Phần 07-1/2 : Một cuộc Chiến Biến đổi (1969-1970)

(Dịch giả MNYN : Xin đọc giả phổ biến sâu rộng trong dân chúng Việt Nam tuyệt đối KHÔNG in ra thành sách với mục đích thương mại)
===========================================

p177

Phần 07 : Một cuộc Chiến Biến đổi
(Việt Nam hóa Chiến tranh, 1969-1970)

Khi những nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Mỹ thực hiện các quyết định chiến lược rất quan trọng ở cả Washington và Sài Gòn trong suốt mùa hè năm 1969, một sự tĩnh lặng dễ làm cho lầm lẫn rơi trên Quân đoàn I. Trong sự thức tỉnh của Ngọn đồi Thịt bằm, sức mạnh cộng sản trên khắp khu vực phía nam của Khu phi Quân sự (KpQs) là lúc xuống thấp và bao gồm chỉ có 5 trung đoàn(pc 02) Quân đội QĐBV (QĐBV) và 2 trung đoàn Việt Cộng (VC) ở các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, tương đương với 24 tiểu đoàn VC(pc 03) và QĐBV(pc 04) tỉnh Quảng Nam, và 12 tiểu đoàn VC và QĐBV tại các tỉnh phía nam của Quảng Tín và Quảng Ngãi. Đối mặt với sức mạnh đáng kể của các lực lượng liên minh được tập trung ở Quân đoàn I, VC và QĐBV hài lòng với các cuộc tấn công bằng hỏa lực trong khi họ xây dựng lại từ những mất mát năm trước của họ.1 Sự yên tỉnh tạm thời trong cuộc giao tranh, tuy thế, là ảo tưởng. Thiếu tướng Raymond Davis, vị chỉ huy của Sư đoàn 3 Thủy quân Lục chiến (TQLC), hiểu được hiện thực của tình hình và lưu ý rằng các lực lượng dưới quyền chỉ huy của ông ta và Quân đội Việt Nam Cộng hòa (QĐVNCH) “bây giờ đang ở trong một tư thế mà chúng tôi hoàn toàn kiểm soát tỉnh Quảng Trị.” “Tuy nhiên,” ông ta nói thêm, “chúng ta không thể hạ thấp việc canh gác của chúng tôi hoặc giảm xuống những lực lượng của chúng tôi một chút mảy may nào miễn là đối phương vẫn duy trì toàn thể mật khu của mình ở Lào và trong và trên KpQs.”2
Theo sau một xu hướng được đặt ra bởi ông Johnson và ông McNamara trong hậu quả của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân; ông Nixon, ông Kissinger, và ông Laird đã nhận ra rằng sự hỗ trợ về mặt chính trị cho Chiến tranh Việt Nam đã suy yếu. Kết quả là, Hoa Kỳ đã “hạ thấp việc canh gác” và giảm xuống phần lớn mức độ lực lượng của nó dọc theo KpQs(pc 01) và biên giới Lào. Thay vì được đánh dấu bằng cách gia tăng cảnh giác chống lại một kẻ thù đang trỗi dậy, cái năm sau khi Ngọn đồi Thịt bằm bị khống chế bởi việc rút lui ngày càng nhanh chóng của các lực lượng Mỹ khỏi và bởi sự chú ý của công chúng ở miền Nam Việt Nam. Khi quá trình bắt đầu, không phải là anh Đính hoặc cũng không phải anh Huế tuyệt vọng về một chiến thắng, nhưng cả hai vẫn còn cảm thấy thất vọng rằng cơ hội mà dường như gật đầu ra hiệu cho một quyết định nhanh chóng vốn đã bốc hơi

p178

và rằng cuộc chiến thay vì vẫn còn như nó luôn luôn đã từng là thế; một cuộc đọ sức lâu dài, khó khăn, bắt buộc phải tận lực với một kẻ thù kiên quyết. Tuy nhiên, sự tự tin của họ vẫn ở mức cao, vì họ tin rằng, cho dù những ồn ào bực bội gì bắt nguồn từ Washington, rằng Hoa Kỳ sẽ không chỉ đơn giản từ bỏ miền Nam Việt Nam sau khi quá nhiều sự hy sinh. Họ cũng tin rằng chính phủ và dân tộc của riêng họ sẽ củng cố và cải cách, đặc biệt như là một thế hệ trẻ, thế hệ của họ, đến tuổi trưởng thành. Anh Đính và anh Huế vẫn còn dâng hiến cho nguyên nhân của nền độc lập của Việt Nam Nam và thiết tha chiến đấu cho đất nước của họ. Tuy nhiên, khi chiến tranh bị biến đổi xung quanh họ một lần nữa, sự lạc quan về thời kỳ sau Tết nhường cho một hiện thực nghiệt ngã và một quyết tâm mãnh liệt.

a- Một bình minh giả tạo? :

Triều sóng của chiến thắng sau Tết trong một số mặt nào đó đã che khuất vô số những yếu điểm vốn vẫn còn tồn tại trong nhà nước miền Nam Việt Nam và quân đội của nó — những yếu điểm bị che phủ bởi hỏa lực của Mỹ. Giống như những người Mỹ đã từng thất bại đạt được chiến thắng quân sự hoàn toàn, vai trò lãnh đạo miền Nam Việt Nam đã không chiếm giữ “cơ hội tột cùng” được đưa ra bởi những chiến thắng của giai đoạn 1968–1969 để thấm nhuần những cải cách đầy ý nghĩa mà qua đó có nghĩa là làm cho tồn tại mãi mãi sức mạnh nhất thời của các vị thế miền Nam Việt Nam. Tổng Thống Thiệu thay vào đó đã sử dụng Tết để tung ra một cuộc thanh trừng những kẻ thù chính trị của mình –đặc biệt là những Tỉnh trưởng vốn là những người trung thành với Nguyễn Cao Kỳ.3
Mặc dù ông Thiệu đã đạt được một chừng mức nào đó về quyền lực, những mưu toan về chính trị ở những mức độ cao nhất được tiếp tục trong phạm vi chính phủ miền Nam Việt Nam cho phần còn lại của cuộc xung đột, những cách dùng thủ đoạn vốn có một ảnh hưởng bất lợi trên QĐVNCH(pc 05) và lẫn nhà nước. Những việc bổ nhiệm về quân sự, đặc biệt là ở cấp quân đoàn và sư đoàn, vẫn như chúng đã từng, là món đồ chơi của ban lãnh đạo chính trị, được ban thưởng cho lòng trung thành hơn là khả năng quân sự. Trong khi nhiều người trong số những người lãnh đạo của nó tập trung vào tương lai chính trị tập thể của họ, những chương trình huấn luyện rất quan trọng cho QĐVNCH bị chậm trễ, trong khi những mức lương và tiện nghi cho những người lính bị nhận chìm một cách báo động.4 Đối với những thành viên của QĐVNCH, bao gồm Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huế, vấn đề thiếu một sự cải cách đích sự vẫn là một nguồn quan tâm thực sự, sự kiện mà họ vẫn hy vọng sẽ được chữa khỏi bằng chiến thắng quân sự cuối cùng. Đối với những người khác, sự thất bại của ban lãnh đạo miền Nam Việt Nam để chọn lấy những bước rành mạch cần thiết để hình thành một nhà nước và quân đội mạnh mẽ hơn vốn đang gây ra ngã lòng và hiển hiện.

p179

“Sau tất cả những năm chiến tranh,” một nhà báo Mỹ đưa ra nhận xét vào năm 1970, “chính quyền Sài Gòn vẫn là một mạng lưới của những bè phái, bám giữ với nhau bằng các khoản trợ cấp của Mỹ, một nhóm người không có một định hướng chính trị chặt chẽ, lệ thuộc vào sự sinh tồn của riêng họ.”5
Ở cấp độ địa phương, trò hai mang tráo trở về chính trị đội lốt những thành công về công cuộc bình định của giai đoạn sau Tết trong chiếc áo choàng của sự tự mãn. Mặc dù tư thế an ninh của Quân đoàn I đã tăng lên đến một con số 93,6 phần trăm đáng kinh ngạc vào năm 1969,6 sự thành công không nhất thiết có nghĩa là các chương trình của chính phủ có hiệu quả tốt hơn nữa hoặc là Địa phương Quân và Nghĩa quân (ĐPQ & NQ) đã trỗi lên đến một tiêu chuẩn đồng nhất về khả năng. Sự khéo tay tài tình về chính trị cũng đóng một vai trò quan trọng trong hình ảnh vùng nông thôn cần khuyến khích. Hệ thống Đánh giá Thôn ấp (HtĐgTa) xem như là thước đo tiêu chuẩn cho sự minh họa về quyền kiểm soát vùng nông thôn của chính phủ Việt Nam. Mặc dù tính xác thực của nó từ lâu đã xem có sự nghi ngờ, HtĐgTa đánh giá vấn đề an ninh thôn ấp trên thang điểm trượt từ A (chính phủ kiểm soát) đến E (VC kiểm soát). Vào đầu năm 1969, chính quyền ông Thiệu điều hành một sự thay đổi trong hệ thống để cho những ấp mang điểm A, B, C, và D, qua đó rõ ràng bao gồm nhiều vùng địa phương mà trước đây đã được xem là những khu vực tranh chấp, bây giờ sẽ được liệt kê như là dưới quyền kiểm soát của chính phủ, và những thôn ấp E sẽ được gọi là ” những ấp chưa được kiểm soát một cách hoàn toàn bởi chính phủ.” Một bước chính trị ngang nhiên biến đổi ngay lập tức hình ảnh bình định và gây kinh ngạc to lớn đối với những gián điệp Mỹ, vốn là những người nhận ra rằng “những khu vực tranh chấp và Việt Cộng –kiểm soát những thôn ấp– vẫn còn trong vùng nông thôn, nếu không phải trong ngữ vựng chính thức của người miền Nam Việt Nam.”7
Thủ đoạn gian trá của chính phủ tuy thế mà, là những bước tiến lớn đã từng được thực hiện trong sự an ninh địa phương,8 và ngay cả QĐBV nhìn nhận rằng cuộc giao tranh dữ dội đã dẫn đến “những hoạt động bình định nhanh chóng ở các vùng đồng bằng nông thôn.”9 Tuy nhiên, Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (BChHtrQsVN) vẫn giữ nhận thức một cách sâu sắc rằng những gặt hái thì mong manh. Đến gần cuối năm 1970, ông Abrams phàn nàn rằng chỉ có khoảng 50 phần trăm của ĐPQ & NQ(pc 06) thì hiệu nghiệm theo ý nghĩa quân sự đích thực:

Tự do là một món quà. Phải được trả bởi chính phủ ! Và họ [những thường dân nông thôn của miền Nam Việt Nam] không tham gia vào vấn đề đó ! Nó thuộc về một người nào khác vốn được cho là làm điều đó, và nếu NQ sẽ không làm việc nầy, sau đó VC sẽ làm việc đó. Nhưng họ [những thường dân nông thôn của miền Nam Việt Nam] không ở trong đó ! Nếu như họ đã ở trong đó, họ sẽ mách cho NQ về ai đã đến, hoặc những đứa trẻ sẽ mách cho họ về chuyện VC ra ngoài tìm những con trâu nước, và cứ thế.10

p180

Có lẽ trong khoảnh khắc rất quan trọng của cuộc chiến, những sai sót thảm thương của ban lãnh đạo và ý chí, là những khuyết điểm cùng một lúc cả bản chất người Việt Nam theo tự nhiên và lẫn bị áp đặt bởi một hệ thống chiến đấu cuộc chiến của Mỹ, vẫn giữ thế thượng phong trên tiềm năng cho công cuộc cải cách.
QĐVNCH, hơn nhiều bất kỳ cơ quan khác nào của nhà nước miền Nam Việt Nam, đã chứng minh sự tiến bộ nhất trong giai đoạn kể cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, qua việc đóng một vai trò tuyệt vời bao giờ hết trong việc tiến hành cuộc xung đột qua sự song hành với quân đội Hoa Kỳ. Tướng Creighton Abrams và tổ chức quân đội Mỹ ca ngợi QĐVNCH một cách đúng đắn cho những thành tựu của nó nhưng bị xáo trộn bởi bản báo cáo của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) về những khả năng của QĐVNCH vào tháng Mười Hai năm 1968, mà qua đó quy phần lớn thành công của QĐVNCH(pc 05) cho sự yễm trợ hỏa lực được gia tăng của Hoa Kỳ, mà qua đó không có chuyện “một tổ chức quân đội miền Nam Việt Nam sẽ sụp đổ nhanh chóng dưới một cuộc công kích mãnh liệt của Cộng sản.” Bản báo cáo tranh luận rằng việc thiếu khả năng của Sài Gòn để nhận lãnh một phần lớn hơn về những nghĩa vụ chiến đấu bắt nguồn từ “việc thiếu quá lâu một ban lãnh đạo hiệu quả, một hệ thống tuyển chọn và thăng chức không công bằng,” làm trầm trọng thêm nữa bởi “những mức lương thấp… tham nhũng lan rộng, thiên vị chính trị, và tìm kiếm đặc quyền vốn đang lan tràn trong phạm vi một tổ chức quân đội.”11
Ông Abrams tấn công cái gì đó mà ông ta gọi là “những hình ảnh méo mó” của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ về hiện thực quân sự của miền Nam Việt Nam. Ông ta vặn lại rằng không có chương trình nào trong số những chương trình Việt Nam hóa Chiến tranh được trù tính để cho miền Nam Việt Nam “tiến hành điều đó một mình.”12 Tuy nhiên, hiện thực khắc nghiệt vốn là việc rút quân của Hoa Kỳ khỏi Việt Nam sẽ được nhanh chóng và hoàn tất và QĐVNCH, bị chêm vào như nó đã giữa sự yếu kém của ban lãnh đạo quốc gia của riêng mình và mong muốn của Mỹ từ bỏ cuộc xung đột, trên thực tế sẽ bị bỏ rơi để “tiến hành điều đó một mình.” Triều sóng của chiến thắng sau cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân đã là quá yếu và bề ngoài của sự thay đổi trong phạm vi nhà nước miền Nam Việt Nam và quân đội đã là quá mỏng không thể chịu đựng một thử nghiệm như thế.

b- Một sự thay đổi về việc canh phòng :

Ngay cả khi những lực lượng của sự thay đổi có đà, trên tất cả Quân đoàn I, và quả thật trên khắp miền Nam Việt Nam, triều sóng chiến thắng của liên minh tiếp tục dường như không suy giảm. Ở mặt bắc của Quân đoàn I, những lực lượng của Mỹ và QĐVNCH(pc 05) tung ra các hoạt động liên tiếp trong và gần thung lũng Shau A và xung quanh phần nhô ra của Lào, trong khi xa hơn về phía nam những quân đồng minh ép mạnh hơn bao giờ hết xa hơn vào trong nội địa Việt Nam để giữ những lực lượng đối phương xa khỏi Đà Nẵng.

p181

Các cuộc tấn công liên tiếp gặp với toàn bộ sự kháng cự ít ỏi, khi QĐBV và Việt Cộng trở lại đường lối của những hoạt động du kích theo đơn vị nhỏ và những cuộc tấn công bằng hỏa lửa trong khi họ xây dựng lại các lực lượng của họ. Thành công nối tiếp, tuy thế, che giấu một sự kiện thực tế là chiến tranh thực sự đang vào một thời điểm rất quan trọng, vì trong khi QĐBV vật vã để phục hồi từ những mất mát đau thương của mình, những lực lượng Hoa Kỳ bắt đầu cuộc rút quân của họ trong thái độ nghiêm túc, bỏ lại càng lúc càng nhiều cuộc giao tranh cho một QĐVNCH chưa hoàn thiện.
Trên khắp miền Nam Việt Nam, những cuộc rút quân của Hoa Kỳ dẫn đến một cuộc di chuyển hối hả bởi QĐVNCH để bao phủ các khu vực vốn đã từng được canh phòng và tuần tra trước đây bởi những lực lượng Mỹ,13 nhưng tình hình nghiêm trọng nhất là trong các tỉnh của Quân đoàn I. Việc giải tỏa quân lính qua sự cam kết nặng ký của Hoa Kỳ đối với Quân đoàn I thực sự bắt đầu vào cuối năm 1968, khi ông Abrams chuyển Sư đoàn 1 Kỵ Binh ở phía nam cho Quân đoàn III. Tổng thể chương trình Việt Nam hóa Chiến tranh bắt đầu vào tháng Sáu năm 1969, khi BChHtrQsVN(pc 07) vấp phải mục đích ban đầu của Tổng thống Nixon về việc giảm xuống những lực lượng ở Việt Nam đến 50.000 quân

p182

qua sự quyết định rút Sư đoàn 9 từ đồng bằng sông Cửu Long và Sư đoàn 3 TQLC(pc 08) từ những tiền đồn của nó dọc theo KpQs.(pc 01) Ông Abrams bình luận rằng ông Nixon chọn Sư đoàn 3 TQLC “bởi vì nó sẽ để lại khu vực cho Sư đoàn 1 của QĐVNCH, vốn được công nhận bởi tất cả quân nhân như là một sư đoàn mạnh nhất và giỏi nhất của QĐVNCH; và cuối cùng, bởi vì phía bắc của Quân đoàn I có một trong những môi trường an ninh tốt nhất trong đất nước cho người dân.”14
Việc rút đi của TQLC 3, vốn bắt đầu vào mùa thu năm 1969 và được hoàn tất trước tháng Mười Một, có những tác động ngược lan ra phạm vi rộng lớn. Sư đoàn 1 của QĐVNCH, cùng với Lữ đoàn Dù 101 và Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 5 Cơ giới (i.e. 1/5), phải cải tổ những lực lượng của mình nhằm mục đích bảo vệ tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Nhiệm vụ quan trọng của việc đứng canh phòng dọc theo KpQs(pc 01) rơi vào 1/5 Cơ giới và Sư đoàn 1 Xung phong mới được thành lập của QĐVNCH, dưới quyền chỉ huy của Đại tá Vũ Văn Giai tại Đông Hà, qua đó nó bao gồm Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 1 của QĐVNCH và một lữ đoàn duy nhất của TQLC(pc 08) Việt Nam.15 Không có TQLC của Mỹ, những người đồng minh phải thắt lại những tuyến phòng thủ của họ về phía đông đến Căn cứ Hỏa lực Fuller và nhường lại những vùng cao nguyên phía tây dọc theo biên giới Lào, bao gồm thung lũng A Shau, cho quyền kiểm soát của đối phương.

(TQLC Hoa Kỳ đang di chuyển ra khỏi Căn cứ Hỏa lực Fuller
vào mùa thu năm 1969 đến tháng 11)

Khi TQLC Mỹ hoàn thành việc rút quân của họ, Đại tá Giai đến thăm đồn trú chỉ huy của Sư đoàn 3 cho bữa ăn tối chia tay nơi mà vị chỉ huy TQLC, Thiếu tướng William Jones, chúc ông Giai có được cuộc “săn bắn” mỹ mãn. Về phần mình, ông Giai nhận biết một cách sâu sắc rằng sự ra đi của TQLC Hoa Kỳ có nghĩa là một số ít những lực lượng còn lại có thể không chịu đựng được một cuộc tấn công trực tiếp của kẻ thù hoặc không ngăn chận được sự xâm nhập của đối phương vào trong và xuyên qua những vùng cao nguyên ở phía tây.16 Những gặt hái của năm 1968 và 1969 ở những vùng cao nguyên, giành được chiến thắng qua máu và sự hy sinh trên một phần của những người Mỹ và cũng như những người miền Nam Việt Nam, đã bị đánh mất, báo hiệu sự khởi đầu của một chương mới trong cuộc xung đột dài.

c- Dọc theo Khu phi Quân sự :

Ngay sau khi sự thành công của Phạm Văn Đính tại Ngọn đồi Thịt bằm và việc thăng chức của mình lên Đại tá, anh ta nhận lãnh những nhiệm vụ như là vị sĩ quan hoạt động ở Sư đoàn 1 Xung phong tại Đông Hà. Trong vị trí mới của mình, anh Đính phục vụ ở ban nhân viên văn phòng của Đại tá Giai và làm việc để chuyển đổi những mệnh lệnh hoạt động trở thành hiện thực trong việc phòng thủ KpQs.(pc 01) Hai người đàn ông làm việc chặt chẽ với nhau,

p183

với ông Giai nhận lấy anh Đính dưới sự che chở của mình. Vị trí mới của anh ta tạo cho anh Đính một cái nhìn nhiều rộng lớn hơn về cuộc xung đột. Mặc dù bị đưa ra khỏi cuộc chiến đấu, anh Đính cảm thấy vui lòng với công vụ mới của mình, vốn là một bước quan trọng trong sự nghiệp của mình.
Ông Giai và anh Đính ở Sư đoàn 1 Xung phong ban đầu làm việc với TQLC Hoa Kỳ khi họ thực hiện việc rút quân của họ, nhưng đến tháng Chín, việc phòng thủ trung tâm KpQs rơi hoàn toàn vào Trung đoàn 2.17 Dựa vào một lực lượng yếu hơn để bảo vệ một vùng đất hay bị đe dọa nhất ở miền Nam Việt Nam, ông Giai phát triển một hệ thống mà trong đó năm tiểu đoàn của Trung đoàn 2 trong tình trạng di động liên tục, bằng cách xoay vòng qua các căn cứ hỏa lực từ A2 đến Doanh trại Carroll, trên việc cảnh phòng không ngừng chống lại cuộc xâm nhập của QĐBV. Ông Giai nhấn mạnh lịch trình hoạt động nhằm mục đích gìn giữ nhuệ khí của những quân lính mình và tránh việc cho phép họ chìm xuống vào trong một tư thế phòng thủ quá thoải mái. Mỗi ba tháng, một trong các tiểu đoàn xoay vòng vào trong Đông Hà để thực hiện việc an ninh căn cứ, và nhóm lại và nghĩ ngơi.18
Sau khi bình phục từ sự tái diễn của bệnh sốt rét, vào tháng Bảy năm 1969, Trần Ngọc Huế tham gia vào quyền chỉ huy mới của mình, Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 2 (i.e. 2/2), trong khi nó ở trên căn cứ hỏa lực A2 dọc theo KpQs.(pc 01) Với đơn vị của mình dưới quyền chỉ huy của Sư đoàn 1 Xung phong, anh Huế lại một lần nữa tìm thấy chính mình đang làm việc chặt chẽ với Phạm Văn Đính. Mặc dù những con đường của hai người bạn đồng hướng của QĐVNCH(pc 05) đã gặp nhau thêm một lần nữa, anh Đính chứng kiến cuộc đấu tranh cho KpQs ở mức độ chiến lược, trong khi đối với Trần Ngọc Huế cuộc chiến đấu là cá tính mạnh mẽ. Trong gần một năm rưỡi, 2/2 hợp tác với các tiểu đoàn khác của Trung đoàn 2 và xoay vòng qua những công vụ vốn tập trung vào và xung quanh căn cứ hoả lực Sarge, Fuller, và Khe Gió, qua đó canh phòng cạnh tây bắc của tuyến phòng thủ liên minh.19 Được trợ giúp bởi mạng cảm quang kỷ nghệ cao, các tiểu đoàn của Trung đoàn 2 thường hay để lại một đại đội duy nhất trên những căn cứ hỏa lực tương ứng của mình trong khi các đại đội khác tuần tra trước nhằm phát hiện và sau đó chận đứng bất kỳ cuộc xâm nhập nào của đối phương.
Những tiểu đoàn của Trung đoàn 2 trong suốt nửa giai đoạn hai của năm 1969 và xuyên qua đến cuối năm 1970 nói chung tạo nên đặc tính hoạt động chiến đấu dọc theo KpQs như là ánh sáng. Mặc dù QĐBV tránh các cuộc đụng độ của những đơn vị lớn, họ tạo cuộc sống dọc theo KpQs đẫm máu như có thể có cho miền Nam Việt Nam và hy vọng áp đặt lên trên QĐVNCH một cuộc chiến gây-tiêu-hao-sinh-lực làm nhụt tinh thần chiến đấu. Rải rác đây đó với những “lỗ nhện,”(pc 09) những nơi phòng thủ khép chặt vào nhau, và các tuyến đường xâm nhập, KpQs(pc 01) là một quang cảnh mặt trăng của sự tàn phá và là một vùng đất quen thuộc đối với QĐBV có kinh nghiệm. Mặc dù những cuộc càn quét của QĐVNCH hiếm khi giăng lưới được cuộc chạm trán với các đơn vị lớn, mỗi bờ giậu, mỗi gò đất hơi cao,

p184

mỗi tòa nhà đổ nát có tiềm năng ẩn kín một cuộc mai phục. Những bãi mìn ở khắp nơi và bẫy sập gây ra một phần lớn tâm lý khủng khiếp, những vụ nổ của họ đột nhiên thổi bay chân tay của những chiến sĩ trong khi đưa ra không có mục tiêu nào cho việc trả đũa. Những cuộc tuần tra của QĐVNCH là những công việc căng thẳng, với cái chết hoặc việc mất chân tay chân đang rình rập xung quanh mỗi góc –những cuộc tuần tra vốn thường hay dẫn đến những thương vong nhưng hiếm khi dẫn đến bất kỳ gặt hái thiết thực.
QĐBV(pc 04) tiếp tục gia tăng áp lực không ngừng trên các lực lượng QĐVNCH và Hoa Kỳ dọc theo KpQs qua các cuộc tấn công bằng hỏa lực, một vấn đề khó khăn không phải đối mặt bởi bất kỳ những binh sĩ đồng minh khác trong toàn bộ miền Nam Việt Nam. Pháo binh từ bên hướng bắc của sông Bến Hải, không còn là mục tiêu cho việc thả bom của Mỹ, nằm trong phạm vi tằm bắn dễ dàng của những căn cứ cố định của QĐVNCH và bị dập pháo liên tục nhưng dường như không bị thiệt hại. Thêm vào đó, những đội súng cối nhỏ của QĐBV thường lẽn đến khoảng phạm vi của căn cứ QĐVNCH, bắn một ít viên đạn theo hướng chính xác, và sau đó di chuyển ra xa trước khi những lực lượng miền Nam Việt Nam có thể trả đũa. Cố gắng sử dụng điều không xác thực như một vũ khí, QĐBV không theo mô hình thực tế trong những việc pháo kích của nó. Một vài ngày yên tĩnh, trong khi vào những ngày khác chỉ là cảnh tên lửa đi lạc va mạnh vào bất kỳ căn cứ hỏa lực nào của QĐVNCH. Thông thường hơn, một số ít đạn pháo đánh trúng những căn cứ hỏa lực mỗi ngày, gây phức tạp một cách rộng lớn những nhiệm vụ đơn giản của cuộc sống hàng ngày. Vào những ngày dường như ngẫu nhiên, tuy thế, hàng trăm đạn pháo, đạn súng cối và phi đạn đổ vào và gây ra những thương vong nặng nề và sự phá hủy to lớn.20
Trong những dịp hiếm hơn, những lực lượng của QĐBV tung ra các cuộc tấn công trực tiếp vào lực lượng bị phơi lộ ra ngoài của QĐVNCH.(pc 05) Những đơn vị đặc công ưu tú và được huấn luyện cao cấp đặc biệt trong việc sử dụng cách che giấu để xâm phạm những mạng lưới phòng thủ phức tạp vào ban đêm và trong việc sử dụng mưu mẹo và hỏa lực để gây sự thiệt hại tối đa bằng cái giá tối thiểu trong khi gieo rắc những sự hỗn loạn và sợ hãi. Mặc bộ y phục đen và với làn da bị biến đen của mình, những người đặc công dùng chiếu tre để vượt qua những đống hỗn độn dây thép gai. Một khi bên trong những nơi phòng thủ của QĐVNCH, những người đặc công không thay đổi, luôn đánh vào các hầm trú chỉ huy và vung những thuốc nổ trong túi da như là vũ khí riêng của họ. Vào cuối năm 1969, Trần Ngọc Huế và 2/2 chiếm được Căn cứ Hỏa lực Sarge, với một đại đội ở nơi hẻo lánh dưới quyền Đại úy Tôn Huyền Trang đóng tại Doanh trại Carroll North. Trong cái chết của đêm khuya, một tiệu đội đặc công Bắc Việt xâm nhập vào những nơi phòng thủ của Carroll North, tràn ngập một phần của căn cứ, và giết chết vị chỉ huy của đại đội. Trong một trận chiến bối rối và đôi khi đấu tay đôi, những người của anh Huế cuối cùng chứng minh là chiến thắng, kêu gọi trực thăng tải thương, và dọn sạch xác chết đối phương.
Như thường lệ, các vị cố vấn Mỹ và Úc chia sẻ trong chiến tranh của QĐVNCH.

p185

Đại úy Quân đội Hoa Kỳ, Gordon Greta, gia nhập 2/2 như là một vị cố vấn phụ tá trong khi nó đóng tại Doanh trại Carroll. Chưa trải qua cuộc huấn luyện cố vấn, anh Greta tìm thấy chính mình trong một thế giới mới, buộc phải giao tiếp với các đối tác Việt Nam của mình dưới lằn đạn bằng cách vẽ hình. Sau một thời gian ngắn điều hợp với văn hóa miền Nam Việt Nam và với hiện thực chiến tranh dọc theo KpQs,(pc 01) anh Greta vẫn còn cảm thấy ngạc nhiên bởi mức độ nguy hiểm liên tục được tiêu biểu bởi bom đạn sắp đến và bởi sự kiện thực tế rằng anh ta đôi khi có thể nhìn thấy người miền Bắc Việt Nam trên đỉnh những căn cứ hỏa lực của riêng họ đối diện KpQs. Điều gì đó thì mới mẻ và đáng sợ đối với anh Greta, tuy thế, chỉ là một phần của cuộc sống hàng ngày cho những người đàn ông của QĐVNCH, vốn là những người thường làm công việc của họ giữa cuộc pháo kích như là chuyện bình thường. Thán phục bởi mức độ của tính gan lì mà anh ta tìm thấy trong QĐVNCH, anh Greta cuối cùng có một sự tôn trọng sâu sắc đối với anh Huế và những người của anh ấy.
Giống như nhiều người Mỹ, anh Greta kinh lấy làm lạ ở tầm vóc nhỏ bé và khả năng chịu đựng và sức mạnh của một chiến sĩ điển hình nào đó của QĐVNCH. Trong việc tuần tra liên tục của họ, anh Greta thường tìm thấy rằng ông gặp khó khăn trong việc giữ nhịp bước với một người lính 41 kg của QĐVNCH vốn là người mang một máy truyền tin 13.5 kg được buộc vào lưng anh ấy. Hành động gần như liên tục phải đối mặt bởi những chiến sĩ của QĐVNCH và lòng tự tin mà qua đó họ chào đón bằng những cuộc sống gian khổ của mình, đã thuyết phục anh Greta rằng những người lính trẻ nầy là những người giỏi nhất và dũng cảm nhất mà anh ta đã từng gặp.21
Vào mùa xuân năm 1970, Thiếu tá David Wiseman của Quân đoàn TQLC Hoa Kỳ nhận việc như là vị cố vấn cao cấp của Trần Ngọc Huế. Ông Wiseman thì mới mẻ đối với Việt Nam, trong khi anh Huế đang chào đón thêm một người khác vào cánh cửa cố vấn quay vòng dường như không bao giờ kết thúc. Ông Wiseman nhớ lại:

Khi tôi đến BChHtrQsVN(pc 07) ở Huế, mọi người cảnh cáo tôi rằng anh Harry [Trần Ngọc Huệ] là một vấn đề khó khăn thế nào… và anh ta mong muốn những vị cố vấn của mình đi khắp mọi nơi với anh ta như thế nào. Những người nào đó trong số chúng ta vốn là những người có bất kỳ sự giúp đỡ nào cho anh Harry, tìm thấy anh ta bảo vệ quyết liệt cho chúng ta… đặc biệt là khi anh ta nhận ra rằng chúng ta sẽ không lẻn vào trong Đông Hà bằng mọi cơ hội cho món ăn kiểu Mỹ và những gái điếm. Anh Harry là một chiến binh và là một người đàn ông chỉ biết có gia đình –những nào đó trong số chúng ta vốn cũng là những người như thế… dĩ nhiên, chúng ta làm bạn dễ dàng với nhau. Tôi không thể nhớ mối liên kết mau chóng đến thế và mối quan hệ tức thời hơn bao giờ hết trong cuộc đời của tôi trước đó hoặc kể từ sau đó.22

Ông Wiseman và anh Huế đã trở thành những người bạn đồng hướng rất chặt chẽ của chiến tranh, một tình bạn được gắn chặt bởi thực tế cuộc chiến đấu dọc theo KpQs.(pc 01) Vào một dịp ở Căn cứ Hỏa lực Fuller, anh Huế, ông Wiseman và nhiều người lính của QĐVNCH

===========================================

Phụ Chú :
pc 01_ KpQs : Khu phi Quân sự.
pc 02_ Trung đoàn : khoảng 3.000 đến 5.000 người (tương đương 10 tiểu đoàn).
Tiểu đoàn : khoảng 300 đến 1.300 người.
Đại đội : khoảng từ 80 đến 225 người.
Trung đội : khoảng 26 đến 55 người.
và Sư đoàn khoảng 10.000 đến 15.000 người.

pc 03_ VC : Việt cộng.
pc 04_ QĐBV : Quân đội Bắc Việt.
pc 05_ QĐVNCH : Quân đội Việt Nam Cộng hòa.
pc 06_ ĐPQ & NQ : Địa phương Quân và Nghĩa quân.
pc 07_ BChHtrQsVN : Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự cho Việt Nam (MACV = Military Assistance Command, Vietnam).

pc 08_ TQLC : Thủy quân Lục chiến.
pc 09_ Lỗ nhện : là cách nói theo quân đội Hoa Kỳ về một cái hố phòng thủ cá nhân (còn được gọi là “hang chồn”) có ngụy trang, được sử dụng để quan sát. Một “lỗ nhện” thường là một cái lỗ có chiều sâu đến vai, có tính cách bảo vệ, hình tròn, thường được bao phủ bởi một nắp đậy được ngụy trang, trong đó một người lính có thể đứng.và bắn bằng một loại vũ khí. Một “lỗ nhện” khác biệt từ một “hang chồn” mà trong đó “hang chồn” thì thường sâu hơn và được thiết kế để nhấn mạnh sự che chở gồm hơn là che giấu. “Lỗ nhện” cũng được sử dụng bởi những chiến binh cộng sản Việt Nam trong thời gian Chiến tranh Việt Nam.
Một nhà viết xã luận Mỹ, William Safire, tuyên bố trên số báo ra ngày 15 tháng Mười Hai năm 2003 của tờ New York Times rằng thuật ngữ có nguồn gốc trong Chiến tranh Việt Nam. Theo ông Safire, một trong những đặc điểm của những lỗ nầy là chúng giữ một “cái nồi đất sét đủ lớn để giữ một người đàn ông đang khom mình xuống.” Nếu cái nồi bị bể, người chiến binh bị lộ ra cho cuộc tấn công từ những con rắn hay nhện, vì thế mà có tên “lỗ nhện.”

pc 10_ NHlQdUVN : Nhóm Huấn luyện của Quân đội Úc cho Việt Nam (AATTV = Australian Army Training Team Vietnam).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s