Phần 07-2/2 : Một cuộc Chiến Biến đổi (1969-1970)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p186

bị chôn vùi khi hầm trú của họ sụp đổ dưới hỏa lực của đối phương.23 Sau khi bị chôn lấp trong một vài giờ, bị bao phủ bởi đất, những phần thân thể, và những con chuột ở khắp nơi vốn sinh sống ở nơi bẩn thỉu của căn cứ, sau khi anh Huế thoát ra được, tìm vị trí một ông Wiseman bất tỉnh, và giải thoát ông ta khỏi những tàn tích của hầm trú.24
Sau cuộc xung đột, ông Wiseman kể lại rằng tình bạn của ông ta với anh Huế thậm chí mang vào trong những mối quan hệ gia đình của họ:

Bất cứ khi nào một người trong số những quân lính bị thương của chúng tôi được gởi trở lại chiến trường, anh ta sẽ ghé qua nhà của anh Harry và bà Cẩm [vợ của anh Harry] trước khi trở lại. Bà Cẩm sẽ gởi một số thư từ và luôn luôn gởi cho tôi một vài món thịt kiểu Việt Nam được bộc lại trong những lá chuối để giữ chúng còn tươi. Khi chúng tôi có một tuần của mình trở lại từ chiến trường, anh Harry sẽ luôn luôn kéo tôi về nhà với anh ta. Tôi thường cố gắng nói chuyện với mẹ của anh ta. Bà ta dạy tôi làm cách nào để nhai trầu, vốn gây ra một luồng hơi đột ngột qua phần trên cơ thể của bạn qua đó làm cho nó khó nâng lên hai cánh tay của bạn. Một trong những điều sung sướng nhất mà tôi có thể làm là nhờ một người bạn cũ trong Hải quân… gởi tôi cho mẹ anh ta một cái lò nấu ăn có ba bếp của Nhật vốn chạy bằng khí đốt.25

Sự gần gũi thực sự của mối quan hệ của anh Huế với ông Wiseman cuối cùng đã cứu sinh mạng của ông ta.

d- Việc trở vào cao nguyên :

Trong khi đó, trong nhiều khu vực của Quân đoàn I, vào năm 1970, vẫn là một trò chơi mèo và chuột đẫm máu, theo đơn vị nhỏ, tình hình thì khá khác biệt ở các vùng cao nguyên của tỉnh Thừa Thiên. Bởi vì những cuộc rút quân của Mỹ đã buộc những người đồng minh nhường lại quyền kiểm soát khu vực biên giới phía tây, những lực lượng cộng sản đã tham gia vào việc xây dựng ổn định trong khu vực, bằng cách sửa chữa những con đường giao thông và chất đống hàng tiếp tế cho cái gì đó dường như là những sự chuẩn bị cho một cuộc tấn công bắt đầu lại vào trong các vùng đồng bằng xung quanh thành phố Huế. Cảm thấy lo lắng bởi hoạt động của QĐBV và lẫn bởi sự thu hẹp tiếp tục những tuyến phòng thủ của QĐVNCH,(pc 05) Tướng Lâm, tại Quân đoàn I, và Tướng Trưởng đồng ý rằng đó là điều quan trọng bậc nhất để một lần nữa tung sức mạnh của QĐVNCH vào trong khu vực gần thung lũng A Shau, một địa điểm giao tranh quá nhiều khốc liệt chỉ một năm trước đó.
Một kế hoạch, được dựa trên việc sử dụng các lực lượng của QĐVNCH với sự trợ giúp đáng kể từ Lữ đoàn Dù 101

p187

–một sự đảo ngược về những cuộc đột nhập trước đây vào trong khu vực– trước tiên kêu gọi việc xây dựng một mạng lưới của những căn cứ hỏa lực ở những vùng cao nguyên phía tây gần thung lũng A Shau và Da Krong. Những căn cứ hỏa lực, được hỗ trợ bởi một màn lưới của những cảm quang điện tử, có cùng một mục tiêu và sứ mệnh như là những căn cứ hỏa lực dọc theo KpQs,(pc 01) nhằm ngăn chận cuộc xâm nhập của cộng sản và lẫn chống lại bất kỳ những hoạt động tấn công to lớn nào của QĐBV. Tuy nhiên, trong khi QĐBV chọn cách ở lại tiếp tục phòng thủ trên khắp phần đất còn lại của Quân đoàn I, nó đã phản ứng bằng bạo lực mãnh liệt đối với sự hiện diện của QĐVNCH / USD đổi mới ở các vùng cao nguyên và gây ra một trong những trận chiến lớn nhất trong năm.
Vào ngày 31 tháng Năm năm 1970, Tiểu đoàn 2, thuộc Trung đoàn Không quân 54 (i.e. 2/54) của QĐVNCH công kích vào trong khu vực của cái gì đó đã từng là căn cứ Tun Tavern của TQLC Hoa Kỳ tại lối vào thung lũng Da Krong, khoảng 70 km về phía tây của Huế và chỉ 7 km từ Lào. Căn cứ được hình thành như đinh chốt hình chữ S cho tuyến phòng thủ của QĐVNCH / US trong khu vực. Hy vọng làm cho các lực lượng đối phương mất cảnh giác, 2/54 dựa vào tốc độ để đâm xuống đất, đẩy ra ngoài những phần tử trinh sát, và xây dựng một vành đai phòng thủ trước khi QĐBV có thể tập trung số đông cho một cuộc phản công như thể có. Bị cản trở chỉ bởi một hỏa lực súng cối lẻ tẻ, những cố gắng của quân lính để thành lập căn cứ hỏa lực diễn ra tốt đẹp lúc ban đầu, mặc dù hoàn cảnh thời tiết đang xấu đi đã làm chậm lại công việc một cách đáng kể. Tuy nhiên, trong những giờ trước bình minh của ngày 2 tháng Sáu, Căn cứ Hỏa lực Tun Tavern phải chịu cuộc tấn công mạnh mẽ bằng súng cối, mà qua đó Đại úy Bill Deane, là vị cố vấn của Nhóm Huấn luyện của Quân đội Úc cho Việt Nam (NHlQdUVN), nhận ra rằng là điều đó chuẩn bị cho một cuộc công kích bằng bộ binh của QĐBV vào những phòng tuyến của QĐVNCH. Ông Deane, vốn theo một đại đội của ông ta ra ngoài làm những nhiệm vụ trinh sát, ngay lập tức tìm đường trở lại về hướng Tun Tavern.26
Trước khi ông Deane đến được mục tiêu của mình, tuy thế, những phần tử thuộc Trung đoàn 66 của QĐBV phát động một cuộc công kích quy mô vào căn cứ hỏa lực. Những kẻ tấn công phá xuyên những nơi phòng thủ của QĐVNCH và tràn ngập một phần khu vực của tiểu đoàn khi trận chiến biến thành một cuộc vật lộn rối loạn từ hố cá nhân nầy đến hố cá nhân khác và xáp-lá-cà. Tình hình đang trong tình trạng quá tuyệt vọng đến nỗi một trực thăng vũ trang đến trạm và tuôn đạn trực tiếp vào trong khối người tham chiến hỗn loạn trên đỉnh căn cứ hỏa lực. Đến lúc đại đội của ông Deane đến, lực lượng đang tấn công của QĐBV đã rút lui sau khi gánh chịu những thương vong nặng nề. Những người phòng thủ đã bám giữ được nhưng ở trong một vị thế hiểm nghèo –bị phơi lộ cho những súng cối của QĐBV, bị cô lập, và khó tránh khỏi một cuộc công kích khác bằng bộ binh. Liền sau đó, tình hình thậm chí còn tồi tệ hơn khi một cú đánh trúng từ đạn pháo súng cối gây thương tích tất cả ngoại trừ một người trong số những sĩ quan tiểu đoàn của QĐVNCH,(pc 05) để lại ông Deane, là một trong số ít những cố vấn sống sót, tại Tun Tavern.

p188

Những sự kiện về Căn cứ Hỏa lực Tun Tavern chẳng bao lâu tăng xoắn dần lên ngoài sự kiểm soát. Trong bản báo cáo sau khi hoạt động của mình, ông Deane mô tả:

sự nóng lòng đáng tởm của quân lính QĐVNCH khi chính mình leo lên trực thăng tải thương, (những sĩ quan và những người lính) sau khi họ đã nhận lấy thương tích sơ sài nhất, và họ hoàn toàn không quan tâm đến những nhu cầu của những binh lính bị thương trầm trọng hơn. Đến lúc, một chiếc trực thăng tải thương đầu tiên đến, khoảng 20 người mang thương tích trầm trọng, một vài người trong số họ với tay chân mất đi, đang nằm trên những cáng thương hoặc túi ngủ quân đội bên cạnh bãi đáp trực thăng. Đến lúc, các vị cố vấn đã giúp ông W.O. Birdie lên trực thăng [là vị cố vấn bị thương nặng của NHlQdUVN(pc 10)] và đã quay lại với một người lính Mỹ mang theo cáng thương, chiếc trực thăng tải thương thì đông nghẹt với những binh lính của QĐVNCH vốn là những người dám có khả năng tạo hình dáng đủ để bước lên chiếc trực thăng tải thương theo cách riêng của họ, trong khi những người bị tàn phế hơn thì không thể nhận được sự giúp đỡ. Theo sự kiện, những người lính Mỹ bị thương phải bị ném qua những quân lính của QĐVNCH đang ngồi trên sàn trực thăng rồi, và qua đời trên chuyến trở lại.27

Khi những chiếc trực thăng tải thương đến và đi, QĐBV đáp trả bằng cách nả đạn súng cối chính xác, qua đó hạn chế thời gian trên mặt đất của những chiếc trực thăng. Với chỉ có hai vị cố vấn và một sĩ quan QĐVNCH duy nhất, vốn là những người rất muốn lên một chiếc trực thăng tải thương, tình hình tiếp tục xấu đi. Những người lính thậm chí còn giả vờ mang thương tích bằng cách bôi máu của những đồng bào họ trên chính mình, qua đó buộc ông Deane kiểm tra những vết thương để bảo đảm rằng chúng là thực sự trước khi ông ta cho phép những binh lính lên những chiếc trực thăng. Tinh thần chiến đấu đã giảm mạnh đến những mức độ thấp một cách nguy hiểm, quyền chỉ huy thì không thích đáng, và những người lính trên đỉnh Tun Tavern thì như là đám đông lộn xộn hơn là một đơn vị quân đội kết hợp.
Tướng Trưởng, biết rằng tình hình tại Căn cứ Hỏa lực Tun Tavern thì hiểm nghèo, liên lạc với Đại tá Giai tại Sư đoàn 1 Xung phong và yêu cầu rằng Trung tá Phạm Văn Đính được thuyên chuyển đến Trung đoàn 54 để hành động như là một sĩ quan điều hành của nó và rằng anh Đính nhận lấy quyền chỉ huy ngay lập tức ở Tun Tavern. Đó là một công vụ nguy hiểm, một công vụ mà nhiều sĩ quan QĐVNCH đáng lý ra tìm cách để tránh né. Không lưu ý về những nguy hiểm, anh Đính lên chiếc trực thăng trống chỗ kế tiếp và lên đường đến căn cứ hỏa lực, quyết tâm xếp đặt mọi việc đâu vào đó.
Với tinh thần chiến đấu như hòn đá đang đụng đáy nước, ông Deane biết được rằng anh Đính đang để nhận lấy trách nhiệm. Không biết điều gì kỳ vọng từ vị sĩ quan mới nầy, ông Deane không có hy vọng cao lắm. Ông ta nhớ lại:

p189

Anh ta [Đính] đến trông rực rỡ qua bộ đồng phục mới, một khăn quàng cổ màu sắc[,] mang theo một cái cây quyền trượng chỉ huy, chiếc trực thăng của anh ta thu hút một vài đạn pháo súng cối cưỡng bách, tôi gặp anh ta tại bãi đáp và đưa anh ta trở lại đến một hố pháo cạn nơi mà Đại úy Pat McCann của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ và tôi gần như đang ngồi thu mình trong đó. Chúng tôi vẫy tay ra hiệu cho anh ta vào nhưng anh ta nói “Không đời nào,” nhìn quanh mình và nói: “Có một chút rắc rối đây.” Anh ta sau tự mình bắt đầu đi kiểm tra vị thế…. [Sau đó anh Đính] trở lại và một lần nữa đứng trên vành hố pháo cạn của chúng tôi nhìn xung quanh. Anh ta là một tọa điểm rõ ràng và dễ phân biệt cho những súng cối vốn đã và đang quấy rối chúng tôi cả ngày và trong vòng một phút hoặc lâu hơn một đạn pháo rơi xuống gần anh ta, làm bị thương anh ta nặng ở cánh tay.28

Bây giờ chính anh ta là một nạn nhân, và đã từng phục vụ như là một sĩ quan điều hành của Trung đoàn 54 chỉ trong một ít giờ, anh Đính được đặt trên chiếc trực thăng kế tiếp ra ngoài và trải qua một tháng trong bệnh viện phục hồi từ những thương tích của mình, đánh dấu lần thứ bảy anh ta đã được bị thương trong chiến trận. Trong khi mà các sĩ quan khác của QĐVNCH đã bọc kỹ dưới áp lực, anh Đính đã từ chối thậm chí tìm chổ núp, đối với sự ngạc nhiên và sửng sốt của người đồng nghiệp Úc tạm thời của mình.
Tướng Trưởng quyết định rằng việc giữ lấy căn cứ hỏa lực sẽ là cái giá mắc mỏ cần ngăn cấm, và, đến chiều tối của ngày 3 tháng Sáu, Căn cứ Hỏa lực Tun Tavern đã được di tản. Cuộc giao tranh thật là tàn bạo, và trong số vào khoảng 400 quân lính của QĐVNCH dành cho trận chiến, 65 người đã bị giết và 90 đã người đã bị thương.29 Sự thất bại ở Tun Tavern, tuy thế, không làm chấm dứt những cố gắng của QĐVNCH / US ở các vùng cao nguyên, khi nhiều tiểu đoàn tiếp tục những cuộc càn quét qua khu vực trong khi những tiểu đoàn khác xây dựng và cung cấp thêm người cho nhiều căn cứ hỏa lực khác.
QĐBV, lo lắng bảo vệ đường giao thông huyết mạch của mình trong khu vực, tiếp tục gây áp lực chống lại các đơn vị liên minh, mà qua đó bị cô lập và chiếm giữ nơi phía cuối xa xôi trong chuỗi tiếp tế của Mỹ / QĐVNCH. Vào tháng Bảy, những lực lượng của QĐBV tập trung số đông chống lại Căn cứ Yễm trợ Hỏa lực Ripcord của Sư đoàn Dù 101. Dưới hỏa lực mạnh mẽ và được tham gia vào các trận chiến trên đỉnh đồi khốc liệt chống lại những kẻ thù kiên quyết của họ, những vị chỉ huy của Mỹ cuối cùng chọn cách từ bỏ Ripcord, qua việc làm cho hoạt động ở đó trở thành là một trong những trận chiến to lớn cuối cùng trên đất lôi cuốn những lực lượng Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam. Cuối cùng, QĐBV bắt đầu những hoạt động to lớn chống lại Căn cứ Hỏa lực O’Reilly, được chiếm đóng bởi những phần tử thuộc Trung đoàn 1 của QĐVNCH. Sau khi đánh mất Tun TavernRipcord, ông Trưởng biết giá trị biểu tượng của việc bám giữ vững chắc và đưa ra nhận xét, “Họ sẽ không chiếm được O’Reilly.

p190

Nếu chúng ta mất O’Reilly chúng ta sẽ đi mọi thứ chúng tôi đã và đang cố gắng để hoàn thành trong mười năm qua.”30 Thúc giục tất cả bốn tiểu đoàn của Trung đoàn 1 vào trong một nơi phòng thủ mặt trước của Căn cứ Hỏa lực O’Reilly, những người phòng thủ của QĐVNCH(pc 05) giữ vững cho đến khi sự khởi đầu của trận mưa gió theo mùa làm chấm dứt những cơ hội tái tiếp tế bằng không vận. Việc phòng thủ O’Reilly, giữa hàng loạt những trận chiến dài kéo dài và tàn bạo, tượng trưng cho sự trái ngược hoàn toàn đối với điều đó của Tun Tavern và cho thấy những khả năng của QĐVNCH và lẫn bản chất không đồng đều của quyền chỉ huy và thành công của QĐVNCH.31

e- Ở những vùng đồng bằng :

Sau khi phục hồi sức khoẻ của mình trong bệnh viện, anh Đính được thuyên chuyển trở lại Căn cứ Hỏa lực Anzio, phía nam của thành phố Huế, để nhậm chức như là Sĩ quan Điều hành của Trung đoàn 54 trên cơ bản vĩnh viễn. Sự trỗi lên mau chóng của anh Đính qua các cấp bậc chỉ huy còn tiếp tục, nhưng trong vị trí mới của mình anh ta phục vụ phần chính như là người phụ tá cho vị chỉ huy và không tham gia vào công việc hàng ngày của việc lên kế hoạch chiến thuật. Như một trường hợp quá thường là thế, vị chỉ huy của anh Đính, Đại tá Huấn, muốn ở đó là một hình phác họa rõ ràng về những nhiệm vụ và muốn chắc chắn rằng vị Sĩ quan Điều hành biết vị trí của mình. Có lẽ vị trí ngôi sao nổi bật của anh Đính trong phạm vi QĐVNCH là chịu trách nhiệm về điều gì đó có thể được gọi là một cuộc đụng độ của các cá tính trong vị trí mới của mình. Một vị cố vấn cao cấp Hoa Kỳ cho Trung đoàn 54, Thiếu tá Tom Jaco, vốn là người, giống như hầu hết những người Mỹ ở Quân đoàn I phía bắc, biết về tiếng tăm của anh Đính ngay cả trước khi chuyến đi của mình đến Căn cứ Hỏa lực Anzio, đã chứng kiến mức độ danh tiếng của anh Đính. Khi những vị chỉ huy sư đoàn đến đồn trú chỉ huy của Trung đoàn 54, họ đi tới anh Đính đầu tiên, không đến vị chỉ huy đơn vị. Trong khi những cấp trên của anh ta đối xử với anh ta bằng tình cảm tuyệt vời và trong sáng, những người lính kinh sợ anh Đính như là một anh hùng đích sự; theo những lời của ông Jaco, đối với những người lính bình thường và đối với người đàn ông trên đường phố, anh Đính chỉ đơn giản là “một hy vọng đặc trưng.”32
Trong khi anh Đính phục vụ như là vị Sĩ quan Điều hành của nó, Trung đoàn 54 thường làm việc trong và xung quanh Căn cứ Hỏa hoạn Anzio và Roy và canh gác các vùng đồng bằng ở phía nam thành phố Huế khỏi cuộc xâm nhập và tấn công của QĐBV. Đôi khi, tuy thế, những tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 54 phục vụ trong những khu vực hoạt động khác, và làm việc với các đơn vị của Sư đoàn Dù 101 ở những vùng cao nguyên và lẫn tăng cường các hoạt động đang diễn ra như xa về phía bắc của KpQs.(pc 01) Vào một dịp như thế, trong cuối tháng Tám năm 1970, anh Định dẫn đầu một phần tử chỉ huy tiền phương của Trung đoàn 54 vào trong một trận chiến đang diễn ra xung quanh ấp Mỹ Chánh chống lại các đơn vị của Tiểu đoàn 318 của QĐBV vốn đã từng chiếm ngụ trong khu vực.

p191

Trong cuộc giao chiến, Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 54 mất 4 người thiệt mạng và hạ được 98 địch quân bị giết trong nhiệm vụ.33
Nhìn chung, tuy thế, cuộc chạm súng với Trung đoàn 54 vẫn là “nhẹ” khi các tiểu đoàn khác nhau trong trung đoàn đã làm việc để che chắn những thành công bình định ở các vùng đồng bằng.34 Tinh thần chiến đấu trong trung đoàn lên cao, và ông Jaco nhớ đến thời gian đó như là “đôi khi như buồn chán vì không có nhiều hoạt động.”35 Anh Đính và những người của 54 tham gia vào sự tồn tại có nhiều phần giống nhau như những người thuộc 2/2 của Trần Ngọc Huế vốn là những người phục vụ dọc theo KpQs,(pc 01)là một sự tồn tại của những cuộc càn quét, phục kích, bẫy sập và tiêu hao sinh lực. Trong phạm vi hiện thực nầy của chiến tranh, và ngay cả trong vị trí bị cắt giảm về quyền lực của mình, anh Đính được nhìn thấy bởi ông Jaco và các vị cố vấn khác như là một nhà lãnh đạo đích sự vốn là người quan tâm một cách sâu sắc cho những người của mình và dân tộc mình, vốn là người truyền cảm hứng cho những người của mình trong trận chiến, vốn là người không tránh xa nguy hiểm, và vốn là người chỉ đơn giản là một “chiến sĩ của những chiến sĩ.” Ngay cả vị cố vấn cao cấp cho Sư đoàn 1 của QĐVNCH, Đại tá Ben Harrison, đã phải công nhận khả năng chiến đấu và vai trò lãnh đạo của anh Đính và biết rằng vị sĩ quan Việt trẻ viên được mệnh quyết cho những việc to lớn.36
Trong khi phục vụ trong cái gì đó là cần thiết cho một vị trí văn phòng không tác chiến, anh Đính chứng minh những khả năng lãnh đạo của một loại khác hơn. Những đơn vị của QĐVNCH thường hoạt động từ các khu căn cứ vốn bao gồm “trại-gia-binh” ở mọi nơi,

p192

mà qua đó đang phát triễn những cộng đồng đông vầy những người vợ và đứa con của những người lính QĐVNCH gần đó. Thường tồn tại trên bờ vực của cảnh nghèo túng, các khu nhà ổ chuột đôi khi làm choáng váng các vị cố vấn mới nhưng là trung tâm cho tinh thần quân đội của những người đàn ông chiến đấu thuộc QĐVNCH. Trong khi đó, đối với một số vị chỉ huy kém khả năng hơn của QĐVNCH, những trại-gia-binh thì không là gì cả ngoài một sự phiền toái, những sĩ quan như là anh Đính và anh Huế nhìn thấy chúng như là một hiện thực nền tảng của cuộc sống và là một cơ hội để có một ảnh hưởng tích cực. Khi anh ta đến Trung đoàn 54, anh Đính biết được rằng những người của đơn vị của mình không có khả năng lo liệu sự giáo dục thích hợp cho con cái của họ trên mức lương ít ỏi của họ. Tức giận, anh Đính chọn cách không chấp nhận tình hình như là một phần đáng buồn của đời sống QĐVNCH nhưng thay vào đó làm việc với ông Jaco để xây dựng một trường học dành cho trại-gia-binh chính của trung đoàn gần Phú Bài. Hai giao dịch xe tải với nhiều đơn vị Việt Nam và Mỹ cho những cung cấp vật liệu, và ông Jaco thành công trong việc có ngôi trường mới mọc được nhận bảo trợ bởi một trường trung học cũ của mình ở Hoa Kỳ. Sau hàng tháng làm việc cực nhọc, ngôi trường, vốn phục vụ cho 40 học sinh, đã trở thành một hiện thực, và tinh thần quân đội trong phạm vi Trung đoàn 54 bay cao.37
Trên một mặt trận rộng lớn hơn, anh Đính chứng kiến những cố gắng gần đây nhất của chính phủ miền Nam Việt Nam về việc cải cách, bao gồm việc tiếp tục những chương trình bình định và việc giới thiệu về chương trình “Người cày Có ruộng.” Trong khi còn xa mới đến được sự hoàn thiện, những cải cách dường như đối với anh Đinh là các bước trong một chiều hướng đúng đắn, những bước vốn cho anh ta niềm hy vọng to lớn. Tuy nhiên, chúng là những biện pháp chưa hoàn hảo mà qua đó sẽ mất một thời gian đáng kể để đạt được tác động tột cùng như dự định của chúng, thời gian mà cả anh Đính và anh Huế nhận ra, đang trôi đi một cách nhanh chóng.

f- Tương lai của Quân đội Việt Nam Cộng hòa :

Mặc dù có những khác biệt đáng kể giữa các đơn vị, vào năm 1969, tinh thần chiến đấu của quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam bắt đầu cú trượt được ghi chép rõ trong biên niên sử của nó. Tác giả Keith Nolan đưa ra nhận xét:

Cuộc Tấn công Mùa hè 1969 thì không giống như nhiều chiến dịch Việt Nam chỉ vì tâm trạng của nó. Đó là một cuộc chạm súng lớn, đầu tiên sau việc công bố những cuộc rút quân của Hoa Kỳ. Một ngữ hiệu mới đã được nghe: Tại sao là người đàn ông cuối cùng bị giết ở Việt Nam ?.. Họ [những người lính Mỹ] biết rằng họ đang rời khỏi, và họ biết rằng công việc chưa được hoàn tất. Một tình trạng phiền muộn về tinh thần đã bắt đầu gây ảnh hưởng đến toàn bộ nổ lực chiến tranh.

p193

“Không có nhiều bất kỳ điều gì được quyết định bởi chiến dịch mùa hè,” được nhận định bởi một Chuyên viên Kỷ thuật cấp 4 (SP4), Bob Hodierne, là một nhiếp ảnh gia chiến trường của Quân đội Hoa Kỳ… “Điều đó, quả thật, có thể được xem như một tiêu biểu đau đớn của toàn bộ kinh nghiệm chết tiệt. Nổi đau đớn, cái chết, những hành động ít riêng tư của bản chất anh hùng và bản chất hèn nhát, những cá nhân bị thay đổi mãi mãi, và khi điều đó được hoàn tất — điều gì ? Như những người lính Mỹ nói: ‘Mẹ kiếp nó, nó không có nghĩa gì hết.’ “38

Như trong quân đội Hoa Kỳ, những phản ứng đối với cuộc chiến tranh đang thay đổi trong phạm vi QĐVNCH bị xáo trộn. Sau cuộc giao chiến ở Căn cứ Hỏa lực Tun Tavern, Đại úy Bill Deane, một vị cố vấn của NHlQdUVN,(pc 10) cảm thấy rằng 2/54 trở nên ít tích cực. Ông Deane nhớ lại rằng, trong khi tiểu đoàn vẫn còn hoạt động trong những hoạt động tìm kiếm gần như liên tục, khi đơn vị dừng lại trên một đường mòn để đặt một ổ mai phục ban đêm, những quân lính của QĐVNCH thường đại tiện trên đường mòn ở hai bên của vị trí của họ, có lẽ là để cảnh cáo người khác tránh xa và tránh sự chạm trán theo ý nghĩa với bất kỳ lực lượng đối phương nào vốn không biết về sự hiện diện của họ.39 Theo quan điểm của ông Tom Jaco, vị cố vấn cao cấp cho Trung đoàn 54, tuy thế, bản thân trung đoàn và Sư đoàn 1 QĐVNCH như một khối vẫn còn khá đủ khả năng và thực sự có một số ít vấn đề về tinh thần chiến đấu hơn nhiều người trong số những đơn vị của Mỹ trong khu vực.40
Rằng cuộc chiến thì khó khăn và đang thử thách những quân lính Mỹ vốn là những người được cho là đã bị từ chối bởi quốc gia của riêng họ, là điều chắc chắn. Rằng QĐVNCH(pc 05) chưa hoàn thiện và không có thể theo một cách chính xác so bì được với những đơn vị của Mỹ có thể, và rằng Sư đoàn 1 của QĐVNCH không đại diện cho toàn bộ kinh nghiệm của QĐVNCH, cũng là điều chắc chắn. Tuy nhiên, Mỹ là một quốc gia hùng mạnh không bị đe dọa bởi sự chiếm lấy sắp xảy ra. Những người lính Mỹ phần lớn chỉ phục vụ một năm duy nhất trong chiến đấu trước khi trở lại “thế giới.” Trần Ngọc Huế, Phạm Văn Dính, và người đàn ông của họ không có những xa xí như thế. Anh Đính đang gần năm chiến tranh thứ mười của mình, và anh Huế thì trong năm thứ tám của anh ta, và tuy thế cuộc xung đột vẫn tiếp tục ngay cả khi niềm hy vọng chiến thắng bắt đầu nhợt nhạt. Nếu điều đó có thể được hiểu rằng hiện thực của một cuộc chiến tranh bị biến đổi vốn bị treo lên như tấm áo khoác trên những quân lính Mỹ, thế còn QĐVNCH? Rằng những người miền Nam Việt Nam, đối với tất cả những lỗi lầm của mình, đã kiên trì vốn là sự phản ảnh mạnh mẽ của khả năng và sức mạnh của họ, một sức mạnh mà qua đó những vị cố vấn của họ biết trực tiếp bằng mắt thấy tai nghe. Ông Gordon Greta đã trở nên khá gần gũi với Trần Ngọc Huế và những người của 2/2 giữa những căng thẳng của chiến tranh. Anh ta không thể làm lay chuyển cảm giác rằng những người đàn ông nầy chào anh ta và bày tỏ khác biệt với anh ta –những người đàn ông vốn là những người đã và đang chiến đấu cho đất nước của họ trong nhiều năm chỉ với viễn ảnh của cuộc chiến đấu trong nhiều năm sắp đến

p194

trong khi ông Greta trông đợi một chuyến đi trở lại thế giới mình trong vòng một năm– là những người anh hùng đích thực của chiến tranh. Theo những lời của ông Greta, ông ta cảm thấy rằng ông ta “không thích hợp để đánh bóng những đôi giầy trận của họ.”41
Thực tế khắc nghiệt của bài toán mới về Chiến tranh Việt Nam thì rõ ràng đối với các nhà lập kế hoạch của BChHtrQsVN.(pc 07) Trong việc trả lời cho các câu hỏi từ ông Nixon, vị Tổng thống sắp tới, vào đầu năm 1969, bốn quân đoàn của những vị cố vấn cao cấp và bản thân ông Abrams nói một cách dứt khoát rằng QĐVNCH, như những vấn đề hiện có, không thể đứng một mình chống lại một trong hai là mối đe dọa của Việt Cộng hoặc là một cuộc xâm lược bởi Bắc Việt, rất ít khả năng phải đối mặt với cả hai mối đe dọa. Chọn lấy nhịp độ hiện đại hóa và Việt Nam hóa Chiến tranh vào trong sự đánh giá, ông Abrams dự đoán rằng đến năm 1972 QĐVNCH sẽ có khả năng chống lại VC,(pc 03) nhưng rằng ngay cả sau đó chỉ có sự tham gia tiếp tục của các lực lượng bộ binh của Hoa Kỳ sẽ cho phép QĐVNCH ngăn lại được mối đe dọa của QĐBV. Qua những phản đối tiếp tục của ông Abrams, tuy thế, việc lên kế hoạch rút quân được làm mạnh thêm –những cuộc rút quân mà hầu hết các vị chỉ huy Mỹ nhận biết rằng chúng sẽ niêm phong số phận của QĐVNCH.42
Những hậu quả của những cuộc rút quân tiếp tục thì hiển nhiên nhất đối với nhân sự của Quân đoàn I, vốn là những người tồn tại dưới sự đe dọa tấn công không ngừng của QĐBV. Ông Ben Harrison, trong vị trí của mình ở Sư đoàn 1 của QĐVNCH, biết rằng các chiến sĩ của QĐVNCH trong Quân đoàn I bị ngập đầu với những nhiệm vụ bảo vệ nền móng dân cư của họ ở những vùng đồng bằng nhưng không có sức mạnh để đối đầu với QĐBV ở những khu vực biên giới. Ông Tom Jaco, tại Trung đoàn 54, đặt tình hình như nó hiện hữu trong năm 1970 tốt nhất khi ông ta đưa ra nhận xét:

QĐVNCH [trong năm 1970] thì phụ thuộc vào Hoa Kỳ –phụ thuộc vào các nhóm cố vấn, phụ thuộc vào sự hỗ trợ; sự hỗ trợ của không lực, sự hỗ trợ của hỏa lực, sự hỗ trợ của y tế… chúng tôi có thể dạy cho họ làm cách nào để kêu đến sự hỗ trợ đó, nhưng nếu nó không có ở đó để được gọi, nó sẽ không làm cho họ một quỷ quái nhiều hay ho gì.43

Việc mất chủ động trong chiến tranh khi kẻ thù xây dựng những lực lượng của mình là điều chắc chắn đối với Trần Ngọc Huế khi anh ta quan sát phòng tuyến liên minh dọc theo vùng thu hẹp của KpQs(pc 01) trong khi cuộc chiến gây-tiêu-hao-sinh-lực đầy đẫm máu tiếp tục. Nếu một bối cảnh của trường hợp xấu nhất của việc rút quân mau chóng, đơn phương, và hoàn tất của Mỹ cuối cùng đi qua, anh ta nhận ra rằng, không phải chính phủ của mình cũng không phải quân đội của mình chưa sẵn sàng mang lấy trách nhiệm của toàn bộ cuộc chiến tranh. Anh Huế biết rằng QĐVNCH,(pc 05) được tạo ra và đang phát triển trong vai trò xứng đáng với sự thích hợp của nó bên cạnh những người Mỹ hùng mạnh, cần thời gian để chuẩn bị cho những thách thức mới vốn nằm phía trước. Như thường lệ, anh Huế luôn sẵn sàng và hăm hở làm phần việc của mình

p195

trong việc việc làm cho QĐVNCH có khả năng tự sẵn sàng chính mình cho tương lai –nhưng thời gian của anh ta trong chiến tranh sắp sửa đi đến kết thúc.
Đối với Phạm Văn Đính, thực tế được trình bày bởi các sự kiện của giai đoạn 1969-1970 thì lộ rõ hẳn ra hơn. Trong khi anh ta đã từng chiến đấu tận lực và tuyệt vời, anh Đính cũng đã từng quan sát bằng niềm vui khi những người đồng minh theo liền sau chiến thắng ngày Tết của họ với một chiến dịch mà qua đó đã đòi lại các vùng đồng bằng và thậm chí săn đuổi kẻ thù vào trong đất Lào. Cũng y như chiến thắng dường như vẫy tay ra hiệu, tuy thế, sự quyết tâm của Hoa Kỳ đã nổ tung vào trong, và những cuộc rút quân của những lực lượng Mỹ bắt đầu. Khi cuộc giao tranh vẫn tiếp tục, anh Đính theo dõi với mối quan tâm ngày càng tăng khi những người đồng minh kéo nhau trở về xa hơn bao giờ hết và nhường lại cho kẻ thù các khu vực mà qua đó những lực lượng của QĐVNCH và Hoa Kỳ đã đấu tranh và đổ máu. Anh Đính, giống như anh Huế, đau đớn nhận thức rằng, không có sự ủng hộ của Hoa Kỳ, QĐVNCH sẽ không có thể sống còn. Tuy nhiên, dường như rằng các lực lượng Mỹ đang rời khỏi cuộc xung đột trước khi công việc hoàn tất và đang bỏ rơi QĐVNCH cho số phận của nó.
Vào cuối năm 1970, những nỗi sợ hãi của những vị chỉ huy từ ông Abrams đến anh Huế và anh Đính chỉ là thế –những nỗi sợ hãi. Hoa Kỳ đang bỏ cuộc xung đột, điều đó phần nhiều là chắc chắn. Tuy nhiên, những câu hỏi vẫn còn lại. Một số ít người miền Nam Việt Nam tin rằng một bối cảnh của trường hợp xấu nhất –một lối thoát hoàn toàn của Mỹ khỏi cuộc xung đột– là điều sắp xảy ra. Một cách chắc chắn là Hoa Kỳ sẽ tiếp tục sự hỗ trợ của nó cho miền Nam Việt Nam theo cách mang ý nghĩa nào đó sau khi việc đầu tư quá nhiều thời gian và sự hy sinh. Giả sử cho là có niềm hy vọng về sự hỗ trợ tiếp tục của Mỹ, cả anh Đính và anh Huế tin rằng QĐVNCH có thể tiếp tục chiến đấu; cuối cùng là, QĐVNCH đã học được nhiều và đang chiến đấu tuyệt vời. Với thời gian cần thiết, QĐVNCH sẽ sửa chữa những lỗi lầm của mình. Hai người bạn đồng hướng biết rằng, tuy thế, nếu cuộc thử nghiệm đến quá nhanh, QĐVNCH sẽ thất bại. Những nghi ngờ nầy trở thành hiện thực trong Chiến dịch Lam Sơn 719.

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ KpQs : Khu phi Quân sự.
pc 02_ Trung đoàn : khoảng 3.000 đến 5.000 người (tương đương 10 tiểu đoàn).
Tiểu đoàn : khoảng 300 đến 1.300 người.
Đại đội : khoảng từ 80 đến 225 người.
Trung đội : khoảng 26 đến 55 người.
và Sư đoàn khoảng 10.000 đến 15.000 người.

pc 03_ VC : Việt cộng.
pc 04_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.
pc 05_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 06_ ĐPQ & NQ : Địa phương Quân và Nghĩa quân.
pc 07_ BChHtrQsVN : Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (MACV = Military Assistance Command, Vietnam).

pc 08_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 09_ Lỗ nhện : là cách nói theo quân đội Hoa Kỳ về một cái hố phòng thủ cá nhân (còn được gọi là “hang chồn”) có ngụy trang, được sử dụng để quan sát. Một “lỗ nhện” thường là một cái lỗ có chiều sâu đến vai, có tính cách bảo vệ, hình tròn, thường được bao phủ bởi một nắp đậy được ngụy trang, trong đó một người lính có thể đứng.và bắn bằng một loại vũ khí. Một “lỗ nhện” khác biệt từ một “hang chồn” mà trong đó “hang chồn” thì thường sâu hơn và được thiết kế để nhấn mạnh sự che chở gồm hơn là che giấu. “Lỗ nhện” cũng được sử dụng bởi những chiến binh cộng sản Việt Nam trong thời gian Chiến tranh Việt Nam.
Một nhà viết xã luận Mỹ, William Safire, tuyên bố trên số báo ra ngày 15 tháng Mười Hai năm 2003 của tờ New York Times rằng thuật ngữ có nguồn gốc trong Chiến tranh Việt Nam. Theo ông Safire, một trong những đặc điểm của những lỗ nầy là chúng giữ một “cái nồi đất sét đủ lớn để giữ một người đàn ông đang khom mình xuống.” Nếu cái nồi bị bể, người chiến binh bị lộ ra cho cuộc tấn công từ những con rắn hay nhện, vì thế mà có tên “lỗ nhện.”

pc 10_ NHlQdUVN : Nhóm Huấn luyện của Quân đội Úc cho Việt Nam (AATTV = Australian Army Training Team Vietnam).

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s