XVI- Lời Kết – Từ Một Người đến Huyền Thoại (Phần 2-Hết)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p570

khi ông ta công khai tuyên bố rằng điều mong muốn là cứu lấy những đồng bào mình mà qua đó ban đầu nó dẫn ông ta đến học thuyết Lenin. Trong khi ông ta bày tỏ những tình cảm như thế vào vô số những dịp khác, có lẽ không có sự bộc lộ nào rõ ràng hơn lời nhận xét của ông ta đối với sĩ quan tình báo Hoa Kỳ Charles Fenn vào năm 1945 rằng ông ta xem Cộng sản như là một phương tiện để đi đến một đoạn cuối của chủ nghĩa quốc gia.(pc 10)Khi được hỏi để giải thích chính mình, ông Hồ trả lời:

Trước tiên, bạn phải hiểu rằng để có được nền độc lập từ một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ ghê gớm vốn không có thể đạt được mà không có một số trợ giúp bên ngoài, không nhất thiết bằng những thứ như vũ khí, nhưng bằng thực chất của lời khuyên và những tiếp xúc. Thật ra, người ta không có được sự độc lập bằng cách thả bom và những cách khác như thế. Đó là sự sai lầm mà tất cả những người cách mạng trước đây hay thường thực hiện. Người ta phải có được sự độc lập đó qua việc tổ chức, tuyên truyền, đào tạo và kỷ luật. Người ta cũng cần… một tập hợp những niềm tin, một phúc âm, một phân tích thực tế, bạn có thể thậm chí nói là một quyển thánh kinh. Chủ nghĩa Marx-Lenin đã cho tôi khuôn khổ đó.(pc 11)

Ông Fenn hỏi ông Hồ tại sao ông ta không chọn dân chủ hoặc một số hình thức khác của hệ thống chính trị, hơn là một ý thức hệ vốn quá rõ ràng sẽ làm mất thiện chí của Hoa Kỳ, một đất nước mà ông Fenn tuyên bố là hâm mộ rất nhiều? Hồ Chí Minh trả lời rằng đó là chỉ khi ông ta đến Moscow mà qua đó ông ta nhận được bất kỳ hỗ trợ thiết thực nào. Một mình Liên Xô trong số những cường quốc lớn là “một người bạn cần đến và là một người bạn song hành.” Lòng trung thành của nó chiếm được lòng trung thành của ông ta.11

Dường như có đôi chút nghi ngờ rằng đối với Hồ Chí Minh sự sống còn của đất nước của mình là trước tiên và luôn luôn là mối quan tâm chính của ông ta. Thật vậy, những quan điểm như thế làm nảy sinh những nghi ngờ về những lãnh đạo cao cấp khác của Đảng ở Hà Nội, Beijing, và Moscow, vốn là những người đôi khi đặt câu hỏi liệu ông Hồ là một người Mác-xít chân chính. Tuy nhiên, có nhiều bằng chứng cho rằng, có hay không ông ta là một người Mác-xít chính thống, dưới vẻ ngoài yêu nước của ông ta đánh bại trái tim của một nhà cách mạng hiến dâng. Khuynh hướng cách mạng trong cách nhìn của ông ta có lẽ được khởi động bởi kinh nghiệm sống trên tàu của mình trước Thế Chiến thứ I,(pc 12)khi ông ta phát hiện ra rằng những gánh chịu đau khổ của những đồng bào mình được chia sẻ bởi người dân ở nơi nào khác trong châu Á và châu Phi đang sống dưới ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc thế giới. Chắc chắn điều đó được nâng lên bởi giai đoạn cư trú ở Paris, khi ông ta phát hiện thái độ đạo đức giả của Pháp, vốn là những người vờ quên áp dụng những lý tưởng của riêng họ cho các dân tộc thuộc địa của họ. Hai năm ở Moscow trong suốt những ngày đầu trước đó qua công cuộc thử nghiệm của Liên Xô dường như đã làm dấy lên lòng nhiệt tình ngây thơ của ông ta về một xã hội Cộng sản trong tương lai. Trong thế giới dũng cảm mới của ông Hồ, lòng yêu nước sẽ được thay thế bằng khái niệm của Lenin về một liên bang toàn cầu trong tương lai của những xã hội Cộng sản.

p571

Những sự kiện sau đó chắc chắn có một tác động trấn tĩnh trên thái độ của ông ta. Những cuộc xét xử thanh trừng ở Moscow –mà qua đó rõ ràng đưa đến hiểm nghèo suýt gây nguy hiểm cho sự an toàn của ông ta– ắt hẵn làm xói mòn niềm tin của ông ta vào thử nghiệm của Liên Xô. Sự thất bại của Liên Xô sống theo sự cam kết của riêng mình ban sự ủng hộ tích cực cho công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc địa ắt hẵn làm dấy lên những nghi ngờ trong tâm trí ông ta như đối với sự thích đáng của chủ nghĩa quốc tế vô sản trong một thế giới chính trị quyền lực. Nhưng không có gì xuất hiện làm lung lay niềm tin của ông ta vào tính ưu thế cuối cùng của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Đến cuối đời mình, ông ta bám giữ chặt vào điểm mà qua đó mô hình tư bản chủ nghĩa đã mang lại sự gánh chịu đau khổ không kể xiết cho hàng triệu người dân bị áp bức khắp châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh.

Như thế vấn đề thì không phải liệu ông ta là một người quốc gia hoặc Cộng sản –theo cách riêng của ông ta, ông ta là cả hai. Chính là thêm một câu hỏi về chiến thuật của ông ta. Hồ Chí Minh là một người tin tưởng trong nghệ thuật về tính khả dĩ, về việc điều chỉnh những lý tưởng của mình đối với tình hình lúc đó. Đối với nhiều người, ngay cả trong phạm vi đảng phái của riêng mình, hành vi của ông ta thường xuất hiện như là sự thiếu nguyên tắc, nhưng trong sự tiến bộ tâm trí của mình thường có thể thực hiện một cách hiệu quả nhất bằng những bước rất nhỏ. Đối với Hồ Chí Minh, trong dòng chữ đúng của nhà khoa học xã hội người Anh Walter Bagehot, điều tốt nhất đôi khi là kẻ thù của điều tốt. Ông Hồ áp dụng thái độ thực dụng nầy trong chính sách đối ngoại; khi, thí dụ, ông ta chấp nhận những giải pháp thỏa hiệp vào năm 1946 và 1954 hơn chiến đấu dưới những điều kiện bất lợi. Ông ta cũng thực tế trong những công việc trong nước, luôn luôn tin tưởng rằng sự chuyển đổi sang một xã hội theo xã hội chủ nghĩa nên được tiến hành dần dần trong một cố gắng để giành lấy sự ủng hộ quần chúng rộng rãi.

Giống như Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon B. Johnson, Hồ Chí Minh thấy chính mình như là một Người Truyền đạt Vĩ đại, một nhà lãnh đạo vốn, nếu có cơ hội, có thể đạt được những mục tiêu của mình không bằng vũ lực, nhưng bằng lẽ phải. Trong một số trường hợp, ông ta thành công. Về nhiều lần khác, ý muốn của ông ta đối với sự thỏa hiệp đã tước vũ khí của những kẻ thù mình và cho phép ông ta để chuyển điểm yếu quân sự thành lợi thế chính trị. Đồng thời, hình tượng của ông ta về tính đơn giản, lòng tốt, và vị tha tác dụng lên lời kêu gọi rộng lớn, như thế góp một cách phần đáng kể vào sự chấp thuận rộng rãi trong nước và hải ngoại cho cuộc cách mạng Việt Nam và cuộc đấu tranh vì độc lập. Thật khó tưởng tượng việc tuôn đổ sự ủng hộ trên toàn cầu cho cuộc chiến giải phóng dân tộc của Việt Nam trong suốt những năm 1960s nó đã được nhận diện với khuôn mặt của Lê Duẩn hoặc Trường Chinh hơn là của Hồ Chí Minh.

Có phải hình tượng của Hồ Chí Minh là chân thực? Có lẽ không có câu trả lời dễ dàng cho câu hỏi đó. Dường như có đôi chút nghi ngờ rằng ông ta thực sự không thoải mái trong bầu không khí sang trọng và thích sống trong môi trường xung quanh đơn giản, khiêm tốn hơn. Tuy nhiên, nhiều người trong số những người quen sáng suốt của ông Hồ đã từng thấy rằng thường có một yếu tố gian xảo trong điệu bộ màu mè như là một nhà tu khổ hạnh đơn giản,

p572

một nhà Nho uyên thâm(pc 13) được biến thành một nhà cách mạng Mác-xít.Trong khi ở Pháp sau khi kết thúc Thế Chiến thứ II, ông ta nói với thư ký riêng của mình, Vũ Đình Huỳnh, rằng đôi khi những giọt nước mắt giả vờ thì hữu ích trong việc làm cho vấn đề dễ thông qua trong một bài phát biểu.(pc 14)Nhiều năm sau nầy, người đại diện Hội đồng Kiểm soát Quốc tế của Ba Lan ở Hà Nội thấy rằng, không nói đến những phản đối công khai của ông Hồ, ông ta dường như thích thú sự tâng bốc mà ông ta nhận được từ những đồng bào của mình. Cái tôi chắc chắn bị lôi cuốn vào khi, trong suốt những năm 1940 và 1950, ông ta đã viết hai cuốn tự truyện tự- khen-ngợi dưới những cái tên giả, hình tượng của Hồ Chí Minh về sự thánh thiện không chỉ là một đặc điểm được gán cho ông ta bởi những những người khác, mà còn được vun trồng một cách cẩn thận bởi chính ông ta.

Có, dĩ nhiên, những lý do chính trị hợp lý đối với ông ta để khuyến khích sự sùng bái cá nhân này. Khi vào năm 1947, một phóng viên Mỹ hỏi Hồ tại sao ông ta là đối tượng của quá nhiều tâng bốc, ông ta trả lời rằng đó là một phần bởi vì người ta xem ông ta như là một biểu tượng cho việc thực hiện những nguyện vọng của họ. Hoặc có lẽ, ông ta nói thêm, đó là vì ông ta yêu tất cả những trẻ em Việt Nam như thể họ là những đứa cháu trai của mình, và đổi lại họ có một tình yêu đặc biệt cho “Bác Hồ.” Trước đây trong cuộc sống, khi dân tộc của ông ta và văn hóa của nó dường như trên bờ vực tuyệt chủng, ông ta đã từng quan sát lòng tôn kính mà thanh niên Việt Nam dành cho những học giả làng mộc mạc vốn là những người tìm kiếm trong cuộc sống của họ và những điều giảng dạy của họ để thực hiện các nguyên tắc vượt thời gian của chủ nghĩa nhân văn Nho giáo. Đến lúc cuối những ngày của mình, ông Hồ ứng dụng một phần bản chất con người bề ngoài như là một phương tiện để mang lại sự cứu rỗi cho dân mình và sự sống lại của dân tộc.12

Bất cứ những lợi ích chính trị gì vốn sinh ra từ quyết định đó, Hồ Chí Minh đôi khi phải trả giá cho hình tượng của ông ta về sự quên mình và chủ nghĩa thực dụng. Theo tự nhiên, người hòa giải vốn là người tin tưởng vào sức mạnh của sự thuyết phục hơn là sự đe dọa, trong việc điều hành Đảng Cộng sản Đông Dương, ông ta dựa vào từ lúc khởi đầu qua hệ thống sách lược lãnh đạo tập thể hơn là qua sự khẳng định sự thống trị của cá nhân theo cách thức của một Lenin, Stalin, hay một Mao Trạch Đông. Trong suốt những năm 1930s và 1940s, những khả năng thuyết phục của ông ta –được hỗ trợ bởi uy tín to lớn của ông ta và kinh nghiệm lâu dài như là một mật vụ Quốc tế cộng sản– thì thường thường thành công. Nhưng họ bắt đầu bỏ quên ông ta vào những năm 1950s, khi những cộng tác viên cao cấp bắt đầu đặt câu hỏi về khuynh hướng của những kiến ​​nghị của ông ta và khẳng định lời tuyên bố của riêng họ về vai trò chính trong việc xây dựng chiến lược. Cuối cùng, Hồ Chí Minh hầu như bị biến đổi thành một nhân vật bất lực. Những ý tưởng của ông ta được đón chào bằng sự xem xét của các cộng tác viên của ông ta, nhưng ngày càng bị từ chối như là không phù hợp.

Có phải Hồ Chí Minh ngây thơ trong việc tin tưởng vào câu cách ngôn của Sun Tzu (i.e. Tôn Tử) rằng những chiến thắng thành công nhất là những thứ đạt được mà không có bạo lực? Nhìn lại, người ta có thể nói rằng ông ta đã từng cả tin phần nào trong kỳ vọng của mình rằng Pháp có thể được thuyết phục để rút khỏi Việt Nam một cách hòa bình sau Thế Chiến thứ II.

p573

Nhiều năm sau đó, ông Hồ tính lầm tương tự như thế khi ông ta lập luận rằng Hoa Kỳ dám có thể quyết định chấp nhận một chính phủ thuộc Cộng-sản-thống-trị ở Việt Nam, nếu điều đó có thể đạt được mà không có sự làm nhục Hoa Kỳ. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy rằng sự đánh giá của ông Hồ về tình hình quốc tế thì thường có tầm nhìn rõ ràng, và ông ta biết rõ về sự cần đến những chính sách linh hoạt nhằm đánh giá những khả năng xảy ra khác nhau. Mặc dù ông ta tìm cách để đạt được những mục tiêu của mình mà không cần tới bạo động, ông ta chuẩn bị dùng đến sức mạnh quân sự khi duyên cớ đòi hỏi. Cũng như thế người ta không thể nói về một người trong số những cộng tác viên của ông ta, vốn là những người thiếu sự khôn khéo và kiên nhẫn để theo đuổi một giải pháp bằng phương tiện ngoại giao.

* * *

Người ta thường nói rằng Hoa Kỳ đánh mất một cơ hội bằng vàng để tránh cuộc xung đột ở Đông Dương trong tương lai khi nó không đáp ứng những lời đề nghị của Hồ Chí Minh lúc cuối Thế Chiến thứ II. Sau hết, như là một người thực dụng, ông Hồ ắt hẵn nhìn nhận rằng đất nước của ông ta có nhiều cái được hưởng trong môi trường sau chiến tranh qua những điều khoản về sự hỗ trợ thiết thực từ Washington hơn là từ Moscow. Ông ta cũng tự nhận là người ngưỡng mộ về nền văn minh Mỹ và đã từng kết hợp những lý tưởng của nó trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Bằng cách nhìn vào Đông Dương trong bối cảnh về sự cạnh tranh ngày càng tăng về ý thức hệ với Moscow, nhiều nhà phê bình tranh luận, chính quyền Truman lập vũ đài cho cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Mặc dù có một vài điều có vẻ hợp lý đối với cuộc tranh luận này, nó có thể một phần là trường hợp của người Mỹ có những huyền thoại của riêng họ về Hồ Chí Minh. Trước tiên, bằng chứng cho thấy rằng sự ngưỡng mộ thường được bày tỏ của ông Hồ đối với Hoa Kỳ là một vấn đề của sự tính toán hơn là vấn đề của sự thuyết phục về ý thức hệ. Ông Hồ không tiếc những lời khen ngợi về nền văn minh của Mỹ, như ông ta ca ngợi nhiều nước trong số những đồng minh của quốc gia mình và những đối thủ tiềm năng, chủ yếu nhằm mục đích có được lợi thế về sách lược. Mặc dù ông ta luôn luôn ấp ủ khả năng rằng những lãnh đạo Hoa Kỳ có thể cuối cùng nhận ra sự vô ích về việc can thiệp vào Đông Dương, ông ta cũng tin rằng cũng là những nhà lãnh đạo đó là những đại diện của một hệ thống tư bản bóc lột mà tại một lúc nào đó có thể bước vào trong cuộc xung đột với các nước thành viên của cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Ông Hồ để lại đôi chút nghi ngờ như đối với lòng trung thành của ông ta trong sự đối đầu có tiềm năng đó.13

Câu hỏi giả sử rằng Hồ Chí Minh có toàn quyền hành động để xây dựng chiến lược ở Hà Nội, liệu giống y như Stalin thống trị hậu trường ở Moscow. Thật ra, nhiều người trong số những cộng tác viên của ông Hồ không chia sẻ niềm tin của ông ta về khả năng của một con đường bất bạo động đưa đến việc giải phóng dân tộc và cũng có thể chống lại điều gì mà họ xem như là những thỏa hiệp sai nguyên tắc của ông ta với kẻ thù giai cấp.

p574

Khi Tổng thống Hoa Kỳ phải xem xét những vấn đề trong nước lúc đó họ xây dựng những mục tiêu chính sách đối ngoại của riêng họ, vì vậy Hồ Chí Minh phải tranh luận với cử tri của chính mình –đáng lưu ý là những cộng tác viên hiếu động của ông ta trong Bộ Chính trị– nhiều người trong số họ, như Trường Chinh, Lê Duẩn, không chia sẻ niềm tin nhẹ dạ của ông ta vào năng lực lý trí.

Có lý do hợp lý cho thái độ hoài nghi, sau đó, mà qua đó một cử chỉ hòa giải từ Nhà Trắng vào năm 1945 hoặc 1946 đáng lý ra sẽ đủ quyến rũ Hồ Chí Minh và những cộng tác viên của ông ta vào con đường tư bản chủ nghĩa. Trong khi sự nhìn nhận của Hoa Kỳ về VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt) đáng lý ra chắc chắn sẽ được chào đón ở Hà Nội, nó đã không đủ làm cho Đảng Cộng sản Đông Dương dứt bỏ lòng trung thành nguyên thủy của nó đối với Moscow hoặc sự cống hiến của nó đối với học thuyết của Marx và Lenin. Khi Hà Nội trong những năm sau đó khéo léo khích Moscow chống lại Beijing, vì vậy ông Hồ và những cộng tác viên đã cố gắng vận động Washington trong những lợi ích của việc đạt được những mục tiêu của riêng họ. Một số trong những mục tiêu đó, như chúng ta đã thấy, lôi cuốn những nước khác. Đông Nam Á vào lúc cuối của cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương trải qua một giai đoạn bất ổn đáng kể về chính trị và xã hội. Liệu những nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ đã sẽ sẵn sàng ngồi bên trong khi Hà Nội tìm cách thúc đẩy những phong trào cách mạng vừa chớm nở ở nước Lào và Cam-pu-chia láng giềng là điều rất đáng nghi ngờ.

Tuy nhiên, sự thất bại của những nhà hoạch định chính sách ở Paris và Washington bắt được bàn tay chìa ra cho họ bởi Hồ Chí Minh sau Thế Chiến thứ II có những hậu quả bi thảm cho người dân Việt Nam và cho thế giới như là một khối. Trong khi có những rủi ro liên quan đến việc thừa nhận tính hợp pháp cho chính phủ mới ở Hà Nội, dường như rõ ràng khi nhìn lại rằng chúng thì đáng thích hợp cho một sự thay thế hơn. Trong khi ưu thế chính trị và đạo đức của những nguyên tắc tư tưởng hệ của Hồ Chí Minh trên những người trong số những đối thủ của mình là một vấn đề hợp pháp cho cuộc tranh luận, đó là điều khó để tranh luận một luận điểm trong những điều kiện về thời gian, những lãnh đạo Việt Minh được chuẩn bị tốt nhất để đối phó với vô số vấn đề đang làm khổ sở những đồng bào của họ. Chiều sâu của sự ủng hộ quần chúng cho VNDCCH(pc 02) (Bắc Việt), ít nhất là ở miền Bắc, dường như chứng minh quá đủ qua khả năng của nó duy trì lòng trung thành đó trong một thế hệ của cuộc đấu tranh chống lại những cố gắng được phối hợp của Pháp và sau đó của Hoa Kỳ.

* * *

Ngày nay, ba thập niên sau cái chết của ông ta, sự sùng bái Hồ Chí Minh mang tính cách nhà nước vẫn trong tình trạng tồn tại ở Hà Nội, nơi mà nó phục vụ chủ yếu như là cái nạng chống cho chế độ không còn hy vọng tìm cách duy trì sự thích đáng của nó trong những lần thay đổi. Đối với nhiều người Việt Nam (đặc biệt là ở miền Bắc, nơi mà sự tôn kính đối với Bác Hồ vẫn còn khá mạnh), hình tượng vẫn thành công. Điều đó thì kém thành công ở miền Nam, nơi mà chính quyền trung ương thường được nhìn một cách nghi ngờ những đại diện của nó được coi là những ứng cử viên ngoài địa hạt từ Hà Nội.

p575

Trong bất kỳ trường hợp nào, ảo tưởng đang dần chết của ông Hồ về Đảng được thúc đẩy bởi sự thuần khiết cách mạng và mối quan tâm về người dân đang bị phá sản. Không làm được gì nhiều trong những năm gần đây để cắt bớt mức độ đặc hữu về tham nhũng của quan chức mà qua đó nó đe dọa tràn ngập cách mạng trong trào lưu của sự căm tức và oán hận của quần chúng đang dâng lên.

Những viễn ảnh trong tương lai cho việc duy trì sự sùng bái ông Hồ đều mờ nhạt. Có những dấu hiệu rõ ràng là trong khi hầu hết thanh thiếu niên Việt Nam kính trọng Hồ Chí Minh vì những đóng góp của ông ta cho sự nghiệp độc lập dân tộc và tái thống nhất đất nước, nhiều người không còn nhìn thấy ông ta như là một nhân vật có tầm quan trọng chủ yếu trong cuộc sống của họ. Như một thanh niên Việt Nam đưa ra nhận xét với tôi gần đây, “Chúng tôi tôn trọng ông Hồ, nhưng chúng tôi không quan tâm đến chính trị.” Đối với thế hệ mới được nuôi lớn trong bóng tối của thiên niên kỷ tiếp theo, Hồ Chí Minh có lẽ không có còn thích đáng hơn Abraham Lincoln có đối với dân Mỹ trung bình.

Ngay cả trong số những người nhìn thấy giá trị của sự sùng bái Hồ Chí Minh, nhiều người xem nó như là một dạng thuốc phiện cho người dân. Như một nhà trí thức Việt Nam đã nhận xét: Tất cả dân tộc lúc chiến tranh phải có những huyền thoại tạo dựng của họ. Và nhiều người cảm thấy ngày hôm nay rằng quan điểm chính thức của Bác Hồ như là một mẫu mực không vết bẩn của đạo đức cách mạng nên được thay thế bằng một hình ảnh thực tế hơn mà qua đó nó miêu tả ông ta sinh động như là một con người có thể sai lầm.(pc 15) Trong những năm gần đây, những tin đồn chưa được xác nhận về những cuộc hôn nhân trong quá khứ của ông ta và những vấn đề yêu đương –và ngay cả những đứa con bất hợp pháp được đồn đãi của ông ta– đã lưu hành một cách rộng rãi, bất chấp những phủ nhận mạnh mẽ về tính chính xác của chúng từ những nguồn tin chính thức. Một cuốn phim Việt gần đây, thí dụ, đã suy đoán về mối liên lạc vốn được cho là xảy ra trước khi chuyến ra đi đầu tiên của ông ta đến châu Âu.14

Cũng như trên sân khấu thế giới, hình ảnh của Hồ Chí Minh như là một nhân vật thuộc thế kỷ hai mươi phôi thai không còn có sức mạnh cảm xúc mà nó ám ảnh một thế hệ trước đây, mặc dù sự xuất hiện của bức chân dung ông ta trong một cửa hàng được điều hành bởi một di dân người Việt ở tiểu bang California gần đây đã đủ để khích động sự giận dữ trong số những đồng bào người Mỹ gốc Việt. Một thế hệ trước đây, những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đang bùng nổ trên khắp Thế giới Thứ ba, và Hoa Kỳ dường như là một nền văn minh trong tình trạng suy kém. Trong những điều kiện đó, Hồ Chí Minh dường như là tiếng nói của tương lai. Với chủ nghĩa cộng sản bị mất uy tín rộng rãi và chủ nghĩa tư bản lên cao vào thời điểm chuyển giao thiên niên kỷ, sự hỗn hợp đặc biệt của ông Hồ về lòng yêu nước và chủ nghĩa xã hội xuất hiện gần như kỳ quặc, giống như cuộc Cách mạng Văn hóa của Mao Zedong (i.e. Mao Trạch Đông) hoặc những ý tưởng tinh thần của Mahatma Gandhi. Hôm nay, Hồ Chí Minh thường được xem như là một nhà chiến thuật khôn khéo của cách mạng và không là gì nữa; những tác phẩm của ông ta bị vứt bỏ như là sự chán ngắt theo kiểu cách và sự trống rỗng của nội dung tư tưởng hệ. Tầm nhìn của ông ta về một cuộc cách mạng thế giới dường như xa xôi trong thời gian như tầm nhìn của người Mác-xít về một giai cấp vô sản giận dữ đang đập vào cánh cửa của những kẻ áp bức tư bản chủ nghĩa.

Những thái độ như thế, tuy nhiên, không đánh giá đúng tầm quan trọng hợp pháp của Hồ Chí Minh đối với thời đại chúng ta.

p576

Trong khi tầm nhìn của ông ta về một cộng đồng xã hội Cộng sản trên thế giới trong tương lai là sai lầm(pc 16) (ít nhất là, vì vậy nó xuất hiện từ viễn ảnh hôm nay), điều đó vẫn không thể phủ nhận rằng nguyên nhân mà ông ta thúc đẩy và hướng dẫn, cung cấp một khoảnh khắc xác định của thế kỷ 20, tiêu biểu cho cả đỉnh cao của một kỷ nguyên giải phóng dân tộc ở Thế giới Thứ ba và cả sự nhìn nhận rõ ràng đầu tiên của những giới hạn qua chính sách Hoa Kỳ về sự ngăn chận chủ nghĩa cộng sản. Sau Việt Nam, thế giới sẽ không bao giờ giống như xưa.

Thật khó để tưởng tượng cách mạng Việt Nam mà không có sự tham gia tích cực của Hồ Chí Minh. Mặc dù xu hướng lịch sử hiện nay nhấn mạnh đến tầm quan trọng của lực lượng xã hội cơ bản to lớn trong việc gây ra những sự kiện lớn của thời đại chúng ta, điều đó vẫn còn rõ ràng trong nhiều trường hợp, như là cuộc cách mạng Bolshevik và cuộc Nội chiến Trung Quốc, vai trò của cá nhân đôi khi có thể là tột bực. Như là trường hợp ở Việt Nam. Không phải ông Hồ chỉ là người sáng lập đảng phái của ông ta và sau đó là vị Chủ tịch đất nước, mà ông ta là vị trưởng chiến lược gia của nó và là một biểu tượng gây cảm hứng nhất của nó. Một nhà tổ chức có tài năng cũng như một nhà lãnh đạo chiến lược tinh khôn và có sức lôi cuốn, Hồ Chí Minh là một nửa Lenin và một nửa Gandhi. Đó là một sự kết hợp hoạt năng. Trong khi cuộc chiến giải phóng dân tộc của Việt Nam là một thực tế không thể tránh khỏi mà nó vượt qua số phận của mỗi con người, không có hiện diện của ông ta nó sẽ là được một vấn đề khác xa, với những hậu quả khác xa.

Đối với nhiều nhà quan sát, thảm kịch của Hồ Chí Minh là thể như một tài năng kỳ diệu như thế trong việc dùng nghệ thuật lãnh đạo đáng lý ra không nên được áp dụng cho lợi ích của một tư tưởng hệ sai lầm –quả thật, hệ tư tưởng mà bây giờ đã bị bỏ rơi ngay cả bởi nhiều người trong số những người trung thành chân thật nhất của nó khắp thế giới, mặc dù chưa có trong đất nước của ông Hồ. Liệu dưới hoàn cảnh khác, thanh niên Nguyễn Tất Thành dám có thể quyết định ứng dụng những lý tưởng và thực hành của nền văn minh Tây phương đương thời là một câu hỏi vốn không thể trả lời được. Giống như nhiều nhà lãnh đạo khác gốc châu Á của thời điểm đó, kinh nghiệm của ông ta đối với chủ nghĩa tư bản không lả một kinh nghiệm vui tươi, và những sự tàn bạo được gây ra bởi chủ nghĩa thực dân Tây phương mà ông ta quan sát trong suốt những năm đầu của mình làm tổn thương bản chất nhạy cảm của ông ta một cách sâu sắc. Tuy nhiên, phần nhiều những niềm tin triết học của ông ta dường như tương thích với những lý tưởng Tây phương hơn là với những lý tưởng của Karl Marx và Vladimir Lenin. Mặc dù ông ta tìm cách miêu tả chính mình đến các cộng tác viên như là một người Mác-xít chính thống, dường như rõ ràng rằng ông ta ít quan tâm đến vấn đề giáo lý và thường xuyên thực hiện những cố gắng chân thành để làm mềm những cạnh cứng của chủ nghĩa cộng sản khi được áp dụng ở Việt Nam. Tuy nhiên, như là người sáng lập đảng phái của ông và là vị Chủ tịch đất nước mình, Hồ Chí Minh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm cho những hậu quả của những hành động mình, vì tốt hay xấu. Trong ánh sáng của những điều kiện vốn phổ biến khắp ở Việt Nam hiện nay,

p577

thậm chí nhiều người trong số những người bào chữa nồng nhiệt hơn của ông ta phải thừa nhận rằng di sản của ông ta là một di sản hỗn hợp.

Hồ Chí Minh, sau đó, là (trong nhừng dòng chữ đáng nhớ của nhà triết học người Mỹ Sidney Hook) một “người đàn ông làm-nên-sự-kiện,” một “đứa con của cuộc khủng hoảng” vốn là người kết hợp trong con người của riêng mình hai sức mạnh trong số những lực lượng tác động chính yếu trong lịch sử hiện đại Việt Nam: mong muốn cho nền độc lập dân tộc và việc truy tìm công bằng xã hội và kinh tế. Bởi vì những lực lượng này vượt qua những biên giới của đất nước của riêng mình, ông Hồ có thể phóng ra thông điệp của mình đến các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới và nói đến những đòi hỏi của họ cho nhân phẩm và tự do từ sự áp bức đế quốc. Bất kỳ sự xét đoán cuối cùng là gì về di sản của ông ta cho người dân của mình, ông ta đã chiếm được chỗ mình trong đền thờ thiêng liêng của những anh hùng cách mạng, vốn là những người đã từng tranh đấu mãnh liệt để cho những người cùng khổ của thế giới tiếng nói thực sự của họ.15

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ Những lời tán dương cho thành tích một người nào đó …(xin xem phần trước).

pc 02_ VNDCCH : Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Bắc Việt)
pc 03_ “tung ra một cuộc tấn công quân sự mới trong suốt chiến dịch tranh cử tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1972,” đây là một chứng minh rõ ràng Hà Nội đã gian ngoa trong lời hứa về sự ngưng chiến và không xâm lược miền Nam để đổi lại việc ngưng thả bom miền Bắc trước đó (trong chương 15).

pc 04_ Hiệp định Paris : là một hiệp định nhằm chấm dứt chiến tranh, …(xin xem phần trước).

pc 05_ MtDtGp : Mặt trận Dân tộc Giải phóng.
pc 06_ CHXHCNVN : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
pc 07_ “lăng mộ được đáng gợi nhớ đến trước nhất là lăng mộ Lenin ở Quảng trường Đỏ,” dĩ nhiên là phải thế …(xin xem phần trước).

pc 08_ ĐLĐVN : Đảng Lao động Việt Nam.
pc 09_ “tư tưởng Hồ Chí Minh,” dường như điều nầy hoàn toàn mâu thuẩn khi có lần trong cuộc phỏng vấn với báo chí, chính ông Hồ tuyên bố rằng : “ông ta không có tư tưởng gì mà chỉ theo tư tưởng của học thuyết Marx-Lenin và Mao.”

pc 10_ “ông ta xem Cộng sản như là một phương tiện để đi đến đoạn cuối của chủ nghĩa quốc gia,” điều nầy dường như không khác gì mấy khi một người nào đó biện luận cho những hành động của mình bằng câu nói : “Tôi giết người, cướp của vì tôi yêu gia đình tôi; đó chỉ là phương tiện tạm thời để có được cuộc sống khác tốt hơn, nhưng cuối cùng tôi vẫn là một người lương thiện.”
Và ông Hồ cũng đã nhiều lần thúc đẩy xã hội miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa, cũng như lòng trung thành tuyệt đối của ông ta đối với chủ nghĩa Marx-Lenin được nhìn thấy rõ ràng qua cách tôn sùng của ông ta đối với những người khai sinh thế giới Cộng sản. Ngay cả hòn đá, con suối, bãi đất, hang động, v.v. cũng được mang tên những người đó từ tâm tưởng biến nhiễm nặng nề của ông Hồ.

pc 11_ “chủ nghĩa Marx-Lenin đã cho tôi khuôn khổ đó,” đó là lời thú nhận thêm một lần nữa của ông Hồ trong lý luận bào chữa cho những hành động của mình. Tuy nhiên, mãi cho đến hôm nay, cũng không ít người vẫn cứ đặt ra câu hỏi như tác giả đã nêu ra là : “liệu ông Hồ sẽ được xác nhận như là một người Cộng sản hay quốc gia.” Trong khi, những lá cờ búa liềm của chủ nghĩa Cộng sản luôn luôn được treo trong những cuộc họp, ngay cả trong buỗi họp đầu tiên từ khi ông Hồ nắm được vai tró chủ động của nhóm Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội bên Trung Quốc thuở trước.

pc 12_ “khuynh hướng cách mạng trong cách nhìn của ông ta có lẽ được khởi động bởi kinh nghiệm sống trên tàu của mình trước Thế Chiến thứ I,” tuy nhiên, dường như tác giả cố tình quên lá thư của Nguyễn Tất Thành viết xin được học nội trú bên Pháp. Và điều nầy chứng minh rằng “khuynh hướng cách mạng” đó hoàn toàn chưa bao giờ hiện diện trong tâm trí của anh Thành, ngoài con đường tìm kế sinh nhai và hy vọng được ăn học thành tài qua sự tài trợ của chính quyền Pháp trước khi trở về nước làm việc như một người công chức cho Pháp ở Việt Nam. Hy vọng đó của anh Thành cũng được bày tỏ qua lá thư gởi cho người chị ở quê nhà.

pc 13_ “một nhà Nho uyên thâm,” điều nầy cũng có thể do ông Hồ đã học được từ nhà cách mạng quốc gia, chân chính, lão thành Phan Bội Châu mà qua đó trong thời gian được dịp sống chung bên Pháp, Nguyễn Tất Thành đã quan sát và tiếp thu.


pc 14_ “đôi khi những giọt nước mắt giả vờ thì hữu ích trong việc làm cho vấn đề dễ thông qua trong một bài phát biểu,” đây là một lời tự thú vô tình của ông Hồ, mà cũng là niềm tự hào cho sự khôn ngoan của chính ông ta. Điều nầy gợi nhớ đến sự kiện ông Hồ đã từng khóc và dùng khăn lau nước mắt trong buỗi họp tổng kết năm 1956 về công cuộc cải cách ruộng đất long trời lỡ đất ở miền Bắc.


pc 15_ “mà qua đó miêu tả ông ta sinh động như là một con người có thể sai lầm,” đây là chiêu thức cuối cùng mà Bộ Chính trị bắt buộc phải dùng đến vì hiện tại có quá nhiều thông tin chứng thật về cuộc đời của con người huyền thoại Hồ Chí Minh vốn được sùng bái như một người tuyệt hão trong mọi lãnh vực qua lề lối tuyên truyền rộng rãi và sâu sắc vào mọi thế hệ trong xã hội miền Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung.

Và Bộ Chính trị nương theo những sự thật bị rì rõ để chuyển hướng sự kiện bằng cách biện luận theo lối nhìn khác hơn nhằm mục đích hướng dẫn tư tưởng quần chúng tiếp nhận sự kiện một cách khách quan hơn và đồng thời giữ được niềm tin, và lòng trung thành của họ với Đảng.

pc 16_ “trong tầm nhìn của ông ta về một cộng đồng xã hội Cộng sản trên thế giới trong tương lai là sai lầm,” tuy nhiên, cũng nên nhắc rằng những gì ông Hồ có trong tư tưởng không ngoài những gi mà ông ta được Liên Xô nhào nặn trong những năm học hỏi ở những trường đào tạo của nó. Vì vậy, cái gọi là “tầm nhìn của ông Hồ” cũng chắc chắn là không qua khỏi tầm nhìn có sẵn của Liên Xô đặt để trước đó.

One thought on “XVI- Lời Kết – Từ Một Người đến Huyền Thoại (Phần 2-Hết)

  1. Độc-Lập hay Tay sai?
    Tôi năm nay 71 tuổi, đang sống ở nước ngoài, xin đóng góp vào loạt bài của Đặng Chí Hùng về cái gọi là độc lập của HCM.
    Trải qua dòng lịch sử nước nhà, các vua của đất nước ta, ai cũng phải chịu nhục có lẽ là quỳ gối để tiếp nhận chiếu chỉ của vua Tàu phong vương cho mình. Sau đó sứ-gỉa Tàu về nước. Vua quan ta họp nhau bàn luận, tổ chức việc cai trị ra sao thì không hề phải thông báo, chứ chẳng có chuyện phải xin phép vua Tàu. Đó là sự thực được trình bày rõ ràng qua các sách sử của nước nhà.
    1/ Trái lại HCM phải trình cho Liên-Xô (LX) chương trình “Cải cách ruộng đất”. Một chương trình hoàn toàn thuộc về nội trị của đất nước! Trước khi thực hiện thì gởi người qua Tàu để học cách làm. Cứ tạm coi là đi tu nghiệp về chuyên môn, có thể chấp nhận được. Nhưng trong khi thực hiện thì có các cố vấn Tàu và phải xin phép. Việc bà Cát Hanh Long bị giết vì HCM không thể xin được khi cố vấn Tàu phán: “Cọp đực, cọp cái đều ăn thịt người”, là một bằng cớ về việc làm tay sai, không có thực quyền.
    2/ Trong khi đảng cộng sản VN họp hành để thảo luận về các chương trình làm việc, một việc hoàn toàn thuộc về nội bộ của đảng mình. HCM đã mời đại diện Tàu tham dự (xin ai biết rõ việc này bổ túc dùm). Đây là một bằng chứng khác về việc làm tay sai.
    3/ Thực chất của cái gọi là “Nghĩa vụ quốc tế” chính là làm tay sai cho LX. Khi thế giới phân chia thành hai khối Tư-bản và Cộng-Sản. LX muốn bành trướng vùng ảnh hưởng của mình, thì chỉ thị cho đàn em cung cấp người, anh cả chỉ cung cấp vũ-khí.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s