Phần 08-1/2 : Những Cuộc sống Tan vỡ và Những Giấc mơ Chập chờn

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p197

Phần 08 : Những Cuộc sống Tan vỡ và Những Giấc mơ Chập chờn
(Chiến dịch Lam Sơn 719)

Trong khi vấn đề Việt Nam hóa Chiến tranh làm thay đổi thực tế chiến lược của chiến tranh ở Quân đoàn I, một sự kiện quân sự lớn của năm 1970 xảy ra ở nơi xa hơn về phía nam. Trong những năm tháng, Hoa Kỳ và cũng như những người lãnh đạo quân sự của miền Nam Việt Nam đã mong muốn nâng lên các hoạt động chủ yếu chống lại những khu căn cứ của cộng sản và những tuyến đường tiếp tế ngay bên kia biên giới ở Cam-pu-chia, gần Sài Gòn đến bất tiện. Tính chất thiết thực về chính trị, tuy nhiên, đã luôn luôn đánh ra lá bài chủ cho nhu cầu quân sự, nhưng, vào tháng Ba năm 1970, sự ra đời của một phủ phủ Cam-pu-chia mới, dưới quyền Tướng Lon Nol thân Mỹ, bày ra trước các lực lượng Hoa Kỳ và Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) một cơ hội chiến thuật, trong khi những mối đe dọa của cộng sản đối với chính phủ Cam-pu-chia còn non trẻ đưa đến một nhu cầu chính trị cho những hoạt động xuyên biên giới to lớn.
Trong khi những người Mỹ vật lộn với các vấn đề của một phản ứng dữ dội về chính trị có tiềm năng chống lại bất cứ di chuyển nào vào trong Cam-pu-chia, chính là QĐVNCH mà qua đó vào ngày 14 tháng Tư, lúc đầu đáp lại những lời cầu xin sự giúp đỡ quân sự của Lon Nol. Trong khu vực Cánh Thiên Thần (i.e. Angel’s Wing), những lực lượng của QĐVNCH(pc 01) thuộc Quân đoàn III phát động Chiến dịch Toàn Thắng 41, qua đó nhắm vào sự gián đoạn của Khu Căn cứ 706. Đối mặt chỉ là sự đề kháng nhẹ của Quân đội Bắc Việt (QĐBV), những hoạt động của QĐVNCH ở Cam-pu-chia lan rộng cả phía bắc và phía nam và đạt được những thành công đáng kể với cái giá tối thiểu chỉ bằng những mạng sống và dụng cụ. Một chiến dịch ba-ngày trong khu vực Mỏ Két (i.e. Parrot’s Beak) của Cam-pu-chia biểu lộ mức độ thành công của QĐVNCH; nó hạ được 1.010 quân địch thiệt mạng và 204 tù binh với cái giá của 66 quân nhân của QĐVNCH thiệt mạng và 330 người bị thương. Những mất mát của QĐBV(pc 02) bao gồm 1.000 vũ khí cá nhân và 60 vũ khí dành cho nhóm và hơn 100 tấn đạn dược.1
Với tinh thần chiến đấu được phấn khởi bởi những cuộc xâm nhập thành công của họ vào trong lãnh thổ bị chiếm giữ bởi đối phương ở Cam-pu-chia, vào ngày 1 tháng Năm năm 1970, những lực lượng của QĐVNCH được gia nhập trong trận chiến bởi Bộ binh và các đơn vị ven sông của Mỹ trong Chiến dịch Toàn Thắng 43. Nhằm mục đích lấy lại thế chủ động từ những người cộng sản, để gây choáng váng hệ thống hậu cần của QĐBV, và để ngăn chận bất kỳ những cuộc tấn công to lớn nào của đối phương,

p198

cả các lực lượng của QĐVNCH và Hoa Kỳ thực hiện tiến độ nhanh chóng. Mặc dù theo lý luận đạt nó đạt được những gặt hái đáng kể, hoạt động liên kết bị hạn chế một cách nghiêm ngặt trong thời gian và phạm vi, và đến ngày 29 tháng Sáu tất cả các lực lượng Mỹ đã rút lui lại vào trong miền Nam Việt Nam, trong khi 34.000 quân lính của QĐVNCH(pc 01) vẫn còn ở Cam-pu-chia thêm một tháng nữa để tìm kiếm và tiêu diệt những kho dự trữ tiếp tế của QĐBV.
Những hoạt động khác nhau vốn tập hợp lại đã tạo nên Cuộc xâm nhập Cam-pu-chia hạ được hơn 11.000 người của QĐBV thiệt mạng, đã làm chấn động hệ thống hậu cần của cộng sản ở Cam-pu-chia, và phá hủy đủ những nguồn tiếp tế đủ để cung cấp cho các hành động của đối phương ở khu vực trong suốt sáu tháng.2 Ở cấp chiến lược, những kết quả của Cuộc xâm nhập Cam-pu-chia thì nhiều hỗn hợp hơn, sau khi đã gây ra sự bất bình phản đối ở Hoa Kỳ, mà qua đó là một phần trách nhiệm cho sự lựa chọn của ông Nixon để đẩy nhanh tốc độ của việc rút quân của những lực lượng Mỹ khỏi Việt Nam. Ở cấp chiến thuật, việc mang trận chiến vượt ra ngoài những biên giới của miền Nam Việt Nam và việc đánh QĐBV trong các khu căn cứ của nó đã chứng minh là một thần dược tăng sức cho tinh thần chiến đấu của QĐVNCH. Mặc dù vậy, ít hơn mười hai tiểu đoàn của miền Nam Việt Nam đã từng bị lôi cuốn vào Cam-pu-chia một lần nào đó trước đó, và phản ứng của QĐBV(pc 02) đối với sự hiện diện của họ thì không đáng kể. Một thử nghiệm đích sự về Việt Nam hóa Chiến tranh thì chưa đến lúc.3
Đối với sự phá hủy những khu că n cứ ở Cam-pu-chia, các quân lính đồng minh phỏng đoán một cách chính xác rằng QĐBV bây giờ phụ thuộc vào các phân bộ Lào thuộc Đường mòn Hồ Chí Minh của và hy vọng rằng một cuộc tấn công nhắm vào trung tâm phân phối hậu cần gần một ngôi làng Tchepone vắng vẻ, có thể đánh vỡ một cách chí tử các hoạt động của QĐBV. Mặc dù một hoạt động như thế thì đầy những khó khăn vốn xếp hàng từ địa hình gồ ghề đến các vấn đề lấy làm bực mình về tính hiệu quả mệnh lệnh của QĐVNCH, những kết quả của Cuộc xâm nhập Cam-pu-chia đề nghị rằng QĐBV sẽ không chống nổi cuộc tấn công theo cách đúng ý nghĩa. Tuy nhiên, QĐBV cũng đã nhận ra giá trị của hệ thống hậu cần ở Lào của nó và quyết tâm lần này đứng lên và chiến đấu.
Thật là mỉa mai đối với nhiều quan sát viên ở miền Nam Việt Nam rằng cuộc xâm nhập Lào đã không đến như là một cực điểm hợp lý của những thành công về quân sự của năm 1968, khi những người cộng sản đang sẵn sàng và trận chiến có thể đã được quyết định. Thay vào đó, chiến dịch đến chỉ sau khi vấn đề Việt Nam hóa Chiến tranh đã làm giảm sự hiện diện của quân lính Mỹ tại Việt Nam từ 10 sư đoàn đến 6, sau khi việc thông qua Tu chính án Cooper-Church(pc 03) vào tháng Sáu 1970 đã hạn chế những hoạt động của các lực lượng Hoa Kỳ đến những vùng ranh giới theo địa hình của miền Nam Việt Nam, và sau khi QĐBV(pc 02) ở Lào đã được ban cho thêm hai năm thời gian nữa để chuẩn bị chiến trường.

p199

Thay vì những quân lính của Hoa Kỳ và QĐVNCH tiến bước theo sát bước chân nhau ở đỉnh cao thành công về quân sự của họ, QĐVNCH(pc 01) đi một mình vào trong bẫy trận.

a- Việc lên kế hoạch :

Sự thúc đẩy cho Chiến dịch Lam Sơn 719 dường như đã đến từ Nhà Trắng, qua đó nhấn mạnh ý tưởng về một cuộc xâm lấn xuyên biên giới trên Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (BChHtrQsVN)(pc 04) sớm nhất là vào tháng Tám năm 1970. Đến tháng Mười Hai, một áp lực trên ông Abrams, vốn là người đã nhận ra những khó khăn cố hữu trong một chiến dịch như thế, tăng lên một cách đáng chú ý với việc nhận được những hướng dẫn từ Đô đốc John McCain, vị Tổng tư lệnh Chỉ huy Thái Bình Dương, mà qua đó cho biết: “Tôi nhận ra rằng chiến dịch này [vào trong Lào] có thể phơi bày nhiều vấn đề cho ông và Quân Lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH)… và yêu cầu rằng ông ngay lập tức bắt đầu có hành động cần thiết cho việc chuẩn bị kế hoạch này.”4
Vào đầu tháng Giêng năm 1971, ông Abrams gọi đến Trung tướng Cao Văn Viên, người đứng đầu Bộ Tham mưu Kết hợp miền Nam Việt Nam (i.e. được viết tắt là JGS), và đề nghị một chiến dịch vào trong phần hạ Lào. Ông Viên, vốn là người đã từ lâu là một người ủng hộ một chiến dịch như vậy, đã báo tin cho Tổng thống Thiệu. Một hiện thực không lay chuyển được hình thành một nền tảng cho phần quyết định cuối cùng của chế độ ông Thiệu ủng hộ một cuộc xâm lấn Lào; vào đầu năm 1971, sự hiện diện của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam vẫn đủ đáng kể để đưa ra sự hỗ trợ đầy ý nghĩa cho một chiến dịch quy mô lớn như vậy. Tuy nhiên, các nhà lập kế hoạch của QĐVNCH tin rằng, “Nếu cuộc tấn công được hoãn lại, sự hỗ trợ của Hoa Kỳ sẽ không còn được đầy đủ và có hiệu quả.”5 Bất kể những khó khăn gì hoặc những kết quả không hay như thế nào, nếu cuộc xâm lấn Lào không xảy ra vào năm 1971, nó không bao giờ sẽ là thế, bởi vì nhịp độ gia tăng của việc rút quân của Mỹ.
Cả những thất bại và thành công của Chiến dịch Lam Sơn 719 có thể được xem như là kết quả của kinh nghiệm chiến tranh bị phân hai của Hoa Kỳ / miền Nam Việt Nam. QĐVNCH vốn đã lên kế hoạch và tiến hành cuộc xâm lấn Lào vào năm 1971, chính thực là một lực lượng quân sự được tạo ra bởi những người Mỹ và được ghi nhớ mãi miền bởi những người miền Nam Việt Nam, một lực lượng quân sự được xây dựng một cách không hoàn hảo trên mô hình của Mỹ, không phải là một mô hình của miền Nam Việt Nam. QĐVNCH được đào tạo để hoạt động như là một thứ cấp cho nổ lực chiến tranh của Mỹ và như thế được sử dụng cho việc hoạt động trong các đơn vị nhỏ chống lại kẻ thù địa phương, trong khi những người Mỹ chiến đấu một “chiến tranh với đơn vị lớn.” Đó chính là một lực lượng quân sự mà qua đó đã trở thành phụ thuộc vào các vị cố vấn và hỏa lực mà họ cung cấp và qua đó chiến đấu lâu dài và tuyệt vời trong cuộc chiến tranh như những người Mỹ đã nhận định nó.

p200

Bất ngờ, tuy thế, QĐVNCH(pc 01) bắt tay vào thực hiện một chiến dịch nhiều sư đoàn trong trận chiến lớn nhất tuy chưa là một cuộc “chiến tranh với lớn đơn vị.” QĐVNCH quả thật có những sức mạnh to lớn vốn sẽ tỏa sáng xuyên qua trong một chiến dịch then chốt. Tuy nhiên, QĐVNCH cũng có những yếu điểm rõ ràng, mà qua đó nó đã chưa có thời gian và khuynh hướng để vượt qua — những yếu điểm vốn phản ảnh bản chất thiếu hoàn thiện của mối quan hệ hỗ tương hữu ích giữa Hoa Kỳ / miền Nam Nam Việt.
Vào giữa tháng Một, những đại diện của Bộ Tham mưu Kết hợp Việt Nam mang kế hoạch ban đầu của họ cho cuộc xâm nhập Lào đến Tướng Lãm (i.e. Trung tướng Hoàng Xuân Lãm) tại Quân đoàn I, mà qua đó chỉ còn lại ba tuần để chuẩn bị và lên kế hoạch cho một trọng trách lớn như vậy. Bởi vì sự mong muốn đạt được sự bí mật tối đa, QĐVNCH và ban lãnh đạo của Quân đoàn I đã làm tăng thêm những sai lầm bằng cách chờ đợi cho đến giờ phút cuối cùng như có thể để thông báo cho các đơn vị tham gia về những vai trò của họ trong cuộc xâm lấn. Sư đoàn Dù của miền Nam Việt Nam, được đề cử để đóng một vai trò quan trọng và phức tạp nhất trong cuộc cuộc tấn công quyết liệt vào ngôi làng Tchepone, nhận được sự hướng dẫn chi tiết từ Quân đoàn I chỉ vào ngày 2 tháng Hai, qua đó để lại cho nó gần như sáu ngày để tiến hành việc lên kế hoạch hoạt động sư đoàn của nó.6
Đối với QĐVNCH, sau khi đã phục vụ quá lâu như là một thứ cấp hỗ trợ cho cuộc chiến tranh của Mỹ, kinh nghiệm về việc lên kế hoạch cho một chiến dịch của những hoạt động lớn như vậy thì mới mẻ.7 Thêm vào đó, không phải là những người Mỹ hoặc những người miền Nam Việt Nam chứng tỏ có thể nhìn thấy một thực tế chiến lược xa hơn nhiều vốn đã là một phần của cuộc chiến tranh với những chiến thuật quá lâu dài và được truyền lại của họ mà qua đó đã chứng minh thành công trong việc miền Nam Việt Nam bước vào Lào, nơi mà họ có rất ít sự liên quan về hoạt động. Mặc dù các nhà hoạch định nhấn mạnh một cách đúng đắn về vấn đề tốc độ và bất ngờ, cuộc xâm lấn thì phụ thuộc thái quá vào đội hình của các căn cứ yểm trợ hỏa lực cố định, một yếu tố chủ yếu trong cuộc giao tranh ở miền Nam Việt Nam, những căn cứ vốn cả trói buộc bước tiến đáng kể của những lực lượng QĐVNCH(pc 01) và trở thành những mục tiêu thèm muốn cho những cuộc phản công của QĐBV. Quan trọng nhất là, việc lên kế hoạch của QĐVNCH dựa trên sự kỳ vọng tai hại rằng QĐBV sẽ phản ứng như nó đã từng ở Cam-pu-chia và không có sự phản kháng mạnh mẽ trên chiến trường.8 Vào lúc cuối, sau đó, việc lên kế hoạch cho Chiến dịch Lam Sơn 719 buộc phải vội vã, được dựa trên sự hiểu biết chưa hoàn toàn về chiến lược về tình hình, và phụ thuộc thái quá vào hành động của QĐBV. Theo những lời của Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh, trong biên niên sử của QĐVNCH về chiến dịch:

Việc lên kế hoạch và những chuẩn bị cho cuộc tấn công là một lãnh vực lớn khác mà qua đó cần đến sự cải thiện. Kế hoạch hoạt động cho Chiến dịch Lam Sơn 719 thì chỉ thích hợp miễn là chiến dịch tiến triển một cách thuận lợi và những lực lượng của QĐVNCH có thể nắm lấy thế chủ động.

p201

Đáng lý ra nó nên đưa những việc bất trắc xét vào trong sự xét đoán đầy đủ và có thể đáp ứng chúng bằng tài xoay xở.9

(Đoàn trực thăng đang chuẩn bị bốc lực lượng Binh chủng Dù
của QĐVNCH trong Chiến dịch Lam Sơn 719)

Giai đoạn I của kế hoạch Chiến dịch Lam Sơn 719 kêu đến những lực lượng Hoa Kỳ và các phần tử của Sư đoàn 1 QĐVNCH, trong cái gì đó được gọi như là Chiến dịch Dewey Canyon II, để mở Quốc lộ 9 đến biên giới Lào, chiếm đóng lại thung lũng Khe Sanh như là căn cứ cho những hoạt động tiền phương, giải tỏa những tuyến đường thông tin liên lạc, và thực hiện những di chuyển lệch hướng về phía thung lũng A Shau. Trong giai đoạn II, những phần tử của Sư đoàn Binh chủng Dù của miền Nam Việt Nam, được bổ sung bởi Lữ đoàn 1 Thiết kỵ của QĐVNCH, sẽ tiến xuống Quốc lộ 9 về hướng mục tiêu A Loui, gần nửa đường đến làng Tchepone. Những lực lượng Dù và Biệt động Quân (BĐQ) sẽ nhảy vào bằng trực thăng và giải tỏa các căn cứ hỏa lực và các bãi đáp ở phía bắc Quốc lộ 9, trong những khi tiểu đoàn của Trung đoàn 1 và 3 thuộc Sư đoàn 1 thực hiện một nhiệm vụ tương tự ở bình nguyên Co Roc ở phía nam nhằm bảo vệ những mặt hông của cuộc tấn công Bộ binh. Những đơn vị Dù và Thiết kỵ sẽ càn quét kế tiếp vào trong làng Tchepone và bóp nghẹt dòng chảy hậu cần của đối phương cho đến khi những cơn mưa đến vào đầu tháng Năm. Trong giai đoạn III, những phần tử của Sư đoàn 1 QĐVNCH sẽ đánh giạt về phía nam xuống Quốc lộ 914 và phá hủy trung tâm phân phối hậu cần chính của cộng sản ở Khu Căn cứ 611 trước khi quay trở lại vào trong miền Nam Việt Nam qua thung lũng A Shau. Nếu cuộc tấn công phức tạp và đầy tham vọng đạt được những mục tiêu của mình, nó sẽ làm tê liệt cấu trúc hậu cần của QĐBV và có khả năng làm trì hoản việc lên kế hoạch của QĐBV trong nhiều năm.10

(Chiến dịch Lam Sơn 719)

(← : trục tiến công của QĐVNCH
■ : Căn cứ yễm trợ hỏa lực; ● : Bãi đáp)

Địa hình của khu vực là một yếu tố chính gây ra hạn chế về phạm vi hoạt động của cuộc tấn công. Quốc lộ 9, con đường chính của cuộc tiến bước, nằm trong thung lũng thuộc sông Xepon với con sông ở ngay phía nam và dãy núi về phía bắc của nó, là một con đường đất một làn xe bị hư hỏng quá nặng bởi những tàn phá của chiến tranh đến nổi nó khó có thể vượt qua ở nhiều chỗ. Những lực lượng Bộ binh, tuy nhiên, sẽ bị giam hãm trong đường bởi đến gần con sông và dãy núi. Vì vậy, việc sửa chữa Quốc lộ 9 trở thành trung tâm cho sự thành công của chiến dịch. Những ngọn đồi nhô lên và thực vật dầy dặc làm hạn chế những hoạt động ở phía bắc của dòng sông Xepon. Về hướng nam, là vách đá đứng của Co Roc, một bình nguyên hình chữ nhật dài khoảng bốn cây số, và một đường chóp núi khác xa hơn về phía tây với một khu rừng già bị bao phủ bởi những đỉnh núi, chế ngự Quốc lộ 9 và lòng thung lũng. Tính chất thiên nhiên của quan cảnh như thế khiến cho hướng tiến bước của QĐVNCH(pc 01) có thể được tiên đoán rất là tai hại, vì QĐBV nhận ra rằng những lực lượng của miền Nam Việt Nam bắt buộc phải chiếm những ngọn đồi và núi đá dốc lởm chởm nổi bật cả mặt bắc và nam của dòng sông Xepon cho Chiến dịch Lam Sơn 719 có được cơ hội thành công.11

(Quốc lộ 9 vào Hạ Lào)

(Những con đường núi cheo leo phải được khai mở
cho đoàn Thiết kỵ của QĐVNCH)

p202

Lúc đầu, dường như cả anh Đính và anh Huế sẽ đóng vai chỉ như là những quan sát viên có lòng quan tâm khi Chiến dịch Lam Sơn 719 tiến hành quá trình diễn biến của nó.12 Đơn vị của Anh Đính, Trung đoàn 54 thuộc Sư đoàn 1 của QĐVNCH, vẫn còn được giao nhiệm vụ giữ an ninh những vùng đồng bằng ở phía nam thành phố Huế. Xa hơn về mặt bắc, nó rơi vào Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1 của QĐVNCH, bao gồm 2/2 (i.e. Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 2) của anh Huế, tiếp tục các hoạt động ngăn chận dọc theo Khu phi Quân sự (KpQs), trong khi lo liệu vấn đề an ninh cho Quốc lộ 9. Ngay cả mặc dù họ cách xa từ tâm điểm của chiến dịch, điều đó trở nên rõ ràng đối với cả hai người là bức màn bí mật mà qua đó thời gian của việc lên kế hoạch hoạt động đã buộc phải hy sinh, đã thất bại che phủ. Anh Đính cảm thấy lo lắng rằng những thường dân và cũng như các phóng viên, dường như mọi người trong Quân đoàn I, đang loan truyền về cuộc xâm nhập sắp xảy ra từ lâu trước khi ngày ước hẹn phát khởi của nó. Trong suốt những hoạt động ở Lào, những binh sĩ đối phương bị bắt giữ chứng thực nỗi lo sợ của anh Đính rằng QĐBV đã và đang chuẩn bị cho cuộc xâm lấn có tiềm năng của QĐVNCH nhắm vào làng Tchepone kể từ tháng Mười năm 1970 và như thế hầu như được chuẩn bị tốt hơn cho trận chiến sắp tới so với những kẻ thù QĐVNCH của họ.13

(Những chiến sĩ Biệt động Quân gan lì của QĐVNCH
trong Chiến dịch Lam Sơn 719)

Những sự ước tính của QĐVNCH về các lực lượng đối phương ở miền Nam Lào bao gồm ba trung đoàn bộ binh, một nhóm pháo binh và các đơn vị hậu cần Binh Trạm vốn tập trung số đông và thực hiện Đường mòn Hồ Chí Minh, một sức mạnh toàn thể của đối phương được tính là 22.000 người, được tạo nên từ 7.000 binh sĩ chiến đấu của QĐBV, 10.000 người thuộc về những đơn vị hậu cần, và 5.000 chiến binh từ Pathet Lào (những người đồng minh Lào của QĐBV). Những ước tính cũng cho rằng thêm 8 trung đoàn của QĐBV đủ gần đối với khu vực hầu tham gia trận chiến ở Nam Lào trong vòng hai tuần. Tuy nhiên, những ước tính về những lực lượng đối phương trong khu vực của cuộc xâm lấn chứng minh là quá thấp. Lịch sử của Bắc Việt về trận chiến đưa ra tranh luận rằng, vào tháng Hai, những lực lượng phòng thủ của QĐBV ở Nam Lào có con số 60.000 quân bao gồm 5 sư đoàn, 2 trung đoàn bộ binh riêng biệt, 8 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn công binh, 8 tiểu đoàn đặc công, 6 trung đoàn chống máy bay cộng với những đơn vị phục vụ phía sau và vận chuyển.14 Trong khi những con số của Bắc Việt nổi tiếng là không chính xác, rõ ràng rằng những ước tính của QĐVNCH(pc 01) về sức mạnh của QĐBV và niềm hy vọng của Đồng minh đồng thời rằng những đơn vị của đối phương sẽ rút lui trong sự đối mặt của trận chiến, bị sai lầm một cách nghiêm trọng. Trong vùng rừng rú nhiệt đới núi non mà họ đã chiếm đóng và chuẩn bị trong nhiều năm, QĐBV, đông đảo, đang chờ đợi, và được chuẩn bị kỹ, bám giữ gần như mọi lợi thế chống lại các lực lượng của QĐVNCH, vốn đang và sẽ chiến đấu cho nhóm của họ.
Khiến cho công việc của QĐVNCH ở Lào thậm chí phức tạp hơn là sự kiện thực tế mà

p203

Tu chính án Cooper-Church(pc 03) cũng cấm sự tham gia các các vị cố vấn Hoa Kỳ trong các hoạt động bên ngoài những vùng ranh giới theo địa hình của miền Nam Việt Nam, vốn có nghĩa là những lực lượng QĐVNCH sẽ đi đến trận chiến mà không có tác động trung gian của hỏa lực Mỹ mà qua đó họ đã từng phụ thuộc vào quá lâu. Nhận thấy khó thể tránh khỏi, như là một phần của quá trình Việt Nam Chiến tranh hóa rộng lớn hơn, các vị cố vấn Mỹ và Úc đã bắt đầu cho những đối tác của họ những bài học trong việc kêu gọi sự hỗ trợ hỏa lực bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, những bài học thì may rủi, và hầu hết các vị cố vấn tin rằng những đối tác của họ thiếu cả về kỹ năng ngôn ngữ cơ bản và tiếng lóng về kỹ thuật vốn đòi hỏi có tác động và dễ hiểu đối với các phi công trong thế giới có nhịp độ nhanh, làm thoát-gan-ướt-thận của sự hỗ trợ không lực tác chiến,15 đó là một điểm yếu vốn sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong những biến cố sắp tới.

(Căn cứ Không quân Long Tieng của Hoa Kỳ bên Lào không được
phép hoạt động trong việc yễm trợ Chiến dịch Lam Sơn 719)

(Những phi cơ chiến đấu F5 nầy thuộc Sư đoàn Không quân 372 của Hoa Kỳ ở Căn cứ Không quân Biên Hòa cũng nằm im theo quyết định của Tu chính án Cooper-Church của Hoa Kỳ)

b- Cuộc xâm nhập :

Giai đoạn sơ bộ của chiến dịch này đang diễn tiến vào ngày 30 Giêng, khi những nhóm dẫn đầu của Lữ đoàn 1, Sư đoàn 5 Bộ binh Hoa Kỳ tấn công phía tây từ Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực (CcHtHl) Vandegrift dọc theo quốc lộ 9. Chống lại chỉ là sự đề kháng lẻ tẻ của QĐBV, đến ngày 3 tháng Hai, những lực lượng Hoa Kỳ đã mở trở lại Khe Sanh như là một căn cứ tiền phương, đẩy mạnh đến biên giới Lào, và thực hiện những bước di chuyển nghi binh theo kế hoạch của họ về hướng làng A Shau. Kế tiếp, trong suốt giai đoạn khai triển trước cuộc xâm nhập, việc lựa chọn các đơn vị của Quân đoàn I QĐVNCH, bao gồm Lữ đoàn 1 Thiết kỵ, Nhóm BĐQ(pc 09) 1, 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 1 QĐVNCH, và 2 tiểu đoàn Công binh, cùng với Sư đoàn Dù của miền Việt Nam và Lữ đoàn 258 Thủy quân Lục chiến (TQLC), mở đường đến khu vực biên giới trong việc chuẩn bị cho những vai trò của họ trong cuộc xâm nhập.16 Những lực lượng của QĐVNCH(pc 01) và Hoa Kỳ tiến hành Giai đoạn I của Chiến dịch Lam Sơn 719 với nhiều thành công và chống lại chỉ là sự đối kháng tối thiểu, qua đó cho phép niềm hy vọng xa hơn rằng chiến dịch vượt biên giới sắp đến sẽ gây ngạc nhiên cho QĐBV(pc 02) và vượt qua ý chí chống lại của nó.
Trong những giờ đầu của ngày 8 tháng Hai năm 1971, mười một phi vụ của phi cơ oanh kích B-52 công bố cuộc xâm nhập Lào của QĐVNCH. Được hỗ trợ bởi các cuộc không kích và sự chuẩn bị của pháo binh, vào lúc 1000 giờ Phân đội 2 thuộc Đạo quân Thiêt kỵ 17 vượt qua biên giới với các chiến sĩ QĐVNCH, niềm hân hoan sau rất nhiều ngày chờ đợi, vẫy tay chào các phóng viên từ trên đỉnh những xe bọc thép của họ. Cuối cùng, sự đẩy mạnh của mặt đất bao gồm Lữ đoàn 1 Thiêt kỵ (thuộc Đạo quân Thiêt kỵ 11 và 17), được tăng cường bởi các Tiểu đoàn Dù 1 và 8, mà qua đó sẽ cung cấp sự che chở

p204

trong khi Tiểu đoàn Công binh Tác chiến 101 và một trung đội những xe ủi đất phục hồi lại con đường có làn đường duy nhất vốn sẽ phục vụ như là huyết mạch của QĐVNCH. Phía trước đội quân và trên những sườn núi ở phía bắc và phía nam, trực thăng vũ trang cung cấp sự che chở bằng cách tấn công những vị trí phòng thủ của QĐBV.17

(Lữ đoàn 1 Thiêt kỵ của QĐVNCH trên đường vượt biên giới vào Lào)

Về phía bắc của cuộc tiến bước bằng đường bộ, không lực của Tiểu đoàn 2 Dù tấn công vào trong khu Bãi đáp 30, khoảng mười cây số về phía bắc của Quốc lộ 9, trong khi Tiểu đoàn 3 Dù chiếm giữ Bãi đáp 31, nhằm cung cấp sự hỗ trợ bên sườn. Vẫn còn xa hơn về phía bắc, không lực của Tiểu đoàn 21 BĐQ tấn công vào trong khu vực gần nơi gì đó cuối cùng trở thành khu Nam Biệt động Quân. Về phía nam Quốc lộ 9, Tiểu đoàn 4/3(pc 05) Bộ Binh chiếm giữ Bãi đáp Hotel, qua đó chế ngự vách đá đứng Co Roc, trong khi, bốn cây số xa hơn về phía nam, 1/3 và 2/3(pc 05) (đơn vị cũ anh Đính) thành lập chính mình chống lại sự đề kháng không đồng nhất của QĐBV gần Bãi đáp Blue. Mặc dù đối với những lực lượng của QĐVNCH đang tấn công bên sườn bắc và nam đã đạt được tất cả trong số các mục tiêu trong những cố gắng của họ nhằm bảo vệ cuộc tiến bước bằng đường bộ, Lực lượng Đặc nhiệm Thiết kỵ bị trì hoãn bởi tình trạng tồi tàn của con đường và đến cuối ngày đã tiến bước được chín cây số ít ỏi.

(Những chiến sĩ Dù can trường của QĐVNCH
trong Chiến dịch Lam Sơn 719)

(Những Căn cứ Hỏa lực và Bãi đáp của QĐVNCH ở phía bắc Quốc lộ 9)

Vào ngày thứ hai của chiến dịch, thời tiết khắc nghiệt bắt đầu, qua đó ngăn cấm các cuộc không kích xa hơn nữa và cản trở những việc sửa chữa rất quan trọng cho Quốc lộ 9. Vào ngày 10 tháng Hai, thời tiết được cải thiện và cho phép cuộc tấn công tiếp tục. Ở mặt bắc, những Dù làm việc để nắm chắc những gặt hái của họ và tìm kiếm những nơi tập trung quân binh của đối phương. Thật đáng ngại là, có lẽ, cuộc chạm súng với QĐBV vẫn còn nhẹ, qua đó khiến một số người tin rằng kẻ thù đang bảo vệ những tài sản của mình và đang tập hợp những lực lượng của mình cho một cuộc phản công lớn.18 Về phía nam, Sư đoàn 1 của QĐVNCH mở rộng khu vực hoạt động của mình xa hơn về phía tây, với Tiểu đoàn 4 Bộ binh 1 (i.e. 4/1) chiếm giữ Bãi đáp Delta, khoảng mười cây số về phía tây của Bãi đáp Hotel. Thành công lớn nhất trong ngày, tuy thế, rơi vào nhóm công kích của Bộ binh. Đến đầu giờ chiều tối, đội quân thiết kỵ nhập vào với Tiểu đoàn 9 Dù mà qua đó có không lực công kích vào trong mục tiêu A Loui tại một ngã ba đường rất quan trọng cách 20 km vào bên trong Lào và khoảng nửa đường đến mục tiêu cuối cùng của làng Tchepone. Mặc dù bước tiến quân đã chậm trễ so với lịch trình trù hoạch, những mất mát vẫn còn nhẹ, và sức mạnh của QĐVNCH ở Lào đã lên đến 7.500 người. Tuy nhiên, một ngày nọ cũng đã chứng kiến sự thảm họa. Một trực thăng của Không lực Việt Nam trên đường đến khu Nam Biệt động Quân đã bị bắn hạ, giết chết G3 và G4, là kế hoạch trưởng và hậu cần trưởng của Quân đoàn I,

p205

vốn là những người mang những bản sao của kế hoạch cho chiến dịch –những kế hoạch mà bây giờ xem như đã rơi vào trong tay kẻ thù.

(Dường như chỉ còn có những chiếc trực thăng chuyển quân
của QĐVNCH yễm trợ)

(Trong khi đó những chiến trực thăng chiến đấu “Rắn Hổ Mang”
của Hoa Kỳ thì… đành nằm ụ)

Trong một ít ngày tới, những quân lính của QĐVNCH(pc 01) dàn trận ra trên cả hai bên hông trong việc tìm kiếm những kho dự trữ tiếp tế của QĐBV và làm việc để tăng cường tư thế phòng thủ của họ. Vào cùng lúc đó, những quân tiếp viện tiếp tục đến khắp khu vực chiến dịch, và sức mạnh của QĐVNCH cuối cùng đạt đến một tổng số 10.000 người và bao gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn BĐQ, 2 tiểu đoàn pháo binh, và 1 tiểu đoàn công binh. Mặc dù việc tìm kiếm những nguồn tiếp tế đánh bắt được một số thành công đáng chú ý, đặc biệt là ở phía nam, thảm họa lờ mờ hiện ra, tại A Loui, mặc dù phải đối mặt với sự đề kháng tối thiểu, cuộc tiến bước bằng đường bộ rất quan trọng đã lảo đảo dừng lại một cách không thể giải thích được, và, theo những lời của nhà sử gia thuộc Không lực Hoa Kỳ về chiến dịch, “Cuộc tấn công quyết liệt của QĐVNCH vào làng Tchepone tạm thời bị mất đà về phía tây của nó khi các đơn vị tìm kiếm những kho dự trữ lúc ban ngày và phòng thủ các căn cứ yểm trợ hỏa lực của họ vào ban đêm.”19
Việc dừng lại tại A Loui là một thất bại không thể tha thứ được trong vấn đề chỉ huy. Niềm hy vọng duy nhất cho những lực lượng của QĐVNCH, bị vượt hơn số đông một cách xa lơ và lọt sâu trong lãnh thổ địch chiếm giữ, là để duy trì thế chủ động qua tốc độ di chuyển. Tuy nhiên, bước tiến của QĐVNCH bị đình trệ, với mệnh lệnh của chính Tổng thống Thiệu bởi vì sự ham muốn được thúc đẩy theo chính trị của mình hầu giữ những thương vong thấp trong số các lực lượng Dù trung thành của ông ta. Cảm thấy thất vọng mãnh liệt bởi sự chậm trễ, ông Abrams nổi giận với Tướng Viên và Tướng Lãm vì muốn những lực lượng của họ di chuyển về phía trước một cách nhanh chóng để tránh việc cho “kẻ thù cả thời gian và cơ hội sắp xếp phản ứng của mình theo một cách hiệu quả hơn.”20 Sau gần một tuần lưỡng lự, Tướng Lãm cuối cùng quyết định ra lệnh Sư đoàn 1 của QĐVNCH di chuyển ra ngoài để thành lập các căn cứ yễm trợ hỏa lực xa hơn về phía tây dọc theo bờ phía nam của dòng sông Xepon để che chở cho cuộc di chuyển theo đường bộ của Binh chủng Dù (BCD) và Thiết kỵ mới hồi phục về hướng làng Tchepone, một quá trình được dự trù mất năm ngày. Tuy nhiên, cơ hội của QĐVNCH đã trôi qua.

(Những chiến sĩ Bộ binh gian khổ của QĐVNCH dường như đang
tự hỏi về cách hành xử quá khó hiểu và bất ngờ của
những người Hoa Kỳ từng được gọi là đồng minh của mình)

Những lực lượng của QĐBV cố gắng một quá trình tăng viện nhanh chóng và tập trung sức mạnh của họ gần các căn cứ hỏa lực tĩnh động và như thế dễ bị tổn thương của QĐVNCH về phía bắc và nam của Quốc lộ 9. Phần lớn Quân đoàn 70B của QĐBV, được tạo nên gồm những sư đoàn 308, 304, và 320, được tăng thêm bởi một trung đoàn xe tăng, tập hợp ở phía bắc Quốc lộ 9 gần những căn cứ của BCD(pc 08) và BĐQ(pc 09) của QĐVNCH. Một số lực lượng cộng sản ít hơn tập hợp ở phía nam, nơi Sư đoàn 2 của QĐVNCH, cuối cùng được gia nhập vào bởi của Sư đoàn 324B, gây áp lực trên những hỏa lực của Sư đoàn 1 QĐVNCH. Viễn ảnh về việc đối mặt với những số lượng đang phát triển hơn bao giờ hết của đối phương dường như là một cơ hội đối với BChHtrQsVN,(pc 04)

p206

một cơ hội cho một chiến thắng nghiền nát. Trong một cuộc họp chi tiết về hoạt động vào giữa tháng Hai, ông Abrams nghe nói rằng “ý nghĩa thực sự của Chiến dịch Lam Sơn đó… là kẻ thù đã bỏ vào mọi thứ, hoặc đang trên đường, mà hắn có… Vì vậy, nếu họ bị tổn thương, họ sẽ bị đánh bại trong một thời gian dài.”21 Điều đó vẫn còn phải chờ xem liệu QĐVNCH có bị ngập đầu với nhiệm vụ.

(Bộ binh và Thiết kỵ của QĐVNCH đang tiến vào Lào)

c- Cuộc phản công của Quân đội Bắc Việt :

Vào ngày 17 tháng Hai, sau khi mất một tuần của thời gian quý báu kể từ khi việc tạm dừng tại A Loui, thời tiết xấu cản trở những cố gắng đổi mới của QĐVNCH(pc 01) để tiến bước, ngay cả khi QĐBV phản công những căn cứ yễm trợ hỏa lực cô lập hơn của QĐVNCH. Sau khi khiến cho những vị trí phơi lộ của Tiểu đoàn 39 BĐQ(pc 09)

p207

trải qua một hàng rào pháo binh trừng phạt, đa số những tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 308 của QĐBV phát động một cuộc tấn công trên bộ vào khu Bắc Biệt động Quân. Thật là đáng ngại, các lực lượng tấn công khá rõ ràng là những bộ đội mới đến từ miền Bắc Việt Nam, mang theo những vũ khí mới và mặc y phục còn mới tinh. Nhiều nơi trong số những tiền đồn phòng thủ của QĐVNCH xung quanh đã sụp đổ một cách mau chóng, nhưng, với trợ giúp của sự yễm trợ không quân Hoa Kỳ đáng kể, khu Bắc Biệt động Quân trong giây lát đã tổ chức cuộc chiến đấu xáp-lá-cà. Đến chiều tối ngày 20 tháng Hai, tuy thế, cuộc chạm trán bị mất với vị chỉ huy Tiểu đoàn 39 BĐQ khi những lực lượng QĐBV được tập trung đông đảo đổ vào vành đai của QĐVNCH. Buộc phải từ bỏ những vị trí của họ, những người phòng thủ còn sống sót làm một cuộc hành trình đau đớn qua những phòng tuyến của đối phương để nhập vào Tiểu đoàn 21 BĐQ ở khu Nam Biệt động Quân. Những chiến sĩ ở khu Bắc Biệt động Quân đã chiến đấu một cách dũng cảm và tuyệt vời trong sự đối mặt với tình hình không may đang áp đảo. Những kết quả của cuộc chiến đấu thì nghiệt ngã, với Tiểu đoàn 39 BĐQ đang bị làm cho mất hiệu lực chiến đấu, sau khi phải gánh chịu với 178 người bị thiệt mạng và 145 người bị thương, qua đó chỉ để lại 100 người có khả năng tiếp tục cuộc chiến đấu –cái giá nhân mạng của một kế hoạch đã không như ý mong đợi. Những quân lính BĐQ, tuy thế, đã lấy đi một phần lớn đáng sợ trên QĐBV những kẻ hành hạ của họ, qua việc hạ được một số lượng 639 kẻ thù theo ước tính bị thiệt mạng trong nhiệm vụ.
Khi những cuộc giao tranh hỏa lực diễn ra ác liệt xung quanh khu Bắc Biệt động Quân, Tổng thống Thiệu đến thăm Quân đoàn I và biết được về tình hình đang trở nên tồi tệ. Trong sự hiện diện của những vị chỉ huy sư đoàn của QĐVNCH, ông Thiệu khuyên nhủ sự thận trọng đến Tướng Lãm và đề nghị rằng cuộc di chuyển phía tây về hướng làng Tchepone thêm một lần nữa nên chờ đợi nhằm cho phép việc mở rộng các hoạt động thăm dò đến phía tây nam vào trong khu căn cứ 611 của QĐBV. Kết quả là, cái gì đó đã từng được mang ý nghĩa như là một chiến dịch nhanh như chớp vốn sẽ chiếm lấy và giữ thế chủ động xa hơn nữa, đã bị trì trệ và trở thành một cuộc chiến đấu quyết liệt làm hao mòn sinh lực, là một cái gì đó mà QĐVNCH chưa được chuẩn bị trước.

(Những chiến sĩ của miền Nam Việt Nam đang dò xét một khu
vực đường mòn ở Lào trong suốt Chiến dịch Lam Sơn 719)

Trong ba ngày tới, trong suốt sự tạm lắng trong cuộc giao tranh, khi QĐBV thay đổi vị trí những lực lượng của nó, những nhóm khác nhau của Sư đoàn 1 QĐVNCH, vốn đã được qua khỏi cảnh tồi tệ nhất của cuộc tàn sát, tiếp tục di chuyển về phía nam và tây, mở ra Bãi đáp Brown và CcHtHl(pc 06) Delta I, trong việc tìm kiếm những kho đạn tiếp tế và các đường ống dẫn dầu của QĐBV. Cơn bão, tuy thế, đã phá vỡ một lần nữa vào ngày 25 tháng Hai khi những lực lượng QĐBV phát động một cuộc tổng tấn công chống lại những vị trí của QĐVNCH trên khắp khu vực hoạt động. Ở phía nam, các cuộc công kích của QĐBV tập trung vào CcHtHl Hotel II và chiếm quyền ưu tiên cho những cuộc càn quét xa hơn và những cuộc di chuyển quân binh trong khu vực gần Sư đoàn 1 của QĐVNCH. Tuy nhiên, QĐBV một lần nữa tập trung những cố gắng mãnh liệt nhất của nó ở phía bắc,

p208

trong một cố gắng để xây đấp nên những thành công trước đó của nó. Nhận thấy rằng khu Nam Biệt động Quân bị cô lập và dễ bị tổn thương, Tướng Lãm làm quyết định khó khăn hầu di tản khỏi căn cứ dưới hỏa lực. Với sự hỗ trợ bên mặt sườn được cung cấp bởi những quân lính BĐQ(pc 09) đi trước, BCD(pc 08) của QĐVNCH tại CcHtHl 30 và 31 bấy giờ phải đối mặt với mũi giùi của cuộc của cuộc tấn công tàn khốc của QĐBV.(pc 02)
Những lực lượng của QĐBV di chuyển vào gần như họ có thể, đến cả hai căn cứ, nhằm làm vô hiệu hóa việc sử dụng sức mạnh không quân của Mỹ và lẫn sử dụng những vũ khí phòng không của riêng của họ nhằm cắt đứt các căn cứ của QĐVNCH(pc 01) khỏi cuộc tái tiếp tế bằng trực thăng. Lúc 1100 giờ vào ngày 25 tháng Hai, hỏa lực pháo binh của QĐBV trút như mưa xuống vào CcHtHl(pc 06) 31, trong khi những chiếc trực thăng và máy bay có cánh cố định của Hoa Kỳ vội vã cất cánh để tìm vị trí và ngăn chận những loạt oanh tạc. Điều đó mau chóng trở nên rõ ràng rằng, tuy thế, CcHtHl 31 đã hoàn toàn bị bao vây bởi một lực lượng kẻ thù đông đảo, một lực lượng mà trong lần đầu tiên có cả xe tăng. Vào khoảnh khắc rất quan trọng khi cuộc tấn công trên bộ của QĐBV bắt đầu lăn về phía trước, hỏa lực phòng không đánh trúng một phi cơ chiến đấu F-4 của Hoa Kỳ và buộc người phi công bắn ra ngoài. Theo sau phương thức tiêu chuẩn, một nhân viên kiểm soát không lưu tiền phương(pc 07) của Mỹ trên hiện trường chuyển sự chú ý của mình đến việc giải cứu người phi công bị bắn rơi, qua đó bỏ lại không một che chở không lực nào cho những người phòng thủ bị bao vây của CcHtHl 31 trong lúc cần đến nhiều nhất.

(Một nhân viên kiểm soát không lưu tiền phương của Hoa Kỳ)

Sau khi nhận ra được tính chất nghiêm trọng của tình hình, Tướng Lãm ra lệnh đoàn Thiết kỵ gần đó, vẫn đang mòn mỏi chờ đợi trong khu vực xung quanh A Loui, để bắt đầu cuộc di chuyển băng đồng trong một cố gắng làm giảm áp lực trên CcHtHl 31. Ngay cả một mệnh lệnh đơn giản như thế, tuy thế, có những khó khăn tìm đường xuyên qua hệ thống chỉ huy rối loạn chức năng của QĐVNCH. Đoàn Thiết kỵ thì dưới quyền kiểm soát của Trung tướng Dư Quốc Đống, là vị chỉ huy của Sư đoàn Dù, vốn là người ngang với Tướng Lãm trong cấp bậc và là người đã không hài lòng khi tìm thấy chính mình trực thuộc vào ông Lãm cho các hoạt động tại Lào. Một người bạn bền vững của Tổng thống Thiệu, Tướng Đống thậm chí không hạ mình tham dự những cuộc họp chi tiết về hoạt động của Quân đoàn I trong suốt chiến dịch. Bằng một cách miễn cưỡng, Tướng Đống ban đầu chỉ thị Đại tá Luật, trong quyền chỉ huy Lữ đoàn 1 Thiết kỵ, tuân theo những mong ước của ông Lãm, và những chiếc xe tăng và những thiết vận xa thuộc Đạo quân Thiết kỵ 17 chạy ầm ầm một cách chậm chạp về hướng bắc, chỉ gặp một ổ phục kích của QĐBV. Mặc dù cuộc giao tranh mảnh liệt, với QĐVNCH mất hai xe tăng và một thiết vận xa, Tướng Lãm chỉ thị đoàn Thiết kỵ tiếp tục sứ mệnh cứu trợ của nó. Từ Tổng hành dinh của riêng mình, tuy thế, Tướng Đống ra lệnh đoàn Thiết kỵ vẫn ở tại chỗ, một khoảng ngắn 1.800 mét từ mục tiêu của nó. Sự phân rã quyền chỉ huy niêm phong số phận của những người phòng thủ của CcHtHl 31; theo những lời của sử gia Keith Nolan:

p209

Tiểu đoàn 3 Dù thì thực sự đơn độc trong cuộc giao chiến của họ chống lại một chiếc xe tăng và cuộc công kích của bộ binh có phối hợp chặt chẽ, Không lực Hoa Kỳ Mỹ đã bỏ rơi họ cho những người đồng hướng của riêng họ, đoàn thiết kỵ của QĐVNCH đã tạm dừng tại chỗ để chờ xem. Chiếc máy bay duy nhất trên Ngọn đồi 31 là chiếc trực thăng với nhiều vị cố vấn của BCD trên đó. Nó chúi xuống để bắn đại liên M-60 một cách thiếu hiệu quả chống lại cuộc tấn công đang dâng lên như sóng.22

(M113 là một trong những Thiết vận Xa (APCs) có xích
thông dụng nhất trong suốt Chiến tranh Việt Nam)

(Những chiếc xe tăng của QĐVNCH đang phòng thủ cho đoàn xe Bộ binh)

Sau khi lợi dụng sự biến mất của sức mạnh Không quân Hoa Kỳ, QĐBV xiết vào ở ba mặt, xe thiết giáp từ phía đông bắc và bộ binh từ tây bắc và nam. Đến đầu giờ chiều tối, thiết giáp của QĐBV xâm nhập những nơi phòng thủ của căn cứ, và BCD của QĐVNCH đáp trả bằng hỏa lực súng nhỏ và những phi đạn của vũ khí chống xe tăng loại nhẹ, qua đó gây ra một tổng số thiệt hại đáng sợ trên những kẻ tấn công. Tuy nhiên, bộ binh đối phương chẳng bao lâu áp đảo những người phòng thủ và di chuyển thành đàn qua những chiến hào của QĐVNCH,23 và vị chỉ huy pháo binh của Tiểu đoàn 21 Dù gởi đi một thông điệp cuối cùng gọi đến hỏa lực trực tiếp vào vị trí của mình, khi QĐBV đào vào trong nóc hầm của ông ta. Ở giữa sự lẫn lộn, một số lính Dù tìm cách phá ra khỏi vòng vây và di chuyển về phía nam để liên kết với lực lượng thiết giáp bị buộc đứng yên, nhưng một tổng số của 135 chiến sĩ của QĐVNCH bị giết hoặc bị bắt giữ, và một căn cứ hỗ trợ rất quan trọng khác đã rơi vào đối phương. Một lần nữa, những chiến sĩ của QĐVNCH đã chiến đấu một cách dũng cảm và tuyệt vời, qua việc gây thiệt hại cho 250 người thiệt mạng trong nhiệm vụ trên QĐBV, mà qua đó cũng mất 11 xe tăng trong cuộc chiến đấu khốc liệt, một cuộc chiến đấu trong một tình huống chiến lược được tạo nên vô cùng tồi tệ hơn bởi những yếu điểm về quyền chỉ huy vốn đã một lần bị che khuất bởi vai trò thông thường của QĐVNCH như là một vị thuốc trợ lực cho chiến tranh của Mỹ nhưng qua đó hình thành một cứu cánh hoàn toàn khi ban lãnh đạo của QĐVNCH đấu tranh để đi đến những sự thấu hiểu về cuộc chiến tranh với đơn vị lớn.

d- Cuộc chiến đấu đơn độc :

Như là vị Tư lệnh Quân đoàn I, Tướng Lãm là một chính trị gia hạng nhất nhưng là một nhà lãnh đạo chiến đấu không có khả năng thích hợp. Niềm nở, vui tính, và quá say mê môn quần vợt đến nổi ông ta thậm chí nghĩ xả hơi ở giữa trận chiến cho các trận đấu banh buổi chiều của mình, Tướng Lãm dành ít thời gian ở các khu vực chỉ huy tiền phương và dùng quyền kiểm soát chiến thuật ít đúng đắn trên các biến cố ở Lào.24 Tướng Lãm thích thú những ràng buộc chính trị chặt chẽ với Tổng thống Thiệu, và hai người đàn ông thường làm việc với nhau trong việc đưa ra các quyết định cho chiến trường liên hệ đến Chiến dịch Lam Sơn 719, những quyết định được liên kết một cách chặt chẽ hơn với những cân nhắc mang tính chất chính trị ở cấp tổng thống hơn là những hiện thực của sự kiện vốn đương đầu với những quân lính ở Lào.25

p210

Quân đoàn I cũng chịu khốn khổ từ những thiếu sót về chiến thuật được sinh ra từ những thực tế của việc từng đã bị đẩy sang một bên như là một phần của cuộc chiến tranh của Mỹ trong một thời gian quá lâu. Đại tá Ray Batterall, vốn là người làm việc với QĐVNCH tại Quân đoàn I Xung phong tại Khe Sanh, lưu ý rằng chưa bao giờ trước đây, Quân đoàn I đã làm việc như là một đơn vị đồng nhất. Hơn nữa, với một số lượng lớn của các lực lượng của mình được trải ra trên khắp vùng nông thôn trong việc hỗ trợ công cuộc bình định theo một cách đáng nhớ trong lịch sử, Tướng Lãm và những cấp dưới của mình đã từng trong quá khứ chỉ giải quyết với các vấn đề hậu cần và hành chánh và đã để lại việc lên kế hoạch chiến lược cho những người Mỹ. Thiếu kinh nghiệm, kế đó, trong việc lên kế hoạch cho chiến trường, Tướng Lãm, trù liệu trước cho cuộc xâm nhập vào Lào, phải đối mặt với một “cuộc bày binh bố trận gần như không thể vượt qua của những thách thức mới.” Ông Batterall kết luận rằng Tổng hành dinh của quân đoàn thì thiếu hụt trong tất cả các khu vực và thậm chí không thực sự hiểu được “những trách nhiệm vốn gắn liền với sự gắn bó kèm theo, những khác biệt giữa một vùng hoạt động và một mũi tiến công, hoặc ý nghĩa đầy đủ của từ ngữ ‘giải toả an ninh.’ “26 Nếu những vấn đề khó khăn này thì chưa đủ, sự mất mát của G3 và G4 thuộc Quân đoàn I, là kế hoạch trưởng và hậu cần trưởng cho cuộc tấn công, quá sớm trong trận chiến chỉ làm rối tình hình chiến thuật thậm chí xa hơn nữa và làm tê liệt khả năng của Quân đoàn I và những đơn vị phụ thuộc của nó hầu phản ứng với tình hình đang thay đổi nhanh chóng và khó khăn. Quyền chỉ huy và quyền kiểm soát đôi khi bị suy sụp hoàn toàn, và, theo những lời của Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh của QĐVNCH, “Trong suốt chiến dịch, có nhiều thí dụ mà qua đó những vị Tư lệnh sư đoàn mất đi quyền kiểm soát những đơn vị của mình. Ngay cả vị Tư lệnh Quân đoàn I đôi khi không biết những biến cố to lớn gây ảnh hưởng đến những sư đoàn của mình.”27
Ngoài sự thiếu kinh nghiệm chiến thuật, những bộ máy chính trị của hàng ngũ cấp trên của quyền chỉ huy trong QĐVNCH,(pc 01) từ việc can thiệp vào về phần của Tổng thống Thiệu đến tính nóng nảy về phần của những vị Tư lệnh cấp dưới, là một nguồn tin làm ngớ ngẩn đối với các nhà quan sát Mỹ. Ông Tom Jaco, vốn là người chứng kiến những sự kiện từ vị trí mới của mình như là vị cố vấn Phó tại Quân đoàn I Xung phong ở Khe Sanh, đã bị sửng sốt khi tìm thấy một tình hình với “thói hay vận động ngầm về chính trị nhiều hơn bạn có thể từng tưởng tượng.” Khi đoàn Thiết kỵ ngồi ở một chỗ “mà không hiểu tại sao” và TQLC(pc 10) Việt Nam sau đó hành động một cách dũng cảm nhưng độc lập, ông Jaco quan sát trong sự kinh hải như khi “quyền chỉ huy và quyền kiểm soát bị tan vỡ,” qua sự hy sinh những sinh mạng của các chiến sĩ dũng cảm của QĐVNCH cho cuộc đấu tranh nội bộ phi lý và mang tính chất chính trị.28
Đối với những thành viên của QĐVNCH, sự thất bại của cấu trúc chỉ huy trong suốt Chiến dịch Lam Sơn 719 có những ẩn ý gây ra sự tàn phá. Trong một nghiên cứu về chiến dịch sau chiến tranh, Thiếu tướng Hinh phản ảnh:

p211

Vấn đề quan trọng nhất cần được giải quyết là sự bất phục tùng về phần của những vị chỉ huy đơn vị dự bị chung chung vốn là những người giống như nhiều vị tướng tự coi mình là những trụ cột của chế độ. Vị Tư lệnh Quân đoàn I dường như cúi đầu trước những quyền lực chính trị của những vị tướng nầy và điều này gây ảnh hưởng một cách bất lợi đến sự tiến hành hoạt động của mình. Thái độ bất phục tùng của những vị chỉ huy Sư đoàn TQLC(pc 10) và BCD(pc 08) thì thực sự không thể tha thứ trong đó họ tự đặt mình trên lợi ích quốc gia và để cho niềm tự hào cá nhân của họ dự vào nhiệm vụ đánh bại kẻ thù. Đối với một chiến dịch đi đến thành công như được kế hoạch, vấn đề của quyền chỉ huy hiệu quả phải được giải quyết một cách thỏa đáng trên mọi thứ khác bởi vì nó ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa những nhân viên thừa hành và quyền kiểm soát chính bản thân chiến dịch. Ít nhất, vị Tư lệnh Quân đoàn I đáng lý ra cần được ban cho thẩm quyền để yêu cầu rằng những mệnh lệnh của mình được tiến hành một cách nghiêm chỉnh.29

Sức mạnh của Không quân Hoa Kỳ thì rất quan trọng đối với những thành công đạt được trong suốt Chiến dịch Lam Sơn 719. Chính là những hành động của các phi công trực thăng Hoa Kỳ, vốn là những người bất chấp cái địa ngục chết chóc cá nhân của riêng họ trong một loạt tiếp nối những sứ mệnh vào trong và ra khỏi những căn cứ bị đánh phá của QĐVNCH trong khi phải đối mặt với hỏa lực liên tục của đối phương, qua đó khiến cho hoạt động của QĐVNCH và sự sống sót của chính những chiến sĩ QĐVNCH có thể có được. Thêm vào đó, trong suốt hoạt động xuyên biên giới, những chiếc máy bay thả bom B-52 đã bay một số khoảng 1.280 phi vụ, vào khoảng 30 lần một ngày trong mỗi ngày cho cả giai đoạn, trong khi máy bay chiến thuật bay hơn 8.000 tổng số những phi vụ tấn công.30 Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào sự hỗ trợ của không quân Hoa Kỳ có những mặt không thuận lợi sâu sắc, như là, theo ý kiến của Tướng Hinh, QĐVNCH trở nên quá phụ thuộc vào hỏa lực Mỹ:
Một sự thiếu sót khác của những đơn vị của QĐVNCH ở những cấp tiểu đoàn và thấp hơn là sự thất bại điều động của họ khi được tham gia. Sau lần chạm súng đầu tiên, họ có khuynh hướng dừng lại và chờ đợi cho sự hỗ trợ chứ hơn là tiến hành những cuộc thăm dò và điều động tấn công hoặc xáp gần vào kẻ thù. Điều thiếu sót này cho thấy một nhu cầu cho việc huấn luyện bổ sung cho những người dẫn đầu các đơn vị nhỏ.31

(Những chiếc trực thăng chiến đấu của Hoa Kỳ thật ra xuất hiện
chỉ một lần trong giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của Chiến dịch Lam Sơn 719)

(Những phi vụ của B-52 cũng xảy ra chỉ trong giai đoạn đầu
và hoàn toàn chấm dứt kể từ đó)

Mặc dù sự hỗ trợ của Không quân Hoa Kỳ thì đủ dồi dào đến nổi QĐVNCH theo chiến thuật vẫn còn cần đến nó rất nhiều, điều đó đôi khi khó tiếp cận. Bởi vì một loạt các vấn đề khó khăn, bao gồm việc thiếu hụt nhân viên kiểm soát không lưu tiền phương(pc 07) được dành cho sự hỗ trợ Sư đoàn Dù,

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 02_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.
pc 03_ Tu chính án Cooper-Church : (Cooper-Church Amendment) đã được giới thiệu ở Thượng viện Hoa Kỳ trong thời gian Chiến tranh Việt Nam. Dự kiến đề nghị về Luật bổ sung nầy là lần đầu tiên mà Quốc hội đã hạn chế việc khai triển những quân lính trong suốt cuộc chiến tranh chống lại những mong muốn của Tổng thống. Luật bổ sung, tìm cách nhằm :
1. Chấm dứt việc tài trợ để giữ lại những quân lính bộ binh và các vị cố vấn quân sự của Hoa Kỳ ở Cam-pu-chia và Lào sau ngày 30 tháng Sáu năm 1970.
2. Ngăn cấm những hoạt động không lực trong không phận Cam-pu-chia trong sự hỗ trợ trực tiếp của những lực lượng Cam-pu-chia mà không có sự chấp thuận của Quốc hội.
3. Chấm dứt sự ủng hộ của Mỹ cho những lực lượng của Việt Nam Cộng hòa bên ngoài lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

Luật bổ sung nầy được trình bày bởi Thượng nghị sĩ John Sherman Cooper và Frank Church và được kèm thêm vào một dự luật lớn, là Đạo luật Bán hàng Quân sự Nước ngoài (HR 15628). Sau sự cản trở thông qua đạo luật ở nghị viện bảy-tuần và cuộc tranh luận sáu-tháng, Luật bổ sung nầy đã được phê chuẩn bởi Thượng viện với số phiếu 58 chống lại 37 vào ngày 30 tháng Sáu năm 1970. Dự luật này đã thất bại trong Hạ viện, vốn chống đối điều bao gồm của Luật bổ sung nầy với số phiếu 237 chống lại 153. Tổng thống Richard M. Nixon đe dọa sẽ phủ quyết dự luật nếu nó có chứa những điều khoản của Tu chính án Cooper-Church, và Dự luật Hỗ trợ Nước ngoài sau đó được thông qua mà không có nó.
Tu chính án Cooper-Church được sửa đổi, số Luật Phổ biến là 91-652, được thông qua cả hai viện của Quốc hội vào ngày 22 tháng Mười Hai năm 1970 và được ban hành vào ngày 5 tháng Giêng năm 1971, mặc dù phiên bản này đã hạn chế những giới hạn về những hoạt động không lực và được kèm thêm vào Đạo luật Hỗ trợ Nước ngoài Bổ sung của năm 1970.
Vào thời điểm đó, các lực lượng bộ binh của Hoa Kỳ đã chính thức rút quân khỏi Cam-pu-chia rồi, trong khi những phi vụ thả bom của Hoa Kỳ ở Cam-pu-chia (qua Chiến dịch Cách-giải-Quyết-Quyền- Tự-do –Freedom Deal) tiếp tục cho đến năm 1973. Chính quyền Nixon lên án tất cả các phiên bản của dự luật tu chỉnh, tuyên bố rằng họ làm tổn hại nỗ lực quân sự và làm suy yếu vị thế mặc cả của Mỹ tại các cuộc đàm phán hòa bình Paris.
Tác giả David F. Schmitz phát biểu rằng dự luật tu chỉnh là một bước ngoặt trong lịch sử phản đối chiến tranh, những sáng kiến của Quốc hội nhằm mang cuộc chiến đấu đến sự kết thúc, và những cố gắng nhằm kiểm soát quyền hành pháp trong chính sách đối ngoại.

pc 04_ BChHtrQsVN : Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (MACV = Military Assistance Command, Vietnam).

pc 05_ 1/1 : Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 1.
2/1 : Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 1.
3/1 : Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 1.
4/1 : Tiểu đoàn 4, thuộc Trung đoàn 1 Bộ Binh.
2/2 : Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 2.
4/2 : Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 2.
5/2 : Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 2.
1/3 : Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 3.
2/3 : Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 3.
3/3 : Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn 3.
4/3 : Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn 3.

pc 06_ CcHtHl : Căn cứ Hỗ trợ Hỏa lực.
pc 07_ Nhân viên kiểm soát không lưu tiền phương : (Forward air controller = FAC) là nguời có nhiệm vụ theo sự quy định về hướng dẫn cho máy bay trong phi vụ Hỗ trợ Không lực Gần bên (Close Air Support = CAS) với chủ đích nhằm bảo đảm rằng cuộc tấn công của họ đánh trúng vào mục tiêu được chủ định và không gây tổn thương những binh lính phe bạn.
Đối với những lực lượng NATO, những trình độ chuyên môn và kinh nghiệm được đòi hỏi để trở thành một FAC được đặt ra theo một hiệp ước tiêu chuẩn hóa của NATO (NATO Standardization Agreement = STANAG). “Những nhân viên kiểm soát không lưu tiền phương” có thể hình thành một phần của Đội Hỗ trợ Hỏa lực (Fire Support Team) hoặc Nhóm Kiểm soát Không lưu Chiến lược (Tactical Air Control Party), họ có thể được đặt trên bộ, những FAC thuộc lực lượng Dù trong máy bay cánh cố định (FAC-A) hoặc trong chiếc trực thăng (ABFAC). Từ năm 2003, những Lực lượng Vũ trang Hoa Kỳ đã từng sử dụng thuật ngữ “nhân viên kiểm soát cuộc tấn công kết hợp cuối cùng” (Joint Terminal Attack Controller = JTAC) cho một vài người trong số những FACs được đặt trên bộ của họ.
Nhân viên kiểm soát cuộc tấn công kết hợp cuối cùng (JTAC) là một thành viên phục vụ quân sự có khả năng chuyên môn vốn là người, từ một vị trí tiền phương, chỉ dẫn hoạt động của máy bay chiến đấu tham gia vào việc Hỗ trợ Không lực Gần bên và những hoạt động khác về cuộc tấn công bằng không lực.

pc 08_ BCD : Binh chủng Dù.
pc 09_ BĐQ : Biệt động Quân.
pc 10_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s