây Bắc, và Tây Nam đã ổn thỏa.

pc 43_ ĐCSTQ : Đảng Cộng sản Trung Quốc.
pc 44_ “đưa vào lực lượng chính quy Bắc Việt trong những số lượng đáng kể để phù hợp với việc leo thang của Hoa Kỳ,” là một kết luận thiếu nghiêm túc của tác giả. Vì trong tình hình chung ở miền Nam trước thời gian đó, những hoạt động của cái gọi là Mặt trận Giải phóng miền Nam cũng nằm trong kế hoạch và hỗ trợ của Bắc Việt cả về vũ khí, nhân lực, và cả việc cử người lén vào miền Nam chỉ huy, tuyển mộ, và thành lập những chi bộ. Hay nói đúng hơn, cái mặt trận đó chính là của Hà Nội tạo ra. Như thế, việc Hoa Kỳ tăng thêm quân lực để bảo vệ miền Nam nhằm mục đích ngăn chận những xâm nhập từ Bắc với vũ khí và nhân lực, thì không thể xem là những hoạt động leo thang bắt đầu từ Hoa Kỳ. Vã lại, việc thêm quân và duy trì rất hao tốn tài chính Hoa Kỳ mà chẳng được lợi gì cho họ. Đó chỉ là việc bắt buộc Hoa Kỳ phải hành động để chống lại những hoạt động khủng bố của Việt cộng đang lan tràn ở miền Nam và ngày càng gia tăng mạnh mẽ.

p 45_ “hiện tại con số lên đến hơn 100.000,” đây là số quân lính Trung cộng hiện diện ở miền Bắc được biết tính đến vào khoảng tháng Tư năm 1966. Đó là một con số không nhỏ, tương đương với 10 sư đoàn hoặc 10 vạn quân (một vạn là 10.000 người), và cũng có thể có vài vị Thiếu tướng và Trung tướng của Hồng quân hiện diện, đó là chưa kể đến con số Đại tướng cũng khoảng 20 người.
Điều nầy cho thấy rằng dân miền Bắc vốn đa phần lâm cảnh khốn khó từ thiên tai đến chiến tranh dai dẳng, giờ càng khốn khổ hơn vì phải đóng góp nuôi một số quân khổng lồ nước ngoài. Và đây là bằng chứng cho sự gian ngoa của cá nhân ông Hồ và Bộ Chính trị Bắc Việt khi họ luôn luôn lên tiếng tố cáo Hoa Kỳ đổ thêm quân vào miền Nam vì muốn leo thang chiến tranh và có mưu đồ tấn công miền Bắc. Hơn thế nữa, họ luôn luôn dùng danh nghĩa tái thống nhất bằng hòa bình để tạo cuộc chiến ở miền Nam và không mong muốn có sự hiện diện của Hoa Kỳ ở đó –mà qua đó họ luôn lớn tiếng tố cáo là Hoa Kỳ đang xâm lược miền Nam.
Tuy nhiên, nếu xét ra vào thời điểm năm 1966 nầy, quân số Hoa Kỳ có mặt ở miền Nam chỉ khoảng 3 tiểu đoàn (900 người), trong khi đó miền Bắc có đến gấp hơn 100 lần quân số Trung cộng chiếm đóng.
Sự kiện nầy cho thấy là câu hỏi về số quân tấn công miền Nam Việt Nam trong năm 1975 cũng không phài là phi lý nếu không có Hồng quân Trung cộng trà trộn trong đó.

pc 46_ “biểu lộ lòng biết ơn đối với sự hỗ trợ như là một bảo đảm cho sự sống còn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,” điều nầy cho thấy rõ rằng Bắc Việt lệ thuộc gần như hoàn toàn vào Trung cộng vào năm 1966; tuy nhiên, đây không phải là thời điểm phát sinh đầu tiên cho sự lệ thuộc đó mà nó vốn đã hình thành trước thời điểm 1945 –thời gian ông Hồ về Pác Bó, đầu năm 1941, vì lúc bấy giờ chỉ có Đảng Cộng sản Trung Quốc mới có thể giúp cho công cuộc cách mạng của ông ta.

Trong cuộc gặp gỡ giữa Lê Duẩn và Chu Ân Lai trong năm 1966, Lê Duẩn không những bị họ Chu chận nghẹn lời khi đưa ra lời than phiền về tính xem thường, kiêu binh của Hồng quân Trung cộng trên đất Bắc, mà còn bị bắt bẽ về những bài báo Đảng dám nghi ngờ Trung cộng có mưu toan áp đặt nền thống trị lên miền Bắc đến nổi cuối cùng vị Tổng Bí thư Lê Duẩn phải xin lỗi và biểu lộ lòng biết ơn.

pc 47_ “300.000 quân địch thương vong trong một năm,” quả thật đây là con số được phóng đại vì trên chiến trường lớn như trận Bình Giã (1965), con số thương vong của Việt cộng dù có khá lớn khoảng ít nhất là 400–800 người so với chiến sự to lớn đầu tiên nhưng không thể nào một tổng số trong một năm lên cao đến mức đó. Vã lại, từ năm 1965 đến 1966, ngoài những cuộc chạm trán lẽ tẽ không đáng kể, quân lực Hoa Kỳ thực sự có cuộc va chạm thử sức trong chiến dịch Ia Drang (1965) với khoảng 1.500–1.700 thương vong phía bên Việt cộng theo ước tính của Hoa Kỳ.

Với một con số quá phóng đại nầy –nếu thực sự do Hoa Kỳ, hoặc Nam Việt đưa ra– chắc chắn sẽ bị phản ảnh dữ dội trên báo chí Mỹ và Việt vì đó là một số liệu vô căn cứ mà chắc chắn rằng không có bằng chứng hiển nhiên.
Tác giả đưa lên con số nầy, cho thấy rằng có thể đó là từ những cuộc phỏng vấn với các cán bộ Cộng sản Bắc Việt, không ngoài mục đích làm xấu đi hình ảnh Hoa Kỳ, và cả chính quyền miền Nam.

pc 48_ “hiện thời qua báo cáo đạt được hơn trên 50.000 quân mỗi năm,” là một con số kinh khủng; nếu tính từ năm 1965 đến cuộc chiến tổng tấn công miền Nam vào dịp Tết Mậu Thân 1968, con số bộ đội được đưa vào miền Nam sẽ là 150.000 quân chính quy, tương đương với 15 sư đoàn –đó là chưa tính đến con số dân công vận chuyển vốn có thể gấp đôi con số đó, cũng có thể biến thành những chiến binh.


pc 49_ “để tạo ra một chính phủ trung lập ở Sài Gòn,” đó là điều tốt nhất mà theo ông ngoại sứ Pháp một thời, Jean Sainteny, bày tỏ với ông Hồ vào tháng Bảy năm 1966 mà qua đó dường như ông ta cố ý phê phán Hoa Kỳ tìm cách đạt được những mục đích nào đó qua cuộc chiến ở miền Nam. Tuy nhiên, ông ta không nói rõ ra những mục đích đó là gì.

Thoáng qua, câu nói đó dường như mang một giải pháp hòa bình thiết thực cho hai miền ở Việt Nam với “một chính phủ trung lập ở Sài Gòn.” Tuy nhiên, điều nầy cũng ngụ ý rằng ông ta mặc nhiên không thừa nhận chính phủ hiện tại ở miền Nam. Và như miền Nam đang có một chính phủ thì tại sao phải lập nên một chính phủ khác thứ hai ? Dĩ nhiên, trong bất kỳ quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, cũng chỉ có một chính phủ duy nhất, ngay cả phe phái Cộng sản.
Vậy phải chăng đó chính là âm mưu của Bắc Việt muốn nắm trọn quyền lực ở Việt Nam mà qua đó ông Sainteny –vốn là người có cảm thông với cách mạng– chỉ nói để vuốt ve ông Hồ ? Và dĩ nhiên, cái gọi là chính phủ trung lập đó, chắc chắn là phe phía của Mặt trận Giải phóng miền Nam và cũng là một lực lượng được sinh ra từ Hà Nội.

pc 50_ “tạo nên con số trong hàng trăm ngàn,” là một con số không gần chính xác lắm vì khó cho người đọc tưởng tượng được một con số bao nhiêu là hàng trăm của hàng ngàn. Tuy nhiên, nó cho thấy rằng đó là một thiệt hại riêng về nhân mạng của Việt cộng (bao gồm những người Bắc vào Nam và những người trong Nam) mà họ cũng là người Việt cùng nòi giống và ngôn ngữ với những người mà họ xem là đối địch trong Nam.

Vấn đề cần được đặt ra là liệu sự nghiệp tái thống nhất của ông Hồ và Bộ Chính trị Cộng sản miền Bắc có phải là mục đích chân chính không. Và liệu sự nghiệp cho đất nước đó –như họ thường nói– có cần phải xây trên xương máu những người cùng gióng nòi giết hại lẫn nhau không. Hay chỉ vì lý do chính yếu là tuân lệnh Cộng sản quốc tế làm lan rộng thế giới Cộng sản hoặc đúng hơn là bảo vệ an ninh cho thế giới Cộng sản mà tiêu biểu là vòng đai Trung cộng.

pc 51_ “trả một giá cao cho quyết tâm của mình để thực hiện giấc mơ của Bác,” là câu viết thật nhất như tác giả nhận xét. Tuy nhiên, đó chỉ mới là giấc mơ sơ khởi của Bác và sẽ còn những những giấc mơ tiếp theo sau của Bộ Chính trị mà cũng chính do Bác tạo dựng. Và cứ mỗi giấc mơ cần thực hiện thì hàng trăm ngàn đến con số triệu người Việt phải hy sinh cho nó. Không biết khi nào dân Việt thôi hết mơ !

pc 52_ Confucius : Khổng tử.
pc 53_ Đại Đồng : theo wikipedia (bài viết được lược dịch từ hai tác giả Trung Quốc dưới thời Trung cộng cận đại –năm 2001 và 2009) cho rằng khái niệm nầy được tìm thấy trong Kinh Lễ của Khổng tử, mang tư tưởng giống như tư tưởng hệ của những người Cộng sản về một  “Utopia” (i.e. Thế giới Đại Đồng).
Thật ra bộ sách Tứ thư Ngũ kinh của Khổng tử bị Tần Thủy Hoàng thiêu hủy khiến cho một số chương hoàn toàn biến mất và sau nầy được sưu tầm và soạn lại qua nhiều thời kỳ và nhiều tác giả khác nhau. Mãi đến khi Trung cộng nắm quyền Trung Hoa, lần nữa chúng được tái tạo, thêm thắt, cắt xén theo chiều hướng Cộng sản. Sau cùng danh từ Đại Đồng được xuất hiện trong chương Kinh Lễ. Ngoài ra, Trung cộng dùng học thuyết Khổng tử thời đại như là một triết lý bổ sung cho tư tưởng hệ Cộng sản để tuyên truyền vì Nho học đã được lan truyền từ lâu trong nhiều quốc gia Á châu.
Tứ thư Ngũ kinh là bộ sách sưu tập những tập tục, lễ nghi, thơ văn, tư tưởng, sự kiện lịch sử trong xã hội qua đời sống hàng ngày của dân chúng trong nhiều đời nhằm mục giáo dục quần chúng cách sống đúng theo vai trò mình trong xã hội, gia đình trong thứ tự tầng lớp có sẵn, và biết tôn trọng và trung thành vương đế nước nhà. Tóm lại, đó là mục đích an dân trong một khuôn khổ như có thể; tuy nhiên cũng chính mục đích đó tạo nên nhiều mâu thuẩn trái ngược đến độ xung khắc hoàn toàn, thậm chí trì kéo bước tiến xã hội vì chính khuôn khổ đó trói buộc người dân đến mức câu nệ và khinh chê những gì được xem là ngoài Nho giáo. Dù sao, bên cạnh đó có những mặt về đạo đức, nhân bản gần gũi với Phật giáo hoặc Thiên Chúa giáo nên vẫn được ưu ái tồn tại theo thời đại.
Tứ thư bao gồm :

1_ Đại Học : đạo đức tu thân, trị gia, trị quốc –qua lời giảng của Khổng tử.
2_ Trung Dung : đạo đức người quân tử theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trong sự trung hòa, không thái quá.
3_ Luận Ngữ : sưu tập những lời dạy của Khổng tử để noi gương
4_ Mạnh Tử : bộ sách riêng của Mạnh tử gồm Tâm học và Chính trị học (với tư tưởng đã phá ngu quân, ngu trung không biết vì dân –hoàn toàn khác xa tư tưởng của Khổng tử)

Ngũ kinh bao gồm :
1_ Kinh Thi : sưu tập về thơ dân gian –sinh hoạt, tình cảm, cư xử.
2_ Kinh Thư : sưu tập về truyền thuyết.
3_ Kinh Lễ : sưu tập về lễ nghi.
4_ Kinh Dịch : sưu tập về tư tưởng triết học bao gồm bói toán.
5_ Kinh Xuân Thu : sưu tập về biến cố lịch sử.
6_ Kinh Nhạc : (bị thất lạc gần như hoàn toàn, ngoài ít được cho vào Kinh Lễ).

Qua đó, cho thấy rằng tư tưởng Khổng tử đa phần bị hao mòn theo thời đại, trong khi tư tưởng Mạnh tử –người học trò của Khổng tử– có những tư tưởng xa hơn thời đại. Tuy nhiên, Trung cộng chọn Khổng tử làm nền tảng bổ sung cho Cộng sản chủ nghĩa vì Khổng tử mang nặng tính cách “trung quân” và “ái quốc” bao gồm trong khuôn khổ hạn hẹp đến mù mờ nhưng hoàn toàn thích hợp với ý nghĩa “trung thành với Đảng” và “nhà nước Cộng sản.” Cũng nhắc thêm rằng, Trung cộng vẫn tôn sùng Tần Thủy Hoàng, và vay mượn hình ảnh Khổng tử, nhưng chính Tần Thủy Hoàng xem tư tưởng Khổng tử là đối nghịch –cần tiêu diệt.

pc 54_ “Hồ Chí Minh viết một bài thơ ngắn ghi lại những cảm xúc sâu sắc của mình về việc thăm viếng nơi sinh của người con nổi tiếng nhất của Trung Quốc,” quả thật ông ta luôn có những cảm xúc sâu sắc mang tính Cộng sản đến độ trong mỗi lời thơ, văn được viết ra luôn luôn chứa đầy tư tưởng hệ. Đó là ngày 19/5/1965, trong dịp sang Trung Quốc, ông Hồ ghé thăm Khúc Phụ, quê hương của Khổng Tử và làm bài thơ :

Phỏng Khúc Phụ
Ngũ nguyệt thập cửu phỏng Khúc Phụ 
Cổ tùng cổ miếu lương y hy 
Khổng gia thế lực kim hà tại 
Chỉ thặng tà dương chiếu cổ bi”.
Thăm Khúc Phụ
(Đặng Thai Mai dịch)
Mười chín tháng năm thăm Khúc Phụ 
Miếu xưa vẫn dưới bóng tùng xưa 
Uy quyền họ Khổng giờ đâu nhỉ ? 
Lấp loáng bia xưa chút ánh tà

Nếu đem bài thơ trên so sánh với bài thơ mà ông ta làm ra nhân dịp viếng đền Đức Trần Hưng Đạo, là vị tiền nhân nước Việt có đại công trạng giữ vững nước Nam, nhưng được ông Hồ xem chẳng đáng vào đâu nếu so ra với sự nghiệp cách mạng của mình, thì thấy rằng ông Hồ không dám tỏ ý không kính trọng. Hai chữ “uy quyền” chứng tỏ đã ám ảnh tâm trí cách mạng của ông ta vì Khổng tử chưa bao giờ có gì để gọi là uy quyền; vã lại Khổng tử cũng chẳng có lòng ham chuộng công danh sau bao năm du thuyết nhiều nước trong Trung Hoa đều bị thất sủng và xô đuổi.

Ngược lại qua bài thơ cho Đức Thánh Trần, ông Hồ có một thái độ tự kiêu đến xấc xược, dù rằng ông ta chưa từng thực hiện được như lời thơ viết (tôi dẫn năm châu tới đại đồng) mà đã cuồng ngông xem bậc tiền nhân ngang hàng mình với danh xưng là bác theo nghĩa người miền Bắc và nhận luôn công trạng chưa-thành là đã thành công. Dường như là ông ta không muốn bất kỳ vị anh hùng nào trong lịch sử Việt Nam sáng giá hơn chính mình, ngay cả những bậc tiền nhân cách hàng trăm năm hay ngàn năm.

Viếng đền Đức Thánh Trần

Cũng cờ, cũng kiếm, cũng anh hùng 
Tôi Bác chung nhau nợ núi sông 
Bác phá quân nguyên thanh kiếm bạc 
Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng. 
Bác đưa một xứ qua nô lệ 
Tôi dẫn năm châu tới đại đồng. 
Bác có anh linh cười một tiếng 
Mừng tôi cách mạng đã thành công. 


pc 55_ “Mọi người đều gọi tôi là Bác Hồ,” đây là sự khẳng định danh từ “bác” nầy không phải mang ý nghĩa như “anh và tôi” trong cách xưng hô nói chuyện thường ngày của người miền Bắc, mà nó rõ ràng cho thấy đó là một vai vế của người bác. Và không chỉ riêng đối với những thiếu nhi mà là đối với tất cả mọi người –không phân biệt tuổi tác. Hơn thế nữa, danh từ đó ám chỉ đến một quyền lực cao hơn hết trong khuôn khổ gia đình, và cũng có nghĩa là cao hơn hết trong cả nước. Mặc dù thoáng qua nghe rất gần gũi, nhưng trong một phạm vi lớn sự gần gũi đó chỉ là ảo tưởng bằng danh từ, ngoài trừ một quyền lực đứng trên những mệnh lệnh.

Sự kiện nầy có thể xảy ra vào khoảng giữa năm 1965, lúc ấy ông Hồ đã 75 tuổi, vừa trở lại Hà Nội ít lâu sau chuyến thăm Bắc Kinh 3 tuần với ngày mừng sinh nhật được tổ chức ở đó. Có lẽ ông Hồ còn nhớ những người phụ nữ trẻ ưu ái trong buỗi sinh nhật đặc biệt đó được nhà nước Trung Quốc lần đầu tiên đày thọ tất cả chi phí và phục vụ. Cũng như cảnh sống riêng lẽ của ông ta khác quá xa những thời gian còn trẻ, nên sự đòi hỏi của ông Hồ có được một người phụ nữ trẻ bên cạnh cũng là bình thường như những nhu cầu của một con người trong cuộc sống. Chỉ tội là vì ông ta trót đã mang lấy một thân phận khác người đời đến độ lên ngôi thần thánh –và đó cũng là chủ ý của Bộ Chính trị– nên người đời có thể có cái nhìn khá khắc khe trong sự kiện mà mãi nhiều năm sau nầy tin tức mới bị rĩ ra.
Hoặc cũng có thể cho là ông Hồ cần người ở gần chăm sóc lúa yếu đuối. Nhưng nếu là vậy, ông ta chỉ cần lên tiếng là chắc chắn sẽ có người được gởi đến mà không cần phải nhờ đến lãnh đạo Đảng của Trung Quốc tìm người phụ nữ Hoa dùm. Đó là chưa xét đến vấn đề ăn uống hàng ngày, dĩ nhiên không phải do ông Hồ tự nấu ăn. Có nghĩa, ông ta luôn vẫn có những người phụ nữ Việt khác chăm lo rồi. Như vậy, sự đòi hỏi đó của ông ta hoàn toàn không do lý do cần người chăm sóc mà vì lý do tế nhị khác : một người vợ hơn là người bạn đơn thuần.
Hạnh phúc cá nhân đó, chắc chắn ông ta cũng ham muốn có, nhưng với vai trò “Bác” của huyền thoại, ông Hồ dù muốn hay không cũng phải đóng trọn vì thật khó lòng cho ông ta khi phải xưng hô làm sao người ái thiếp mình, và nhất là quần chúng và những người khách ngoại giao. Quả thật, sự hy sinh đó được Bộ Chính trị ca ngợi không ngớt sau nầy vì ông ta phải chịu nghiêm luật của họ sao cho trọn vẹn vai trò đã từng được quy định trước đó –mà cũng là do chính ông ta đã đề ra vai trò đó lần đầu tiên trong cuốn sách đầu tay của mình dưới bút hiệu Trần Dân Tiên kể về nhân vật chính là mình.

pc 56_ Shandong : tỉnh Sơn Đông.
pc 57_ “hiện thời được ủng hộ bởi sự tham gia của hơn 100.000 đồng bào từ miền Bắc,” điều nầy có nghĩa là 100.000 chiến binh tác chiến mà trong đó chắc chắn có bộ đội chính quy. Những người dân công từ Bắc vào Nam, không có lý nào họ vào rồi được trở lại miền Bắc; vã lại dường như mỗi người dân miền Bắc đều phải biến thành chiến binh –ngay cả phụ nữ, thanh thiếu niên, và người già còn sức. Quả không sai, con số dân công luôn luôn gấp đôi con số bộ đội mà tác giả đã cho biết ở đoạn trên.

pc 58_ “Hà Nội hứa sẽ không phát động một cuộc tấn công lớn tương tư như cuộc công kích Tết Mậu Thân,” đây chỉ là lời hứa suông vì bằng chứng hiển hiện là Hà Nội đã ra lệnh tấn công liên tục nhiều khu vực ở miền Nam sau đó.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s